1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đề xuất một số mô hình nông lâm kết hợp có hiệu quả tại xã cát thịnh huyện văn chấn

106 535 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 670,15 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nông lâm kết hợp là một hệ thống quản lý đất đai vững bền làm gia tăng sức sản xuất tổng thể của đất đai, phối hợp sản xuất các loại hoa màu kể cả cây trồng lâu năm, cây rừng hay với gi

Trang 1

NGUYỄN MẠNH HÙNG

NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT MỘT SỐ

MÔ HÌNH NÔNG LÂM KẾT HỢP CÓ HIỆU QUẢ TẠI XÃ CÁT THỊNH – HUYỆN VĂN CHẤN

TỈNH YÊN BÁI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM NGHIỆP

THÁI NGUYÊN – 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN MẠNH HÙNG

NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT MỘT SỐ

MÔ HÌNH NÔNG LÂM KẾT HỢP CÓ HIỆU QUẢ TẠI XÃ CÁT THỊNH – HUYỆN VĂN CHẤN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan các số liệu nghiên cứu này đều được tiến hành tại Văn Chấn tỉnh Yên Bái, kết quả trong luận văn là trung thực và được thực hiện bởi chính tác

giả cùng nhóm nghiên cứu của trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Tác giả

Nguyễn Mạnh Hùng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Luận văn này được hoàn thành theo chương trình đào tạo theo chương trình đào tạo Cao học Lâm nghiệp khoá 21, giai đoạn 2013 – 2015 của Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên

Để hoàn thành luận văn, tác giả đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi của tập thể thầy cô giáo Khoa Lâm Nghiệp, Phòng Đào tạo bộ phận Quản lý Sau Đại học và lãnh đạo trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Đối với địa phương, tác giả đã nhận được những sự giúp đỡ của ban quản lý hạt kiểm lâm Văn Chấn, Ủy ban nhân dân xã Cát Thịnh huyện Văn Chấn tỉnh Yên Bái nơi mà tác giả đã đến thu thập số liệu đề tài Nhân dịp này, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn đối với sự giúp đỡ quý báu đó

Kết quả của luận văn này không thể tách rời sự chỉ dẫn của thầy giáo hướng dẫn khoa học là GS.TS Đặng Kim Vui và PGS.TS Trần Quốc Hưng đã nhiệt tình chỉ báo hướng dẫn để tôi hoàn thành luận văn này Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy hướng dẫn

Xin được cảm ơn sự khuyến khích, giúp đỡ của gia đình cùng bạn bè và đồng nghiệp xa gần, đó là nguồn khích lệ và cổ vũ to lớn đối với tác giả trong quá trình thực hiện và hoàn thành công trình này

Thái Nguyên, tháng 9 năm 2015

Học viên

Nguyễn Mạnh Hùng

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN I LỜI CẢM ƠN II MỤC LỤC III DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT V DANH MỤC CÁC BẢNG VI DANH MỤC CÁC HÌNH VII

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích 3

3 Mục tiêu nghiên cứu 3

4 Ý nghĩa 4

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5

1.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu 5

1.1.1 Các khái niệm 5

1.1.2 Đặc điểm các mô hình Nông lâm kết hợp 6

1.2 Tình hình nghiên cứu về NLKH trên thế giới 6

1.3 Tình hình nghiên cứu trong nước 24

1.3.1 Lịch sử nghiên cứu về nông lâm kết hợp ở Việt Nam 24

1.3.2 Phân loại hệ thống NLKH ở Việt Nam 26

1.3.3 Một số chính sách của nhà nước về phát triển sản suất Nông lâm nghiệp 27 1.3.4 Thực tế sản xuất nông lâm kết hợp ở Việt Nam 28

1.4 Tổng quan khu vực nghiên cứu 33

1.4.1 Điều kiện tự nhiên 33

1.4.2 Điều kiện phát triển kinh tế - xã hội 39

CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 42

2.1.Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 42

2.2 Nội dung 42

2.2.1 Đánh giá và tổng hợp các dạng mô hình NLKH hiện có ở địa phương 42

Trang 6

2.2.2 Nghiên cứu về quy mô và kết cấu của các dạng mô hình NLKH

điển hình 42

2.2.3 Đánh giá hiệu quả các dạng mô hình 42

2.2.4 Đánh giá các thuận lợi, khó khăn và các tổ chức ảnh hưởng tới phát triển mô hình NLKH tại địa bàn nghiên cứu 42

2.2.5 Đề xuất một số biện pháp kỹ thuật nhằm phát triển mô hình NLKH tại địa bàn nghiên cứu 42

2.3 Phương pháp nghiên cứu 42

2.3.1 Công tác ngoại nghiệp 43

2.3.2 Phương pháp nội nghiệp - Phương pháp xử lý số liệu 44

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH THẢO LUẬN 46

3.1 Đánh giá và phân các dạng mô hình NLKH hiện có ở xã Cát Thịnh 46

3.2 Nghiên cứu về quy mô và kết cấu của các dạng mô hình NLKH điển hình 50

3.3 Đánh giá hiệu quả các dạng mô hình 55

3.3.1 Đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình NLKH tại xã Cát Thịnh 55

3.3.2 Đánh giá hiệu quả về môi trường 76

3.3.3 Đánh giá hiệu quả về xã hội 77

3.4 Đánh giá những khó khăn, thuận lợi trong phát triển mô hình NLKH tại xã Cát Thịnh 78

3.4.1 Vai trò của các tổ chức 78

3.4.2 Những thuận lợi và khó khăn cho phát triển NLKH 81

3.5 Đề xuất một số giải pháp góp phần đẩy mạnh sản xuất nông lâm kết hợp trong toàn xã 84

3.5.1 Giải pháp chung 84

3.5.2 Giải pháp cụ thể 85

KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 88

1 Kết luận 88

2 Tồn tại 89

3 Kiến nghị 89

TÀI LIỆU THAM KHẢO 91

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Các loại đất của xã Cát Thịnh 36

Bảng 1.2: Hiện trạng sử dụng đất 37

Bảng 3.1: Các dạng mô hình NLKH tại các xóm của xã Cát Thịnh 49

Bảng 3.2: Phân loại các dạng hệ thống NLKH tại xã Cát Thịnh 50

Bảng 3.3: Kết cấu mô hình NLKH của các hộ được điều tra 57

Bảng 3.4: Thu nhập từ các thành phần và tỉ trọng của mỗi thành phần trong các mô hình điều tra 58

Bảng 3.5: Phân bố số hộ NLKH theo diện tích 60

Bảng 3.6: Phân bố số hộ NLKH theo mức thu chi/ha 61

Bảng 3.7: Tỷ lệ % tổng thu nhập sản phẩm của các loại hệ thống 62

Bảng 3.8: Tỷ lệ % tổng chi phí sản phẩm của các loại hệ thống 62

Bảng 3.9 Giá trị các loại rừng hiện có trên địa bàn xã Cát Thịnh 63

Bảng 3.10: Dự kiến hiệu quả kinh tế của các mô hình sau 5 năm (2019) 64

Bảng 3.11 Cơ cấu sử dụng đất của hộ gia đình 67

Bảng 3.12 Cơ cấu sử dụng đất của hộ gia đình 70

Bảng 3.13 Cơ cấu sử dụng đất của hộ gia đình 73

Bảng 3.14: Kết quả phân tích vai trò của các tổ chức xã hội đến vấn đề phát triển các hệ thống NLKH tại xã Cát Thịnh 79

Bảng 3.15: Sơ đồ SWOT cho sự phát triển các mô hình NLKH 83

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1 Lát cắt thẳng đứng mô hình 1 51

Hình 3.2 Sơ đồ mặt nằm ngang của mô hình 1 52

Hình 3.3 Lát cắt thẳng đứng mô hình 2 53

Hình 3.4 Sơ đồ mặt nằm ngang của mô hình 2 53

Hình 3.5 Lát cắt thằng đứng mô hình 3 54

Hình 3.6 Sơ đồ mặt nằm ngang của mô hình 3 54

Hình 3.7: Sơ đồ lát cắt hệ thống R – Rg- Ao- C 69

Hình 3.8: Sơ đồ lát cắt hệ thống R – Rg – C 72

Hình 3.9: Sơ đồ lát cắt mô hình R- Rg- Ao 75

Hình 3.10: Sơ đồ Venn thể hiện mối quan hệ giữa các tổ chức với phát triển các mô hình NLKH 80

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam với tổng số diện tích đất tự nhiên là 330.000km2, trong đó trên 70% diện tích là đất dốc, chính vì vậy hiện tượng xói mòn, rửa trôi và thoái hoá đất ở vùng đất dốc xảy ra thường xuyên và ngày càng có tính chất nghiêm trọng Đặc biệt trong giai đoạn gần đây dưới sức ép của dân số, nguồn đất dự trữ ở đồng bằng đã sử dụng hết, bình quân diện tích đất tự nhiên trên đầu người chỉ 0,46 ha (Nguyễn Văn Bích, 1983), để đảm bảo nhu cầu về lương thực người dân đã mở rộng diện tích đất canh tác bằng việc khai phá rừng, cho nên nạn chặt phá rừng ngày càng xảy ra mạnh mẽ, dẫn đến suy thoái tài nguyên rừng và môi trường như: Độ che phủ rừng cả nước giảm từ 40,7% (1940) xuống chỉ còn 27,7% (1993) (NXB chính trị quốc gia, 2005), các diện tích rừng còn lại phần lớn là rừng nghèo kiệt, trữ lượng gỗ thấp và ít loài cây

có giá trị kinh tế Mất rừng kéo theo nhiều hậu quả nghiêm trọng, gây lũ lụt hạn hán, mất đi sự đa dạnh sinh học [2], [11]

Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần hàng đầu của môi trường sống, là một trong những điều kiện không thể thiếu cho hoạt động sản xuất và đời sống của con người Việc xây dựng kế hoạch sử dụng đất đai có ý nghĩa vô cùng to lớn không chỉ trước mắt

mà còn cả lâu dài Trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, việc sử dụng đất hợp lý có hiệu quả phục vụ phát triển kinh tế - xã hội , giữ vững an ninh quốc phòng tránh gây lãng phí hạn chế sự hủy hoại đất và tránh phá vỡ môi trường sinh thái Ngành lâm nghiệp có tác dụng rất lớn đối với ngành kinh tế có nhiều mặt không chỉ cung cấp đặc sản rừng mà còn tác dụng giữ đất, điều tiết nguồn nứơc, chống ô nhiễm môi trường, điều hòa khí hậu, phòng hộ bảo về môi trường sinh thái, đa dạng sinh học và các giá trị cảnh

Trang 11

quan, du lịch , văn hóa…Vậy mà những năm qua dường như con người đã lãng quên ý nghĩa quan trọng đó, chỉ tập trung khai thác triệt để thỏa mãn nhu cầu trước mắt của mình Đầu tiên là khai thác kiệt quệ những loài gỗ quý có giá trị cao về mặt kinh tế và thẩm mỹ, làm giảm tính đa dạng sinh học, mất đi nguồn gen sinh vật quý và những giá trị văn hóa tồn tại trong nó mà còn làm xuất hiện hàng loạt các biến đổi tiêu cực của khí hậu như hiệu ứng nhà kính, thủng tầng ozon hay sự xuất hiện của lũ quét, lũ ống gay thiệt hại nặng nề về người và của

Nước ta là một nước nông nghiệp với dân số khoảng 90,5 triệu người (năm 2014) trong đó có trên 75% dân số sống dựa vào nông nghiệp nên đời sống còn nhiều khó khăn, đặc biệt ở nông thôn và miền núi thu nhập của họ từ nông lâm nghiệp Ở nước ta nói chung và miền núi nói riêng thì ngành nông lâm nghiệp còn kém phát triển, hoạt động sản xuất còn nhiều khó khăn, trình

độ canh tác chưa cao nên năng suất lao động thấp Hơn nữa nhiều nơi việc sử dụng đất đai còn bất hợp lý, việc sử đụng đất mới chỉ dừng lại ở việc lợi dụng

mà chưa có biện pháp cải tạo đất, nâng cao chất lượng dinh dưỡng trong đấtnhằm sử dụng đất một cách bền vững Do vậy, để có thể nâng cao hiệu quả

sử dụng đất đai, góp phần nâng cao năng suất cây trồng Việc quy hoạch sử dụng đất khu vực miền núi là việc làm cần thiết góp phần cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân khi vực miền núi

Cát Thịnh là xã miền núi, vùng cao Cát Thịnh là xã vùng ngoài huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái Cách trung tâm huyện lỵ Văn Chấn khoảng 20km, cách thành phố Yên Bái khoảng 50km Có tổng diện tích theo ranh giới hành chính là 16.912,28 ha.Trong đó diện tích đất nông nghiệp: 15883,13 ha chiếm 93,9% diện tích đất tự nhiên của toàn xã, diện tích đất phi nông nghiệp:160,6ha chiếm 1% diện tích đất toàn xã Diện tích đất chưa sử dụng: 868,54ha, chiếm 5,1% diện tích đất toàn xã.Với 26 xóm và có 11 dân tộc anh

Trang 12

em cùng sinh sống đó là: Kinh, Tày, Nùng, H Mông,… Do trình độ đân trí chưa cao nên sản xuất còn manh mún, đời sống nhan dân còn gặp nhiều khó khăn, cơ sở hạ tầng còn kém phát triển Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn

trên nên tôi đã chọn xã Cát Thịnh để thực hiện đề tài này: “Nghiên cứu đề xuất một số mô hình Nông lâm kết hợp có hiệu quả tại xã Cát Thịnh huyện Văn Chấn” đề tài này sẽ góp phần cho xã có thêm tài liệu để phát triển các

mô hình nông lâm kết hợp có tiềm năng và bền vững, môi trường sinh thái sẽ được cải thiện, sức khỏe cộng đồng sẽ được đảm bảo

2 Mục đích

Đánh giá hiệu quả của một số hệ thống NLKH điển hình, góp phần phát triển các hệ thống NLKH bền vững trên đất dốc, nâng cao đời sống người dân và bảo vệ môi trường sinh thái miền núi nói chung và tại xã Cát Thịnh nói riêng

Nghiên cứu các mô hình NLKH hiện có tại địa phương trên cơ sở đánh giá hiệu quả để từ đó làm cơ sở cho việc xây dựng và phát triển kinh tế bằng nông lâm nghiệp tại địa phương

3 Mục tiêu nghiên cứu

- Xác định, phân loại được các phương thức nông lâm kết hợp tại xã Cát

Thịnh, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái

- Đánh giá được hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường của hoạt động sản xuất NLKH thông qua các phương thức NLKH xã Cát Thịnh huyện Văn Chấn tỉnh Yên Bái

- Đề xuất được các giải pháp phát triển sản xuất NLKH có hiệu quả

- Đề xuất được giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của một số hệ thống NLKH tại địa phương, góp phần sử dụng đất bền vững

- Nhằm đánh giá phân loại được các phương thức NLKH tại xã Cát Thịnh từ đó đánh giá được hiệu quả về kinh tế, xã hội, môi trường mà các mô hình này đem lại

Trang 13

4 Ý nghĩa

- Các giải pháp mà đề tài đề xuất sẽ được ứng dụng vào thực tiễn sản xuất đẻ góp phần phát triển các hệ thống NLKH theo hướng sử dụng đất bền vững, cho hiệu quả kinh tế cao, ổn định đời sống người dân nông thôn miền núi

- Phân loại và đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình NLKH tại xã

- Tìm ra những thuận lợi và khó khăn trong quá trình phát triển NLKH

từ đó đưa ra một số giải pháp khắc phục những khó khăn và phát huy những

thuận lợi nhằm phát triển kinh tế tại xã

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Các khái niệm

Nông lâm kết hợp là một lĩnh vực khoa học mới được đề xuất vào thập niên 1960 bởi King (1969) Lịch sử phát triển về khái niệm mô hình NLKH

được các nhà nghiên cứu diễn tả và phát triển nó [30]

Nông lâm kết hợp là một hệ thống quản lý đất đai vững bền làm gia

tăng sức sản xuất tổng thể của đất đai, phối hợp sản xuất các loại hoa màu (kể

cả cây trồng lâu năm), cây rừng hay với gia súc cùng lúc hay kế tiếp nhau trên một diện tích đất và áp dụng các kỹ thuật canh tác tương ứng với các điều

kiện văn hoá xã hội của dân cư địa phương [21]

Nông lâm kết hợp là một hệ thống quản lý đất đai trong đó các sản

phẩm rừng và trồng trọt được sản xuất cùng lúc hay kế tiếp nhau trên các diện tích thích hợp để tạo ra các lợi ích kinh tế, xã hội và sinh thái cho cộng đồng dân

cư tại địa phương (PCARRD, 1979) (dẫn theo Phạm Xuân Hoàn 1994)[9]

Nông lâm kết hợp là một hệ thống sử dụng đất trong đó phối hợp cây

lâu năm với hoa màu và/hay vật nuôi một cách thích hợp với điều kiện sinh thái và xã hội, theo hình thức phối hợp không gian và thời gian, để tăng sức sản xuất tổng thể của thực vật trồng và vật nuôi một cách bền vững trên một đơn vị diện tích đất, đặc biệt trong các tình huống có kỹ thuật thấp và trên các

vùng đất khó khăn [34]

Nông lâm kết hợp là tên chung của những hệ thống sử dụng đất trong

đó các cây lâu năm (cây gỗ, cây bụi, cọ, tre, hay cây ăn quả, cây công nghiệp ) được trồng có suy tính trên cùng một đơn vị diện tích quy hoạch đất

Trang 15

với hoa màu và/hoặc với vật nuôi dưới dạng xen theo không gian hay theo thời gian Trong các hệ thống nông lâm kết hợp có mối tác động hỗ tương qua

lại về cả mặt sinh thái lẫn kinh tế giữa các thành phần của chúng [33]

Nông lâm kết hợp là một hệ thống quản lý tài nguyên đặt cơ sở trên

đặc tính sinh thái và năng động nhờ vào sự phối hợp cây trồng lâu năm vào nông trại hay đồng cỏ để làm đa dạng và bền vững sự sản xuất cho gia tăng các lợi ích về xã hội, kinh tế và môi trường sinh thái của các mức độ nông trại

kinh tế hộ nhỏ đến "kinh tế trang trại" Một cách đơn giản, Nông lâm kết hợp

là trồng cây trên nông trại (ICRAF, 1997)[19]

1.1.2 Đặc điểm các mô hình Nông lâm kết hợp

Với định nghĩa của trên của ICRAF, một hệ thống canh tác sử dụng đất được gọi là nông lâm kết hợp có đặc điểm sau:

- Kỹ thuật nông lâm thường bao gồm hai hay nhiều hơn hai loại thực vật (hay động vật và thực vật) trong đó ít nhất phải có một loại cây thân gỗ

đa niên

- Có ít nhất hai hay nhiều hơn sản phẩm từ hệ thống

- Chu kỳ sản xuất thường dài hơn là một năm

- Đa dạng hơn về sinh thái (cấu trúc và nhiệm vụ) và về kinh tế so với canh tác độc canh

- Cần có một mối quan hệ hỗ tương có ý nghĩa giữa thành phần cây gỗ

và các thành phần khác [19]

1.2 Tình hình nghiên cứu về NLKH trên thế giới

Các vấn đề trong phát triển nông thôn miền núi

Ở các quốc gia Đông Nam Á, khu vực đất nông thôn và miền núi chiếm phần lớn diện tích lãnh thổ và là nơi sinh sống của một bộ phận lớn dân cư

Trang 16

của quốc gia Ở Việt Nam, đất đồi núi chiếm khoảng 2/3 diện tích và là vùng sinh sống của hơn 1/3 dân số cả nước (Jamieson và cộng sự, 1998; Chu Hữu

Quý, 1995; Rambo, 1995) [29]

Tính chất mong manh và dễ bị tổn thương của đất và rừng nhiệt đới

Rừng và đất là hai nguồn tài nguyên cơ bản của vùng nhiệt đới ẩm Khi không bị tác động, các hệ sinh thái rừng nhiệt đới vốn ổn định nhờ vào sự đa dạng cao độ của các loài cây và con, được gắn kết với nhau thông qua các chu trình dinh dưỡng gần như khép kín (Warner, 1991) Theo Richard (1977) sự

ổn định của hệ sinh thái vùng nhiệt đới chính là sự thể hiện khả năng chống

đỡ các biến đổi thất thường của khí hậu và các yếu tố khác của môi trường tự nhiên Trong đó, các loài thực vật thân gỗ đóng vai trò chủ đạo trong việc quyết định cấu trúc, chức năng và tính bền vững của hệ sinh thái rừng (daanx theo bởi Warner, 1991)[45]

Tuy nhiên sự ổn định này chỉ có thể tồn tại trong khuôn khổ quá trình diễn thế tự nhiên Dưới tác động của con người, rừng và đất nhiệt đới trở nên rất dễ bị tan vỡ Chính các nhân tố đa dạng, phức tạp và chu trình dinh dưỡng khép kín vốn có khả năng duy trì hệ sinh thái rừng nhiệt đới trong bối cảnh không bị tác động đã tạo nên các đặc tính dễ bị tan vỡ khi tiếp xúc với con người (Warner, 1991) Ở rừng mưa nhiệt đới, do tính chất chuyên biệt cao độ của từng loài thực vật đã dẫn đến khả năng phục hồi thấp khi có tác động trên qui mô lớn của con người (Goudic, 1984 - dẫn theo Warner, 1991) Do phần lớn chất dinh dưỡng trong hệ sinh thái được dự trữ trong sinh khối, nên một khi rừng bị chặt phá đi thì xẩy ra hiện tượng thiếu chất dinh dưỡng để duy trì tăng trưởng mới của các loài cây Thêm vào đó do lượng mưa lớn, trong điều kiện không có cây che phủ, các quá trình rửa trôi và xói mòn diễn ra mạnh mẽ

làm đất đai bị thoái hóa nhanh chóng Như vậy sự bền vững của đất rừng

Trang 17

nhiệt đới hoàn toàn phụ thuộc vào lớp che phủ thực vật có cấu trúc phức tạp,

đa dạng mà trong đó các loài cây thân gỗ đóng vai trò chủ đạo Hiện tượng

thiếu chất dinh dưỡng trong đất cũng như vai trò quyết định của thảm thực vật

rừng đến sự bền vững về sức sản xuất của đất cho thấy về cơ bản thì đất nhiệt

đới không phù hợp với các phương thức sản xuất nông nghiệp độc canh [45]

Lược sử hình thành và phát triển nông lâm kết hợp

Lịch sử phát triển nông lâm kết hợp thế giới

Canh tác cây thân gỗ cùng với cây trồng nông nghiệp trên cùng một diện tích là một tập quán sản xuất lâu đời của nông dân ở nhiều nơi trên thế giới Theo King (1987), cho đến thời Trung cổ ở châu Âu, vẫn tồn tại một tập quán phổ biến là "chặt và đốt" rồi sau đó tiếp tục trồng cây thân gỗ cùng với cây nông nghiệp hoặc sau khi thu hoạch nông nghiệp Hệ thống canh tác này vẫn tồn tại ở Phần Lan cho đến cuối thế kỷ 19, và vẫn còn ở một số vùng của Đức đến tận những năm 1920 Nhiều phương thức canh tác truyền thống ở châu Á, Châu Phi và khu vực nhiệt đới châu Mỹ đã có sự phối hợp cây thân

gỗ với cây nông nghiệp để nhằm mục đích chủ yếu là hỗ trợ cho sản xuất nông nghiệp và tạo ra các sản phẩm phụ khác khác như: gỗ, củi, đồ gia dụng,

v.v [30]

Sự phát triển của hệ thống Taungya

Vào cuối thế kỷ 19, hệ thống taungya bắt đầu phát triển rộng rãi ở

Myanmar dưới sự bảo hộ của thực dân Anh Trong các đồn điền trồng cây gỗ

tếch (Tectona grandis), người lao động được phép trồng cây lương thực giữa

các hàng cây chưa khép tán để giải quyết nhu cầu lương thực hàng năm Phương thức này sau đó được áp dụng rộng rãi ở Ấn Độ và Nam Phi Các nghiên cứu và phát triển các hệ thống kết hợp này thường hướng vào mục

Trang 18

đích sản xuất lâm nghiệp, được thực hiện bởi các nhà lâm nghiệp với việc luôn cố gắng đảm bảo các nguyên tắc

- Giảm thiểu hoặc không gây tổn hại đến các loài cây rừng trồng là đối tượng cung cấp sản phẩm chủ yếu trong hệ thống

- Sinh trưởng của cây rừng trồng không bị hạn chế bởi cây nông nghiệp

- Tối ưu hóa về thời gian canh tác cây trồng nông nghiệp sẽ đảm bảo tỉ

lệ sống và tốc độ sinh trưởng nhanh của cây trồng thân gỗ

- Loài cây rừng trồng có khả năng cạnh tranh với các loài cây nông nghiệp

- Tối ưu hóa mật độ để đảm bảo sự sinh trưởng liên tục của cây trồng thân gỗ

Chính vì vậy mà các hệ thống này chưa được xem xét như là một hệ thống

quản lý sử dụng đất có ý nghĩa cho phát triển nông nghiệp (Nair, 1993) [35]

Các nhân tố làm tiền đề cho sự phát triển của nông lâm kết hợp trên phạm vi toàn cầu

Nhiều nhân tố phát triển trong thập niên 70 của thế kỷ 20 đã tạo điều kiện cho việc công nhận nông lâm kết hợp là một hệ thống quản lý sử dụng đất có khả năng áp dụng cho cả trong nông nghiệp (trên nông trại) và lâm nghiệp (trên đất rừng) Các nhân tố này bao gồm:

- Sự đánh giá lại chính sách phát triển của Ngân hàng Thế giới (WB);

- Sự tái thẩm định các chính sách lâm nghiệp của Tổ chức Lương Nông (FAO) thuộc Liên Hiệp Quốc;

- Sự thức tỉnh các mối quan tâm khoa học về xen canh và hệ thống canh tác;

- Tình trạng thiếu lương thực ở nhiều vùng trên thế giới;

Trang 19

- Sự gia tăng nạn phá rừng và suy thoái về môi trường sinh thái;

- Cuộc khủng hoảng năng lượng trong thập niên 70 của thế kỷ 20 và sau đó là sự leo thang về giá cả và thiếu phân bón;

- Trung tâm Nghiên cứu phát triển Quốc tế (IDRC) của Canada thiết lập dự án xác định các ưu tiên nghiên cứu về lâm nghiệp nhiệt đới

- Các thay đổi về chính sách phát triển nông thôn

Trong vòng 2 thập niên 60 và 70 của thế kỷ 20, dưới sự bảo trợ của Nhóm tư vấn về Nghiên cứu Nông nghiệp Quốc tế (CGIAR), nhiều trung tâm nghiên cứu nông nghiệp quốc tế được thành lập ở nhiều khu vực trên thế giới nhằm nghiên cứu nâng cao năng suất của các loại cây trồng và vật nuôi chủ yếu ở vùng nhiệt đới Việc phát triển các giống cây trồng ngũ cốc năng suất cao và các kỹ thuật thâm canh liên quan nhờ vào nỗ lực của một số Trung tâm

và các chương trình quốc gia có liên quan đã tạo nên một sự thay đổi lớn về năng suất nông nghiệp mà thường được gọi là Cách mạng Xanh (Green Revolution) (Borlaug và Dowswell, 1988) Tuy nhiên các nhà quản lý và phát triển đã sớm nhận thấy rằng các kỹ thuật thâm canh mới đã làm tăng nhu cầu phân bón và các chi phí đầu vào khác trong khi đó vẫn còn một bộ phận lớn nông dân nghèo nằm ngoài tầm ảnh hưởng tích cực của cuộc cách mạng trên Phần lớn các Trung tâm nghiên cứu nông nghiệp quốc tế và các chương trình phát triển nông nghiệp quốc gia trong thời gian này chỉ mới tập trung nghiên cứu các loại cây trồng riêng rẽ trong khi thực tế nông dân lại canh tác một cách tổng hợp: trồng xen các loại cây nông nghiệp khác nhau, cây ngắn ngày với cây gỗ dài ngày, v.v Sự thiếu sót này đã được nhiều nhà quản lý và hoạch định chính sách nhận ra [22]

Từ đầu thập niên 70, chính sách phát triển của Ngân hàng Thế giới đã bắt đầu chú ý hơn các vùng nông thôn nghèo cùng với sự tham gia của nông

Trang 20

dân vào các chương trình phát triển nông thôn Trong chương trình Lâm nghiệp xã hội của WB trong những năm 1980 không chỉ chứa đựng nhiều yếu

tố của nông lâm kết hợp mà còn thiết kế trợ giúp nông dân thông qua gia tăng sản xuất lương thực thực phẩm, bảo vệ môi trường và phát huy các lợi ích truyền thống của rừng Trong thời gian này, bên cạnh phát triển nông nghiệp, FAO đặc biệt chú trọng nhấn mạnh vai trò quan trong của lâm nghiệp trong phát triển nông thôn, khuyến cáo nông dân và nhà nước nên chú trọng đặc biệt đến các ích lợi của rừng và cây thân gỗ đến sản xuất nông nghiệp, khuyến cáo các nhà quản lý sử dụng đất kết hợp cả nông nghiệp và lâm nghiệp vào hệ thống canh tác của họ Nhiều khái niệm mới về lâm nghiệp như lâm nghiệp cộng đồng, lâm nghiệp xã hội đã được hình thành và áp dụng ở nhiều nước

mà nông lâm kết hợp thường được xem là một phương thức sử dụng đất nhiều tiềm năng, đem lại những lợi ích trực tiếp cho cộng đồng địa phương và toàn

xã hội

- Nạn phá rừng và tình trạng suy thoái môi trường

Cuối thập niên 70 và các năm đầu thập niên 80, sự suy thoái tài nguyên môi trường toàn cầu, nhất là nạn phá rừng, đã trở thành mối quan tâm lo lắng lớn của toàn xã hội Sự phát triển của nông nghiệp nương rẫy đi kèm với áp lực dân số, sự phát triển nông nghiệp thâm canh hóa học, độc canh trên qui

mô lớn và khai thác lâm sản là những nguyên nhân chủ yếu gây ra sự mất rừng, suy thoái đất đai và đa dạng sinh học Theo ước tính của FAO (1982),

du canh là nguyên nhân tạo ra hơn 70% của tổng diện tích rừng nhiệt đới bị mất ở châu Phi; diện tích đất rừng bỏ hóa sau nương rẫy chiếm 26,5% diện tích rừng khép tán còn lại ở châu Phi, khoảng 16% ở châu Mỹ Latin và 22,7%

ở khu vực nhiệt đới của châu Á

Trang 21

- Sự gia tăng các mối quan tâm về nghiên cứu các hệ thống canh tác tổng hợp

và các hệ thống kỹ thuật truyền thống

Thực trạng này cùng nhiều nỗ lực nghiên cứu đã gợi mở ra các chiến lược quản lý sử dụng đất tổng hợp thay thế cho các phương thức quản lý hiện thời không bền vững đã được xác định là một xu hướng tất yếu Chẳng hạn như các nhà sinh thái học đã cung cấp nhiều bằng chứng thuyết phục về vai trò của rừng và cây thân gỗ đối với việc đảm bảo độ ổn định của hệ sinh thái, dẫn đến các biện pháp cần thiết để bảo vệ rừng còn lại, đưa các loài cây thân

gỗ lâu năm vào các hệ thống sử dụng đất cũng như làm thay đổi quan điểm canh tác Đã có nhiều kết quả nghiên cứu ban đầu ở nhiều khu vực trên thế giới về tính hiệu quả cao trong việc sử dụng các tài nguyên tự nhiên (đất, nước và ánh sáng mặt trời) cũng như tính ổn định cao của các hệ thống xen canh, các hệ thống canh tác tổng hợp so với hệ thống nông nghiệp độc canh (Papendick và cộng sự, 1976) Các nghiên cứu của các nhà nhân chủng học và khoa học xã hội về hệ thống sử dụng đất đã chỉ ra tầm quan trọng của các hệ thống canh tác tổng hợp bản địa/truyền thống và lưu ý cần xem xét chúng

trong quá trình phát triển các tiếp cận mới (Nair, 1993)

- Sự hình thành Trung tâm Quốc tế về Nghiên cứu Nông Lâm Kết Hợp (ICRAF)

Vào tháng 7/1977, được sự ủy nhiệm của Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Quốc tế (IDRC) của Canada, John Bene đã tiến hành dự án nghiên cứu với các mục tiêu:

- Xác định các khoảng trống trong đào tạo và nghiên cứu lâm nghiệp thế giới;

- Đánh giá sự phụ thuộc lẫn nhau giữa nông nghiệp và lâm nghiệp ở các quốc gia nhiệt đới có thu nhập thấp và đề xuất nghiên cứu nhằm tối ưu hóa sử dụng đất;

Trang 22

- Xây dựng các chương trình nghiên cứu lâm nghiệp nhằm tạo ra các tác động kinh tế, xã hội có ý nghĩa ở cho các nước đang phát triển;

- Đề xuất các sắp xếp về tổ chức, thể chế để thực hiện các nghiên cứu trên một cách có hiệu quả và

- Chuẩn bị kế hoạch hành động để có được ủng hộ của các nhà tài trợ quốc tế

Mặc dù với mục đích ban đầu là xác định các ưu tiên nghiên cứu cho lâm nghiệp nhiệt đới, nhóm nghiên cứu của John Bene đã đi đến kết luận rằng: để tối ưu hóa sử dụng đất nhiệt đới, ưu tiên số một nên là nghiên cứu và phát triển các hệ thống kết hợp giữa lâm nghiệp với nông nghiệp và chăn nuôi Hay nói cách khác, đã có một sự chuyển dịch trọng tâm từ lâm nghiệp sang những khái niệm sử dụng đất rộng hơn, phù hợp hơn ở cả hai phương diện trực tiếp (trước mắt) và dài hạn (Bene và cộng sự, 1977) Báo cáo dự án này của IDRC đã được các cơ quan quốc tế xem xét và dẫn đến sự hình thành Hội đồng Quốc tế về Nghiên cứu Nông Lâm kết hợp vào năm 1977, vào 1991

cơ quan này được đổi tên thành Trung tâm Quốc tế về Nghiên cứu Nông Lâm kết hợp (International Centre for Research in Agroforestry - ICRAF) Kể từ khi thành lập, ICRAF là tổ chức luôn đi đầu trong thu thập thông tin, tiến

hành các dự án nghiên cứu, chuyển giao kết quả [21]

- Sự phát triển phương pháp tiếp cận trong nghiên cứu và phát triển Song song với sự phát triển khái niệm và các nghiên cứu kỹ thuật, phương pháp tiếp cận trong nghiên cứu và phát triển nông lâm kết hợp cũng không ngừng được cải thiện Trong một thập niên gần đây, các công cụ chẩn đoán - thiết kế - phát triển đã được phát triển trên cơ sở lý luận của các tiếp cận có sự tham gia vốn được sử dụng phổ biến trong lâm nghiệp xã hội Các nghiên cứu phân tích ảnh hưởng của môi trường chính sách đến phát triển

Trang 23

nông lâm kết hợp và các tác động của phát triển nông lâm kết hợp lên hệ thống sử dụng đất, cảnh quan và môi trường kinh tế xã hội cũng như khả năng chấp nhận của nông dân cũng đang được chú trọng xem xét Bên cạnh đó, nhiều phương pháp nghiên cứu mới có liên quan đến các ngành khoa học khác như khoa học đất, sinh lý học thực vật, sinh thái học, khoa học hệ thống

và mô phỏng, v.v đã được áp dụng vào nghiên cứu nông lâm kết hợp đã tạo

ra được các tiến bộ đáng kể trong nghiên cứu

- Sự hòa nhập của nông lâm kết hợp vào chương trình đào tạo nông nghiệp, lâm nghiệp và phát triển nông thôn

Ngày nay, các kiến thức về nông lâm kết hợp đã được đưa vào giảng dạy ở các trường đại học, viện nghiên cứu-đào tạo về nông nghiệp, lâm nghiệp, phát triển nông thôn và quản lý tài nguyên thiên nhiên Tiềm năng của nông lâm kết hợp trong việc cải tạo đất, bảo tồn đa dạng sinh học và nguồn nước nói chung đã được công nhận Về thực chất thì nông lâm kết hợp thường được xem như là một hệ thống sử dụng đất có tiềm năng đem lại các ích lợi

về lâm sản, lương thực thực phẩm trong lúc vẫn có khả năng bảo tồn và khôi

phục hệ sinh thái

- Lợi ích của các hệ thống nông lâm kết hợp và thách thức

- Các lợi ích của nông lâm kết hợp

Thực tiễn sản xuất cũng như nhiều công trình nghiên cứu trung và dài hạn ở nhiều nơi trên thế giới đã cho thấy nông lâm kết hợp là một phương thức sử dụng tài nguyên tổng hợp có tiềm năng thoả mãn các yếu tố của phát triển nông thôn và miền núi bền vững Các lợi ích mà nông lâm kết hợp có thể mang lại rất đa dạng, tuy nhiên có thể chia thành 2 nhóm: nhóm các lợi ích trực tiếp cho đời sống cộng đồng và nhóm các lợi ích gián tiếp cho cộng

đồng và xã hội

Trang 24

Các lợi ích trực tiếp của nông lâm kết hợp

- Cung cấp lương thực và thực phẩm: Nhiều mô hình nông lâm kết hợp

được hình thành và phát triển nhằm vào mục đích sản xuất nhiều loại lương thực thực phẩm, có giá trị dinh dưỡng cao đáp ứng nhu cầu của hộ gia đình Điển hình là hệ thống VAC được phát triển rộng rãi ở nhiều vùng nông thôn ở nước ta Ưu điểm của các hệ thống nông lâm kết hợp là có khả năng tạo ra sản phẩm lương thực và thực phẩm đa dạng trên một diện tích đất mà không yêu

cầu đầu vào lớn

- Các sản phẩm từ cây thân gỗ: Việc kết hợp cây thân gỗ trên nông trại

có thể tạo ra nhiều sản phẩm như gỗ, củi, tinh dầu, v.v để đáp ứng nhu cầu về

nguyên vật liệu cho hộ gia đình

- Tạo việc làm: Nông lâm kết hợp gồm nhiều thành phần canh tác đa dạng có tác dụng thu hút lao động, tạo thêm ngành nghề phụ cho nông dân

- Tăng thu nhập nông hộ: Với sự phong phú về sản phẩm đầu ra và ít

đòi hỏi về đầu vào, các hệ thống nông lâm kết hợp dễ có khả năng đem lại thu

nhập cao cho hộ gia đình

- Giảm rủi ro trong sản xuất và tăng mức an toàn lương thực: Nhờ có

cấu trúc phức tạp, đa dạng được thiết kế nhằm làm tăng các quan hệ tương hỗ (có lợi) giữa các thành phần trong hệ thống, các hệ thống nông lâm kết hợp thường có tính ổn định cao trước các biến động bất lợi về điều kiện tự nhiên (như dịch sâu bệnh, hạn hán, v.v.) Sự đa dạng về loại sản phẩm đầu ra cũng góp phần giảm rủi ro về thị trường và giá cho nông hộ

Đất dưới cây lâu năm có khuynh hướng phát triển cấu tượng ổn định và giữ nước tốt do chất hữu cơ từ vật rụng và rễ rã mục của cây (Young, 1987) Nair (1987) trong bài tổng hợp các hệ thống sử dụng đất nhau đã đề cập rằng

“việc đưa cây lâu năm vào trồng vào nông trại cho kết quả là lý tính đất được cải tạo tốt hơn về độ thấm nước, khả năng giữ nước, cấu tượng, và chế độ

Trang 25

nhiệt” Tuy nhiên, lưu ý rằng để đạt được các cải thiện trên, đất cần thời gian tác động lâu dài của cây lâu năm [42][34]

Các kết quả nghiên cứu đã chứng tỏ rằng khả năng giữ nước của đất đã

gia tăng với đất có trồng cây Albizzia albida so với không trồng (Felker, 1976) Các thí nghiệm khác đã chứng tỏ rằng cây A albida ở Sahel và Prosopis cineraria ở Rajasthan, Ấn Độ đã làm gia tăng hàm lượng sét của đất

dưới tán các cây này (Jung, 1966; Mann và Saxena, 1980 được trích dẫn bởi Sanchez, 1987) [28], [39]

Để có thêm chứng cớ rõ ràng về ảnh hưởng của cây trong các hệ thống nông lâm kết hợp cần thêm nhiều thí nghiệm khác để làm sáng tỏ đặc biệt đối với

sự cải thiện lý tính đất của cây Tuy nhiên, căn cứ vào các chứng cứ gián tiếp được trình bày ở trên, cũng như các bằng cớ hiển nhiên của sự gia tăng chất hữu cơ trong đất, nhiều tác giả đã đưa ra các giả thuyết cho rằng trong các hệ thống nông

lâm kết hợp cây lâu năm cải thiện được sức sản xuất của đất

Ảnh hưởng đến hóa tính của đất

-Giữ gìn được chất hữu cơ trong đất

Cây lâu năm thường được đánh giá là làm gia tăng hay ít nhất là giữ gìn được hàm lượng chất hữu cơ trong đất (Young, 1986 được chú dẫn bởi Sanchez, 1987) Một sự gia tăng hàm lượng chất hữu cơ trong đất sẽ là nền tảng cho sự cải tạo độ phì đất trong kỹ thuật nông lâm kết hợp (Avery, 1988) Hiện tượng này được giải thích chủ yếu do lượng vật rụng trên không và sự rã mục của hệ rễ cây dưới đất (Young, 1987) Một thí nghiệm của Kellman (1979) về ảnh hưởng của các loài cây lâu năm ở vùng trảng khô Savanna ở Belize trên đất litisols bị phong hóa mạnh và nghèo chất dinh dưỡng đã chứng tỏ ảnh hưởng này của cây đối với hóa tính của đất

Bảng dưới đây đã chứng tỏ rằng đất dưới cây trồng Byrsohima sp có hàm

lượng chất hữu cơ cao hơn so với ngoài trảng trống Một thí nghiệm tương

Trang 26

tự khác được tiến hành ở India đã phát hiện rằng hàm lượng carbon hữu cơ

ở đất dưới tán cây Prosopis sp cao hơn so với vùng kế cận không có cây

(Singh và Lal, 1969) [42], [31], [41]

- Tăng thêm các chất dinh dưỡng vào đất: điều này giải thích tại sao

cần lưu ý vai trò của các cây họ Đậu cố định đạm Một cách tổng quát, cây lâu năm đã hoàn trả các chất dinh dưỡng vào đất thông qua vật rụng của chúng

(Nair, 1984) Trong một thí nghiệm so sánh đất dưới rừng cây Byrsohima sp

và đất ở trảng bụi, kết quả phân tích cho thấy do sự đóng góp của vật rụng mà đất dưới rừng cây trên có hàm lượng các chất Ca, K, Mg, Na, và phần trăm lượng bazơ gia tăng cao hơn so với đất trảng cỏ bụi Kellman (1978) cũng đã chứng tỏ rằng các dinh dưỡng Ca, Mg, K, Na, PO4 và N gia tăng khi khảo sát đất ở vùng dưới tán rừng từ các vùng trống trải xung quanh Tương tự như vậy Singh và Lal, 1969 cũng đã có kết quả về tổng số N, P, và K cao hơn ở dưới tán cây so với các vùng trống trải xung quanh [35], [31], [41]

Juo và Lal (1977) được trích bởi Sanchez (1987) đã so sánh các ảnh hưởng của hệ thống hưu canh dùng cây keo dậu so với cây bụi hoang dã trên đất Alfisol ở Tây Nigeria về một số chỉ tiêu hóa tính của đất Sau 3 năm, trong đó cây keo dậu được cắt xén hàng năm để làm chất tủ và bồi dưỡng cho đất, đất hưu canh với cây keo dậu cho khả năng hoán chuyển cũng như mức

độ trao đổi của các cation Ca++

và K+ cao khi so sánh với đất hưu canh bằng cây cỏ bụi hoang dại [39]

Nhiều khả năng khác của cây lâu năm bổ sung chất dinh dưỡng cho đất

đã được nghiên cứu và tổng hợp thành tài liệu bao gồm sự cố định đạm của các cây họ Đậu và cộng sinh của nấm mycorrhizae với rễ cây (Young, 1987)

Thí dụ, một rừng thuần loại cây Leucaena leucocephala ở Philippin được cắt

tỉa liên tục sau thời gian từ 8 đến 12 tuần có thể cho 10 đến 24 tấn / ha phân xanh tương đương với 70 đến 500 kg N/ha (Vergara, 1982) [42], [44]

Trang 27

Các loài cây họ Đậu thường được các nhà khoa học nông lâm lưu tâm như là một loài cây phù hợp để trồng trong hệ thống Điều này do vai trò cố định đạm của cây (Nair, 1984) Felker (1978) cũng đã xác định rằng cây

Acacia albida trồng với mè (vừng) và đậu phụng (lạc) tại Tây Phi đã cố định

21 kg N/ha/năm, trong khi cây Prosopis tamarugo ở Chi Lê trên đất phù sa

mặn cố định đến 198 kg N/ha/năm Trong thí nghiệm của Kellman đã được dẫn chứng trên, tác giả đã quan sát thấy rằng mức độ chất dinh dưỡng ở đất

quanh gốc cây (Byrsohima sp.) có thể đạt được bằng và ngay cả cao hơn

mức độ của các vùng rừng trảng khô kế cận Do các cây mọc ở trảng thường không có hệ rễ sâu, nên nhiều giả thuyết giải thích rằng hấp thu chất dinh dưỡng hòa tan trong lượng nước mưa là nguồn chính cung cấp chất dinh dưỡng cho cây sinh trưởng Liên hệ với điều này, Brunig và Sander (1984) cũng đã cho rằng ở những lập địa đất nghèo chất dinh dưỡng các nhập lượng chất dinh dưỡng từ nước mưa trở nên rất ý nghĩa cho cây [35], [28], [23]

- Làm cho chu trình chất dinh dưỡng trở nên hữu hiệu hơn qua các

hiện tượng cộng sinh của vi khuẩn Rhizobium với rễ cây họ Đậu, bơm chất dinh dưỡng ở tầng sâu lên đất mặt, và sản xuất phân xanh Một giả thuyết khác về lợi ích của kỹ thuật nông lâm đối với sự cải tạo đất là chu trình chuyển hóa hữu hiệu của các chất dinh dưỡng trong hệ thống Các cơ chế quan trọng cần chú ý là sự sử dụng các cây cố định đạm họ Đậu, hiện tượng

"bơm" chất dinh dưỡng ở tầng đất sâu lên lớp đất mặt của cây lâu năm và việc dùng phân xanh trong canh tác

Vai trò của các cây họ Đậu cố định đạm đã được nghiên cứu từ lâuvà

sự sử dụng các cây họ Đậu làm gia tăng độ phì nhiêu của đất đã được chứng

tỏ bởi nhiều thí nghiệm của Young, 1987; Vergara, 1982 Nhiều tác giả cũng nhấn mạnh đến tiềm năng của các loài cây này trong các hệ thống nông lâm

Trang 28

kết hợp Đạm tự do trong không khí được cố định thành đạm hữu dụng nhờ các loài cây họ Đậu và các loài vi khuẩn và nấm cố định đạm Các chất đạm này sẽ cấu tạo sinh khối của thực vật và sẽ trả lại cho đất qua vật rụng và rễ bị phân hủy để cung cấp dinh dưỡng lại cho các loài thực vật khác [42], [44]

Cơ chế quan trọng khác là hiện tượng “ bơm chất dinh dưỡng lên “ hay

di chuyển chất dinh dưỡng từ tầng đất sâu lên lớp đất mặt ( Avery, 1987; Young, 1987) Hiện tượng này giải thích rằng cây có hệ rễ sâu có thể hấp thu chất dinh dưỡng bị rửa trôi xuống sâu và chuyển chúng thành hữu hiệu ở tầng đất mặt thông qua vật rụng cho các loài hoa màu có rễ cạn (nông) Tuy vậy, cần lưu ý rằng chưa có đủ kết quả thí nghiệm để giải thích cặn kẽ hiện tượng này một cách khoa học (1987) Một số hoài nghi đã được Avery, 1987 tổng kết như sau:[22], [42]

Không phải tất cả các cây lâu năm đều có rễ sâu hơn các loài cỏ hay cây tầng thấp,

Điều kiện ở rừng tự nhiên và rừng trồng có thể khác so với từng cá thể cây, Hiện tượng này có thể có ý nghĩa khi cây được trồng sau một thời gian dài

Cơ chế sau cùng về phân xanh được đề cập nhiều trong các hệ thống trồng xen hoa màu với cây bụi họ Đậu hay kỹ thuật SALT sẽ được giới thiệu chi tiết

trong các chương sau

Cây ngăn chặn xói mòn đất và cải thiện bảo tồn nước

Bảo tồn đất và nước là mối quan tâm chính cho vùng cao ở Việt Nam và các nước nhiệt đới khác Vai trò của cây trong việc bảo tồn nước và kiểm soát xói mòn là một trong các lợi ích của cây lâu năm khiến phải phối hợp trồng cây vào nông trại (Nair, 1987) Nhiều thí nghiệm so sánh các vùng có tán cây che khác nhau trên các diện tích canh tác và người ta đã phát hiện rằng lượng xói mòn đất và nước chảy trên mặt đất sẽ giảm nhiều dưới tán rừng Nghiên cứu của Kellman (1969) ở Mindanao chứng tỏ rằng đất dưới tán rừng chỉ bị mất đi

Trang 29

0.25gam đất/ngày so với 3,2gam/ngày của đất độc canh cây bắp Tương tự như vậy, thí nghiệm ở núi Makiling tại Los Banos đã chứng tỏ rằng đất rừng thứ sinh có tỉ lệ xói mòn thấp nhất trong khi đất làm rẫy có lượng xói mòn cao nhất (Pacardo và Samson, 1986) [34], [31]

Các lợi ích của nông lâm kết hợp trong việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường

- Nông lâm kết hợp trong bảo tồn tài nguyên đất và nước:

Hơn 20 năm nghiên cứu nông lâm kết hợp phối hợp với các kết quả nghiên cứu về sinh thái học, nông nghiệp, lâm nghiệp và khoa học đất đã cho thấy các hệ thống nông lâm kết hợp - nếu được thiết kế và quản lý thích hợp -

sẽ có khả năng: giảm dòng chảy bề mặt và xói mòn đất; duy trì độ mùn và cải thiện lý tính của đất và phát huy chu trình tuần hoàn dinh dưỡng, tăng hiệu quả sử dụng dinh dưỡng của cây trồng và vật nuôi Nhờ vậy, làm gia tăng độ phì của đất, tăng hiệu quả sử dụng đất và giảm sức ép của dân số gia tăng lên tài nguyên đất (Young, 1997) [43]

Ngoài ra, trong các hệ thống nông lâm kết hợp do hiệu quả sử dụng chất dinh dưỡng của cây trồng cao nên làm giảm nhu cầu bón phân hóa học,

vì thế giảm nguy cơ ô nhiễm các nguồn nước ngầm (Young, 1997) [43]

Nông lâm kết hợp trong bảo tồn tài nguyên rừng và đa dạng sinh học:

Thông qua việc cung cấp một phần lâm sản cho nông hộ, nông lâm kết hợp có thể làm giảm tốc độ khai thác lâm sản từ rừng tự nhiên Mặt khác, nông lâm kết hợp là phương thức tận dụng đất có hiệu quả nên làm giảm nhu cầu mở rộng đất nông nghiệp bằng khai hoang rừng Chính vì vậy mà canh tác nông lâm kết hợp sẽ làm giảm sức ép của con người vào rừng tự nhiên, giảm tốc độ phá rừng (Young, 1997) [43]

Trang 30

Các hộ nông dân qua canh tác theo phương thức này sẽ dần dần nhận thức được vai trò của cây thân gỗ trong việc bảo vệ đất, nước và sẽ có đổi mới

về kiến thức, thái độ có lợi cho công tác bảo tồn tài nguyên rừng

Việc phối hợp các loài cây thân gỗ vào nông trại đã tận dụng không gian của hệ thống trong sản xuất làm tăng tính đa dạng sinh học ở phạm vi nông trại và cảnh quan

Chính vì các lợi ích nầy mà nông lâm kết hợp thường được chú trọng phát triển trong công tác quản lý vùng đệm xung quanh các khu bảo tồn thiên

nhiên và bảo tồn nguồn gen

Nhiều nhà nghiên cứu gợi ý rằng sự phát triển nông lâm kết hợp trên qui mô lớn có thể làm giảm khí CO2 và các loại khí gây hiệu ứng nhà kính khác (Dixon, 1995, 1996; Schroeder, 1994) Các cơ chế của tác động này có thể là: sự đồng hóa khí CO2 của cây thân gỗ trên nông trại; gia tăng lượng cacbon trong đất và giảm nạn phá rừng (Young, 1997) [43]

Nông lâm kết hợp hạn chế sự suy giảm tài nguyên rừng, bảo vệ và nâng cao độ phì của đất Chính vì vậy mà ngay từ các kỳ họp vào năm 1967 và

1969 của Tổ chức nông lương thế giới (FAO) đã quan tâm đến vấn đề này và

đi đến một sự thống nhất đúng đắn là: “Áp dụng các biện pháp nông lâm kết hợp là phương thức tốt nhất để sử dụng đất rừng nhiệt đới một cách hợp lý, tổng hợp nhằm giải quyết vấn đề lương thực, thực phẩm và sử dụng lao động

dư thừa đồng thời thiết lập lại cân bằng môi trường sinh thái”

Năm 1977, hội đồng quốc tế về nghiên cứu NLKH được thành lập, năm

1991 đổi thành trung tâm quốc tế nghiên cứu NLKH (ICRAF) Nhờ có sự quan tâm đầu tư nghiên cứu và tuyên truyền phổ biến thông tin của các tổ chức quốc tế nên NLKH có những bước phát triển nhảy vọt trong thời kỳ này

Trang 31

Người ta đi sâu vào phân loại các phương thức canh tác, điều tra đánh giá, tổng hợp các mô hình, tổ chức xây dựng các mô hình mới phù hợp với từng vùng, hình thành các tổ chức chuyên nghiên cứu tuyển chọn, sưu tầm các loài cây đa tác dụng, cây cố định đạm, cây gỗ củi, cây cho thực phẩm

Trong nhiều mô hình NLKH được thực hiện ở các quốc gia trên thế giới thì cần phải kể đến các hệ thống canh tác trên đất dốc (SALT) nhằm sử dụng đất dốc bền vững đã được Trung tâm đời sống nông thôn Bapstit Mindanao của Philippin tổng kết và phát triển từ những năm 1970 Đến năm

1992 đã có 4 mô hình tổng hợp về kỹ thuật canh tác nông nghiệp bền vững trên đất dốc được các tổ chức thế giới ghi nhận như sau:

- Hệ thống SALT 1: Đây là một hệ thống tổng hợp dựa trên cơ sở các biện pháp bảo vệ đất nước và sản xuất lương thực Kỹ thuật canh tác như sau: 25% cây lâm nghiệp + 25% cây lưu niên + 50% cây nông nghiệp hàng năm

Hệ thống này cơ ưu điểm là bảo tồn đất và nước, phục hồi độ phì của đất, tăng năng suất và thu nhập

- Hệ thống SALT 2 (hệ thống lâm – nông - đồng cỏ): Đây là kỹ thuật sử dụng đất tổng hợp dựa trên kỹ thuật canh tác nông nghiệp trên đất dốc bằng cách dành một phần đất trồng cây thức ăn để chăn nuôi theo phương thức nông súc kết hợp Bố trí diện tích canh tác của SALT 2 như sau: 40% cây nông nghiệp + 20% cây lâm nghiệp + 20% cây trồng làm thức ăn chăn nuôi + 20% làm nhà ở và chuồng trại

- Hệ thống SALT 3 (hệ thống canh tác nông – lâm bền vững): Kỹ thuật này dựa trên cơ sở kết hợp trồng rừng quy mô nhỏ với sản xuất cây lương thực, thực phẩm Bố trí diện tích canh tác của hệ thống: 40% nông nghiệp + 60% lâm nghiệp Hệ thống này đòi hỏi đầu tư rất cao về nguồn lực Trong đó người dân sử dụng vùng đất thấp ở dưới chân đồi để trồng cây lương thực và những cây cố định đạm, phần đất cao ở bên trên từ sườn đến đỉnh tiến hành trồng rừng

Trang 32

- Hệ thống SALT 4 (hệ thống sản xuất cây ăn quả với quy mô nhỏ): Hệ thống này là sự phát triển sau của các hệ thống SALT ở trên, kỹ thuật canh tác của hệ thống như sau: 60% cây lâm nghiệp + 15% cây nông nghiệp + 25% cây ăn quả, kỹ thuật này được xây dựng và hoàn thiện vào năm 1992 Trong

hệ thống này, ngoài đất đai để trồng cây nông nghiệp, cây lâm nghiệp, cây băng chắn người dân còn dùng một phần đất để trồng cây ăn quả và một số loài cây công nghiệp khác Đây là hệ thống cần đầu tư nhiều về tài chính, công chăm sóc và đòi hỏi kiến thức, kĩ năng và kinh nghiệm

Tháng 5-1990, Hội thảo quốc tế về NLKH khu vực châu Á Thái Bình Dương đã được tổ chức, có 12 nước tham gia trong đó có Việt Nam được tổ chức tại Bangkok, Thái Lan Hội nghị đưa ra một số nguyên nhân cần thiết phải mở rộng và phát triển NLKH trong khu vực do đây là khu vực có dân số chiếm 69% dân số thế giới, trong khi đó diện tích đất sản xuất lại không lớn

Von Uc Kill bsg Bosshart (1998) sau khi nghiên cứu về sự phát triển nông lâm nghiệp ở vùng nhiệt đới đã rút ra kết luận: “Cây lâu năm là những cây trồng có khả năng sản xuất lâu bền và thích hợp với điều kiện khắc nghiệt Những thí nghiệm ở Pêru chỉ rõ cần tính toán đến các nhân tố: khí hậu, đất đai và gắn với môi trường của hệ thống canh tác Bởi canh tác đồi núi khó hơn canh tác ở đồng bằng rất nhiều do địa hình có độ dốc lớn Khi canh tác việc chọn được các loài cây phối hợp với nhau cần được xem xét thật kỹ lưỡng nên trồng xen canh luân canh để hiệu quả phối hợp đạt cao nhất”

NLKH đã và đang được quan tâm nghiên cứu ở nhiều nơi trên thế giới nhất là ở các nước đang phát triển có phần lớn dân số làm việc trong lĩnh vực sản xuất nông, lâm nghiệp Việc sản xuất theo hướng NLKH sẽ mang lại hiệu quả lâu dài và có tính bền vững cao giúp con người vừa có thể sản xuất ra lương thực, thực phẩm mà vẫn bảo vệ môi trường sinh thái

Trang 33

1.3 Tình hình nghiên cứu trong nước

1.3.1 Lịch sử nghiên cứu về nông lâm kết hợp ở Việt Nam

Người dân miền núi trước đây chủ yếu canh tác theo hình thức du canh,

thông thường có hai hình thức du canh:

+ Du canh không quay vòng hay còn gọi là du canh không luân canh,

đó là kiểu canh tác liên tục trên các đám nương rẫy, cho đến khi năng suất cây trồng bị suy giảm đến mức thấp nhất, thậm chí không cho thu hoạch thì người dân phải đi tìm đất mới Kiểu du canh này thường gắn với du cư phá hoại

mạnh mẽ môi trường đất đai

+ Du canh quay vòng, đó là kiểu canh tác nương, rẫy sau 4-5 năm cho

đất nghỉ, đến khi độ phì được phục hồi thì trở lại canh tác trên mảnh đất đó Hiện nay do dân số tăng nhanh việc trở lại canh tác trên mảnh đất cũ ban đầu thì thời gian cho đất nghỉ thường 7-10 năm, nay chỉ còn 3-4 năm thậm chí chỉ 1- 2 năm Do vậy mà độ phì được tái lập lại không đủ và xói mòn ngày càng mạnh Do canh tác bất hợp lý ở đất nương rẫy như vậy mỗi năm bề mặt đất mất từ 1,5 - 4cm (Tôn Thất Chiểu - 1962) [5]

Tiềm lực và khả năng đất đai vùng đồi núi ở nước ta là rất lớn, nhưng sản xuất trên đất dốc có nhiều khó khăn hơn, sản xuất ở đồng bằng, cái hạn chế trước tiên phải kể đến đó là đất dốc dễ bị xói mòn do mưa, dễ bị khô hạn

do thoát nước rất nhanh, bên cạnh đó thì giao thông không thuận tiện, cơ sở hạ tầng thiếu, cộng với trình độ dân trí quá thấp với các kiểu canh tác lạc hậu… tất cả những điều đó đã gây nên sự nghèo đói ở những vùng này Đó là chưa

kể đồng bào rẻo cao, có đến 86,4% dân số miền sống du canh, du cư phát nương làm rẫy một cách tự nhiên hết chỗ này đến chỗ khác, biện pháp canh tác thì giản đơn theo lối “chọc lỗ bỏ hạt”, năng suất cây trồng rất thấp, đất đai

Trang 34

bị rửa trôi, xói mòn thoái hoá nghiêm trọng phải bỏ đi làm chỗ khác, cây rừng

bị chặt phá liên tục Đến nay nhiều nơi không còn rừng nữa chỉ còn lại đồi trọc đầy sim mua và cỏ dại xen núi đá (Thái Phiên, Nguyễn Tử Siêm, 1993) [14] Sau một thời gian dài canh tác theo kiểu du canh, du cư khi đất đai xói mòn rửa trôi, năng suất cây trồng, vật nuôi giảm mạnh thì NLKH đã dần dần phát triển nhằm hạn chế những hậu quả này

Nghiên cứu về NLKH ở nước ta mới bắt đầu phát triển từ những năm

1960 trở lại đây Theo Nguyễn Trọng Hà 1966 các công trình nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Bình, Nguyễn Quí Khải, Cao Văn Minh, Nguyễn Xuân Quát, Bùi Nghạnh 1964 đã xây dựng các thí nghiệm chống xói mòn ở Cầu Hai - Phú Thọ Tôn Gia Huyên, Bùi Quang Toản (1965) đặt thí nghiệm và xây

mô hình chống xói mòn tại đồi ấp Bắc nông trường Quốc doanh Sông Cầu - Bắc Thái đã cho những kết quả khả quan [7],

Đặng Đình Chấn (1981) đã đưa ra một số cây được đánh giá có triển vọng như: Muồng lá nhọn, muồng lá tròn, cốt khí, đậu nho nhe để làm cây phân xanh cải tạo đất dốc (Đặng Đình Chấn, 1981) [4]

Năm 1983 - 1985 Nguyễn Văn Tiễn thí nghiệm trồng xen sắn với lạc cùng với các băng cốt khí và hàng rào xanh kết hợp bón phân khoáng hợp lý trên đất dốc nghèo dinh dưỡng Kết quả cho thấy ngoài việc thu thêm sản phẩm lạc từ 5,3 - 6,4 ta/ha và đã làm năng suất sắn đạt 12,1 - 16,6 tấn/ha, lượng đất xói mòn giảm từ 2,8 - 4,5 lần so với trồng sắn thuần (Nguyễn Văn Tiễn, 1988) [17]

Thái Phiên, Nguyễn Tử Siêm 1986 tổng kết kết quả nghiên cứu " Trong 5 năm của chương trình nhà nước giai đoạn 1980 - 1985" về áp dụng các tiến

bộ khoa học kỹ thuật trong công tác khai hoang và chống xói mòn đất mới khai hoang đã tập hợp các biện pháp sử dụng, bảo vệ, cải tạo đất đỏ vàng, khai hoang, phục hoá trên địa bàn đất dốc toàn quốc Nhiều mô hình bảo vệ

Trang 35

đất chống xói mòn trên các loại đất với cơ cấu cây trồng chính được thực hiện

và áp dụng trong sản xuất [13]

1.3.2 Phân loại hệ thống NLKH ở Việt Nam

Ở Việt Nam trên cơ sở kết quả hoạt động nghiên cứu NLKH, một số tác giả như Hoàng Hoè, Nguyễn Đình Hưởng, Nguyễn Ngọc Bình đã tập hợp các

mô hình NLKH điển hình và phân chia các vùng hoạt động của NLKH chính trên cơ sở phân vùng địa lý tự nhiên để xác định khả năng thực hiện ở các vùng đó [10], [8], [1]:

- Vùng Ven biển : với các loài cây ngập mặn, chịu phèn, chống cát di động

- Vùng đồng bằng: các mô hình VAC ( vườn - ao - chuồng), trồng cây phân tán, đai xanh phòng hộ

- Vùng đồi núi và trung du: Các mô hình VR ( vườn - rừng), VAC, RVC ( rừng - vườn - chuồng), trồng rừng kết hợp nuôi ong lấy mật ( R- O) chống xói mòn bảo vệ đất

- Vùng đồi núi cao chăn thả dưới tán rừng, làm ruộng bậc thang với rừng phòng hộ đầu nguồn

Các tác giả trên đã phân hệ canh tác NLKH ở nước ta thành 8 hệ thống chính gọi là " hệ canh tác " là đơn vị cao nhất, dưới hệ canh tác là các

"phương thức" hay "kiểu" canh tác và cuối cùng là các "mô hình" Theo nguyên tắc phân loại này hệ canh tác NLKH ở Việt Nam được chia thành 8

Trang 36

- Hệ nông - lâm - ngư

- Hệ ong - cây lấy gỗ

- Hệ nông - lâm - ngư - súc

Các hệ này được chia thành 27 kiểu canh tác khác nhau

1.3.3 Một số chính sách của nhà nước về phát triển sản suất Nông lâm nghiệp

Chính sách “đổi mới” của Đảng và nhà nước ta đã thể chế hoá được đường lối của Đảng Cộng Sản Việt Nam trong phát triển kinh tế thời kỳ đổi mới, xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, phát triển theo

cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước

Theo điều 8 của Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 1991, thì cấp

xã là đơn vị hành chính thấp nhất có nhiệm vụ “điều tra, xác định các loại rừng, phân định ranh giới rừng, đất trồng rừng trên bản đồ và trên thực địa, thống kê theo dõi diễn biến tình hình rừng, đất trồng rừng, ", trên địa phương mình Điều 7, Luật bảo vệ phát triển rừng quy định trên phạm

vi cấp xã, căn cứ vào mục đích sử dụng để phân chia và xác định ranh giới 3 loại rừng đó là rừng phòng hộ, rừng sản xuất, rừng đặc dụng

Luật đất đai (1993) cũng quy định và phân biệt rõ trong điều 17 về nội dung quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất đai trong phạm vi cấp xã là phân định, xác định ranh giới và lập kế hoạch sử dụng các loại đất

Như vậy cả hai luật quan trọng đều khẳng định vai trò cấp xã trong quy hoạch và sử dụng đất

Đặc biệt nghị định 02/CP ngày 15/1/1994 của chính phủ ban hành

“Quy định về việc giao đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình cá nhân

sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp”

Nghị định 01/CP ngày 4/1/1995 quy định về việc giao khoán đất

và sử dụng đất vào mục đích NLN và thuỷ sản trong các doanh nghiệp nhà nước

Trang 37

Nghị định 163/1999/NĐ-CP ngày 16/11/1999 về giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp

Mặc dù không đề cập đến QHSD đất nông nghiệp xã nhưng Nghị định 64/CP ra ngày 27/3/1993 cũng nói đến vai trò của cấp xã trong việc giao đất nông nghiệp trong điều 8, 12, 15 của quyết định về giao đất nông nghiệp

Ngày 15/4/1991 Tổng cục Địa chính đã ra thông tư số 106/QHKT hướng dẫn QHSD đất cấp xã Thông tư này chủ yếu đề cập đến QHSD đất nông nghiệp

Ngày 6/1/1991 Chủ tịch hội đồng bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) đã ra quyết định số 364/CT về việc giải quyết những tranh chấp đất đai liên quan đến địa giới hành chính tỉnh, huyện, xã (Chủ tịch hội đồng

bộ trưởng, 1991) [4]

Ngày 10 tháng 12 năm 2003, Chủ tịch nước ký lệnh số 23/2003/L/CTN công bố Luật đất đai Điều 13 của luật đã phân loại đất đai theo 3 nhóm đó là: Đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp và đất chưa

sử dụng Điều 50, 51 đã chỉ rõ đối tượng được cấp giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất cho các tổ chức và hộ gia đình trong và ngoài nước Đồng thời nêu rõ vai trò của cấp xã trong quá trình tổ chức thực hiện

Các chính sách trong quản lý sử dụng đất Nông lâm nghiệp đã tạo cho người dân một cơ chế mở để có kế họach an đầu tư vào phát triển sản xuất đặc biệt là xây dựng hệ thống NLKH, tạo cơ hội phát triển kinh tế

gia đình và xã hội, góp phần cải thiện đời sống người dân vùng núi

1.3.4 Thực tế sản xuất nông lâm kết hợp ở Việt Nam

Theo kết quả kiểm kê tài nguyên rừng toàn quốc của Bộ NN&PTNT,

2005 thì tính đến ngày 31/12/2005 quỹ đất lâm nghiệp của cả nước là

Trang 38

19.028.690 ha chiếm khoảng hơn một nửa diện tích tự nhiên Trong đó đất có rừng là 12.616.700, đạt độ che phủ toàn quốc 37%, đó là do kể từ năm 1999 đến nay chúng ta đã nỗ lực trồng rừng Diện tích đất trống đồi núi trọc vẫn còn nhiều 6.411.990 ha (Bộ NN&PTNT, 2005) [3]

- Đất nông nghiệp hơn 7,3 triệu ha, trong đó đất trồng cây hàng năm là 5,6 triệu ha, cây lâu năm là 1,4 triệu ha và đất có mặt nước dùng vào nông nghiệp là 0,273 triệu ha Như vậy, tỷ lệ đất sử dụng còn thấp, đất nông nghiệp mới chỉ chiếm 21% trong tổng diện tích đất tự nhiên và điều đáng nói là nước

ta đã có đến có khoảng hơn 10 triệu ha đất dốc bị thoái hoá nghiêm trọng Thực trạng cho thấy quĩ đất đai của nước ta quá ít, và đất đã được sử dụng lại càng ít Hơn nữa chúng ta có đến 80% dân số sống bằng nghề nông nghiệp Bình quân đầu người về đất nông nghiệp là 0,108 ha/người (trong khi đó bình quân của thế giới là 1,2 ha/người) Tỷ lệ tăng dân số bình quân 2,3 - 2,5%/năm Bình quân lương thực hiện nay là khoảng 350 kg/ người/ năm

Vì vậy phát triển NLKH đã giúp cho người dân miền núi tận dụng đất đai, giảm bớt xói mòn và ngày càng mang lại đời sống ấm no cho người dân miền núi

Hiện nay ở Việt Nam NLKH đang ngày càng phát triển và nó thực

sự mở ra hướng đi mới trong nền sản xuất nông - lâm nghiệp nước nhà Đặc biệt từ sau khi có các nghị định của Thủ Tướng Chính Phủ như: nghị định 327/CP tháng 9 năm 1992 về chủ trương sử dụng đất trống đồi núi trọc, bãi bồi ven biển và mặt nước Nghị định 64/CP ngày 27/9/1993 và 02/CP ngày 15/7/1994 qui định vế việc giao đất lâm nghiệp cho tổ chức hộ gia đình sử dụng lâu dài vào mục đích lâm nghiệp đã thúc đẩy hoạt động NLKH phát triển rộng rãi thêm một bước nữa

Các mô hình NLKH đang tồn tại ở Việt Nam như: VAC (vườn - ao - chuồng), VR (vườn - rừng), RVCA (Rừng - vườn - ao - chuồng), RVC (Rừng - vườn - chuồng), R – ong (rừng – ong) đang ngày càng phát huy

Trang 39

hiệu quả bảo vệ đất, nước, tăng năng suất cây trồng góp phần ổn định cuộc sống của người dân miền núi, nhiều hộ gia đình đã vươn lên giàu có nhờ thực hiện NLKH

Trong sự phát triển cộng đồng do CARE Quốc tế tại Việt Nam cùng với UBND huyện Lục Ngạn, ban quản lý rừng phòng hộ tỉnh Hà Bắc triển khai xây dựng một số mô hình canh tác trên đất dốc, nhằm khai thác sử dụng hợp lý có hiệu quả tài nguyên đất, đẩy mạnh sản xuất nông lâm nghiệp Đã phổ cập hệ thống canh tác cho nông dân với mô hình nông lâm kết hợp, có hàng rào xanh cho hiệu quả tốt nhất là:

Với độ dốc lớn hơn 200 khoảng cách hàng rào xanh tốt nhất là dưới 5m + Với độ dốc nhỏ hơn 200 thì khoảng cách tốt nhất là 5 - 7m

+ Với cốt khí thì hàng rào kép có hiệu quả tốt nhất

Mô hình đã chọn được tổng hợp cây trồng phù hợp nhất là:

+ Vải thiều + đậu, đỗ + băng cốt khí

+ Ong + cây ăn quả + rừng tự nhiên

Đây là những mô hình mang lợi ích kinh tế lớn tăng thu nhập cho

những hộ nghèo (Lê Duy Thước, 1992) [16]

Trên cơ sở khảo sát và thử nghiệm một số mô hình NLKH trên đất đồi núi tỉnh Lạng Sơn, Vũ Biệt Linh, 1995 đã đưa ra kết quả về một số mô hình phổ biến và đạt hiệu quả cao ở vùng này là:

- Hồi - chè dưới tán rừng tự nhiên

- Quýt - rừng tái sinh

- Cà phê - chè - dứa - rừng trồng

- Cà phê - vải - chè - rừng tái sinh tự nhiên

- Mận - Hồng - rừng tái sinh tự nhiên

- Cà phê - keo - rừng trồng (Vũ Biệt Linh,1995) [12]

Năm 1995 - 1996 tại huyện Na Rì - Bắc Kạn, Trường Đại học Nông Lâm

chủ trì dự án "Xây dựng mô hình áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật nhằm góp

Trang 40

phần ổn định phát triển nông thôn vùng cao" Dự án đã thiết kế 26 mô hình

SALT đưa các giống cây ăn quả và đặc sản có giá trị kinh tế cao như vải, nhãn, hồng không hạt, mận tam hoa, cam, quýt và cây hồi trồng xen với các cây họ đậu và cây lương thực Kết quả cho thấy cây ăn quả vải và nhãn có tỷ

lệ sống 55 %, các cây khác có tỷ lệ sống 80 - 83% và sinh trưởng phát triển tốt Qua kết quả đánh giá sơ bộ các mô hình canh tác NLKH là thành công, việc chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật bằng xây dựng mô hình trình diễn

là hướng đi đúng cần được nhân rộng

Ở Đoan Hùng - Phú Thọ các mô hình NLKH được xây dựng là:

- Mỡ - Sắn- Diễn bao đồi

- Mỡ - Thông- Sắn- Diễn bao đồi

- Mỡ - lạc

- Bạch đàn trắng- Sắn - Cốt khí- Diễn bao đồi

- Thông - Sắn

- Thông - Mỡ- Lúa (lạc )- Chè- trẩu - Cốt khí - Muồng lá nhọn

Các mô hình trên đã hạn chế xói mòn và cho hiệu quả khả quan về kinh

tế [10]

Nguyễn Trần Trọng, 1996 khi nghiên cứu về mô hình nông lâm kết hợp

đã đưa ra hệ thống trồng kết hợp trong hệ sinh thái vùng đồi núi như sau [18]:

- Cây phòng hộ: muồng đen, keo dậu, keo lá tràm, phi lao, trẩu, mít

- Cây công nghiệp dài ngày như chè, cà phê; cây công nghiệp ngắn ngày như: lạc, mía, đỗ trồng; cây lương thực, thực phẩm như: lúa, lúa nương, ngô, cây

có củ, rau các loại Các loại cây ngắn ngày thường trồng xen giữa hai hàng cây

lâu năm chưa khép tán hoặc trồng thành băng ở chân đồi [18]

Nguyễn Dương Tài (1993) xây dựng mô hình: Rừng + nương + vườn + ruộng ở một số vùng thuộc các tỉnh Vĩnh Phú, Tuyên Quang, Yên Bái, Lào

Cai mô hình có diện tích ruộng từ 5 - 10 ha, phần đỉnh đồi rừng thứ sinh giữ

Ngày đăng: 28/04/2016, 10:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Ngọc Bình, (1998). “Các hệ canh tác nông lâm kết hợp ở Việt Nam với một số mô hình nông lâm kết hợp”. Hội thảo NCKH bảo vệ đất đai Vĩnh Phú - 03 / 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Ngọc Bình, (1998). “Các hệ canh tác nông lâm kết hợp ở Việt Nam với một số mô hình nông lâm kết hợp
Tác giả: Nguyễn Ngọc Bình
Năm: 1998
4. Đặng Đình Chấn, (1981), " Kỹ thuật gieo trồng một số cây phân xanh chủ yếu trên đất dốc". NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật gieo trồng một số cây phân xanh chủ yếu trên đất dốc
Tác giả: Đặng Đình Chấn
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1981
5. Tôn Thất Chiểu, (1986) “ Cây cốt khí ở vùng đồi trọc”. Tạp chí khoa học kỹ thuật Nông nghiệp 1/1986 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tôn Thất Chiểu, (1986) “ Cây cốt khí ở vùng đồi trọc
6. Chủ tịch hội đồng bộ trưởng (1991), "Giải quyết những tranh chấp đất đai liên quan đến địa giới hành chính tỉnh, huyện, xã", Quyết định 364/CT ngày 06/11/1991 của Chủ tịch HĐBT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải quyết những tranh chấp đất đai liên quan đến địa giới hành chính tỉnh, huyện, xã
Tác giả: Chủ tịch hội đồng bộ trưởng
Năm: 1991
7. Nguyễn Trọng Hà, (1996), " Xác định các yếu tố gây xói mòn và khả năng dự báo xói mòn trên đất dốc". Luận án tiến sĩ KHNN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định các yếu tố gây xói mòn và khả năng dự báo xói mòn trên đất dốc
Tác giả: Nguyễn Trọng Hà
Năm: 1996
8. Từ Quang Hiển, (1996), " Nghiên cứu nông lâm kết hợp trên đất dốc ở tỉnh Bắc Thái". Hội thảo về Nông - lâm kết hợp trên đất dốc ở Miền Bắc Việt Nam, Dự án tăng cường các chương trình trồng rừng ở Châu Á (FAO), Phù Ninh, Vĩnh Phú 6/1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu nông lâm kết hợp trên đất dốc ở tỉnh Bắc Thái
Tác giả: Từ Quang Hiển
Năm: 1996
10. Hoàng Hoè, (1997), “ Một số mô hình nông lâm kết hợp ở Việt Nam”, Nxb Nông nghiệp, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàng Hoè, (1997), “ Một số mô hình nông lâm kết hợp ở Việt Nam
Tác giả: Hoàng Hoè
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1997
12. Vũ Biệt Linh, Nguyễn Ngọc Bình, (1995), " Các hệ thống Nông lâm kết hợp ở Việt Nam". NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các hệ thống Nông lâm kết hợp ở Việt Nam
Tác giả: Vũ Biệt Linh, Nguyễn Ngọc Bình
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1995
13. Thái Phiên, Nguyễn Tử Siêm, 1986, " Kết quả 5 năm hoạt động của chương trình 02-15" Tạp chí khoa học 10/1986 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả 5 năm hoạt động của chương trình 02-15
16. Lê Duy Thước, (1992) “ Tiến tới một chế độ canh tác trên đất đồi nương rẫy ở vùng đồi núi nước ta”. Tạp chí Khoa học Đất số 2 – 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Duy Thước, (1992) “ Tiến tới một chế độ canh tác trên đất đồi nương rẫy ở vùng đồi núi nước ta
17. Nguyễn Văn Tiễn, (1988), “ Xây dựng mô hình chống xói mòn bảo vệ đất đỏ vàng có độ dốc, trồng sắn trên đất dốc sa thạch Bắc Thái". Luận án tiến sĩ KHNN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng mô hình chống xói mòn bảo vệ đất đỏ vàng có độ dốc, trồng sắn trên đất dốc sa thạch Bắc Thái
Tác giả: Nguyễn Văn Tiễn
Năm: 1988
18. Nguyễn Trần Trọng, (1996). “Những mô hình kinh tế hộ nông dân miền núi đi lên sản xuất hàng hoá”NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Trần Trọng, (1996). “Những mô hình kinh tế hộ nông dân miền núi đi lên sản xuất hàng hoá
Tác giả: Nguyễn Trần Trọng
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1996
20. Avery, M.E. (1987). “Soil fertility and conservation in agroforestry systems”. In, Proceedings of International Agroforestry Short Course.Colorado State University, Fort Collins, Colorado Sách, tạp chí
Tiêu đề: Avery, M.E. (1987). “Soil fertility and conservation in agroforestry systems
Tác giả: Avery, M.E
Năm: 1987
21. Bene, J.G., Beall, H.W. (1977). ‘Trees, food and people”. IDRC, Ottawa, Canada Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bene, J.G., Beall, H.W. (1977). ‘Trees, food and people
Tác giả: Bene, J.G., Beall, H.W
Năm: 1977
22. Borlaug, N.E. and Dowswell, C.R. 1988. “World revolution in agriculture”. (1988) Britanica Book of the Year. Encyclopedia Britanica Inc., Chicago, USA. pp. 5 - 14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Borlaug, N.E. and Dowswell, C.R. 1988. “World revolution in agriculture
23. Brunig, E.F. and N. Sander. (1984). “Ecosystem structure and functioning: some interactions of relevance to agroforestry”. In, Plant Research in Agroforestry. ICRAF. Nairobi, Kenya Sách, tạp chí
Tiêu đề: Brunig, E.F. and N. Sander. (1984). “Ecosystem structure and functioning: some interactions of relevance to agroforestry
Tác giả: Brunig, E.F. and N. Sander
Năm: 1984
25. Dixon, R.K. (1995). “Sources or sinks of greenhouse gasses?” Agroforestry Systems 31, 99 - 116 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dixon, R.K. (1995). “Sources or sinks of greenhouse gasses
Tác giả: Dixon, R.K
Năm: 1995
26. Dixon, R.K. (1996). “Agroforestry systems and greenhouse gasses”. Agroforestry Today 8(1), 11-14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dixon, R.K. (1996). “Agroforestry systems and greenhouse gasses
Tác giả: Dixon, R.K
Năm: 1996
27. FAO and IIRR. (1995). “Resourse management for upland areas in Southeast Asia”. FARM field Document 2. FAO, Bangkok, Thailand and IIRR, Silang, Cavite, Philippines. 207 pp Sách, tạp chí
Tiêu đề: FAO and IIRR. (1995). “Resourse management for upland areas in Southeast Asia
Tác giả: FAO and IIRR
Năm: 1995
28. Felker, P. (1978). “State of art: Acacia albida as a complementary permanent intercrop with annual crops”. Univ. of California.Riverside Sách, tạp chí
Tiêu đề: Felker, P. (1978). “State of art: Acacia albida as a complementary permanent intercrop with annual crops
Tác giả: Felker, P
Năm: 1978

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.2: Hiện trạng sử dụng đất - Nghiên cứu đề xuất một số mô hình nông lâm kết hợp có hiệu quả tại xã cát thịnh huyện văn chấn
Bảng 1.2 Hiện trạng sử dụng đất (Trang 46)
Bảng 3.2: Phân loại các dạng hệ thống NLKH tại xã Cát Thịnh - Nghiên cứu đề xuất một số mô hình nông lâm kết hợp có hiệu quả tại xã cát thịnh huyện văn chấn
Bảng 3.2 Phân loại các dạng hệ thống NLKH tại xã Cát Thịnh (Trang 59)
Hình 3.1. Lát cắt thẳng đứng mô hình 1 - Nghiên cứu đề xuất một số mô hình nông lâm kết hợp có hiệu quả tại xã cát thịnh huyện văn chấn
Hình 3.1. Lát cắt thẳng đứng mô hình 1 (Trang 60)
Hình 3.2. Sơ đồ mặt nằm ngang của mô hình 1 - Nghiên cứu đề xuất một số mô hình nông lâm kết hợp có hiệu quả tại xã cát thịnh huyện văn chấn
Hình 3.2. Sơ đồ mặt nằm ngang của mô hình 1 (Trang 61)
Hình 3.4. Sơ đồ mặt nằm ngang của mô hình 2 - Nghiên cứu đề xuất một số mô hình nông lâm kết hợp có hiệu quả tại xã cát thịnh huyện văn chấn
Hình 3.4. Sơ đồ mặt nằm ngang của mô hình 2 (Trang 62)
Hình 3.3. Lát cắt thẳng đứng mô hình 2 - Nghiên cứu đề xuất một số mô hình nông lâm kết hợp có hiệu quả tại xã cát thịnh huyện văn chấn
Hình 3.3. Lát cắt thẳng đứng mô hình 2 (Trang 62)
Hình 3.6. Sơ đồ mặt nằm ngang của mô hình 3 - Nghiên cứu đề xuất một số mô hình nông lâm kết hợp có hiệu quả tại xã cát thịnh huyện văn chấn
Hình 3.6. Sơ đồ mặt nằm ngang của mô hình 3 (Trang 63)
Bảng 3.3: Kết cấu mô hình NLKH của các hộ được điều tra - Nghiên cứu đề xuất một số mô hình nông lâm kết hợp có hiệu quả tại xã cát thịnh huyện văn chấn
Bảng 3.3 Kết cấu mô hình NLKH của các hộ được điều tra (Trang 66)
Bảng 3.4: Thu nhập từ các thành phần và tỉ trọng của mỗi thành phần trong các mô hình điều tra - Nghiên cứu đề xuất một số mô hình nông lâm kết hợp có hiệu quả tại xã cát thịnh huyện văn chấn
Bảng 3.4 Thu nhập từ các thành phần và tỉ trọng của mỗi thành phần trong các mô hình điều tra (Trang 67)
Bảng 3.5: Phân bố số hộ NLKH theo diện tích - Nghiên cứu đề xuất một số mô hình nông lâm kết hợp có hiệu quả tại xã cát thịnh huyện văn chấn
Bảng 3.5 Phân bố số hộ NLKH theo diện tích (Trang 69)
Bảng 3.7: Tỷ lệ % tổng thu nhập sản phẩm của các loại hệ thống - Nghiên cứu đề xuất một số mô hình nông lâm kết hợp có hiệu quả tại xã cát thịnh huyện văn chấn
Bảng 3.7 Tỷ lệ % tổng thu nhập sản phẩm của các loại hệ thống (Trang 71)
Bảng 3.10: Dự kiến hiệu quả kinh tế của các mô hình sau 5 năm (2019) - Nghiên cứu đề xuất một số mô hình nông lâm kết hợp có hiệu quả tại xã cát thịnh huyện văn chấn
Bảng 3.10 Dự kiến hiệu quả kinh tế của các mô hình sau 5 năm (2019) (Trang 73)
Hình 3.9: Sơ đồ lát cắt mô hình R- Rg- Ao - Nghiên cứu đề xuất một số mô hình nông lâm kết hợp có hiệu quả tại xã cát thịnh huyện văn chấn
Hình 3.9 Sơ đồ lát cắt mô hình R- Rg- Ao (Trang 84)
Bảng 3.14: Kết quả phân tích vai trò của các tổ chức xã hội đến vấn đề - Nghiên cứu đề xuất một số mô hình nông lâm kết hợp có hiệu quả tại xã cát thịnh huyện văn chấn
Bảng 3.14 Kết quả phân tích vai trò của các tổ chức xã hội đến vấn đề (Trang 88)
Hình 3.10: Sơ đồ Venn thể hiện mối quan hệ giữa các tổ chức với phát - Nghiên cứu đề xuất một số mô hình nông lâm kết hợp có hiệu quả tại xã cát thịnh huyện văn chấn
Hình 3.10 Sơ đồ Venn thể hiện mối quan hệ giữa các tổ chức với phát (Trang 89)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w