1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

báo cáo chất thải rắn TỔNG QUAN CHẤT THẢI rắn SINH HOẠT tại đô THỊ ở VIỆT NAM

11 426 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 164 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bất kì hoạt động nào của con người đều sản sinh ra một lượng rác thải khá lớn thành phần chủ yếu là rác hữu cơ và các chất dễ gây ô nhiễm cho môi trường.. CTR sinh hoạt là chất thải phát

Trang 1

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỔNG QUAN CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT

TẠI ĐÔ THỊ Ở VIỆT NAM

Trần Thị Mỹ Hạnh

Lớp CD9QM2

Khoa Môi Trường

Mục lục

1 Lời mở đầu, các khái niệm cơ bản

2 Hiện trạng chất thải rắn đô thị

3 CTR sinh hoạt và các tác động tới đô thị

4 Hệ thống quản lý CTR đô thị.

5 Kết luận, kiến nghị

Trang 2

Lời mở đầu

Hiện nay, quá trình công nghiệp hóa ở Việt Nam đang diễn ra mạnh

mẽ, với sự hình thành, phát triển của các ngành nghề sản xuất, sự gia tăng nhu cầu tiêu dùng hàng hóa, nguyên vật liệu, năng lượng, làm động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Tuy nhiên, đi kèm với đó là nỗi lo về môi trường, đặc biệt vấn đề chất thải rắn như chất thải sinh hoạt.

Bất kì hoạt động nào của con người đều sản sinh ra một lượng rác thải khá lớn thành phần chủ yếu là rác hữu cơ và các chất dễ gây ô nhiễm cho môi trường.

Việc thu gom, vận chuyển, xử lý và tiêu hủy chất thải rắn sinh hoạt

đã và đang trở thành một bài toán khó đối với các nhà quản lý tại hầu hết các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước có nền kinh tế đang phát triển trong đó có Việt Nam.

Cần có những biện pháp để giảm thiểu và thu gom CTR sinh hoạt để đảm bảo cuộc sống cho con người và bảo vệ môi trương, giữ gìn cảnh quan.

Trang 3

1.1 Các khái niệm cơ bản

Theo luật bảo vệ môi trường năm 2005: CTR là vật chất ở thế rắn được thải

ra từ hoạt động sản xuất kinh doanh và các hoạt động của con người

CTR sinh hoạt là chất thải phát sinh ra từ các khu nhà ở (biệt thự, hộ gia đình,chung cư…) khu thương mại( cửa hang, siêu thị, văn phòng, khách sạn, nhà nghỉ…) cơ quan ( trường học, viện nghiên cứu, trung tâm hành chính…) khu vực dịch vụ công cộng (công viên, cây xanh…) từ các rãnh thoát nước

Bất kỳ một hoạt động sống nào của con người, tại nhà, tại công sở, trên đường đi, tại nơi công cộng… đều sinh ra một lượng rác đáng kể

1.2 Hiện trạng chất thải rắn ở đô thị

1.2.1 Quá trình phát triển của đô thị ở Việt Nam

Quá trình đô thị hóa ở Việt Nam đang diễn ra rất mạnh mẽ, rất nhiều đô thị được chuyển từ cấp thấp lên cấp cao và có nhiều đô thị mới được hình thành

Năm 2000 nước ta có 649 đô thị đến năm 2005 con số này tăng lên 715 đô thị và tăng lên 755 đô thị vào năm 2011( Bộ xây dựng, 2011) Đô thị phát

triển kéo theo nhiều vấn đề đặc biệt là việc di dân từ nông thôn ra thành thị

Năm 2009 dân số đô thị là 25,59 triệu người chiếm 29,74% tổng dân số cả nước đến năm 2010 dân số tăng lên mức 26,22 triệu người chiếm 30,17% tổng dân số cả nước Dự báo đến năm 2015 dân số đô thị là 35 triệu người chiếm 38% dân số cả nước và năm 2025 là 52 triệu người chiếm 45% dân

số cả nước

Tốc độ đô thị hóa diễn ra nhanh chóng đã trở thành nhân tố tích cực đối với phát triển kinh tể xã hội của đất nước Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích về kinh tế xã hội, thì đô thị hóa nhanh cũng tạo sức ép về nhiều mặt dẫn đến suy giảm chất lượng môi trường và phát triển bền vững Các hoạt động sản xuất, sinh hoạt tăng theo và lượng chất thải cũng tăng theo Tính bình quân đầu người dân số đô thị tiêu dung năng lượng và chất thải cũng tăng theo cáo gấp 2-3 lần người nông thôn dẫn tới lượng rác thải của người dân đô thị cũng cao gấp 2- 3 lần người dân nông thôn

Trang 4

1.2.2 Phát sinh CTR sinh hoạt ở đô thị

Với số lượng dân số quá cao dẫn đến lượng chất thải ở mức đáng kể đặc biệt là CTR sinh hoạt theo Báo cáo của các địa phương năm 2010 thì chỉ số phát sinh CTR sinh hoạt đô thị trung bình trên đầu người năm 2009 của hầu hết các đại phương đều chưa tới 1,0 kg/người/ ngày Các con số thống

kê về lượng phát sinh CTR sinh hoạt đô thị không thống nhất là một trong những thách thức cho việc tính toán và dự báo lượng phát thải CTR đô thị ở nước ta

Kết quả điều tra tổng thể năm 2006- 2007 đã cho thấy, lượng CTR sinh hoạt đô thị phát sinh chủ yếu tập chung ở hai đô thị đặc biệt là Hà Nội và Thành Phố Hồ Chí Minh chiếm tới 45,2% tổng lượng CTR sinh hoạt phát sinh từ tất các đô thị tương ứng khoảng 8.000 tấn/ ngày

Bảng 1.1 Lượng CTR sinh hoạt phát sinh

ở các đô thị Việt Nam năm 2007

Nguồn: Kết quả khảo sát năm 2006, 2007

Và báo cáo của các sở tài nguyên môi trường

Thành phần CTR sinh hoạt

STT Loại

đô thị

Chỉ số CTR sinh hoạt bình quân

Lượng CTR đô thị phát sinh

Tấn/

ngày

Tấn/năm

2

4

Trang 5

Phụ thuộc vào mức sống ở mỗi đô thị Mức sống, thu nhập khác nhau giữa các đô thị đóng vai trò quyết định thành phần CTR sinh hoạt Thành phần rác thải đưc đến các bãi chôn lấp, thành phần rác có thể sử dụng làm nguyên liệu sản xuất phân hữu cơ rất cao từ 54-77% tiếp theo là thành phần nhựa 8-16%, thành phần kim loại 2% một phần nhỏ CTNH có lẫn trong chất thải sinh hoạt

Bảng 1.2 Thành phần CTR sinh hoạt tại đầu vào của các bãi chôn lấp của một số địa phương năm 2009 – 2010

chất

thải

Hà Nội (Nam Sơn)

Đà Nẵng (Hòa Khánh

HCM (Đa Phước)

Bắc Ninh (Thị trấn Hồ

Túi nilon

ở nước ta các loại túi nilon được sử dụng tràn lan trong các hoạt động sinh hoạt xã hội, chủ yếu là loại túi siêu mỏng, khi thải bỏ rất khó thu gom toàn

bộ Chất thải là túi nilon chiếm phần lớn khổi lượng trong thành phần nhựa thải Các túi nilon này nhỏ, mỏng, ít có gia trị đối với người thu gom, tái chế nên tồn tại khá nhiều trong các bãi chon lấp và hầu như không phân hủy Các túi nilon nếu bị đốt ở bãi rác hở sẽ gây ô nhiễm môi trường không khí do phát thải các khí ô nhiễm như HCl,VOC, Dioxin, Furan… nếu tính trung bình mỗi hộ gia đình ở đô thị thải khoảng 3 -10 túi nilon các loại/

Trang 6

ngày thường thì nhựa túi nilon thải ra mỗi ngày ở các đô thị vào khoảng 10,48-52,4 tấn nhựa/ngày

Hiện chưa có số liệu thống kê chính thức về lượng túi nilon được sử dụng ở Việt Nam nhưng đã có một số khảo sát ước tính về số lượng này Tuy có sự khác nhau về con số nhưng ấn tượng chung là rất lớn và chưa được quản lý

ở hầu hết tất cả các khâu của vòng đời túi nilon: từ sản xuất, lưu thong phân phối, sử dụng đến thải bỏ, thu gom xử lý

CTNH trong sinh hoạt

Theo thống kê CTNH còn bị thải lẫn vào chất thải sinh hoạt mang đến bãi chôn lấp là 0,02-0,08% CTNH thường là: pin, ắc-quy, đèn tuyp, nhiệt kế

vỡ, bao bì chất tẩy rửa, vỏ hộp sơn, lọ sơn móng tay, vỏ bao thuốc trừ sâu,

Hiện tại CTNH vẫn chưa được thu gom và xử lý riêng và bị thải lẫn với CTR sinh hoạt để đưa đến bãi chôn lấp Việc chôn lấp và xử lý chung sẽ dẫn đến nhiều tác hại cho những người tiếp xúc trực tiếp với rác và ảnh hưởng của quá trình thủy phân rác và có thể hòa tan vào nước rỉ rác gây ô nhiễm môi trường

Chất thải điện tử trong sinh hoạt

Lượng chất thải điện tử và điện dân dụng thải ra từ các đô thị như tivi, tủ lanh, quạt điện, máy tính, đồ dân dụng…ngày càng tăng Các chất thải điện

tử khi thải ra sẽ được người thu mua tiến hành các hoạt động như các thiết

bị còn sửa chữa được sẽ đưa tới các của hang để tiến hành sửa chữa để kéo dài thời gian sử dụng, các đồ đã hỏng sẽ được tháo rời các bộ phận bán cho các cơ sở sửa chữa để tận dụng các thiết bị, phần còn lại không sử dụng được sẽ thải cùng với chất thải sinh hoạt

1.4 CTR và các tác động tới đô thị

1.4.1 Tác động tới môi trường

Do lượng CTR phát sinh tại các đô thị ngày càng cao nên kéo kheo nó là những hậu quả không nhỏ đối với môi trường và cảnh quan của các đô thị ở Việt Nam

Ô nhiễm nước

Rác thải sinh hoạt không được thu gom, thải vào kênh rạch, song hồ… gây

ô nhiễm môi trường nước bởi chính bản than chúng, rác nặng lắng xuống làm nghẽn đường lưu thông, rác nhẹ làm đục nước, nilon làm giảm diện tích tiếp xúc với không khí, giảm DO trong nước, làm mất mĩ quan, gây tác động cảm quan xấu đối với người sử dụng nguồn nước Chất hữu cơ phân hủy gây mùi hôi thối gây phú dưỡng hóa nguồn nước

-Nước rò rỉ tại các bãi rác đi vào nguồn nước ngầm gây ô nhiễm nguồn nước như ô nhiễm kim loại nặng, nồng độ nitrogen, photpho cao, chảy vào song hồ gây ô nhiễm nguồn nước mặt

Ô nhiễm không khí

- Bụi trong quá trình vận chuyển lưu trữ rác gây ô nhiễm không khí, khi vận chuyển và lưu trữ CTR sinh hoạt sẽ phát sinh mùi do quá trình phân hủy

Trang 7

chất hữu cơ gây ô nhiễm môi trường không khí Các chất hữu có trong CTR sinh hoạt: amoni có mùi khai,hydrosunphua có mùi trứng thối, Cl2 hôi nồng, Phenol mùi ốc đặc trưng…

- Một số loại chất hữu cơ dễ phân hủy sinh học: trong môi trường hiếu khí,

kị khí có độ ẩm cao, rác phân hủy sinh ra SO2, CO, CO2, H2S, NH3…ngay

từ khâu thu gom đến chôn lấp CH4 là chất thải thứ cấp dễ gây cháy nổ

Ô nhiễm đất

-Nước rò rỉ từ các bãi chôn lấp gây ô nhiễm môi trường đất tại khu vực xung quanh đó

Trong thành phần rác thải có chứa nhiều các chất độc, do đó khi rác thải được đưa vào môi trường thì các chất độc xâm nhập vào đất sẽ tiêu diệt nhiều loài sinh vật có ích cho đất như: giun, vi sinh vật, nhiều loài động vật không xương sống, ếch nhái làm cho môi trường đất bị giảm tính đa dạng sinh học và phát sinh nhiều sâu bọ phá hoại cây trồng Đặc biệt hiện nay sử dụng tràn lan các loại túi nilôn trong sinh hoạt và đời sống, khi xâm nhập vào đất cần tới 50 - 60 năm mới phân huỷ hết và do đó chúng tạo thành các

"bức tường ngăn cách" trong đất hạn chế mạnh đến quá trình phân huỷ,

tổng hợp các chất dinh dưỡng, làm cho đất giảm độ phì nhiêu, đất bị chua

và năng suất cây trồng giảm sút

Ảnh hưởng tới con người

Khi chất lượng môi trường tại các đô thị không được đảm bảo dẫn đến sức khỏe của con người cũng bị ảnh hưởng, nguy cơ mắc các loại bệnh nguy hiểm ngày càng ra tăng như các bệnh về da, đường hô hấp, đường tiêu hóa,

… khi sức khỏe không được đảm bảo thì trung bình tuổi thọ cũng sẽ giảm xuống Kéo theo đó là rất nhiều vấn đề khác ảnh hưởng tới đời sống của con người

Người dân sống gần các bãi rác không hợp vệ sinh cớ tỷ lệ mắc các bệnh da liễu, viêm phế quản, đau xương khớp cao hơn hẳn những nơi khác

Tác động đối với nền kinh tế

Hàng năm ngân sách của các địa phương phải chi trả một khoản tiền khá lớn cho công tác thu gom, vận chuyển và xử lí CTR sinh hoạt

Và còn nhiều những ảnh hưởng lớn khác đối với môi trường và xã hội

1.5 Hệ thống quản lý CTR tại đô thi ở Việt Nam

Hiện trạng công tác thu gom và phân loại CTR tại đô thị Việt Nam

Công tác thu gom CTR đô thị mặc dù ngày càng được chính quyền các cấp quan tâm, nhưng do lượng CTR đô thị ngày càng tăng Năng lực thu gom còn hạn chế cả về nhân lực lẫn thiết bị nên việc thu gom vẫn chưa đạt yêu cầu Mặt khác do nhận thức của người gân còn chưa cao nên lượng rác bị vứt bừa bãi ra môi trường còn nhiều, việc thu gom và phân loại tại nguồn vẫn chưa được áp dụng rộng rãi do thiếu đầu tư cho có sở hạ tầng cũng như các thiết bị, nhân lực và nâng cáo nhận thức

Công tác phân loại tại nguồn

3R ( viết tắt của 3 từ Reduce – giảm thiểu, Resue – tái sử dụng, Recycle – tái chế), với nền tảng cơ bản là hoạt động phân loại tại nguồn Phân loại

Trang 8

chất thải tại nguồn sẽ giúp giảm thiểu lượng chất thải chon lấp, rác thải hữu cơ…đây là cơ sở để hình thành và phát triển thị trường tái sử dụng, tái chế chất thải

Các thành phố đã áp dụng thử nghiệm 3R điển hình như Tp.HCM, Hà Nội,

Đà Nẵng…đã có những kết quả nhất định Tuy nhiên để triển khai rộng rãi hoạt động này cần phát triển đồng bộ cơ sở hạ tầng: như thiết bị thu gom phân loại, địa điểm tập kết và trung chuyển, cơ sở hạ tầng của công tác tái

sử dụng Hiện nay chương trình phân loại chất thải tại nguồn vẫn chưa được

áp dụng , triển khai rộng rãi vì nhiều lí do nhưng quan trọng nhất vẫn là thói quen của người dân Tại một số địa phương triển khai dự án này không hiệu quả do công tác triển khai thiếu đồng bộ và thiếu hụt đầu tư cho công tác thu gom vận chuyển và xử lý CTR theo từng loại nên khi người dân phân loại thì khi thu gom lại đổ lẫn lộn vào xe thu gom và mang tới bái chôn lấp nên công tác phân loại không đạt hiệu quả Dẫn đến việc phân loại rác tại nguồn bị hoài nghi, và chưa thực sự quen với công tác phân loại rác tại nguồn nên tỷ lệ người dân tự nguyện tham gia phân loại rác chỉ khoảng 70% Kinh phí cho công tác tuyên truyền vận động ban đầu thì có nhưng đến giai đoạn cuối thì không còn để duy trì tuyên truyền và các công ty thu gom tại các nơi có dự án cũng không có kế hoạch duy trì và phát triển nên các dự án chỉ dừng lại ở mô hình thí điểm

Hình thức thu gom

Việc phân loại CTR tại nguồn vẫn chưa được triển khai rộng rãi, vì vậy ở hầu hết các đô thị ở nước ta việc thu gom rác chưa phân loại vẫn là chủ yếu Công tác thu gom thông thường sử dụng 2 hình thức là thu gom sơ cấp( hình thức người dân tự thu gom vào các thùng, túi chứa sau đó được công nhân thu gom vào các thùng rác đẩy tay cỡ nhỏ) và thu gom thứ cấp (rác được thu gom và chuyển tới các xe ép rác chuyên dụng và chuyển tới khu xử lí)

Công tác xã hội hóa việc thu gom và vận chuyển chất thải đang được thực hiện rộng rãi ở nhiều nơi Chỉ ở các đô thị lớn cấp thành phố mới có URENCO đảm nhận việc thu gom, vận chuyển và xử lí CTR đô thị Tuy nhiên vẫn có sự tham gia của các công ty tư nhân hoặc công ty cổ phần trên địa bàn Tại các đô thị nhỏ cấp thị trấn, phần lớn là các hợp tác xã, tổ đội thu gom, tổ chức tư nhân đảm bảo nhiệm việc vận chuyển với chi phí thu gom thỏa thuận với người dân đồng thời có sự chỉ đạo của chính quyền địa phương

Biện pháp thu gom

+ Khuyến khích tận dụng tối đa, triệt để những vật dụng còn sử dụng được

trước khi vất bỏ giúp giảm nguồn thải, hạn chế việc sử dụng những đồ vật dùng một lần

+ trong gia đình nên có 2 thùng giác để chứa chất thải, việc sử dụng 2 thùng giác giúp tiện lợi cho việc phân loại chất thải

+ Thiết lập hệ thống thu gom rác thải, sử dụng xe đẩy đến từng hộ gia đình

để thu gom, đưa đến điểm tập kết

Trang 9

+ tại khu đông dân cư nên bố trí những khu vực làm việc đặc biệt, quy định giờ làm cụ thể hằng ngày, mỗi người dân có trách nhiệm đều phải mang rác đến đó Xung quanh treo biển, băng zôn nhắc nhở mọi người

1.5.2 Cơ chế chính sách, văn bản pháp luật về quản lý CTR ở đô thị

Trong nhiều năm qua công tác quản lý và thu gom CTR sinh hoạt đã nhận được rất nhiều sự quan tâm của Đảng và nhà nước, thể hiện bằng các chính sách, pháp luật quản lý CTR sinh hoạt nói riêng và quản lý CTR nói chung

đã được quy định trong luật BVMT 1994, Luật BVMT 2005, chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020

Chính sách xã hội về quản lý chất thải rắn sinh hoạt, căn cứ theo nghị định 59/2007/ NĐ-CP và nghị định 69/2008/ NĐ-CP chính sách về xã hội hóa công tác quản lý CTR sinh hoạt cũng đã được ưu tiên phát triển ở cả cấp trung ương và địa phương Trong đó chính phủ khuyến khích khu vực tư nhân tham gia mạnh mẽ vào công tác thu gom, vận chuyển và xử lý CTR Những kết quả đạt được trong thời gian vừa qua đã cho thấy đây là một trong những chính sách rất phù hợp với điều kiện thực tế

ở Việt nam hiện nay

Ngoài ra còn có những quy định chính sách như:

Quyết định số 256/2003/QĐ-TTg ngày 02/12/2003 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm

2010 và định hướng đến năm 2020

Quyết định số 2149/2009/QĐ-TTg ngày 17/12/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về Quản lý chất thải rắn

đến năm 2025, tầm nhìn tới năm 2050

1.5.3 Thể chế, chính sách chưa hoàn thiện và chưa được thực thi triệt để

Thể chế, chính sách và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trong quản lý CTR nói chung và CTRSH nói riêng dù đã có những bước tiến bộ đáng được ghi nhận nhưng con chưa đầy đủ, đồng bộ hoặc còn chồng chéo, chưa

có một quy định thống nhất, toàn diện cho công tác quy hoạch CTR quốc gia

Một số chính sách được ban hành nhưng cơ chế triển khai không hiệu quả hoặc không thể đi vào thực tế Vấn đề triển khai thực hiện chưa hiệu quả hoặc không thể đi vào thực tế Vấn đề triển khai thực hiện chưa thực sự phát huy đượchiệu quả, thể hiện ở việc chưa đạt được chỉ tiêu môi trường đặt ra Hiện nay các văn bản quy phạm pháp luật quy định về một số vấn đề then chốt đối với công tác quản lý CTR ( bao gồm các vấn đề như nhân lực,

bộ máy tổ chức, trình độ…) vẫn còn thiếu dẫn đến các hoạt động quản lý CTR khó triển khai trong thực tế

Do không có một tổ chức đầu mối chung về quản lý CTR nên các văn bản quy chuẩn, quy phạm, quy định về quản lý CTR còn do nhiều bộ nghành ban hành Ngoài ra hiện nay cũng chưa có cơ quan chịu trách nhiệm tập chung quản lý thông tin, dữ liệu về quản lý CTR ở cấp trung ương, cũng như địa phương

Trang 10

Thêm vào đó công tác thanh, kiểm tra thực thi pháp luật còn nhiều hạn chế, các chế tài quy định về xử phạt đối với các hành vi vi phạm về BVMT đối với CTR còn chưa đủ sức răn đe, mức thi hành cưỡng chế có hiệu lực chưa cao dẫn đến hiệu quả quản lý chưa đáp ứng được yêu cầu đăt ra

1.6 kết luận

Rác là một phần không thể thiếu của cuộc sống Nhưng ngày nay rác thải sinh hoạt không chỉ đi ra và còn quay lại làm ảnh hưởng đến cuộc sống Rác

là đồ vật đã bỏ đi nhưng nếu con người biết tận dụng và đặt nó đúng vị trí

và sẽ đem lại nguồn lợi to lớn cho con người

Ô nhiễm do quản lý CTR không tốt, xử lý CTR không hợp vệ sinh đã gây những tác động tổng hợp tới môi trường, sức khỏe cộng đồng và phát triển kinh tế - xã hội Ô nhiễm môi trường từ các bãi chôn lấp chất thải không đảm bảo vệ sinh đã gây ra những thiệt hại không nhỏ tới hoạt động sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản tại các khu vực lân cận; làm gia tăng gánh nặng bệnh tật, gia tăng tỷ lệ người mắc bệnh trong cộng đồng dân cư sống gần các bãi chôn lấp đó Ngoài ra, ô nhiễm do CTR cũng là nguyên nhân gây ra những xung đột về môi trường gần đây tại một số địa phương

Trong thời gian qua, nhiều cố gắng trong việc quản lý CTR đã được triển khai ở các cấp, các ngành; nhiều biện pháp, giải pháp đã được xây dựng, đề xuất nhằm ngăn chặn xu thế ô nhiễm môi trường do CTR Tuy nhiên, công tác quản lý CTR còn nhiều tồn tại: phân công, phân nhiệm trong quản lý CTR còn phân tán, chồng chéo và nhiều lỗ hổng; thể chế, chính sách về quản lý

CTR chưa hoàn thiện và chưa được thực thi triệt để; công cụ kinh tế chưa phát huy được hiệu

quả; công cụ thông tin chưa được đầu tư, chú trọng đúng mức; xã hội hóa,

tư nhân hóa và huy động cộng đồng tham gia công tác quản lý CTR còn hạn chế

1.7 kiến nghị

Rà soát điều chỉnh định hướng, chiến lược BVMT quốc gia, trong đó có chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn cho phù hợp với điều kiện thực tế theo từng giai đoạn từ nay đến năm 2020 và sau năm 2020 Kiện toàn hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về CTR từ trung ương đến địa phương; phân định rõ chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn giữa các bộ, ngành; xác định rõ cơ quan đầu mối quản lý nhà nước đối với CTR ở cấp Trung ương và địa phương; phân định chức năng quản lý nhà nước đối với CTR nông thôn, nông nghiệp, CTR làng nghề giữa các Bộ có liên quan

Ngày đăng: 28/04/2016, 02:26

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1 .                        Lượng CTR sinh hoạt phát sinh - báo cáo chất thải rắn TỔNG QUAN CHẤT THẢI rắn SINH HOẠT tại đô THỊ ở VIỆT NAM
Bảng 1.1 Lượng CTR sinh hoạt phát sinh (Trang 4)
Bảng 1.2 Thành phần CTR sinh hoạt tại đầu vào của các bãi chôn lấp  của một số địa phương năm 2009 – 2010 - báo cáo chất thải rắn TỔNG QUAN CHẤT THẢI rắn SINH HOẠT tại đô THỊ ở VIỆT NAM
Bảng 1.2 Thành phần CTR sinh hoạt tại đầu vào của các bãi chôn lấp của một số địa phương năm 2009 – 2010 (Trang 5)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w