Trạng thái khí: hơi đốt thiên nhiên Câu 2: Nêu tổng quan về tài nguyên khoáng sản sắt phân bố, nguồn gốc, tính chất, lĩnh vực sử dụng, một số mỏ sắt chính ở Việt Nam -Quặng sắt ở Việt Na
Trang 1ĐỀ CƯƠNG TÀI NGUYÊN KHOÁNG SẢN
Câu 1: Nêu định nghĩa, phân loại, cho ví dụ về khoáng sản? Phân cấp trữ lượng
và tài nguyên khoáng sản
-Khoáng sản: là những thành tạo khoáng vật được phát sinh do kết quả của những quá trình địa chất nhất định, nó có thể sử dụng trực tiếp hoặc từ đó lấy ra những kim loại, hợp chất hay khoáng vật dùng trong nền kinh tế quốc dân
-Phân loại:
+Về hình thái:
Khoáng sản ở thể khí: hơi đốt, neon, argon, heli
Khoáng sản ở thể lỏng: dầu mỏ, nước ngầm
Khoáng sản ở thể rắn: sắt, đồng, chì, kẽm
+Khoáng sản KL:
KL đen: Fe, Cr
KL nhẹ: Al, Be
KL màu: Cu, Pb, Zn
KL ít, hiếm: Hg, Sn
KL quý: Au, Ag
KL phóng xạ: U, Th, Ra
Nguyên tố phân tán: Sc, Rb
Nguyên tố đất hiếm: La, Ce
+Khoáng sản phi KL
Phục vụ luyện kim: fluorin, quăczit
Phục vụ công nghiệp hóa chất phân bón: pyrit, apatit
Phục vụ xây dựng: đá vôi, cát sỏi
Phục vụ sản xuất thủy tinh, đồ gốm: cao lanh
+Khoáng sản nhiên liệu:
Trạng thái rắn: than đá
Trạng thái lỏng: dầu mỏ
Trạng thái khí: hơi đốt thiên nhiên
Câu 2: Nêu tổng quan về tài nguyên khoáng sản sắt (phân bố, nguồn gốc, tính chất, lĩnh vực sử dụng, một số mỏ sắt chính ở Việt Nam)
-Quặng sắt ở Việt Nam phân bố rất không đồng đều, chủ yếu ở Bắc Bộ và Trung Bộ -Quặng sắt có nguồn gốc magma; nguồn gốc skarn; nguồn gốc nhiệt dịch, biến chất trao đổi; nguồn gốc trầm tích; nguồn gốc trầm tích biển; nguồn gốc phong hóa
+Quặng sắt nguồn gốc magma: mới chỉ gặp ở điểm quặng Tam Kỳ(Quảng Nam) và
Xã Hiếu(Kon Tum), trong các thể xâm nhập mafic nhỏ Quặng magnetit hàm lượng nghèo(25-45% Fe)
+Quặng sắt nguồn gốc skarn: phân bố ở mỏ sắt Thạch Khê và nhóm mỏ và điểm quặng sắt Cao Bằng Quặng thuộc loại magnetit thường cấu tạo đặc sít, hàm lượng sắt cao, phân bố tại đới tiếp xúc giữa granit và đá vôi; giữa gabro, diorit với đá vôi, đá phiến; các thân quặng có hình dạng phức tạp Các thân quặng sắt nguồn gốc skarn và các thân quặng eluvi bị lớp trầm tích Kainozoi dày trung bình hơn 50m phủ chồng
Trang 2lên Thân quặng công nghiệp phân bố dưới mực nước biển, đến độ sâu -450m Quặng gốc có thành phần chủ yếu là magnetit, quặng deluvi chủ yếu là hematit (40-95%) Quặng thuộc loại giàu, phần lớn có hàm lượng Fe >50%, nhiều nơi tới 60%
+Quặng nguồn gốc nhiệt dịch, biến chất trao đổi: có thành phần chủ yếu là magnetit,
ít hơn có hematit với hình thái thân quặng dạng mạch, thấu kinh quy mô không lớn, cấu trúc phức tạp như ở Tong Bá-Bắc Mê và 1 số điểm quặng các vùng Thái Nguyên
và Lào Cai, ít hơn có quặng siderit trong đá lục nguyên-carbonat như ở Bản Phắng(Bắc Cạn)
+Quặng có nguồn gốc trầm tích: phân bố ở các điểm quặng Tuyên Quang(Thanh Hóa), Khe Mỏ Hai(Quảng Trị) Quặng phân bố trong các hệ tầng Yên Duyệt, Cam Lộ tuổi Pecmi muộn Quặng có chất lượng thấp, quy mô không đáng kể
+Quặng nguồn gốc phong hóa: quặng limonit có nguồn gốc phong hóa từ các mạch quặng giàu sulfur và từ siderit (Bản Phắng và 1 số điểm quặng ở Quảng Ninh, Hải Phòng)
-1 số mỏ chính:
+Tụ khoáng sắt Thạch Khê (Hà Tĩnh): tổng tài nguyên và trữ lượng cấp 121, 122, 333 chung cả mỏ là 544,1 triệu tấn trong đó có 488 triệu tấn quặng gốc
+Mỏ sắt Trại Cau (Thái Nguyên): trữ lượng 11,4 triệu tấn
+Mỏ sắt Quý Xa (Lào Cai): trữ lượng và tài nguyên dự báo khoảng 135 triệu tấn
-Ứng dụng:
Sắt là kim loại được sử dụng nhiều nhất, chiếm khoảng 95% tổng khối lượng kim loại sản xuất trên toàn thế giới Sự kết hợp của giá thành thấp và các đặc tính tốt về chịu lực, độ dẻo, độ cứng làm cho nó trở thành không thể thay thế được, đặc biệt trong các ứng dụng như sản xuất ô tô, thân tàu thủy lớn, các bộ khung cho các công trình xây dựng Thép là hợp kim nổi tiếng nhất của sắt
Câu 3: Nêu tổng quan về tài nguyên khoáng sản đồng (phân bố, nguồn gốc, tính chất, lĩnh vực sử dụng, một số mỏ đồng chính ở Việt Nam)
-Ở VN đã phát hiện được 1 số tụ khoáng và nhiều điểm quặng đồng nhưng tài nguyên quặng đồng không lớn Các loại quặng đồng đã phát hiện gồm: quặng đồng trong các đới biến chất trao đổi trong đá biến chất Tiền Cambri, quặng đồng dạng mạch trong
đá núi lửa Pecmi muộn, quặng đồng-nickel trong các khối đá xâm nhập mafic-siêu mafic, quặng đồng trong đá phiến lục, đá phiến silic Cambri, và quặng đồng trong cát kết Trias thượng hệ tầng Mẫu Sơn
-Quặng đồng trong các đới biến chất trao đổi có tài nguyên lớn nhất phân bố trong các đá biến chất Tiền cambri ở các mỏ, điểm quặng nằm rải rác dọc bờ phải sông Hồng, từ huyện Bát Xát (Lào Cai) đến huyện Văn Yên (Yên Bái)
+Mỏ đồng Sin Quyền có quy mô lớn nhất, đã được thăm dò và đang khai thác Mỏ có
17 thân quặng dạng mạch, phân bố trong đới cà nát rộng và đá vây quanh bị biến đổi Khoáng vật quặng đặc trưng là chalcopyrit, pyrrotin, magnetit và orthit Hàm lượng đồng trung bình của quặng là 1,03%, vàng:0,5 g/tấn, chứa các nguyên tố Ag, Co,Mo
có thể thu hồi Tài nguyên xác định của mỏ là 551.000 tấn đồng trong khoảng 91,5 triệu tấn quặng
Trang 3-Trong đá núi lửa hệ tầng Viên Nam phân bố từ Hà Tây, Hòa Bình kéo lên đến Lai Châu đã phát hiện 1 số thân quặng đồng dạng mạch ở Lũng Cua (Ba Vì, Hà Tây), Vạn Sài, Phù Yên (Sơn La), Nặm Tia-Nặm Ngã (Lai Châu) Các thân quặng dạng mạch đơn lẻ, bề dày thay đổi trong khoảng 2-3m, dài đến 300m, thường cắm dốc Thành phần khoáng vật gồm thạch anh, pyrit, chalcopyrit, chalcosin, hàm lượng đồng đến 10%
-Trong đá phun trào hệ tầng Sông Đà ở Nặm He-Huổi Sáy (Điện Biên) có các mạch, đới vi mạch-xâm tán quặng đồng Các mạch quặng này có quy mô nhỏ, tài nguyên 10-20 ngàn tấn đồng, điều kiện khai thác thường không thuận lợi
-Tam Kỳ (Quảng Nam), trong tầng đá phiến lục, đá phiến sericit Cambri đã phát hiện các điểm quặng đồng-chì-kẽm Đức Phúc, Đức Bố Hàm lượng trung bình của Cu:3,76%, Zn:3,37%, Pb:3,1%
-Lục Ngạn, Sơn Động (Bắc Giang) có điểm quặng Biển Động, Tân Hoa, Làng Chả, Tân Sơn, Phú Nhuận, Giao Liêm phân bố trong các tập cát kết, bột hệ tầng Mẫu Sơn tuổi Trias muộn
-Ứng dụng:
Dây điện
Que hàn đồng
Tay nắm và các đồ vật khác trong xây dựng nhà cửa
Đúc tượng
Cuộn từ của nam châm điện
Động cơ, đặc biệt là các động cơ điện
Động cơ hơi nước của Watt
Rơ le điện, dây dẫn điện giữa các bảng mạch và các chuyển mạch điện
Ống chân không, ống tia âm cực và magnetron trong các lò vi ba
Bộ dẫn sóng cho các bức xạ vi ba
Việc sử dụng đồng trong các mạch IC đã trở nên phổ biến hơn để thay thế cho nhôm vì độ dẫn điện cao của nó
Là một thành phần trong tiền kim loại
Trong đồ nhà bếp, chẳng hạn như chảo rán
Câu 4: Nêu tổng quan về tài nguyên khoáng sản chì – kẽm (phân bố, nguồn gốc, tính chất, lĩnh vực sử dụng, một số mỏ chì – kẽm chính ở Việt Nam)
-Ở VN đã phát hiện được nhiều tụ khoáng và điểm quặng chì-kẽm, 1 số đã được thăm
dò và khai thác trong nhiều chục năm qua, nhưng tài nguyên quặng không lớn, hầu hết các mỏ đều có quy mô nhỏ, trung bình Quặng chì-kẽm phân bố rải rác ở các tỉnh Bắc Kạn, Tuyên Quang, Cao Bằng, Hà Giang, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu, Điện Biên, Hòa Bình< Thanh Hóa, Quảng Bình
-Theo đặc điểm phân bố, quặng chì-kẽm phân chia thành 2 nhóm: 1 là các mỏ, điểm quặng phân bố trong các tầng đá carbonat, lục nguyên-carbonat; 2 là các mỏ, điểm quặng phân bố trong các đá xâm nhập, núi lửa Theo thành phần khoáng vật tại 1 số điểm mỏ, điểm quặng có cả 2 loại quặng sulfur và oxy hóa
Trang 4+Quặng chì-kẽm phân bố trong các tầng đá carbonat, lục nguyên-carbonat phổ biến rộng rãi ở Đông Bắc Bộ, ít hơn có Tây Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, tạo nên các mỏ có giá trị công nghiệp Quặng chủ yếu phân bố trong các tầng đá vôi phân lớp mỏng màu đen, xám đen tuổi Devon, ít hơn, trong đá vôi Cambri(Hà Giang), Carbon-Pecmi(Chi Lăng, Lạng Sơn), Trias(Dốc Cun, Hòa Bình và Quan Sơn, Thanh Hóa) Các mỏ điểm quặng có giá trị công nghiệp tập trung ở các vùng mỏ Chợ Điền, Chợ Đồn(Bắc Cạn), Trảng Đà-Thượng Âm(Tuyên Quang), Bảo Lâm(Cao Bằng), Lang Hít(Thái Nguyên) +Các mỏ, điểm quặng phân bố trong đá núi lửa, xâm nhập mới ghi nhận được ở vùng
mỏ Tú Lệ gồm các điểm Co Gi San, Tu San, Bản Lìm, Huổi Pao, Nặm Chậu(Yên Bái) và ở mỏ Na Sơn(Hà Giang)
-Các mỏ chính:
+Mỏ chì-kẽm Chợ Điền(Bắc Cạn): trữ lượng chì+kẽm của loại quặng oxyt là 229.059 tấn vs hàm lượng 18,41% Pb+Zn; quặng sulfur là 116.936 tấn vs hàm lượng 15,88% Pb+Zn và tài nguyên quặng oxyt là 98.785 tấn vs hàm lượng 6,3% Pb+Zn, và còn có các nguyên tố có ích như Ag: 2,7kg/tấn, In: 0,1%, Cd:0,2-0,4%, Ga: 0,001-0,008%
+Vùng tụ khoáng Chợ Đồn: tổng tài nguyên tin cậy của vùng là 2,374 triệu tấn chì-kẽm, quặng sulfur vs hàm lượng 9,61% Pb+Zn và 593.000 tấn thuộc quặng oxyt vs hàm lượng 6,18% Pb+Zn
-Ứng dụng:
+Chì:
Chì là thành phần chính tạo nên ắc quy, sử dụng cho xe
Chì được sử dụng như chất nhuộm trắng trong sơn
Chì sử dụng như thành phần màu trong tráng men đặc biệt là tạo màu đỏ và vàng Chì dùng làm các tấm ngăn để chống phóng xạ hạt nhân
Chì thường được sử dụng trong nhựa
+Kẽm:
Kim loại kẽm chủ yếu được dùng làm chất chống ăn mòn ở dạng mạ
có nhiều loại được dùng ở quy mô công nghiệp Kẽm ôxit được sử dụng rộng rãi để làm chất tạo màu trắng trong sơn
Kẽm dùng trong điều trị ngoài da thường được làm từ kẽm ôxít
Câu 5: Nêu tổng quan về tài nguyên khoáng vàng (phân bố, nguồn gốc, tính chất, lĩnh vực sử dụng, một số mỏ vàng chính ở Việt Nam)
-Quặng hóa vàng ở VN biểu hiện khá phổ biến Hàng trăm điểm quặng vàng đã được phát hiện, trong đó trên 70 điểm đã được khảo sát đánh giá, thăm dò tính trữ lượng -Có 2 loại hình quặng vàng là sa khoáng và gốc
+Vàng gốc: đã phát hiện 150 điểm, trong đó 17 điểm được thăm dò, đánh giá nhưng hầu hết ít triển vọng do các thung lũng chứa vàng hẹp, nhỏ và bề dày sa khoáng không lớn Ngoài sa khoáng Na Rì (Bắc Cạn), Căm Muộn (Nghệ AN) đã xác định trữ lượng cấp C2 khoảng 5-6 tấn vàng, không có khả năng phát hiện thêm Sa khoáng có nguồn gốc eluvi, deluvi, aluvi, proluvi, hỗn hợp và karst
+Vàng gốc: có mặt trong hầu hết các cấu trúc địa chất Đông Bắc Bộ, Tây Bắc Bộ, Trường Sơn, Kon Tum, Đà Lạt Các mỏ điểm quặng vàng gốc được xếp vào 4 kiểu
Trang 5quặng hóa chính gồm: thạch anh, thạch anh-sulfur, bạc và vàng-antimon
Vàng-thạch anh: phát hiện ở nhiều nơi như Khau Âu (Bắc Cạn), Ngàn Me, Bồ Cu (Thái Nguyên), Thượng Cầu (Hà Giang), Làng Nèo(Thanh Hóa), Tam Chinh-Phú Sơn(Quảng Nam)
Vàng gốc Ngàn Me(Thái Nguyên): quặng phân bố trong đá phiến, cát bột kết, cát kết chứa mica hệ tầng Mỏ Đồng Xác định được 4 thân quặng nằm trong đới, hàm lượng trung bình Au: 1,6-42,9g/tấn, tài nguyên cấp 333+334a+334b khoảng 1500kg
Vàng-thạch anh-sulfur: rất đa dạng và phong phú, phân bố trong các thành tạo địa chất khác nhau gồm: đá phun trào axit và mafic, đá biến chất và đá xâm nhập
Mỏ Nà Pái(Lạng Sơn): quặng hóa phân bố trong đá riolit,ryodacit hệ tầng Sông Hiến Trias hạ, hàm lượng thấp(0,1-0,3g/tấn), hiếm khi đạt 0,5-2g/tấn Tài nguyên dự tính
20 tấn vàng
Mỏ Minh Lương(Lào Cai): đã phát hiện được 5 thân quặng vàng gốc, hàm lượng Au:4,61-7,5g/tấn,WO3: 0,29-7,09% Tài nguyên dự tính cấp 333: 3,2 tấn Au, tài nguyên dự báo cấp 334a: 9,5 tấn Au, 15200 tấn WO3
Vàng-bạc: là loại hình quặng có triển vọng Hiện nay đã phát hiện nhiều tụ khoáng
và điểm quặng, trong đó đáng kể hơn cả là tụ khoáng Xà Khía (Quảng Bình)
Vàng-antimon: đã xác định được 1 số tụ khoáng antimon chứa vàng có giá trị lớn như Khuôn Phục, Làng Vài (Tuyên Quang), Nam Sơn-Đá Bạc(Hòa Bình), Tà Sỏi (Nghệ An)
Tụ khoáng Làng Vài(Tuyên Quang): đã xác định được 32 thân quặng antimon-vàng dạng mạch Hàm lượng Au: 1-18,95g/tấn, Sb: 0-12%, As: 30,55% Tổng tài nguyên các cấp 221+333: 9,12 tấn Au, 99,95 tấn Ag, 78.194 tấn Sb, 132.170 tấn As; các cấp 334a+334b: 10,7 tấn Au, 182 tấn Ag
-Ứng dụng:
Vàng và hợp kim của nó thường được dùng nhiều nhất trong ngành trang sức, tiền kim loại và là một chuẩn cho trao đổi tiền tệ ở nhiều nước
Vàng có thể được chế tạo thành sợi chỉ và được dùng trong thêu thùa
Vàng mềm và có thể uốn, có nghĩa nó có thể được chế tạo thành sợi dây rất mỏng và
có thể được dát thành tấm rất mỏng gọi là lá vàng
Vàng được dùng như lớp phản xạ trên một số đĩa CD công nghệ cao
Ô tô có thể sử dụng vàng để tản nhiệt
Câu 6: Nêu tổng quan về tài nguyên khoáng sản thiếc (phân bố, nguồn gốc, tính chất, lĩnh vực sử dụng, một số mỏ thiếc chính ở Việt Nam)
Tài nguyên thiếc tương đối phong phú, tập trung ở các vùng Tĩnh Túc, Pia Oắc (Cao Bằng), Sơn Dương, Đại Từ (Thái Nguyên), Quỳ Hợp (Nghệ An), Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Lâm Đồng
>> Quặng thiếc gồm 2 loại: Sa khoáng và quặng gốc
*Quặng thiếc sa khoáng: Phát hiện được 194 điểm thiếc sa khoáng Trong đó nhiều điểm đã bị khai thác cạn kiệt như Tĩnh Túc (Cao Bằng), Phục Linh, Khuôn Thi, Làng
Cá, Kỳ Lâm, Ngòi Chò, Ngòi Trí Trầm Sa khoáng thiếc có nguồn gốc chủ yếu là aluvi và deluvi Sa khoáng thiếc có hàm lượng cassiterit thay đổi từ 200 đến 400
Trang 6g/m3, chủ yếu lớn hơn 273 g/cm3 Trữ lượng và tài nguyên dự báo khoảng 87.000 tấn SnO2
*Quặng thiếc gốc: Theo thành phần và nguồn gốc, quặng thiếc gốc gồm 2 nhóm: Nghèo sulfur và giàu sulfur
_ Nhóm nghèo sulfur: kiểu canxiterit – vonframit – thạch anh: nằm trong các mạch, đới mạch, các đới greisen, như Sơn Kim (Hà Tĩnh), Pia Oắc (Cao Bằng), quặng thường đi kèm vonframit hoặc tantalit, columbit, bitmusth
_ Nhóm giàu sulfur: Kiểu cassiterit – silicat –sunful: thường phân bố trong các đới
cà nát, đứt gãy như tụ khoáng Suối Bắc và các vùng Lâm Đồng, Tam Đảo
Quặng thường đi kèm với các khoáng vật của chì, kẽm, bimusth Hàm lượng Sn trong quặng gốc thường lớn hơn 0.3% Tài nguyên dự tính và dự báo của các vùng quặng gốc khoảng 128.000 tấn Sn
>>Ứng dụng: Thiếc được dùng để tráng lên bề mặt các vật bằng thép, vỏ hộp thực phẩm, nước giải khát, có tác dụng chống ăn mòn, tạo vẻ đẹp không độc hại Thiếc dùng chế tạo hợp kim Ví dụ: Hợp kim Sn-Sb-Cu có tính chịu ma sát, dùng để chế tạo
ổ trục quay Hợp kim Sn-Pb có nhiệt độ nóng chảy thấp (1800C) dùng để chế tạo thiếc hàn g ăn mòn, tạo vẻ đẹp không độc hại
>>1 số mỏ thiếc chính ở Việt Nam: mỏ thiếc Tĩnh Túc (Cao Bằng), Đại Từ( Thái Nguyên), Quỳ Hợp (Nghệ An)
Câu 7: Nêu tổng quan về tài nguyên khoáng sản cao lanh đất sét (phân bố, nguồn gốc, tính chất, lĩnh vực sử dụng, một số mỏ caolanh đất sét chính ở Việt Nam)
Kaolin phân bố tập trung chủ yếu ở các khu vực Tây Bắc Bộ (Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Lào Cai, ít hơn có Yên Bái, Sơn La, Lai Châu, Hà Tây); Đông Bắc Bộ (Thái Nguyên,
Hà Giang, Tuyên Quang; Bắc Trung Bộ (Quảng Bình, Thừa Thiên Huế, Thanh Hóa, một ít ở Nghệ Tĩnh, Nghệ An); Trung Trung Bộ (Bình Định, Quảng Ngãi, Quảng Nam, Khánh Hòa) Tây Nguyên (Lâm Đồng, Đắk Lắk, Gia Lai); Nam Bộ (Bình Dương, Tây Ninh, Tp Hồ Chí Minh, Bình Phước, Kiên Giang, An Giang)
Đã phát hiện, tìm kiếm và thăm dò 217 tụ khoáng, mỏ và điểm quặng kaolin vs trữ lượng 111+121+122+333 = 267 tr.tấn
Kaolin được thành tạo vs nhiều nguồn gốc khác nhau
*Kaolin có nguồn gốc phong hóa:
_ Phong hóa từ mạch pegmatit: tập trung phổ biến ở Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Tuyên Quang.Các thân kaolin rất đa dạng, chất lượng cao Đây là 1 trong những kiểu tụ khoáng có triển vọng và phổ biến nhất ở vùng Tây Bắc Bộ
Trữ lượng dự tính là 34 tr.tấn
_ Phong hóa từ đá granit và gabroit: phát triển phổ biến ở các miền Trung Trung Bộ, Tây Nguyên, Tây Bắc Bộ Thân kaolin nằm gần ngang, chiều dày phụ thuộc vào địa hình và mức độ phong hóa Chất lượng kaolin trung bình, trữ lượng dự tính là 12tr.tấn _ Phong hóa từ đá phun trào: phổ biến ở các vùng như Quảng Ninh, Sơn La, Tuyên Quang , Thanh Hóa, Nghệ An đặc điểm thân kaolin giống như kiểu phong hóa từ granit Trữ lượng ước tính là 52 tr.tấn
Trang 7_ Phong hóa từ đá trầm tích: phân bố ở mỏ Bắc Lý, Nam Lý (Qủang Bình) Các thân kaolin có dạng nằm ngang hoặc gần nằm ngang, chiều dày lớn nhưng chất lượng trung bình
Tổng trữ lượng các tụ khoáng này tính được là 25 tr.tấn
*Kaolin có nguồn gốc tái trầm tích, gồm các loại:
_Trong các thung lũng giữa núi: Kiểu tụ khoáng này phổ biến ở Đông Bắc Bộ và Tây Bắc Bộ Các thân kaolin có quy mô nhỏ, chất lượng rất khác nhau
_Trong trầm tích đệ tứ: thuộc các hệ tầng có quy mô lớn như Củ Chi, Thủ Đức, Nam
Bộ đặc biệt là vùng Bình Dương, tp Hồ Chí Minh Trữ lượng chiếm 1/3 tổng trữ lượng toàn quốc.Chất lượng từ trung bình đến tốt Trữ lượng đã thăm dò là 131 tr.tấn Đây là kiểu tụ khoáng kaolin có trữ lượng lớn và quan trọng nhất ở Việt Nam
>>Ứng Dụng: Kaolin được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực công nghiệp như: công nghiệp gốm sứ, giấy, sơn, cao su, sợi thuỷ tinh, chất dẻo, vật liệu xây dựng, gạch chịu lửa, làm xúc tác cho công nghệ lọc dầu…
_Công nghiệp sản xuất giấy: trong công nghiệp giấy, kaolin được sử dụng làm chất độn tạo cho giấy có mặt nhẵn hơn, tăng độ kín, giảm độ thấu quang và làm tăng độ ngấm mực in tới mức tốt nhất Chất lượng kaolin dùng làm giấy được xác định bởi độ trắng, độ phân tán và mức độ đồng đều của các nhóm hạt
- Công nghiệp sản xuất đồ gốm: công nghiệp sản xuất sứ, gốm sứ dân dụng, sứ mỹ nghệ, dụng cụ thí nghiệm, sứ cách điện, sứ vệ sinh, chất liệu kết dính là sét chịu lửa dẻo, có màu trắng
Câu 8: Nêu tổng quan về tài nguyên khoáng sản felspat (phân bố, nguồn gốc, tính chất, lĩnh vực sử dụng, một số mỏ felspat chính ở Việt Nam)
_ Đông Bắc Bộ quặng fenspat phân bố chủ yếu xung quanh khối sông Chày thuộc các tỉnh Tuyên Quang, Hà Giang
_ Tây Bắc Bộ quặng fenspat liên quan đến đới biến chất sông Hồng phân bố chủ yếu
ở các tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Yên Bái, Lào Cai và Quảng Nam
_ Miền Bắc và Trung Trung Bộ quặng fenspat tập trung ở Thanh hóa, Quảng Bình _ Nam Trung Bộ và Nam Bộ quặng fenspat phát hiện ở An giang, có quy mô nhỏ, ít
có triển vọng
* Quặng fenspat có chia làm 2 nhóm: quặng fenspat có nguồn gốc pegmatit và quặng fenspat có nguồn gốc aplit
Quặng fenspat có nguồn gốc pegmatit:
là nguồn cung cấp fenspat chủ yếu Quặng hóa liên quan đến các xâm nhập nhiều pha, có quy mô lớn xuyên cắt các đới biến chất cổ
Quặng fenspat có nguồn gốc aplit:
Mới phát hiện ở tỉnh An Giang và vùng Làng Mạ (Lào Cai) Quặng hóa thương liên quan đến các pha xâm nhập muộn của các khối magma lớn, chất lượng trung bình Dựa vào cơ sở yêu cầu tiêu dùngcủa 1 số đơn vị sản xuất gạch men, gốm sứ, thủy tinh miền Nam
Có thể phân loại quặng fenspat như sau:
1) Quặng fenspat loại A dùng làm men gốm, sứ và phối liệu sản xuất thủy tinh
2) Quặng fenspat loại B phối liệu làm xương sứ vệ sinh gạch ceramic ốp tường
Trang 83) Quặng fenspat loại C phối liệu làm xương, gạch ceramic lát nền.
Hiện nay đã phát hiện và khoanh định trên 50 tụ khoáng, mỏ và điểm quặng fenspat phân bố chủ yếu ở Tây Bắc Bộ, Trung Trung Bộ, Tây Nguyên và 1 phần ở Tây Nam
Bộ với trữ lượng cấp 122 + 221 + 333 đạt trên 30 tr.tấn
>> Tính Chất: Felspat, còn gọi là tràng thạch hay đá bồ tát, là tên gọi của một nhóm khoáng vật tạo đá cấu thành nên 60% vỏ trái đất
Felspat kết tinh từ magma có mặt trong cả đá xâm nhập và đá phun trào, ở dạng hạt nhỏ trong các vành (mạch) và trong các đá biến chất Đá cấu tạo toàn bộ
là plagiocla (fenspat natri) được gọi là anorthosit
>> Ứng Dụng:
_ Fenspat là vật liệu thô trong sản xuất gốm sứ và geopolymer
_ Fenspat là thành phần trong Bon Ami Mỹ, chất tẩy rửa dụng cụ gia đình
_ Fenspat thường là chất phụ được thêm vào bánh ở dạng bột
_ Nguyên liệu làm gạch Granit nhân tạo, gạch Ceramit
_ Men sứ cho ngành gốm sứ thủy tinh, chất độn công nghiệp, y tế…
_ Làm kính…
_ Dùng làm phụ gia trong sơn, chất dẻo, chất đàn hồi, bột mài (dạng bột và chất tẩy rửa lỏng) và trong lớp phủ que hàn
Câu 9: Tiềm năng đất hiếm và Urani ở Việt Nam (sự phân bố, nguồn gốc, hiện trạng điều tra, thăm dò, khai thác chế biến?
-Kết quả điều tra hơn 50 năm đã giúp phát hiện nhiều tụ khoáng và điểm quặng urani
phân bố ở Đông Bắc Bộ, Trung Trung Bộ và Tây Nguyên Theo cách phân loại của các Tổ chức Năng lương Nguyên tử Quốc tế, quặng hóa urani ở VN được chia thành
6 kiểu: urani trong cát kết, urani dạng mạch hoặc gần như dạng mạch, urani trong đá phun trào, urani trong đá biến chất, urani trong than và urani trong trầm tích Đệ Tứ +Urani trong cát kết: điển hình và có triển vọng nhất ở VN là các tụ khoáng kiểu urani trong cát kết thuộc hệ tầng chứa than anthracit tuổi Ret phát hiện năm1987 ở nhiều khu khác nhau thuộc bể than Nông Sơn, Ngoài ra, cũng đã phát hiện và nghiên cứu bước đầu urani trong cát kết hệ tầng Văn Lang tuổi Nori-Ret (Thái Nguyên)
Các tụ khoáng Khe Hoa-Khe Cao, Pà Lừa-Pà Rồng, An Điềm-Ta Bhing: phân
bố ở Nông Sơn (Quảng Nam) Quặng hóa urani trong cát kết loạt Nông Sơn được phát hiện đến độ sâu 450m, có ý nghĩa công nghiệp là từ 0-200m, chủ yếu ở khoảng 0-100m có hàm lượng urani ở các khối tính trữ lượng trung bình là 0,10% U3O8, khoáng vật urani nguyên sinh là pitchblend, coffinit và loại thứ sinh là autunit, meta-antunit, selanit, phosphuranylit, uranophan
Urani trong cát kết Núi Hồng (Thái Nguyên): công tác dự báo tài nguyên urani trong cát kết Núi Hồng dựa trên cơ sở tài liệu địa vật lý lỗ khoan Trong số 11 lỗ khoan gặp cát kết, 3 lỗ có dị thường urani vs bề dày lớp cát kết >35m, hàm lượng urani là 0.01% U3O8
+Urani dạng mạch hoặc gần dạng mạch: quặng có dạng lấp đầy khe nứt có liên quan đến các granit sáng màu gồm 2 kiểu: urani đất hiếm gặp ở các tụ khoáng Nậm Xe và Yên Phú, và urani đồng gặp ở mỏ Sin Quyền
Trang 9+Urani trong đá phun trào: gồm các biểu hiện quặng hóa trong các đá phun trào và trầm tích-phun trào có thành phần từ axit đến kiềm, lộ ra ở Tòng Bá (Hà Giang), Định
An (Lâm Đồng), Bình Liêu (Quảng Ninh) và Tú Lệ (Yên Bái)
+Urani trong đá biến chất: gồm các biểu hiện khoáng hóa urani-thori trong đá biến chất trao đổi tremolit hóa, actinolit hóa và pegmatoid ở Thạch Khoán (Phú Thọ), trong pegmatit-migmatit ở Ba Tơ, Sa Huỳnh (Quảng Ngãi), trong đá hoa ở Yên Bía
và trong graphit ở Tiên An (Quảng Nam)
+Urani trong than: các biểu hiện urani trong than được phát hiện ở các mỏ than Nông Sơn và Núi Hồng Với mức độ nghiên cứu hiện tại, ta thấy urani trong than có hàm lượng thấp
+Urani trong trầm tích Đệ Tứ: Các biểu hiện quặng urani trong trầm tích Đệ Tứ đã được phát hiện ở Mường Hum Urani đi với đất hiếm và thori
-Tính đến tháng 12/2002, tổng tài nguyên urani ở VN dự báo khoảng trên 218.000 tấn
U3O8 trong đó cấp 333 là 16.560 tấn, cấp 334a là khoảng 115.110 tấn và khoảng trên 210.000 tấn cấp phỏng đoán 334b
-Ứng dụng:
Ứng dụng chủ yếu của urani trong lĩnh vực dân dụng là làm nhiên liệu cho các nhà máy điện hạt nhân
Trước khi phát hiện ra phóng xạ, urani được sử dụng chủ yếu với một lượng nhỏ trong thủy tinh vàng và đồ gốm
Bên cạnh thủy tinh gốm, còn có gạch urani được sử dụng phổ biến trong nhà tắm và bếp
Urani cũng được sử dụng làm hóa chất nhiếp ảnh
Kim loại urani được sử dụng trong máy X-quang để tạo ra tia X năng lượng cao