Sự giàu có và đa dạng về tài nguyên thiên nhiên tạo lợi thế quan trọng cho sự phát triển.Nguồn lực kinh tế - xã hội, nhất là dân cư và nguồn lao động, nguồn vốn, khoa học – kỹ thuật và c
Trang 1BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
BÀI BÁO CÁO
CÁC NGUỒN LỰC PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
TỈNH ĐIỆN BIÊN
Giảng viên hướng dẫn: Lê Thị Lan Hương
SV thực hiện: Tăng Thị Bích Diệp
Mã Số SV: DC00204470
Lớp: ĐH2ĐC
HÀ NỘI 2013
Trang 2Nguồn lực tự nhiên là cơ sở tự nhiên của quá trình sản xuất Đó là nhữngnguồn vật chất vừa phục vụ trực tiếp cho cuộc sống, vừa phục vụ cho phát triển kinh tế Sự giàu có và đa dạng về tài nguyên thiên nhiên tạo lợi thế quan trọng cho sự phát triển.
Nguồn lực kinh tế - xã hội, nhất là dân cư và nguồn lao động, nguồn vốn, khoa học – kỹ thuật và công nghệ, chính sách toàn cầu hoá, khu vực hoá và hợp tác, có vai trò quan trọng để lựa chọn chiến lược phát triển phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước trong từng giai đoạn
Hiểu biết và đánh giá đúng cũng như biết huy động tối đa các nguồn lực
sẽ thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế ở mỗi quốc gia Các nước đang phát triểnmuốn nhanh chóng thoát khỏi sự nghèo nàn, tụt hậu cần phải phát hiện và sử dụng hợp lí, có hiệu quả các nguồn lực sẵn có trong nước, đồng thời tranh thủ các nguồn lực từ bên ngoài, nhất là các nước phát triển
Với mong muốn tìm hiểu về quê hương, nơi tôi được sinh ra và lớn lên, tôi đã liên hệ được với Ban tuyên giáo tỉnh ủy Điện Biên với sự giúp đỡ nhiệt tình của gia đình và các thầy cô trường Cao Đẳng Sư Phạm Tỉnh Điện Biên đã giúp tôi hoàn thành bài báo cáo này một cách thuận lợi nhất
Qua bài thực hành này đã giúp tôi hiểu thêm về kinh tế - xã hội của quê hương mình từ đó có thêm tình yêu quê hương đất nước, đồng thời giới thiệu được cho mọi người về vẻ đẹp về thiên nhiên, con người Điện Biên cùng với đó
là giúp ta thấy rõ tiềm năng phát triển kinh tế to lớn của một tỉnh miền núi như Điện Biên trong sự nghiệp phát triển kinh tế của nước nhà
Xin chân thành cảm ơn cô giáo Lê Thị Lan Hương và bố mẹ đã giúp tôihoàn thành bài báo cáo này đạt kết quả tốt và đúng thời gian quy định
Trang 3PHẦN THỨ NHẤT MỘT SỐ NGUỒN LỰC VỀ TỰ NHIÊN CỦA TỈNH ĐIỆN BIÊN
I Vị Trí Địa Lý
Điện Biên là tỉnh miền núi, vùng biên giới, nằm ở phía Tây Bắc nước Cộnghoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trên toạ độ địa lý 200 54’- 220 33’ vĩ Bắc, 102010' - 1030 56’ kinh Đông Phía Bắc giáp tỉnh Lai Châu; phía Đông - Đông Bắcgiáp tỉnh Sơn La, phía Tây Bắc giáp tỉnh Vân Nam nước Cộng hoà nhân dânTrung Hoa với đường biên giới dài 38,5 km; phía Tây - Tây Nam giáp với tỉnhLuông Pha Băng và Phong Sa Lỳ nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, vớiđường biên giới dài 360 km
1 Đơn vị hành chính
Tỉnh Điện Biên được thành lập theo Nghị quyết số 22/2003/ QH 11 “Về việcchia và điều chỉnh địa giới hành chính một số tỉnh” ngày 26-11-2003 của Quốchội khoá XI Tỉnh Lai Châu (cũ) được chia thành tỉnh Lai Châu (mới) và tỉnhĐiện Biên
Trang 4Từ xưa, Điện Biên đã có một vị trí chiến lược trọng yếu về an ninh - quốcphòng của nước ta Hiện nay, Điện Biên có diện tích tự nhiên 9.562,9 km2 (≈2,9% diện tích cả nước)
Trang 5Phân loại đơn vị hành chính các xã, phường, thị trấn tỉnh Điện Biên cụ thể như sau:
1 Thành phố Điện Biên Phủ gồm có: 7 phường loại II và 1 xã loại III
2 Thị xã Mường Lay gồm có: 2 phường và 1 xã loại II
3 Huyện Mường Nhé gồm có: 8 xã loại I và 3 xã loại II
4 Huyện Mường Chà gồm có: 7 xã loại I, 7 xã và 1 thị trấn loại II
5 Huyện Tủa Chùa gồm có: 1 xã loại I, 10 xã loại II và 1 thị trấn loại III
6 Huyện Tuần Giáo gồm có: 6 xã loại I, 7 xã và 1 thị trấn loại II
7 Huyện Mường Ảng gồm có: 9 xã loại II, 1 thị trấn loại III
8 Huyện Điện Biên gồm có: 13 xã loại I, 6 xã loại II
9 Huyện Điện Biên Đông gồm có: 4 xã loại I, 9 xã và 1 thị trấn loại II
II ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
1 Địa hình:
Điện Biên có địa hình phức tạp, độ dốc lớn, mức độ chia cắt ngang vàchia cắt sâu lớn; được cấu tạo bởi những dãy núi cao và các thung lũng, sôngsuối nhỏ, hẹp và dốc phân bố khắp nơi trong địa bàn tỉnh Núi cao tập trung ởphía Nam, thuộc ranh giới huyện Điện Biên, Điện Biên Đông và Tuần Giáo Đó
là các dãy núi thượng nguồn sông Mã và Nậm Rốm, đỉnh cao nhất là Pú HuổiLuông (2.178m), núi Pho Thông (1.908m), Nậm Khẩu Hú (1.747m), dãy núi
Trang 6Hồ Nậm Nghèn (1.395m) Xen giữa núi và cao nguyên là các thung lũng hoặclòng chảo có bề mặt tương đối bằng phẳng, những dạng địa hình này chiếmphần diện tích không lớn Đáng chú ý nhất là lòng chảo Điện Biên Phủ rộngkhoảng 150.000 ha với bề mặt bằng phẳng, có nguồn gốc tích tụ trầm tích tạonên cánh đồng Mường Thanh Đây là cánh đồng rộng nhất trong 4 cánh đồngvùng Tây Bắc (nhất Thanh, nhì Lò, tam Than, tứ Tấc) với diện tích hơn 4.000
ha lúa nước, là vùng lúa trọng điểm của tỉnh Bên cạnh đó, huyện Tuần Giáocũng có nhiều cánh đồng có khả năng thâm canh và tăng năng xuất lúa nước.Các cao nguyên Si Pa Phìn (Mường Chà), Tả Phình (Tủa Chùa), với đồng cỏrộng lớn có nhiều thuận lợi phát triển chăn nuôi đại gia súc
2 Địa chất và tài nguyên khoáng sản:
Điện Biên nằm trong vùng Tây Bắc Việt Nam có lịch sử phát triển địachất lâu dài và cấu trúc kiến tạo phức tạp Sau pha ổn định về địa chất kiến tạotương đối vào Pliocen và giai đoạn Đệ tứ, địa hình núi phân cách được thiết lập
Do nâng cao các dòng chảy diễn ra qúa trình đào xẻ lòng làm cho các thunglũng sông ngày càng sâu với các sườn dốc 300 - 400 ; bên cạnh đó còn tạo thànhcác vách dốc đứng, nhiều thác ghềnh (thung lũng thị xã Mường Lay) Các quátrình ngoại sinh xảy ra mạnh mẽ dẫn đến hình thành hàng loạt các vạt sườn - lũtích, qúa trình đổ lở đất mà bản chất của chúng chính là những đới phá huỷđứt gãy kiến tạo hoạt động
Tại Điện Biên có nhiều đứt gãy sâu phân đới: Đứt gãy sông Đà, đứt gãyĐiện Biên - Lai Châu, đứt gãy Sơn La Trong đó đứt gãy Lai Châu - Điện Biênhoạt động tách giãn mạnh, tạo ra sụt lún dạng địa hào và nâng mạnh ở hai bờđông tây, mật độ dập vỡ vỏ trái đất cũng tăng cực đại Những yếu tố trên cùngmột lúc tác động cộng hưởng mạnh mẽ tạo ra các khu vực trượt lở và lũ bùn đáđiển hình có quy mô vào loại lớn đặc trưng được biết trên thế giới Đó chính lànguyên nhân khiến cho các hiện tượng như lũ lụt, động đất xảy ra Đồng thời
Trang 7các đứt gãy này đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và phân bốkhoáng sản, động đất cũng như phân bố các vùng trượt lở trên địa bàn tỉnh.
Sự đa dạng và phức tạp về điạ chất đã tạo sự phong phú về loại hình khoángsản Đó là khoáng sản năng lượng, khoáng chất công nghiệp, kim loại, nướckhoáng và nước nóng Trong đó đặc biệt trữ lượng về than, vật liệu sản xuất ximăng, nguồn nước khoáng chất lượng cao có thể khai thác với quy mô lớn Nguồnthan mỡ khu vực huyện Điện Biên và Điện Biên Đông; khoáng sản thuộc cácnhóm vật liệu xây dựng thông thường, làm nguyên liệu sản xuất xi măng ở TuầnGiáo, Tủa Chùa; sắt, đồng, Ăng ty moan thuộc huyện Mường Chà; chì - kẽm ởhuyện Tuần Giáo, huyện Tủa Chùa; vàng ở huyện Điện Biên Đông, đá vôi ởhuyện Điện Biên Các kim loại màu như chì, kẽm, nhôm, sắt, đồng phân bổnhiều nơi trên địa bàn của tỉnh Hiện nay đã xác định 83 mỏ, điểm mỏ khoáng sản
và biểu hiện khoáng sản trên địa bàn tỉnh, nếu được đầu tư, khai thác thì thực sự sẽđưa công nghiệp của tỉnh phát triển mạnh mẽ hơn
3 Khí hậu, thuỷ văn:
3.1- Khí hậu :
Điện Biên có khí hậu nhiệt đới gió mùa, vùng núi mùa đông lạnh Suốtmùa đông duy trì một tình trạng khô hanh điển hình của khí hậu gió mùa, cònmùa hè nhiều mưa Nét đặc trưng khí hậu ở tỉnh là sự phân hoá đa dạng theodạng địa hình và theo mùa
Điện Biên có nhiều nắng, khoảng 1.820-2.035 giờ/năm; 115-215giờ/tháng Ba tháng (3 - 5) có nhiều nắng nhất, đạt từ 145- 220 giờ/ tháng Batháng mùa mưa (6 - 8) có ít nắng nhất, tuy nhiên vẫn có khoảng 115 - 142 giờ/tháng
Nhiệt độ trung bình năm thay đổi theo độ cao địa hình Vùng thấp dưới300m nhiệt độ trung bình năm cao, đạt 230 C; ở độ cao khoảng 750 - 800m đạt
200C; giảm xuống 160 C ở độ cao khoảng 1.550-1.660m
Trang 8Nhiệt độ trung bình dao động mạnh trong năm, với biên độ đạt khoảng 10,30 C Nhiệt độ trung bình tháng lạnh nhất trong năm (tháng 1 hoặc 12) đạt17,10C; giảm theo độ cao điạ hình xuống khoảng 12,40C ở Pha Đin có độ cao1347m Nhiệt độ trung bình tháng 6 (tháng nóng nhất) đạt 26,60 C ở vùng thấpdưới 300m và giảm xuống còn 20,70 C ở Pha Đin.
8,3-Do nằm sâu trong đất liền nên nhiệt độ dao động mạnh trong ngày Sựchênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm đạt 9,50C- 10,50C ở vùng thấp dưới 1.000m
và dao động trong khoảng 7- 9,50C ở vùng núi cao trên 1.000m Mùa đông, sựchênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm khá lớn, đạt tới 10-140C ở vùng thấp dưới100m và đạt 8-100C ở vùng có độ cao trên 1.000m Mùa mưa (tháng 6 - 9), trênđịa phận toàn tỉnh, biên độ nhiệt ngày trung bình thường dao động trong khoảng 6-
80C
Ở Điện Biên, lượng mưa năm dao động trong phạm vi khá rộng từ 2.500mm/năm Khu vực Mường Mươn (thung lũng sông Nậm Mức) nằm trongthung lũng khuất gió có lượng mưa năm thấp nhất tỉnh, chỉ đạt khoảng1.400mm/năm, thuộc chế độ mưa ít Khu vực vùng núi cao phía Tây Bắc tỉnh,thuộc Mường Nhé có lượng mưa năm lớn nhất, đạt 2.000-2.500 mm/năm Cáckhu vực còn lại có lượng mưa năm dao động trong khoảng1.500-2.000mm/năm Như vậy trên đại bộ phận lãnh thổ tỉnh Điện Biên có chế
1.400-độ mưa vừa
Điện Biên có chế độ mưa mùa hè Mùa mưa dài 6 tháng từ tháng 4 đếntháng 9; một số nơi như Mường Chà, Mường Nhé có mùa mưa ngắn hơn, dài 5tháng (5 - 9) lượng mưa của mùa mưa chiếm khoảng 75- 92% lượng mưa năm
Ba tháng (6 - 8) có lượng mưa lớn nhất, đạt khoảng 270 - 520 mm/ tháng Trongmùa mưa, lượng mưa ngày lớn nhất đạt hơn 100mm/ngày, thậm chí đạt trên400mm/ngày Vào thời kỳ này mưa kéo dài nhiều ngày rất dễ gây ngập úng ởnơi có địa hình thấp trũng, trên các sườn núi có thể xảy ra sạt lở đất, lũ quét, lũbùn đá ở những nơi mất thảm thực vật và có địa hình bị phá vỡ
Trang 9Mùa khô dài 3- 5 tháng (11-3) với lượng mưa tháng chỉ đạt dưới 50 mm/tháng, trong đó có 1-3 tháng hạn (lượng mưa < 25 mm/ tháng), tuy nhiên không
có tháng kiệt (lượng mưa < 5 mm/ tháng) Đây là thời kỳ thiếu nước đối với câytrồng, nhất là 3 tháng hạn
Độ ẩm trung bình năm đạt 81- 84% Độ ẩm biến đổi theo mùa Thời kỳtháng 6 - 9 có độ ẩm tương đối trung bình cao nhất, đạt 84 - 87 % Các tháng 2 -
4 có độ ẩm trung bình thấp nhất, khoảng 71- 80%
3.2 Các hiện tượng thời tiết đặc biệt:
Gió khô nóng, sương mù - sương muối, dông lốc và mưa đá là nhữnghiện tượng thời tiết đặc biệt có tần suất tương đối lớn, gây ảnh hưởng đáng kểđến sản xuất, đời sống và sức khoẻ của con người
Do ảnh hưởng của hiệu ứng “Phơn” đối với gió mùa Tây Nam sau khivượt qua các dãy núi cao Thượng Lào, ở vùng thấp của tỉnh Điện Biên phổ biếnkiểu thời tiết khô nóng Ở vùng thấp dưới 500m, mỗi năm có khoảng 5 - 30ngày/ năm, càng lên cao số ngày khô nóng càng ít, đến độ cao 500-700m chỉ cókhoảng 2-5 ngày khô nóng/ năm Thời tiết khô nóng thường xuất hiện vào thời
kỳ tháng 2 đến tháng 9, nhiều nhất vào tháng 4-5
Sương mù là hiện tượng thời tiết hay gặp ở Điện Biên, song phân bốkhông đều, phụ thuộc vào đặc điểm địa hình địa phương Trong thung lũng lòngchảo Điện Biên, Tuần Giáo, đèo Pha Đin có rất nhiều sương mù, tới 83- 93ngày/ năm Song ở những vùng núi cao thoáng như Tủa Chùa chỉ có 2 ngày/năm Sương mù ở Điện Biên thường là sương mù bức xạ, sẽ tan nhanh khi mặttrời lên cao Sương mù dày và kéo dài sẽ gây cản trở cho các hoạt động giaothông vận tải Ngược lại với sương mù, sương muối hầu như năm nào cũng xuấthiện ở những vùng núi cao trên 1.000m (trên dưới 1 ngày/ năm), chỉ nhữngvùng thấp dưới 300m mới không có sương muối
Trang 10Nằm trong vùng núi cao Tây Bắc, Điện Biên có tương đối nhiều dông.Trung bình mỗi năm có 44 - 82 xuất hiện cơn dông Dông xuất hiện nhiều nhấtvào thời kỳ tháng 4 - 8 với khoảng 6 -15 ngày/ tháng Dông ở đây tuy kíchthước không lớn nhưng có thể kèm gió mạnh, gió lốc và mưa đá vào thời kỳchuyển tiếp từ đông sang hè Trên khắp địa bàn tỉnh đều thấy mưa đá xuất hiện,với khoảng 0,6-1,7 trận/ năm Mưa đá chủ yếu xuất hiện từ tháng 2- 5.
3.3- Thuỷ văn:
Sông Nậm Rốm
Đặc điểm về thuỷ văn ở Điện Biên là hệ quả của điều kiện địa lý, khí hậu
và địa hình Điện Biên nằm ở khu vực đầu nguồn 3 con sông lớn là sông Đà,sông Mã và sông Mê Kông Trong đó riêng lưu vực sông Đà trên các huyệnMường Nhé, Mường Chà, Tủa Chùa, Tuần Giáo và thị xã Mường Lay có diệntích khoảng 5.300 km,2 chiếm 55% diện tích tự nhiên toàn tỉnh
Sông Đà ở phía Bắc tỉnh, bắt nguồn từ Vân Nam (Trung Quốc), quaMường Tè (tỉnh Lai Châu) - Thị xã Mường Lay - Tuần Giáo rồi chảy về tỉnhSơn La Lưu vực sông Đà có dạng hình thuôn dài theo hướng Tây Bắc - ĐôngNam Do địa hình trên lưu vực sông Đà chủ yếu là núi cao, nên độ cao bìnhquân lưu vực là 965m, độ dốc bình quân lưu vực cũng khá lớn, đạt 36,8% Các
Trang 11dãy núi chạy sát bờ sông đã khiến cho thung lũng sông Đà hẹp, có dạng hẻmvực, sông đang đào lòng mạnh Trên sông có nhiều thác ghềnh, thậm chí đến tậnkhu vực hạ lưu vẫn xuất hiện thác Các lưu vực của sông nhỏ, độ dốc bình quânlưu vực cũng như độ dốc lòng sông lớn, lại nằm trong khu vực có lượng mưalớn và lớp thảm phủ thực vật bị tàn phá nặng nề chưa được phục hồi; điều đódẫn tới mức độ tập trung nước nhanh, là tiền đề gây nên những trận lũ quét lớn,làm thiệt hại to lớn về tính mạng và tài sản
Phần lưu vực sông Đà thuộc địa phận tỉnh Điện Biên có 5 phụ lưu, đó là:lưu vực sông Nậm Mạ (dòng chính sông dài 63km); lưu vực sông Nậm Bum(dòng chính sông dài 36km); lưu vực sông Nậm Pô (dòng chính dài 103km);lưu vực sông Nậm Mức (dòng chính sông dài 86km); lưu vực sông Nậm Muôi
(dòng chính sông có chiều dài 50 km)
Lưu vực sông Mã nằm ở phía cực Tây và Tây Nam của khu Tây Bắc Địahình lưu vực sông Mã chủ yếu là núi xen lẫn cao nguyên, độ cao trung bình760m chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam Phần lưu vực sông Mã thuộc tỉnhĐiện Biên có các phụ lưu chính là: sông Nậm Khoai thuộc huyện Tuần Giáo(dòng chính dài 62, 5 km) và Sư Lư thuộc huyện Điện Biên Đông (dòng chínhdài 39km)
Hệ thống sông Mê Kông trên địa phận tỉnh Điện Biên có 2 phụ lưu chính
là sông Nậm Rốm và sông Nậm Núa Sông Nậm Rốm bắt nguồn từ phía Bắchuyện Điện Biên, qua thành phố Điện Biên Phủ, đến xã Pa Thơm (huyện ĐiệnBiên) rồi chảy sang Lào Các phụ lưu chính của Nậm Rốm là: Nậm Phăng, NậmKhẩu Hú, Nậm Cọ Sông Nậm Núa bắt nguồn từ độ cao 1.200m tại xã MườngNhà, phía nam lòng chảo Điện Biên, phụ lưu lớn nhất của sông Nậm Núa là suốiNậm Ngám
Đặc điểm chung của các sông suối trong tỉnh Điện Biên là độ dốc lớn,lắm thác nhiều ghềnh (nhất là các sông suối thuộc hệ thống sông Đà và sôngNậm Rốm), có tiềm năng về thuỷ điện Lưu lượng dòng chảy phân bố không
Trang 12đều trong năm, chủ yếu tập trung vào mùa lũ nên việc khai thác sử dụng khókhăn, đòi hỏi đầu tư lớn Vì vậy cần có giải pháp hợp lý về công tác thuỷ lợi,kết hợp với tăng độ che phủ của rừng, nhất là rừng đầu nguồn để đảm bảonguồn nước cho sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong tương lai.
4 Thổ nhưỡng và động thực vật:
Đất đai tỉnh Điện Biên phong phú, đa dạng với nhiều qúa trình hìnhthành khác nhau Theo nguồn gốc phát sinh có thể chia thành 7 nhóm chính, đólà: Đất phù sa (12.622,13ha), đất đen vùng nhiệt đới (95,22 ha), đất đỏ vàng haycòn gọi là đất Feralit (629.806,26ha), đất mùn - vàng đỏ trên núi(291.818,08ha), đất mùn Alít trên núi cao (1.136,35 ha), đất đỏ vàng biến đổi dotrồng lúa nước (1.467,04 ha) và đất dốc tụ (1.460,64 ha)
Với trên 80% đất đai là đồi núi đã làm nổi bật vị trí quan trọng của nghềrừng trong phát triển kinh tế của tỉnh; có vai trò to lớn trong việc phòng hộ đầunguồn, điều tiết nước, phòng hạn và chống lũ lụt cho đồng bằng Bắc Bộ Vensông Đà, Nậm Pô, Nậm Lay, Sư Lư có đất phù sa, nhưng tập trung lớn nhất làđất phù sa ven sông Nậm Rốm ở cánh đồng Mường Thanh Đất đen được hìnhthành trên những sản phẩm phong hoá của đá măcma trung tính và sản phẩmphong hoá của đá vôi tích lại ở các thung đá vôi Phân bố chủ yếu ở huyện TủaChùa, phía Tây huyện Tuần Giáo; ít và phân tán hơn ở huyện Mường Ảng Đây
là loại đất khá giầu kali, chất hữu cơ và can xi, khá tơi xốp và có độ phì nhiêu tựnhiên khá cao Đất đen ở huyện Tủa Chùa, Tuần Giáo thường hay gặp hạn hán
vì nước mưa nhanh chóng bị thấm xuống các hang hốc nằm ngầm dưới đất Cácloại đất đồi núi của tỉnh phân bố trên 3 đai cao, đó là: Đai đất Fera lit phân bố ở
độ cao dưới 900m; từ 9001.800m phân bố nhóm đất mùn vàng đỏ hoặc mùn vàng xám (chủ yếu ở các khu vực Mường Nhé, Mường Lay, Mường Chà, ĐiệnBiên); từ 1.800 - 2.800m là đai đất mùn Alit trên núi cao (chỉ phân bố ở vùngđỉnh núi cao biên giới Việt - Lào, Việt - Trung thuộc huyện Mường Nhé) Cácloại đất này hầu hết phân bố trên các địa hình dốc hoặc rất dốc, chia cắt mạnh,
Trang 13-dễ bị rửa trôi, chịu tác động mạnh của quá trình xói mòn Đó là một trong nhữngthách thức về môi trường cho cư dân địa phương trong các hoạt động sản xuấtnông - lâm nghiệp bền vững.
Đất đai để hoang hoá và chưa sử dụng còn nhiều Hiện tại, toàn tỉnh còn195.902,6 ha đất trống - đồi trọc chưa được khai thác, chiếm 20,39 % quỹ đất;trong đó đất bằng chưa sử dụng chiếm 760,3 ha, đất đồi núi chưa sử dụng189.902,6 ha, núi đá không có rừng cây 4.342,2 ha
Tài nguyên đất của Điện Biên khá rộng về diện tích, phong phú và đadạng về chủng loại Chính sự phong phú này cho phép hoạch định phát triểnsản xuất nông - lâm nghiệp theo hướng đa dạng tầng cây, đai rừng; đa dạngngành nghề, đa dạng sản phẩm hàng hoá, kết hợp sản xuất nông - lâm nghiệpvới phát triển du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng Bên cạnh đó, sự phong phú
về chủng loại đất còn tạo điều kiện cho Điện Biên đa dạng về thảm thực vật
Rừng có nhiều loại gỗ quý (trai, nghiến, lim, lát, pơmu ), nhiều cây dượcliệu (trầm hương, thiên niên kiện, sa nhân, đỗ trọng, hà thủ ô, tam thất ) cây ănquả, cây lấy nhựa và động vật quí hiếm (hổ, báo, hươu, nai, gấu ) Tỷ lệ chephủ rừng Điện Biên tính đến năm 2008 chiếm 46% diện tích tự nhiên, nhưngchủ yếu là rừng nghèo, rừng đang được bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh và rừngtrồng chưa khép tán Tuy nhiên, rừng có cây che phủ khai thác không nhiều, nạnđốt phá rừng làm nương rẫy, nạn cháy rừng vẫn xảy ra
Hệ động vật đa dạng và phong phú có nhiều loài động vật quý hiếmnhưng hiện nay vấn đề săn bắt trái phép đang ngày càng ra tăng và khiến cho đô
đa dạng sinh học giảm mạnh