Đến nay, mặc dù đã có rất nhiều công trình nghiên cứu cho công tác phòng cháy rừng, tuy nhiên về mặt khoa học đã cho kết quả có chiều sâu về các tiêu chí ảnh hưởng nhưng đối với thực tiễ
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN TRỌNG NAM
NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC CHO ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÒNG CHÁY RỪNG TẠI HUYỆN TRẠM TẤU, TỈNH YÊN BÁI
Chuyên ngành : Lâm học
Mã số : 60.62.02.01
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Thái Nguyên – 2015
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lê Sỹ Trung
Thái Nguyên – 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng bản thân tôi, mọi số liệu cũng như nội dung báo cáo hoàn toàn do tôi thực hiện và chưa từng công bố trên bất kỳ tài liệu nào Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung bản luận văn của mình!
Nguyễn Trọng Nam
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận văn này được hoàn thành tại Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên theo chương trình đào tạo Cao học chuyên ngành Lâm học khoá 21 (2013 - 2015) Trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn, tác giả đã nhận được sự quan tâm, tận tình giúp đỡ của các thầy, cô giáo; các cán bộ công nhân viên Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, nhân dịp này tác giả xin chân thành cảm ơn về sự giúp
đỡ đó
Trước hết, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới PGS.TS Lê Sỹ Trung - người hướng dẫn khoa học, đã dành nhiều thời gian hướng dẫn, tận tình giúp đỡ, truyền đạt những kiến thức quí báu và dành cho tác giả những tình cảm tốt đẹp trong suốt thời gian công tác, học tập cũng như trong thời gian thực hiện luận
văn Tấm gương lao động và các ý tưởng khoa học mới của thầy giáo là bài học quí
giá đối với bản thân tác giả
Tác giả xin cảm ơn UBND huyện Trạm Tấu - tỉnh Yên Bái, Hạt Kiểm lâm huyện Trạm Tấu, và UBND các xã, các đơn vị chủ rừng trên địa bàn huyện đã cung cấp thông tin và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tác giả triển khai thu thập số liệu ngoại nghiệp phục vụ cho luận văn
Cuối cùng tác giả xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè và người thân trong gia đình đã giúp đỡ, động viên tác giả trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận văn
Thái Nguyên, tháng 9 năm 2015
Tác giả
Nguyễn Trọng Nam
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN iv
MỤC LỤC v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT viii
DANH MỤC CÁC BẢNG ix
DANH MỤC SƠ ĐỒ VÀ HÌNH VẼ x
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu của đề tài 2
2.1 Mục tiêu tổng quát 2
2.2 Mục tiêu cụ thể 3
3 Ý nghĩa của đề tài 3
3.1 Ý nghĩa về mặt lý luận 3
3.2 Ý ngĩa về mặt thực tiễn 3
Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 4
1.1 Những nghiên cứu về cháy rừng trên thế giới 4
1.2 Những nghiên cứu về cháy rừng ở Việt Nam 9
1.2.1 Dự báo cháy rừng 9
1.2.2 Nghiên cứu về công trình phòng cháy rừng 16
1.2.3 Nghiên cứu về giải pháp kỹ thuật lâm sinh phòng cháy rừng 18
1.3 Nhận xét chung 21
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.1 Đối tượng nghiên cứu 23
2.2 Phạm vi nghiên cứu 23
2.3 Nội dung nghiên cứu 23
2.3.1 Thực trạng cháy rừng từ năm 2009 - đến 2013 (Số vụ cháy rừng; loại rừng bị cháy; mức độ thiệt hại; nguyên nhân) 23
2.3.2 Tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến cháy rừng: 23 2.3.3 Đánh giá thực trạng công tác phòng cháy, chữa cháy rừng: (Tuyên
truyền giáo dục; Biện pháp kỹ thuật lâm sinh; xây dựng lực lượng;
Trang 6xây dựng cơ sở vật chất; dự báo cháy rừng) 23
2.3.4 Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội - thách thức trong phòng cháy, chữa cháy rừng 23
2.3.5 Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả phòng cháy, chữa cháy rừng tại huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái 23
2.4 Phương pháp nghiên cứu 24
2.4.1 Quan điểm về cách tiếp cận của đề tài 24
2.4.2 Phương pháp thu thập số liệu 26
2.4.3 Phương pháp phân tích số liệu 28
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 30
3.1 Thực trạng cháy rừng từ năm 2009 - 2013 30
3.1.1 Khái quát tài nguyên rừng huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái 30
3.1.2 Thực trạng cháy rừng 33
3.2 Phân tích ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội đến cháy rừng trên địa bàn huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái 36
3.2.1 Ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên 36
3.2.2 Ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế - xã hội 40
3.2.3 Đặc điểm vật liệu cháy 45
3.3 Đánh giá thực trạng công tác phòng cháy, chữa cháy rừng tại địa bàn huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái 48
3.3.1 Bộ máy và công tác tổ chức chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ PCCCR 48
3.3.2 Kết quả thực hiện nhiệm vụ phòng cháy 52
3.3.3 Các giải pháp phòng cháy rừng đã thực hiện 54
3.4 Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức và bài học kinh nghiệm trong công tác phòng cháy, chữa cháy rừng tại huyện Trạm Tấu 62
3.4.1 Phân tích SWOT 62
3.4.2 Bài học kinh nghiệm 67
3.5 Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả phòng cháy, chữa cháy rừng tại huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái 69
3.5.1 Về công tác tổ chức 70
3.5.2 Về thể chế 71
3.5.3 Tuyên truyền, tập huấn và diễn tập PCCCR 72
Trang 73.5.4 Xây dựng các công trình phòng cháy, trang thiết bị chữa cháy rừng 74
3.5.5 Giải pháp làm giảm vật liệu cháy bằng thủ công 74
3.5.6 Giải pháp xã hội hoá nghề rừng 75
KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 77
1 Kết luận 77
2 Tồn tại 79
3 Kiến nghị 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BVR : Bảo vệ rừng
BCĐ : Ban chỉ đạo
CCR : Chữa cháy rừng
DBNCCR : Dự báo nguy cơ cháy rừng
KTLS : Kỹ thuật lâm sinh
KTLSPCR : Kỹ thuật lâm sinh phòng cháy rừng KLĐB : Kiểm lâm địa bàn
KT : Kinh tế
OTC : Ô tiêu chuẩn
ODB : Ô dạng bản
PCCCR : Phòng cháy, chữa cháy rừng
PTNT : Phát triển nông thôn
P : Chỉ tiêu tổng hợp cảnh báo cháy rừng QLBVR : Quản lý bảo vệ rừng
RTN : Rừng tự nhiên
RT : Rừng trồng
VLC : Vật liệu cháy
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Phân cấp cháy rừng Thông theo chỉ tiêu P cho rừng Thông
Quảng Ninh của Phạm Ngọc Hưng 10
Bảng 1.2 Cấp nguy hiểm cháy rừng thêm yếu tố gió của A.N Cooper (1991) 12
Bảng 1.3 Phân cấp cháy rừng theo độ ẩm vật liệu cháy T.S Bế Minh Châu 14
Bảng 2.1 Số lượng OTC và ODB điều tra 28
Bảng 3.1 Bảng hiện trạng đất đai tự nhiên khu vực nghiên cứu 30
Bảng 3.2 Tổng hợp diện tích rừng trồng huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái 31
Bảng 3.3 Tổng hợp diện tích rừng trồng theo loại cây 32
Bảng 3.4 Kết quả điều tra thực trạng cháy rừng từ năm 2008 - 2013 tại huyện Trạm Tấu 34
Bảng 3.5 Tình hình cháy rừng theo các tháng trong năm (2009 -2013) 35
Bảng 3.6 Chỉ tiêu tổng hợp (P) 40
Bảng 3.7 Thống kê những nguyên nhân gây cháy rừng 44
Bảng 3.8 Đặc điểm cây bụi thảm tươi ở các trạng thái rừng trên địa bàn huyện Trạm Tấu 45
Bảng 3.9 Bảng sinh khối Vật liệu cháy ở các trạng thái rừng 46
Bảng 3.10 Cơ cấu tổ chức bộ máy điều hành của Ban chỉ đạo cấp huyện 50
Bảng 3.11 Cơ cấu bộ máy điều hành của BCĐ cấp xã 51
Bảng 3.12 Kết quả hoạt động tuyên truyền từ năm 2009 – 2013 54
Bảng 3.13 Số liệu thống kê nương rẫy và bãi chăn thả gia súc 56
Bảng 3.14 Kết quả thực hiện các biện pháp lâm sinh 57
Bảng 3.15 Các công trình phòng cháy trên địa bàn huyện Trạm Tấu 59
Bảng 3.16 Dụng cụ, phương tiện phòng cháy, chữa cháy rừng tại Trạm Tấu 60
Bảng 3.17 Tổng hợp kết quả tập huấn, diễn tập từ 2009 đến 2013 62
Bảng 3.18 Các công việc ưu tiên và những biện pháp giảm thiểu tối đa số vụ cháy, thiệt hại do cháy rừng gây ra 69
Trang 10DANH MỤC SƠ ĐỒ VÀ HÌNH VẼ
Hình 2.1: Phương hướng giải quyết vấn đề của đề tài 25 Hình 3.1 Sơ đồ Ban chỉ đạo PCCCR của huyện Trạm Tấu 49
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết của đề tài
Rừng là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, một yếu tố vô cùng quan trọng đối với cuộc sống của con người và thiên nhiên Trong những thập kỷ qua hoạt động kinh tế của con người đã làm cho rừng không những suy giảm cả về diện tích
và chất lượng Một trong những nguyên nhân mất rừng là do cháy rừng
Cháy rừng là thảm họa, gây thiệt hại lớn đối với tính mạng và tài sản của con người, tài nguyên rừng và môi trường sống Ảnh hưởng của cháy rừng không những tác động đến một quốc gia mà ảnh hưởng đến cả khu vực và toàn cầu
Nước ta hiện có trên 13,6 triệu ha rừng (10,3 triệu ha rừng tự nhiên và 3,3 triệu ha rừng trồng), trong đó có gần 60% là diện tích rừng có nguy cơ cháy cao chủ yếu là rừng: thông, tràm, keo, bạch đàn, tre, nứa, rừng non khoanh nuôi tái sinh và rừng nghèo kiệt (Kết quả theo dõi diễn biến rừng và đất lâm nghiệp năm 2013) [8]
Đến năm 2020, diện tích rừng trồng của cả nước sẽ tăng thêm 2,6 triệu ha, khoanh nuôi tái sinh 750.000 ha [8] Diện tích rừng trồng, rừng non do khoanh nuôi tái sinh ngày càng được mở rộng; cùng với diễn biến bất thường của thời tiết, tình trạng khô hạn kiệt kéo dài và diễn ra trên diện rộng sẽ làm tăng nguy cơ xảy ra cháy rừng và cháy lớn
Trong thời gian qua, Chính phủ đã quan tâm chỉ đạo và tăng cường đầu tư cho công tác phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về phòng cháy và chữa cháy rừng từng bước được hoàn thiện; vai trò của chủ rừng và các cơ quan, tổ chức có liên quan bước đầu được tăng cường và triển khai thực hiện có hiệu quả phương châm 4 tại chỗ; ý thức về công tác PCCCR đối với người dân sống trong và gần rừng có chuyển biến tích cực; năng lực chỉ đạo, điều hành và kiểm soát cháy rừng của chính quyền các cấp và các lực lượng chữa cháy rừng từng bước được nâng cao
Tuy nhiên, tình hình cháy rừng ở nước ta vẫn xảy ra nghiêm trọng Theo số liệu thống kê, trong giai đoạn 10 năm qua (2004 - 2013), cả nước đã xảy ra 7.380 vụ
Trang 12cháy rừng; diện tích thiệt hại; 49.837 ha Bình quân 715 vụ/năm; với diện tích rừng 4.984 ha rừng bị thiệt hại/năm [7] Thiệt hại giá trị kinh tế về tài nguyên rừng hàng trăm tỷ đồng mỗi năm và ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sống
Thấy được những thiệt hại to lớn do cháy rừng gây ra, trong những năm gần đây nhà nước đã ban hành nhiều chính sách và đầu tư cho công tác phòng cháy, chữa cháy rừng Tuy vậy, cháy rừng vẫn thường xuyên xảy ra Một trong những nguyên nhân quan trọng là thiếu những nghiên cứu cơ bản về công tác phòng cháy,
chữa cháy rừng, trong đó việc nghiên cứu có chiều sâu về các nguyên nhân xảy ra
các vụ cháy rừng Đến nay, mặc dù đã có rất nhiều công trình nghiên cứu cho công tác phòng cháy rừng, tuy nhiên về mặt khoa học đã cho kết quả có chiều sâu về các tiêu chí ảnh hưởng nhưng đối với thực tiễn thì đối với các nghiên cứu về nguyên nhân dẫn đến các vụ cháy rừng chỉ mang tính chất thống kê và chưa xem xét đến đặc điểm cụ thể của mỗi địa phương Vì thế kết quả phòng cháy rừng còn nhiều hạn chế
Yên Bái là một trong những tỉnh trọng điểm cháy rừng của nước ta Chỉ tính
từ năm 2001 đến 2011 toàn tỉnh có 156 vụ cháy rừng thiệt hại 1.793,6 ha gây thiệt hại lớn về kinh tế và môi trường Huyện Trạm Tấu có diện tích rừng 39.861,58 ha, trong đó diện tích rừng tự nhiên 28.917,3 ha; rừng trồng 10.870,3 ha đây là những diện tích rừng rất dễ xảy ra cháy lớn và huyện Trạm Tấu là trọng điểm cháy rừng của tỉnh Yên Bái [9] Tính từ năm 2009 đến năm 2013 trên địa bàn huyện Trạm Tấu
đã xảy ra 19 vụ cháy rừng làm thiệt hại 336,16 ha rừng chủ yếu là rừng trồng Thông thuần loài Để giảm thiểu số vụ cháy rừng cũng như diện tích rừng bị thiệt hại do cháy rừng gây ra cần phải đặc biệt quan tâm đến công tác phòng cháy rừng
Chính vì những lý do trên, tôi thực hiện: "Nghiên cứu cơ sở khoa học cho
đề xuất một số giải pháp phòng cháy rừng tại huyện Trạm Tấu - tỉnh Yên Bái"
2 Mục tiêu của đề tài
2.1 Mục tiêu tổng quát
Góp phần xây dựng cơ sở khoa học và phương pháp luận cho việc đề xuất các giải pháp phòng cháy, chữa cháy rừng
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1 Những nghiên cứu về cháy rừng trên thế giới
Những công trình nghiên cứu về cháy rừng đã được một số nhà khoa học tiến hành từ những năm đầu thế kỷ XX, thời kỳ đầu chủ yếu tập trung ở một số nước có nền kinh tế và lâm nghiệp phát triển như: Mỹ, Thụy Điển, Australia, Pháp, Cannada, Nga, Đức sau đó là hầu hết các nước có hoạt động lâm nghiệp Có thể chia làm 5 lĩnh vực chính của nghiên cứu phòng cháy, chữa cháy rừng: Bản chất của cháy rừng; phương pháp dự báo nguy cơ cháy rừng; các công trình phòng cháy, chữa cháy rừng; phương pháp chữa cháy rừng và phương tiện chữa cháy rừng
Nghiên cứu bản chất của cháy rừng:
Kết quả nghiên cứu đã khẳng định rằng cháy rừng là hiện tượng Ô xy hóa các vật liệu hữu cơ do rừng tạo ra ở nhiệt độ cao Nó xảy ra khi có mặt đồng thời của 3 yếu tố, hay còn gọi là tam giác cháy: nguồn nhiệt (lửa), Ô xy và vật liệu cháy Tùy thuộc vào đặc điểm của 3 yếu tố trên mà cháy rừng có thể được hình thành, phát triển hay bị ngăn chặn hoặc suy yếu đi (Brown, 1979) [29]; (Chandler, 1983) [30] Vì vậy, về bản chất, những biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng chính là những biện pháp tác động vào 3 yếu tố trên theo chiều hướng ngăn chặn và giảm thiểu quá trình cháy
Các nhà khoa học phân biệt 3 loại cháy rừng:
+ Cháy dưới tán cây, hay cháy mặt đất rừng, là trường hợp chỉ cháy một phần hay toàn bộ lớp cây bụi, cỏ khô và cành lá rơi rụng trên mặt đất
+ Cháy tán rừng (ngọn cây) là trường hợp lửa lan tràn nhanh từ tán cây này sang tán cây khác
+ Cháy ngầm là trường hợp xảy ra khi lửa lan tràn chậm, âm ỉ dưới mặt đất, trong lớp thảm mục dày hoặc than bùn
Trang 15Trong một đám cháy rừng có thể xảy ra 1 hoặc đồng thời 2, 3 loại cháy rừng trên Tùy theo loại cháy rừng mà người ta đưa ra những biện pháp phòng và chữa cháy khác nhau (Brown A.A, 1979) [29]; (Gromvist R, 1983) [32]
Kết quả của các nghiên cứu cũng chỉ ra 3 nguyên nhân quan trọng nhất ảnh hưởng đến hình thành và phát triển cháy rừng là: Thời tiết, trạng thái rừng và hoạt động kinh tế xã hội của con người Thời tiết, đặc biệt là lượng mưa, nhiệt độ và ẩm
độ không khí ảnh hưởng quyết định đến tốc độ bốc hơi và độ ẩm vật liệu cháy dưới rừng, qua đó ảnh hưởng đến khả năng bén lửa và lan tràn đám cháy Trạng thái rừng ảnh hưởng đến tính chất vật lý và hóa học, khối lượng và phân bố vật liệu cháy, qua
đó ảnh hưởng đến loại cháy, khả năng hình thành và tốc độ lan tràn của đám cháy Hoạt động kinh tế - xã hội của con người như nương rẫy, săn bắn, du lịch v.v… ảnh hưởng đến mật độ và phân bố nguồn lửa khởi đầu của các đám cháy Phần lớn các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng đều được xây dựng trên cơ sở phân tích đặc điểm của 3 nguyên nhân trên đây trong hoàn cảnh cụ thể của địa phương (Richmond R.R, 1976) [33]; (Laslo Pancel, 1993) [35]
Nghiên cứu phương pháp dự báo nguy cơ cháy rừng
Các kết quả nghiên cứu đều khẳng định mối liên hệ chặt giữa điều kiện thời tiết, mà quan trọng nhất là lượng mưa, nhiệt độ và ẩm độ không khí với độ ẩm vật liệu và khả năng xuất hiện cháy rừng Vì vậy, hầu hết các phương pháp dự báo nguy
cơ cháy rừng đều tính đến đặc điểm diễn biến hàng ngày của lượng mưa, nhiệt độ
và độ ẩm không khí (Chandler C, 1983) [30] Ở một số nước, khi dự báo nguy cơ cháy rừng ngoài yếu tố khí tượng người ta còn căn cứ vào một số yếu tố khác, chẳng hạn ở Đức và Mỹ người ta sử dụng thêm độ ẩm của vật liệu cháy (Brown A
A, 1979) [29] Ở Pháp người ta tính thêm lượng nước hữu hiệu trong đất và độ ẩm vật liệu cháy, ở Trung Quốc người ta bổ sung thêm cả tốc độ gió, số ngày không mưa và lượng nước bốc hơi v.v…Ngoài ra, cũng có sự khác biệt nhất định khi sử dụng các yếu tố khí tượng để dự báo nguy cơ cháy rừng, chẳng hạn ở Thụy Điển và một số nước ở bán đảo Scandinavia người ta sử dụng độ ẩm không khí thấp nhất và nhiệt độ không khí cao nhất trong ngày, trong khi đó ở Nga và một số nước khác lại
Trang 16dung nhiệt độ và độ ẩm lúc 13 giờ Những năm gần đây, ở Trung Quốc người ta đã nghiên cứu phương pháp cho các điểm các yếu tố ảnh hưởng đến nguy cơ cháy rừng, trong đó có cả những yếu tố kinh tế - xã hội, và nguy cơ cháy rừng được tính theo tổng số điểm của các yếu tố Mặc dù có những nét giống nhau, nhưng cho đến nay vẫn không có phương pháp dự báo cháy rừng chung cho cả thế giới, ở mỗi quốc gia, thậm chí mỗi địa phương người ta vẫn nghiên cứu xây dựng phương pháp riêng Ngoài ra, vẫn còn rất ít phương pháp dự báo nguy cơ cháy rừng có tính đến yếu tố kinh tế - xã hội và trạng thái rừng Đây có thể là một trong những nguyên nhân làm giảm hiệu quả của phòng cháy, chữa cháy rừng ngay cả ở những nước phát triển
Nghiên cứu về công trình phòng cháy, chữa cháy rừng
Kết quả nghiên cứu của thế giới đã khẳng định hiệu quả cao của các loại băng cản lửa, các vành đai cây xanh và hệ thống kênh mương ngăn cản cháy rừng (Gromovist R, 1993) [32] Người ta đã nghiên cứu tập đoàn cây trồng vào băng xanh cản lửa, trồng rừng hỗn giao và giữ nước ở hồ đập để làm giảm nguy cơ cháy rừng Người ta cũng đã nghiên cứu hiệu lực của các hệ thống cảnh báo cháy rừng như chòi canh, tuyến tuần tra, đặt biển báo nguy cơ cháy rừng Nhìn chung, thế giới
đã nghiên cứu hiệu quả của nhiều kiểu công trình phòng cháy, chữa cháy rừng Tuy nhiên, hiện vẫn chưa đưa ra được phương pháp xác định tiêu chuẩn kỹ thuật cho các công trình đó Những thông số kỹ thuật đưa ra đều mang tính gợi ý và luôn được điều chỉnh theo ý kiến các chuyên gia cho phù hợp với đặc điểm của mỗi trạng thái rừng và điều kiện địa lý, vật lý địa phương
Nghiên cứu về biện pháp phòng và chữa cháy rừng
Thế giới nghiên cứu các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng chủ yếu hướng vào làm suy giảm các thành phần của tam giác cháy:
+ Giảm nguồn nhiệt (nguồn lửa) bằng cách dọn vật liệu cháy trên mặt đất thành băng, đào rãnh sâu hoặc chặt cây theo dải để ngăn cách đám cháy với phần rừng còn lại
Trang 17+ Đốt trước một phần vật liệu cháy vào đầu mùa khô khi chúng còn ẩm để giảm khối lượng vật liệu cháy vào thời kỳ khô hạn nhất, hoặc đốt có điều khiển theo hướng ngược lại với hướng lan tràn của đám cháy để cô lập đám cháy
+ Dùng chất dập cháy để giảm nhiệt lượng của đám cháy hoặc ngăn cách vật liệu cháy với oxy trong không khí (nước, đất, cát, bọt CO2, khí CCL4, hỗn hợp
C2H5Br với CO2 )
Nghiên cứu về phương tiện phòng cháy chữa cháy rừng
Những phương tiện phòng cháy, chữa cháy rừng đã được nghiên cứu và phát triển mạnh mẽ trong những năm gần đây, đặc biệt là phương tiện dự báo và phát hiện đám cháy, thông tin về cháy rừng và phương tiện dập lửa trong các đám cháy
Các phương pháp dự báo đã được mô hình hóa và xây dựng thành những phần mềm làm giảm nhẹ khối lượng công việc và tăng độ chính xác của dự báo nguy cơ cháy rừng Việc áp dụng hình ảnh viễn thám và công nghệ GIS đã cho phép phân tích được những diễn biến thời tiết, dự báo nhanh chóng và chính xác khả năng xuất hiện cháy rừng, phát hiện sớm đám cháy trên những vùng rộng lớn Những thông tin về khả năng xuất hiện cháy rừng, nguy cơ cháy rừng và biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng hiện nay được truyền qua nhiều kênh khác nhau đến các lực lượng phòng cháy, chữa cháy rừng và cộng đồng dân cư như hệ thống biển báo, đài phát thanh, truyền hình, báo địa phương và trung ương, các mạng máy tính
Những phương tiện dập tắt các đám cháy được nghiên cứu theo cả hướng phát triển phương tiện thủ công như cào, cuốc, dao, câu liêm, vỉ dập lửa đến các loại phương tiên cơ giới như cưa xăng, máy kéo, máy gạt đất, máy xúc, máy phun nước, máy phun bọt chống cháy, máy bay rải chất chống cháy và bom dập lửa
Mặc dù các phương pháp và phương tiện phòng cháy, chữa cháy rừng đã được phát triển ở mức cao, song những thiệt hại do cháy rừng vẫn rất khủng khiếp ngay cả ở những nước phát triển có hệ thống phòng cháy, chữa cháy rừng hiện đại như Mỹ, Úc, Nga Trong nhiều trường hợp việc khống chế các đám cháy vẫn không hiệu quả Người ta cho rằng, ngăn chặn nguồn lửa để không xảy ra cháy vẫn là quan trọng nhất Vì vậy, đã có những nghiên cứu về đặc điểm xã hội của cháy rừng và
Trang 18những giải pháp xã hội cho phòng cháy, chữa cháy rừng (Cooper, 1991) [31] Hiện nay, các giải pháp xã hội phòng cháy, chữa cháy rừng chủ yếu được tập trung vào tuyên truyền, giáo dục tác hại của cháy rừng, nghĩa vụ của công dân trong việc phòng cháy, chữa cháy rừng, những hình phạt đối với người gây cháy rừng Trong thực tế còn rất ít những nghiên cứu về ảnh hưởng của thể chế và chính sách quản lý
sử dụng tài nguyên, chính sách chia sẻ lợi ích, những quy định của cộng đồng, những phong tục, tập quán, những nhận thức và kiến thức của người dân đến cháy rừng Cũng có rất ít những nghiên cứu về nguyên nhân cháy rừng do hậu quả sinh thái của sự phát triển kinh tế - xã hội gây nên, và về những giải pháp lồng ghép các hoạt động phòng cháy, chữa cháy rừng với hoạt động phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường khác Đây là những căn cứ quan trọng để xây dựng giải pháp kinh tế -
xã hội cho phòng cháy, chữa cháy rừng
Nghiên cứu về phân vùng trọng điểm cháy rừng
Khả năng xuất hiện và mức thiệt hại của cháy rừng thường phụ thuộc chặt chẽ vào đặc điểm của các nhân tố ảnh hưởng quan trọng nhất như đặc điểm khí hậu, thời tiết và đặc điểm các trạng thái rừng Những khu vực có lượng mưa lớn và phân
bố đều hoặc có những trạng thái rừng ẩm thường ít xảy ra cháy rừng Ngược lại những khu vực khô hạn, mưa phân bố không đều hoặc có những trạng thái rừng dễ cháy thường xảy ra cháy nhiều hơn Vì vậy, để sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho phòng cháy, chữa cháy rừng, người ta thường căn cứ vào đặc điểm của các nhân tố ảnh hưởng đến cháy rừng để phân chia lãnh thổ thành những khu vực có nguy cơ cháy rừng khác nhau Người ta sẽ tập trung phòng cháy, chữa cháy nhiều hơn vào những vùng có nguy cơ cháy cao và giảm đi ở những vùng có nguy cơ cháy ít hơn Việc phân chia lãnh thổ thành những vùng khác nhau theo nguy cơ cháy rừng được gọi là phân vùng trọng điểm cháy rừng Công việc này được thực hiện ở hầu hết các quốc gia Cho đến nay có hai phương pháp được áp dụng chủ yếu để phân vùng trọng điểm cháy rừng: Phân vùng theo các nguyên nhân ảnh hưởng đến cháy rừng
và phân vùng theo thực trạng cháy rừng
Trang 19Ở phương pháp thứ nhất người ta căn cứ vào đặc điểm phân bố các yếu tố ảnh hưởng đến cháy rừng như khí hậu, địa hình, thổ nhưỡng và kiểu thảm thực vật
để phân vùng trọng điểm cháy Những khu vực có nguy cơ cháy rừng cao là những vùng có đặc điểm khí hậu khô hạn, địa hình dốc, trạng thái rừng có khối lượng vật liệu cháy lớn và chứa dầu Ngược lại, những khu vực có nguy cơ cháy rừng thấp là những vùng có đặc điểm khí hậu ẩm ướt, địa hình tương đối bằng phẳng và trạng thái rừng có khối lượng vật liệu cháy ít hoặc thảm lá chứa nhiều nước, khó cháy hơn
Ở phương pháp thứ hai người ta căn cứ vào tình hình phân bố của số vụ cháy rừng diễn ra trên các khu vực lãnh thổ Những vùng có nguy cơ cháy rừng cao sẽ là những vùng có tần suất xuất hiện cháy rừng cao và mức độ thiệt hại lớn Ngược lại những vùng có nguy cơ cháy rừng thấp là những vùng ít xảy ra cháy rừng nhất
1.2 Những nghiên cứu về cháy rừng ở Việt Nam
1.2.1 Dự báo cháy rừng
Những nghiên cứu về dự báo cháy rừng ở nước ta được bắt đầu tiến hành từ năm 1981 và chủ yếu nghiên cứu áp dụng phương pháp dự báo theo chỉ tiêu tổng hợp của V.G Nesterov
Năm 1985, Cục Kiểm lâm đã chủ trì đề tài cấp nhà nước về biện pháp phòng cháy chữa cháy rừng thông và rừng tràm Kết quả đề tài là một báo cáo mang tính đúc rút các kinh nghiệm về phòng cháy, chữa cháy cho rừng thông và rừng tràm của các tỉnh trong khu vực[18]
Năm 1988, Phạm Ngọc Hưng đã áp dụng phương pháp của V.G Nesterov trên cơ sở nghiên cứu cải tiến, điều chỉnh hệ số K theo lượng mưa ngày để tính toán
và xây dựng phương pháp dự báo cháy rừng cho đối tượng rừng Thông tỉnh Quảng Ninh [17], theo các chỉ tiêu được xác định như sau:
- Trên cơ sở sử dụng công thức chỉ tiêu tổng hợp của V.G Nesterov và dãy quan trắc các yếu tố khí tượng gồm nhiệt độ không khí lúc 13 giờ, độ chênh lệch bão hòa lúc 13 giờ và lượng mưa ngày của tỉnh Quảng Ninh trong 10 năm (1975 -
Trang 201985), tác giả tính chỉ tiêu khí tượng tổng hợp P cho từng ngày ở Quảng Ninh, công thức như sau :
1
13
13 (1.7) Trong đó:
P : chỉ tiêu tổng hợp đánh giá nguy cơ cháy rừng
K : Hệ số điều chỉnh theo lượng mưa ngày, K có giá trị bằng 1 khi lượng mưa ngày nhỏ hơn 5mm, K có giá trị bằng 0 khi lượng mưa ngày vượt quá 5mm
n : Số ngày không mưa hoặc có lượng mưa ngày nhỏ hơn 5mm kể từ ngày cuối cùng có lượng mưa lớn 5mm
ti13: Nhiệt độ không khí lúc 13 giờ (00)
di13: Độ chênh lệch bão hòa của không khí lúc 13 giờ (mb)
Sau đó tác giả dựa vào kết quả phân tích mối liên hệ giữa chỉ tiêu P với số vụ cháy đã xảy ra trong 10 năm để điều chỉnh lại ngưỡng của các cấp dự báo cháy rừng
ở Quảng Ninh, kết quả được ghi ở bảng 1.1
Bảng 1.1 Phân cấp cháy rừng Thông theo chỉ tiêu P cho rừng Thông
Quảng Ninh của TS Phạm Ngọc Hưng
Cấp cháy Độ lớn của P Khả năng cháy
Phương pháp dự báo cháy rừng theo chỉ tiêu tổng hợp của V.G Nestrov được
áp dụng rộng rãi trên quy mô cả nước Nó có ưu điểm đơn giản, dễ thực hiện với các thiết bị đơn giản ít tốn công sức Tuy nhiên, phương pháp này lại có nhược điểm
là chỉ căn cứ vào những nhân tố khí tượng là chính, chưa tính đến được ảnh hưởng
Trang 21của một số nhân tố khác như khối lượng vật liệu cháy, đặc điểm của nguồn lửa, điều kiện địa hình Vì vậy, việc áp dụng phương pháp này trên toàn lãnh thổ mà không
có những hệ số điều chỉnh thích hợp có thể dẫn đến những sai số nhất định [17]
Từ năm 1989 - 1992, tổ chức UNDP đã hỗ trợ "Dự án tăng cường khả năng phòng cháy, chữa cháy cho Việt Nam" A.N Cooper chuyên gia đánh giá mức độ nguy hiểm cháy rừng của FAO đã cùng các chuyên gia Việt Nam nghiên cứu, soạn thảo phương pháp dự báo cháy rừng A.N Cooper cho rằng ngoài các yếu tố mà V.G Nestervo đã nêu, đối với nhiều vùng rừng ở Việt Nam gió cũng là nhân tố ảnh hưởng lớn đến sự hình thành và phát triển của đám cháy Do vậy, ông đề nghị sử dụng phương pháp của V.G Nesterov nhưng phải tính đến tốc độ gió được xác định vào thời điểm 13 giờ ở độ cao 10-12m so với mặt đất Công thức dự báo do ông đề xuất như sau:
Pc = P.(WF) (1.8) Trong đó:
Pc: Chỉ tiêu khí tượng tổng hợp theo đề nghị của Cooper
P: Chỉ tiêu khí tượng tổng hợp tính theo công thức của V.G Nesterov trên cơ
sở điêug chỉnh hệ số K theo lượng mưa ngày của Pham Ngọc Hưng
WF: Hệ số điều chỉnh có giá trị phụ thuộc vào tốc độ gió như bảng dưới đây:
Căn cứ vào kết quả xác định chỉ số Pc ở Việt Nam, A.N Cooper đã phân cấp
dự báo nguy cơ cháy rừng ở Việt Nam thành 4 cấp như bảng 1.2 [31]
Trang 22Bảng 1.2 Cấp nguy hiểm cháy rừng thêm yếu tố gió của A.N Cooper (1991)[31]
Cấp cháy Đặc trưng cấp cháy Chỉ số P c Chỉ số theo màu
I Có nguy cơ cháy thấp 0 - 4000 Xanh
II Có nguy cơ cháy trung bình 4001 - 12000 Vàng
III Có nguy cơ cháy cao 12001 - 3000 Da cam
IV Có nguy cơ cháy rất cao >30000 Đỏ
Trong quá trình nghiên cứu tác giả đã thêm nhân tố gió vào khi dự báo nguy
cơ cháy rừng Điều này làm tăng độ chính xác của chỉ số nhất là đối với các vùng gió có vận tốc lớn vào mùa khô Nhưng biện pháp này chưa khắc phục được nhược điểm chính của V.G Nesterov là khi không có mưa nhiều ngày liên tục thì chỉ số Pc
cứ tăng lên vô hạn trong lúc đo cấp dự báo chi có cấp IV Do đó dự báo không cần ý nghĩa nào nữa [16]
Khi nghiên cứu quan hệ giữa chỉ tiêu tổng hợp P của Nesterov với số ngày khô hạn liên tục H (Số ngày liên tục không mưa hoặc có mưa nhưng lượng mưa nhỏ hơn 5mm) T.S Phạm Ngọc Hưng kết luận chỉ số P có liên hệ chặt chẽ với H, hệ số tương quan giữa chúng đạt 0.81 Điều đó nói lên rằng số ngày khô hạn liên tục càng tăng thì khả năng xuất hiện cháy rừng càng lớn Từ kết quả phân tích tương quan của P và H tác giả đã xây dựng một phương pháp căn cứ vào H để dự báo nguy cơ cháy rừng ngắn hạn và dài hạn cho từng vùng sinh thái khác nhau Công thức áp dụng để dự báo như sau:
+ Dự báo hàng ngày: Hi = K.(Hi-1+1)
+ Dự báo nhiều ngày: Hi = K.(Hi-1+n)
Trong đó:
Hi: Số ngày khô hạn liên tục
Hi-1: Số ngày khô hạn liên tục tính đến trước ngày dự báo
K: Hệ số điều chỉnh lượng mưa Nếu lượng mưa ngày a nhỏ hơn hoặc bằng 5mm thì K = 1, nếu lượng mưa lớn hơn 5mm thì K = 0
Trang 23n: Số ngày khô hạn, không mưa liên tục của đợt dự báo tiếp theo
Sau khi tính được Hi sẽ tiến hành xác định khả năng cháy rừng theo biểu tra lập sẵn cho địa phương trong 6 tháng mùa cháy
Phương pháp này tính toán rất đơn giản, tiện lợi trong sử dụng (vì tính toán đơn giản chỉ cần tính số ngày không mưa hoặc có mưa nhỏ hơn 5mm) Tuy vậy, phương pháp này vẫn còn hạn chế giống như phương pháp chỉ tiêu tổng hợp, độ chính xác của phương pháp này còn thấp hơn do mới chỉ căn cứ vào một nhân tố lượng mưa
Từ năm 1991 - 1993 áp dụng phương pháp dự báo cháy rừng theo chỉ tiêu tổng hợp P cải tiến cho Việt Nam và chỉ số khô hạn của Phạm Ngọc Hưng, Võ Đình Tiến đã đưa ra phương pháp dự báo nguy cơ cháy rừng theo chỉ tiêu tổng hợp cho Việt Nam và chỉ số khô hạn liên tục của Phạm Ngọc Hưng Khi áp dụng phương pháp dự báo này ở Bình Thuận, Võ Đình Tiến và những nhà quản lý cháy rừng nhận thấy rằng hai phương pháp này tỏ ra không phù hợp Do đặc thù riêng, khí hậu của Bình Thuận được phân ra hai mùa rõ rệt, mùa khô kéo dài 6 tháng từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau, mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10 Trong mùa khô hầu như không có mưa trên 5mm, do vậy tháng 1 cấp dự báo cháy rừng thường xuyên tăng vọt lên cấp V và cứ thế kéo dài cho đến hết mùa cháy thì tính thuyết phục không cao Mặt khác, nguyên nhân cháy còn phụ thuộc rất lớn vào yếu
tố con người do đó đây là yếu tố cần quan tâm (Võ Đình Tiến, 1995) [27]
Từ những bất cập sau 3 năm thực hiện hai biện pháp dự báo cháy rừng trên ở Bình Thuận Võ Đình Tiến, 1995 đã đưa ra công thức xác định chỉ tiêu nguy hiểm đối với cháy rừng ở Bình Thuận như sau: [27]
Xi =
Wi Ai
Ci Li Vi Di
+
+ + + (1.11)
Trang 24Sau thời gian nghiên cứu từ năm 1995 - 1997, Bế Minh Châu đã nghiên cứu ảnh hưởng của điều kiện khí tượng đến độ ẩm và khả năng cháy của vật liệu cháy dưới rừng Thông tại một số vùng trọng điểm Thông Miền Bắc Việt Nam [4] Kết quả tác giả đã đưa ra được là biểu phân cấp cháy rừng theo độ ẩm vật liệu cháy trên bảng 1.3
Bảng 1.3 Phân cấp cháy rừng theo độ ẩm vật liệu cháy T.S Bế Minh Châu
Biến đổi của tốc độ cháy
Khả năng xuất hiện cháy
II 35-50 0.002-0.0037 Cháy chậm Ít có khả năng cháy III 17-34.9 0.0038-0.0063 Tương đối nhanh Có khả năng cháy
IV 10-16.9 0.0064-0.0096 Nhanh Có nhiều khả năng cháy
Đề tài này được T.S Bế Minh Châu nghiên cứu ở 3 khu vực: Khu vực huyện Hoành Bồ - Quảng Ninh; Khu vực huyện Hà Trung - Thanh Hóa; Khu vực huyện Nam Đàn - Nghệ An theo tác giả thì tại cả 3 khu vực khi áp dụng phương trình để
dự báo độ ẩm vật liệu cháy đều có sai số tích lũy theo thời gian, số ngày dự báo càng dài thì sai số càng lớn Với 5 ngày sai số trung bình <7,0% trong 10 ngày liên tục sai số trung bình là 8,5%, trong 15 ngày liên tục sai số trung bình ở cả 3 khu vực đều >10% Do vậy để đảm bảo độ chính xác thì sau 10 ngày phải xác định lại độ ẩm vật liệu cháy để bổ sung [4]
Trang 25Tóm lại: Công tác dự báo nguy cơ cháy rừng (DBNCCR) ở Việt Nam
được bắt đầu từ năm 1981 Tuy nhiên, trong thời gian đầu chủ yếu áp dụng phương pháp dự báo của V.G Nesterop Đây là phương pháp đơn giản, cấp nguy hiểm của cháy rừng được xác định theo giá trị khí tượng tổng hợp (P) bằng tổng của tích số giữa nhiệt độ và độ chênh lệch bão hòa của không khí lúc 13 giờ hàng ngày kể từ ngày cuối cùng có lượng mưa dưới 3mm
Theo kết quả nghiên cứu Phạm Ngọc Hưng (1988) cho thấy, phương pháp của V.G Nesterop có độ chính xác cao hơn nếu tính giá trị P kể từ ngày cuối cùng
có lượng mưa dưới 5mm Ngoài ra, trên cơ sở phát hiện mối liên hệ chặt chẽ giữa số ngày khô hạn liên tục (H) (số ngày liên tục có lượng mưa dưới 5mm) với chỉ số P, tác giả Phạm Ngọc Hưng, (2004) đã đưa ra phương pháp DBNCCR theo số ngày khô hạn liên tục Ông căn cứ vào số ngày khô hạn liên tục cho các mùa khí hậu trong năm xây dựng một bảng tra cấp nguy hiểm cháy rừng Tuy nhiên, khi nghiên cứu về tính thích hợp của một số phương pháp dự báo nguy cơ cháy rừng ở miền Bắc Việt Nam, tác giả Bế Minh Châu (2001) đã khẳng định phương pháp dự báo nguy cơ cháy rừng theo chỉ tiêu P và H có độ chính xác thấp ở những vùng có sự luân phiên thường xuyên của các khối không khí biển và lục địa hoặc vào các thời gian chuyển mùa Trong những trường hợp này, thì mức độ liên hệ của chỉ tiêu tổng hợp P và chỉ số ngày khô hạn liên tục H với độ ẩm vật liệu cháy dưới tán rừng và tần suất xuất hiện của cháy rừng rất thấp
Từ 1989 - 1991, dự án tăng cường khả năng phòng cháy rừng cho Việt Nam của UNDP, Cooper A N, (1991) đã nghiên cứu, soạn thảo phương pháp DBNCCR theo chỉ tiêu khí tượng tổng hợp P của V G Nesterop nhưng thêm yếu tố gió; chỉ tiêu P của V G Nesterop sẽ được nhân với hệ số là: 1,0, 1,5, 2,0 và 3,0, nếu tốc độ gió tương ứng là: 0 - 4, 5 - 15, 15 - 25 và trên 25 km/giờ Tuy nhiên, đến nay chỉ tiêu vẫn đang ở trong giai đoạn thử nghiệm Tác giả Võ Đình Tiến (1995) [27] đã đưa ra phương pháp DBNCCR cho từng tháng tại Bình Thuận theo 6 yếu tố: nhiệt
độ, lượng mưa, độ ẩm không khí, tốc độ gió, số vụ cháy rừng, lượng người vào rừng (tất cả đều lấy giá trị trung bình) Tác giả đã xác định được cấp nguy hiểm với cháy
Trang 26rừng cho từng tháng trong cả mùa cháy Đây là chỉ tiêu có tính đến cả yếu tố thời tiết và yếu tố kinh tế - xã hội liên quan đến nghiên cứu cháy rừng Tuy nhiên, vì căn
cứ vào số liệu khí tượng trung bình năm nên cấp dự báo của tác giả chỉ thay đổi theo thời gian của lịch mà không thay đổi theo thời tiết hàng ngày Vì vậy, nó mang
ý nghĩa của phương pháp xác định mùa cháy nhiều hơn là dự báo nguy cơ cháy rừng Kết quả nghiên cứu tác giả Vương Văn Quỳnh (2005) [26] đưa ra phương pháp dự báo phát hiện sớm cháy rừng U Minh và Tây Nguyên Các kết quả cũng chỉ ứng dụng cho các khu vực nói trên, chưa được ứng dụng rộng rãi cho cả nước
Nhìn chung, đến nay nghiên cứu về phương pháp dự báo nguy cơ cháy rừng
ở Việt Nam còn rất mới mẻ, trong đó vẫn chưa tính đến đặc điểm của trạng thái rừng, đặc điểm tiểu khí hậu và yếu tố kinh tế - xã hội có ảnh hưởng tới cháy rừng cho mỗi địa phương
1.2.2 Nghiên cứu về công trình phòng cháy rừng
Hiện còn rất ít những nghiên cứu về hiệu lực của các công trình PCCCR; mặc dù, trong các quy phạm PCCCR có đề cập đến tiêu chuẩn của các công trình phòng cháy như: đưa ra một số loài cây trồng sử dụng tạo băng xanh cản lửa phòng cháy, song phần lớn đều được xây dựng trên cơ sở tham khảo tư liệu nước ngoài và kinh nghiệm, chưa có khảo nghiệm đầy đủ trong điều kiện Việt Nam (Đặng Vũ Cẩn và cộng sự, 1992) [2]
Các công trình PCCR ở nước ta chủ yếu xây dựng đường băng trắng và đường băng xanh cản lửa hạn chế cháy lan mặt đất, cháy lướt trên ngọn cây rừng Theo Phạm Ngọc Hưng (2001) [14], đường băng xanh được trồng cùng với việc trồng rừng trong năm trên những diện tích rừng có độ dốc 25 độ Đối với đai cây xanh xung quanh các điểm dân cư, xung quanh những vùng đất sản xuất nông nghiệp,… nằm ở trong rừng và ven rừng Đai rừng phòng cháy có chiều rộng từ 20 - 30m, nếu xây dựng theo đường phân khoảnh thì chiều rộng đai rừng chỉ cần từ 15 - 20m là đủ Thường những đường băng cản lửa lợi dụng những chướng ngại vật tự nhiên như: sông, suối, hồ nước, đường mòn, đường dông, những công trình nhân tạo (đường sắt, đường giao thông, đường điện cao thế, đường vận xuất, đường vận
Trang 27chuyển,…) để làm băng Trong những trường hợp này, đường băng thường chỉ xây dựng dọc theo hai bên đường bằng một hoặc hai vành đai cây xanh cản lửa, có bề rộng từ 6 - 10m, Những loài cây được giới thiệu đưa vào trồng thành băng hoặc đai xanh cản lửa tại nhiều địa phương ở nước ta như sau:
- Cây Tống quả sủ (Alnus nepalensis): Ưa khí hậu á nhiệt đới, thường trồng ở
vùng núi cao dọc theo biên giới Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu, Sơn La, Cao Bằng
- Cây Dứa bà (Agave americara): Chịu nước quanh năm, có khả năng ngăn
cháy lan mặt đất, có thể trồng rộng rãi nhiều nơi, như: Lâm Đồng, Quảng Ninh,…
- Cây Vối thuốc răng cưa (Schima superb Gardn et Champ): Cây cao, thân
thẳng, mọc nhanh tiên phong trên đồi trọc hoặc tái sinh sau nương rẫy,… phân bố nhiều ở miền Đông Bắc, cây có tác dụng ngăn lửa tốt cho rừng thông
- Cây Me rừng (Phyllanthus emblica L): Loại cây bụi, thân chứa nhiều nước,
mọc nhiều ở vùng đồi núi trọc nên có thể chọn làm đai cản lửa ở nơi đồi trọc
- Cây Thẩu tấu (Aporosa microcalyx Hassk): Cây bụi hoặc cây nhỏ, mọc phổ
biến ở đồi trọc, bãi hoang, nơi rừng nghèo kiệt, phân bố vùng Bắc Bộ và Trung Bộ
- Cây Đỏ ngọn (Cratoxylon pruuolium Dyer): Cây cao cỡ 6 - 10m, vỏ khi già
xốp có nhiều vảy, có khả năng phòng cháy, cây thường gặp ở các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang, Hòa Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh
- Cây Dâu da đất (Baceaerea sapida Mull - Arg.): Là loại cây nhỡ, mọc rải
rác trong rừng thứ sinh tập trung ở vùng trung du Bắc Bộ và Trung Bộ
- Cây Keo tai tượng (Acacia mangium Wild): Là loài cây có thể trồng ở hầu
hết khắp nơi trên nhiều loại đất; cây có tán khép kín, thường trồng ở đồi núi ở các tỉnh Quảng Ninh, Nghệ An, Hà Tĩnh, Vĩnh Phúc, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Lâm Đồng, Đắc Lắc, Kon Tum, Gia Lai,…
và có khả năng tạo ra đai xanh khép kín nhiều tầng, tầng trên là keo Tai tượng, tầng dưới là 1 số ít cây bụi thường xanh, tạo nên môi trường râm ẩm, có khả năng ngăn ngừa lửa cháy lan từ ngoài vào rừng và ngăn cháy lướt trên ngọn cây rừng
Trang 28- Một số loài cây trồng trên kênh mương tạo băng cản lửa ở rừng tràm vùng
đồng bằng sông Cửu Long bao gồm: Dứa (thơm), Dừa nước (Nypa fruticans Wurb), Chuối, Đào lộn hột (điều) (Anacardium occidentale L)
- Một số loài cây keo thuộc họ đậu mọc nhanh, xanh quanh năm, có tác dụng
cản lửa, tạo môi trường râm, ẩm, cải tạo đất tốt như: Keo dậu (Leacaena leucocepha
De wit.), Keo gai, Keo philippin,… dùng để trồng đai cây xanh ở vùng đồi núi và vừng rừng Tràm ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam Bộ, miền Bắc rất tốt
1.2.3 Nghiên cứu về giải pháp kỹ thuật lâm sinh phòng cháy rừng
Biện pháp KTLS là một trong những yêu cầu bắt buộc ngay khi tiến hành quy hoạch, thiết kế trồng rừng và trong suốt quá trình kinh doanh lợi dụng rừng Một số nghiên cứu về biện pháp KTLSPCR chủ yếu hướng vào:
(1) - Trồng rừng hỗn giao nhiều loài để hạn chế thực bì là tầng cây bụi và lớp thảm tươi sinh trưởng và phát triển Trước đây, các công trình nghiên cứu chủ yếu tập trung vào một số ít các loài cây như: Bạch đàn liễu, Mỡ, Bồ đề, Thông nhựa, Thông đuôi ngựa,… Gần đây, cùng với những tiến bộ về nghiên cứu giống cây rừng, các tác giả đã tập trung nhiều vào các loài cây mọc nhanh cung cấp nguyên liệu giấy như: Keo lai, Keo tai tượng, Bạch đàn urophylla, Thông caribe,… Các công trình nghiên cứu quan trọng có thể kể đến là nghiên cứu phương thức trồng rừng hỗn giao cũng được nhiều tác giả quan tâm nhiều Cụ thể: Phùng Ngọc Lan (1991) [23] đã gây trồng rừng trồng hỗn giao Thông đuôi ngựa, Keo lá tràm, Bạch đàn trắng ở Núi Luốt - Xuân Mai Nguyễn Hữu Vĩnh và cộng sự (1994) [28] đã nghiên cứu cơ sở khoa học của phương thức trồng rừng hỗn giao giữa loài Bạch đàn trắng và Keo lá tràm, có kết luận: Keo lá tràm và Bạch đàn trắng là cây ưa sáng ngay từ khi mới trồng, sinh trưởng nhanh; song mức độ ưa sáng, tốc độ sinh trưởng
và các đặc tính sinh vật học khác nhau của chúng không giống nhau; Keo lá tràm là cây họ đậu, hệ rễ có nhiều nốt sần, do đó bước đầu có thể khẳng định cây Bạch đàn trắng và cây Keo lá tràm có thể trồng hỗn giao với nhau; đến năm thứ 3, phương pháp hỗn giao cách tổ trong hàng làm cho các chỉ tiêu sinh trưởng của cây Keo lá tràm và cây Bạch đàn tốt hơn phương pháp hỗn giao với các loài khác Theo kết quả
Trang 29nghiên cứu Trần Nguyên Giảng (1985) [12] thí nghiệm trồng rừng hỗn giao trên đối tượng đất trống, trọc sau khi phá rừng để trồng cây lương thực, đất phát triển trên nền đá vôi; thực bì gồm cỏ là xen cỏ tranh, lau, găng gai,… Tác giả đã trồng Keo tai tượng và Keo lá tràm với mật độ 3.300 cây/ha làm áo che phủ; khi keo được 2 tuổi, tác giả đã đưa vào trồng 10 loài cây lá rộng bản địa là: Lát hoa, Sấu, Nhội, Dổi, Kim giao, Trám trắng, Gội trắng, Muồng đỏ, Lim xẹt và giữa hai hàng keo theo phương pháp hỗn giao các loài theo hàng, cự ly 2m x 2m Trong thời gian qua, các loài cây bản địa được trồng nhiều và đã được nhiều tác giả chú ý nghiên cứu đến, cụ thể: Nguyễn Bá Chất (1994) [3] nghiên cứu cơ cấu cây trồng và xây dựng quy trình hướng dẫn kỹ thuật trồng cho một số loài cây chủ yếu phục vụ Chương trình 327/CT-CP, sau đó là Dự án trồng mới 5 triệu hecta rừng của Chính phủ Trong thời gian qua, nhiều tác giả đã nghiên cứu và thử nghiệm trồng rừng hỗn giao ở nhiều vùng bằng nhiều loài cây với phương thức trồng khác nhau Tuy nhiên, các kết quả vẫn còn tản mạn, chưa được đúc kết, đánh giá và chưa được áp dụng vào thực tiễn sản xuất; mặt khác, việc tìm chọn cấu trúc, loài cây, phương thức trồng và thời điểm hỗn giao cũng rất phức tạp Việc gây tạo rừng hỗn giao là mong muốn của nhiều nhà lâm học đã và đang nỗ lực nghiên cứu thí nghiệm tạo ra các lâm phần hài hòa,
ổn định, bền vững về sinh thái và có giá trị cao về kinh tế
(2) - Đốt trước vật liệu cháy là biện pháp làm giảm nguồn vật liệu cháy trong rừng bằng cách chủ động đốt những vật liệu dễ cháy trong các khu rừng có nguy cơ cháy cao vào thời gian trước mùa cháy nhưng có sự điều khiển của con người để không gây cháy rừng và hạn chế tới mức thấp nhất những ảnh hưởng bất lợi của lửa gây ra Tuy nhiên, biện pháp này cho tới nay vẫn chưa được áp dụng phổ biến rộng rãi ở nước ta Việc tiến hành đốt trước khá phức tạp, đòi hỏi phải có nhiều kinh nghiệm và phải được chuẩn bị chu đáo cả về lực lượng, phương tiện dập lửa (Bế Minh Châu, Phùng Văn Khoa (2002) [5]
Trong những năm gần đây, ở nước ta đã có một số công trình nghiên cứu thử nghiệm về biện pháp đốt trước nhằm giảm khối lượng vật liệu cháy Cụ thể: Phó Đức Đỉnh (1996) [11] đã thử nghiệm đốt trước vậy liệu cháy dưới tán rừng thông
Trang 30non 2 tuổi tại Đà Lạt (Lâm Đồng) Tác giả cho rằng, ở rừng thông non nhất thiết phải thu gom vật liệu cháy vào chính giữa các hàng cây hoặc nơi trống để đốt, chọn thời tiết đốt để ngọn lửa âm ỉ, không cao quá 0,5m có thể gây cháy tán cây rừng Phan Thanh Ngọ (1996) [25] đã thử nghiệm đốt trước vật liệu cháy dưới tán rừng thông 8 tuổi ở Đà Lạt (Lâm Đồng); tác giả cho rằng, với rừng thông lớn tuổi không cần phải thu gom vật liệu cháy trước khi đốt mà chỉ cần tuân thủ những nguyên tắc
về chọn thời điểm và thời tiết thích hợp để đốt và có thể áp dụng đốt trước vật liệu cháy cho một số loại rừng ở địa phương khác, trong đó có rừng khộp ở Đắc Lắk và Gia Lai Tác giả Thái Thành Lượm (1996) [24] đã áp dụng biện pháp đốt trước để xúc tiến tái sinh rừng tràm bằng cách đốt trực tiếp có kiểm soát đúng thời điểm, chia thành nhiều lần đốt để giảm bớt độ che phủ, kích thích hạt giống nảy mầm nhanh, hình thành lớp cây tái sinh dưới tán rừng Năm 1986, Bộ Lâm Nghiệp nay là Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn đã đưa ra quy định tạm thời về điều kiện đốt trước vật liệu cháy có điều khiển dưới tán rừng thông Các vấn đề cần chú ý trước khi tiến hành đốt trước vật liệu cháy rừng được đưa ra dựa trên kết quả nghiên cứu của các chuyên gia về lửa rừng Việt Nam Vì vậy, vẫn còn một số hạn chế như một
số nghiên cứu nêu trên
Qua thực tiễn hoạt động và đúc kết kinh nghiệm công tác trong lĩnh vực lửa rừng trong thời gian từ năm 2001 - 2004, Phạm Ngọc Hưng và Bế Minh Châu đã tiến hành đánh giá kết quả thực hiện các biện pháp PCCCR ở Việt Nam, từ việc tham khảo các công trình nghiên cứu đã được áp dụng trên thế giới và trong nước Các tác giả đã cho rằng, một trong những biện pháp PCCCR quan trọng là biện pháp làm giảm nguồn vật liệu cháy bằng biện pháp đốt trước có điều khiển Trên cơ
sở đó, tác giả đã tổng hợp các vấn đề liên quan và cách tiến hành đốt trước vật liệu cháy áp dụng cho Việt Nam một cách khá toàn diện Tuy nhiên, do đặc điểm khí hậu của các khu vực rất khác nhau nên việc áp dụng các kết quả này vẫn còn nhiều hạn chế
Và có thể nói rằng, những công trình nghiên cứu về biện pháp PCCCR ở nước ta có thể xem ba công trình thử nghiệm đốt trước nguồn vật liệu cháy dưới tán
Trang 31rừng của các tác giả cho đối tượng rừng thông ở Tây Nguyên và rừng Tràm ở vùng
Tứ giác Long Xuyên là tiêu biểu nhất Tuy nhiên, các tác giả vẫn chưa định lượng được hiệu quả của đốt trước vật liệu cháy để giảm nguy cơ cháy rừng cũng như lượng hóa các tác động của đốt trước vật liệu cháy đến hoàn cảnh sinh thái và năng suất rừng trồng Vì vậy, tính thuyết phục của biện pháp đốt trước vật liệu cháy rừng chưa cao
dự báo chung cho cả thế giới Đối với các công trình PCCCR hiện nay, vẫn chưa đưa ra được phương pháp xác định tiêu chuẩn kỹ thuật cho các công trình PCCCR Các biện pháp kỹ thuật lâm sinh phòng cháy chữa cháy rừng trong thời gian qua, cũng chủ yếu làm giảm nguồn vật liệu cháy bằng các biện pháp trồng rừng hỗn giao và làm giảm nguồn vật liệu cháy bằng đốt trước
- Trong nước nghiên cứu về PCCCR bắt đầu từ năm 1981, có nhiều phương pháp DBNCCR khác nhau, trong đó vẫn chưa tính đến đặc điểm của các trạng thái rừng, đặc điểm tiểu khí hậu và những yếu tố kinh tế - xã hội có liên quan ảnh hưởng tới cháy rừng ở địa phương Đối với các công trình PCCCR hiện nay, còn rất ít nghiên cứu về hiệu lực các công trình cũng như phương pháp PCCCR Song các công trình này, được xây dựng dựa vào tài liệu nước ngoài là chính Đối với các biện pháp kỹ thuật lâm sinh phòng cháy chữa cháy rừng có nhiều mô hình trồng
Trang 32rừng hỗn giao giữa các loài cây trồng và có thể xem ba công trình thử nghiệm đốt trước vật liệu cháy rừng là tiêu biểu nhất Tuy nhiên, các tác giả vẫn chưa định lượng được hiệu quả cũng như xác định được ảnh hưởng của đốt trước vật liệu cháy đến hoàn cảnh sinh thái và năng suất rừng, tính thuyết phục của biện pháp đốt trước vật liệu cháy rừng chưa cao
Hiện nay, vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào về PCCCR ở huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái Trong quá trình xây dựng và thực hiện phương án PCCCR của huyện Trạm Tấu người ta chưa bố trí được hợp lý các công trình PCCCR, hoặc tăng cường được những trang bị cần thiết và tổ chức được lực lượng PCCCR hợp lý ở các khu vực khác nhau trong địa bàn huyện, Điều này đã ảnh hưởng lớn đến hiệu quả của các hoạt động PCCCR của địa phương
Trang 33Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Rừng và các biện pháp phòng cháy rừng đã và đang được áp dụng tại huyện Trạm Tấu - tỉnh Yên Bái
2.2 Phạm vi nghiên cứu
- Xem xét các yếu tố tự nhiên, trạng thái rừng và thực trạng công tác PCCCR trên địa bàn huyện Trạm Tấu - tỉnh Yên Bái
- Đề tài tập trung nghiên cứu tình hình cháy rừng trong giai đoạn từ năm
2009 đến năm 2013 trên địa bàn huyện Trạm Tấu
2.3 Nội dung nghiên cứu
Để thực hiện những mục tiêu trên đề tài tiến hành nghiên cứu những nội dung chủ yếu sau:
2.3.1 Thực trạng cháy rừng từ năm 2009 - đến 2013 (Số vụ cháy rừng; loại rừng
bị cháy; mức độ thiệt hại; nguyên nhân)
2.3.2 Tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến cháy rừng:
( Các nhân tố tự nhiên; Đặc điểm vật liệu cháy ở các trạng thái rừng chủ yếu tại khu vực nghiên cứu; Đặc điểm điều kiện khí tượng; Đặc điểm địa hình; Tình hình kinh tế xã hội ảnh hưởng đến cháy rừng)
2.3.3 Đánh giá thực trạng công tác phòng cháy, chữa cháy rừng: (Tuyên truyền
giáo dục; Biện pháp kỹ thuật lâm sinh; xây dựng lực lượng; xây dựng cơ sở vật chất; dự báo cháy rừng)
2.3.4.Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội - thách thức trong phòng cháy, chữa cháy rừng
2.3.5 Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả phòng cháy, chữa cháy rừng tại huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái
Trang 342.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Quan điểm về cách tiếp cận của đề tài
Đối với hoạt động phòng cháy rừng, đây là lĩnh vực đòi hỏi có sự vào cuộc của tất cả các cấp, các ngành, mọi tổ chức, cá nhân và là trách nhiệm của toàn dân; chính vì vậy mà quan điểm nghiên cứu và cách tiếp cận của đề tài phải có sự tham gia và tính kế thừa, chọn lọc
Đề tài xuất phát từ việc thống kê các kết quả điều tra nguyên nhân của các vụ cháy trên địa bàn huyện Trạm Tấu từ năm 2009 - 2013; trên cơ sở các nguyên nhân gây cháy rừng ta tiến hành điều tra, đánh giá các yếu tố chi phối đặc thù đến việc xuất hiện các nguyên nhân gây cháy rừng như: Thực trạng tài nguyên rừng, ảnh hưởng của
vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội thể chế, chính sách, tài chính hiện hành, các phương pháp phòng cháy đang được áp dụng và diễn biến tình hình cháy rừng qua các năm từ đó nhìn nhận rõ mối quan hệ giữa nguyên nhân của các vụ cháy rừng đối với các yếu tố điều tra để thấy rõ được những ưu điểm, nhược điểm cần khắc phục làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp phòng cháy rừng có hiệu quả tại huyện Trạm Tấu
Trang 35Phòng chống cháy rừng
Hình 2.1: Phương hướng giải quyết vấn đề của đề tài
Khảo sát, điều tra, đánh giá các vấn đề liên quan đến
từ năm
2009
-2013
Phân tích ảnh hưởng của yếu
tố tự nhiên, KT-XH đến cháy rừng
Thể chế, chính sách, tài chính hiện hành
Các biện pháp phòng cháy rừng đang được
áp dụng
Phân tích SWOT và bài học
kinh nghiệm
Đề xuất các giải pháp phòng
cháy rừng
Trang 362.4.2 Phương pháp thu thập số liệu
2.4.2.1 Phương pháp thừa kế các số liệu có chọn lọc
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Trạm Tấu - tỉnh Yên Bái: Các số liệu liên quan về địa hình, khí hậu, thuỷ văn, mưa, nhiệt độ, gió, Dân số, dân tộc, thu nhập của người dân, tình hình khai thác sử dụng lâm sản, săn bắn động vật rừng
để từ đó phân tích những tác động, ảnh hưởng của các nhân tố đó như thế nào, mức
độ ảnh hưởng đến công tác phòng cháy, chữa cháy rừng trên địa bàn
- Báo cáo đánh giá về hiện trạng diện tích, chất lượng rừng khu vực nghiên cứu Căn cứ kết quả theo dõi diễn biến rừng và đất lâm nghiệp hàng năm của Hạt Kiểm lâm huyện Trạm Tấu để thu thập các thông tin về đánh giá hiện trạng về tài nguyên rừng: tập trung vào phân tích các trạng thái rừng, mức độ dễ cháy của các loại rừng; khối lượng vật liệu cháy trên địa bàn
- Thu thập số liệu các báo cáo sơ kết, tổng kết, đánh giá về công tác PCCCR trên địa bàn huyện Trạm Tấu do Chi cục Kiểm lâm Yên Bái, Hạt Kiểm lâm huyện Trạm Tấu cung cấp Các số liệu về cơ cấu tổ chức nhân lực, các trạm bảo vệ rừng,
cơ sở vật chất, trang thiết bị, kinh phí, con người của huyện; sự phối hợp PCCCR như thế nào; hiệu quả PCCCR (số vụ cháy, thiệt hại), vai trò của các bên có liên quan, Từ đó đánh giá thực trạng công tác PCCCR trên địa bàn
- Thông tin về tình hình cháy rừng ở khu vực nghiên cứu được thu thập qua
số liệu thống kê hàng năm của Chi cục Kiểm lâm Yên Bái, Hạt Kiểm lâm huyện Trạm Tấu, từ năm 2009 đến năm 2013 Căn cứ số liệu về số vụ cháy rừng trên địa bàn, phân tích nguyên nhân gây cháy, diện tích, loại rừng xảy ra cháy, công tác chỉ huy chữa cháy, huy động lực lượng, phương tiện tham gia và công tác hậu cần cho chữa cháy để từ đó rút ra kinh nghiệm và bài học trong phòng và chữa cháy rừng Đặc biệt là thông qua các vụ cháy lớn đề tài tập chung phân tích về đặc điểm loại rừng, cách thức tổ chức huy động lực lượng, phương tiện, công tác chỉ huy chữa cháy và đảm bảo hậu cần cho công tác chữa cháy để từ đó đánh giá công tác phòng
Trang 37cháy chữa cháy trên địa bàn Tìm ra nguyên nhân và rút ra bài học kinh nghiệm trong phòng và chữa cháy rừng của địa phương
- Nghiên cứu các tài liệu có liên quan về công tác PCCCR
- Tìm hiểu Luật các văn bản dưới Luật liên quan đến công tác PCCCR của Chính phủ, hướng dẫn về công tác PCCCR của tỉnh Yên Bái
2.4.2.2 Phương pháp điều tra đánh giá có sự tham gia của người dân (PRA)
Thông qua việc đi quan sát thực tế và phỏng vấn một số cán bộ và người dân tham gia công tác PCCCR để thu thập những thông tin cần thiết phục vụ đề tài với công cụ phỏng vấn cá nhân với bộ câu hỏi được xây dựng trước
Cán bộ phỏng vấn 10 người là cán bộ làm công tác chuyên trách bảo vệ rừng, cán bộ địa phương liên quan đến bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng Người dân tiến hành phỏng vấn 120 người, họ là những người dân có tham gia và
hiểu biết về PCCCR, những người này đại diện về tuổi, giới tính, dân tộc (Bảng
câu hỏi phỏng vấn chi tiết tại Phụ lục 1;2 Phụ lục 9 : Ảnh 2; 3)
2.4.2.3 Nghiên cứu thực nghiệm tìm hiểu ảnh hưởng của cấu trúc rừng, vật liệu cháy ảnh hưởng đến cháy rừng
+ Điều tra cây bụi thảm tươi được điều tra trên 5 ô dạng bản để điều tra cây bụi thảm tươi, cây tái sinh
- Cây bụi thảm tươi được điều tra trên 5 ô dạng bản phân bố ở bốn góc của ô tiêu chuẩn và giữa ô tiêu chuẩn, diện tích mỗi ô dạng bản là 25m2
- Chiều cao cây bụi thảm tươi được đo bằng sào có độ chính xác đến dm
- Độ che phủ chung của cây bụi thảm tươi được xác định trên ô dạng bản
- Điều tra cây tái sinh được điều tra trên 5 ô dạng bản
- Điều tra đặc điểm vật liệu cháy: Vật liệu cháy được điều tra trên 5 ô dạng bản có diện tích 1m2 phân bố ở góc và giữa các ô dạng bản 25m2 của OTC Điều tra thành phần của thảm khô, thảm tươi và xác định khối lượng của vật liệu cháy bằng cân
Trang 38+ Số lượng OTC và ODB được điều tra trên 3 trạng thái cơ bản: 3 OTC
Rừng gỗ, 6 OTC Rừng hỗn giao và 8 OTC rừng trồng (Phụ lục 9:Ảnh 4 đến
OTC ODB OTC ODB OTC ODB
2.4.3 Phương pháp phân tích số liệu
- Dựa vào số liệu đã thu thập tại khu vực nghiên cứu, tôi tiến hành tổng hợp
và phân tích, thống kê, sắp xếp theo thứ tự ưu tiên, mức độ quan trọng của từng vấn
đề, từng ý kiến và từng quan điểm trên cơ sở định tính và định lượng Sau đó thông
Trang 39tin được tổng hợp theo các bảng biểu, biểu đồ theo một trật tự logic, trực quan theo từng nội dung nghiên cứu của đề tài
+ Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên đến cháy rừng
+ Ảnh hưởng của điều kiện xã hội đến cháy rừng
+ Ảnh hưởng của phương pháp tổ chức đến cháy rừng
+ Ảnh hưởng của chính sách đến cháy rừng
- Sử dụng ma trận SWOT (điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức) để phân tích và đánh giá vấn đề Việc lập một ma trận SWOT bao gồm các bước như sau:1) Liệt kê các điểm mạnh chủ yếu bên trong; 2) Liệt kê các điểm yếu bên trong; 3) Liệt
kê các cơ hội lớn bên ngoài; 4) Liệt kê các thách thức (các đe dọa) quan trọng bên ngoài; 5) Kết hợp điểm mạnh bên trong với cơ hội bên ngoài và ghi kết quả chiến lược SO vào ma trận; 6) Kết hợp điểm yếu bên trong với cơ hội bên ngoài và ghi kết quả của chiến lược WO vào ma trận; 7) Kết hợp điểm mạnh bên trong với thách thức (mối đe dọa) bên ngoài và ghi kết quả của chiến lược ST; 8) Kết hợp điểm yếu bên trong với nguy cơ bên ngoài và ghi kết quả của chiến lược WT vào ma trận
Mục đích kết hợp trong 4 bước cuối cùng là để đề ra các chiến lược khả thi
Trang 40Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Thực trạng cháy rừng từ năm 2009 - 2013
3.1.1 Khái quát tài nguyên rừng huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái
Theo Hạt Kiểm lâm huyện Trạm Tấu, hiện trạng rừng trên địa bàn huyện được tổng hợp theo bảng 3.1 như sau:
Bảng 3.1 Bảng hiện trạng đất đai tự nhiên khu vực nghiên cứu
Loại đất, loại rừng
Tổng diện tích (ha)
Phân theo chức năng
Ngoài 3 loại rừng (ha) Cộng
Đặc dụng (ha)
Phòng hộ (ha)
Sản xuất (ha)