1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích – đánh giá những nhân tố tác động đến việc chọn ngành của sinh viên khoa thương mại – đại học dân lập văn lang

42 894 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 808,02 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân tích – đánh giá những nhân tố tác động đến việc chọn ngành của sinh viên khoa thương mại – đại học dân lập văn lang

Trang 1

CHƯƠNG 1 : ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1 Bối cảnh của đề tài cần nghiên cứu:

Như chúng ta đã biết, hiện tại Khoa Thương Mại – ĐH Văn Lang có 2

chuyên ngành : Thương mại quốc tế và Marketing Mỗi khóa, sau khi đến học kỳ

3 đều phải chọn ra cho mình một chuyên ngành Để tìm hiểu sâu hơn về vấn đề này, nhóm chúng tôi quyết định chọn nghiên cứu đề tài “Phân tích – đánh giá nhân tố tác động đến việc lựa chọn ngành học của Sinh viên Khoa Thương mại –

ĐH Văn Lang”

1.2 Phát biểu vấn đề:

Hiện nay, với 2 chuyên ngành Thương mại quốc tế và Marketing, các sinh viên khoa Thương Mại - Đại học dân lập Văn Lang có 2 hướng lựa chọn lối đi vào đời cho mình Tuy nhiên, thực tế thì lối đi ấy chỉ thật sự mở rộng chào đón những người thích hợp với nó Nhưng do việc không hiểu rõ về ngành học từ đầu, cũng như thiếu sót trong việc tư vấn từ những người có trách nhiệm mà hiện tại không ít sinh viên đã chọn cho mình sai lối đi, dẫn đến tình trạng học sai ngành, sai sở thích, năng lực

Điều này càng khiến cho việc tìm hiểu rõ hành vi, xu hướng của sinh viên trong việc lựa chọn ngành học ngày càng trở nên quan trọng

1.3 Mục đích của nghiên cứu:

- Mục tiêu chính là khảo sát hành vi của Sinh Viên để thăm dò những nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn ngành học của Sinh viên Khoa Thương Mại

- Phân tích và đánh giá những nhu cầu, sở thích, nguyện vọng của Sinh viên trong việc lựa chọn ngành

- Nhận xét, đề xuất những ý kiến đóng góp nhằm giúp cho việc chọn ngành của sinh viên Khoa Thương mại đi đúng hướng và phù hợp với khả năng, tránh việc chọn sai ngành

Trang 2

1.4 Phạm vi – đối tượng nghiên cứu

- Tại khoa Thương mại – Đại học dân lập Văn Lang

- Sinh viên Khoá 12 -13 -14

1.5 Ý nghĩa của nghiên cứu:

Tuy rằng đây chỉ là một cuộc nghiên cứu nhỏ với kích thước mẫu mang tính chất đại diện, thế nhưng với kết quả mà nhóm chúng tôi sẽ rút ra được sau quá trình nghiên cứu có thể giúp ích cho Khoa Thương mại có được một cái nhìn chính xác hơn về việc lựa chọn ngành học của các Sinh viên vào học tại Khoa Thương Mại và từ đó có những biện pháp cải thiện công tác tư vấn, định hướng

1.6 Giới thiệu các chương tiếp theo:

Chương II : Lịch sử các nghiên cứu trước đây – Cơ sở lý luận – Phương pháp thực hiện

1 Lịch sử các nghiên cứu trước đây

2 Cơ sở lý luận

3 Phương pháp thực hiện

Chương III : Tổng quan về Khoa Thương mại – Các ngành học và xu hướng chọn ngành của Sinh viên khoa Thương Mại trong những năm qua Chương IV : Kết quả thảo luận và nghiên cứu

Chương V : Kết luận và Kiến nghị

1 Kết luận

2 Kiến nghị

Trang 3

CHƯƠNG 2: LỊCH SỬ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY – CƠ SỞ

LÝ LUẬN & PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN

2.1 Lịch sử các công trình nghiên cứu trước đây

- Hiện chưa có công trình nào trước đây

2.2 Tóm lược cơ sở lý luận:

2.2.1 Khái niệm về hành vi khách hàng:

- Theo quan điểm truyền thống, hành vi khách hàng là hành động của những người tham gia trực tiếp vào việc sử dụng và hưởng lợi sản phẩm hoặc dịch vụ kinh tế trong các tiến trình quyết định để thực hiện những hành động đó

- Theo quan điểm hiện đại, hành vi khách hàng là tương tác năng động giữa ba nhân tố: [1] Cảm nhận và nhận thức [2] Hành vi [3] Môi trường Qua đó con người xúc tiến các dạng trao đổi trong sinh hoạt với nhau

Định nghĩa này có đặc điểm đáng lưu ý là:

 Hành vi khách hàng có liên quan đến sự tương tác giữa cảm nhận

và nhận thức; hành vi; môi trường (hay hoàn cảnh xung quanh)

 Hành vi khách hàng liên quan đến trao đổi: Để có sản phẩm hay dịch vụ mình lựa chọn thì khách hàng cần bỏ tiền ra để trao đổi với người cung cấp

2.2.2 Các yếu tố liên quan đến việc phân tích về hành vi khách hàng:

- Quá trình cảm nhận và nhận thức của người tiêu dùng:

 Cảm nhận là các phản ứng về trạng thái tình cảm trước một biến cố hay kích thích nào đó Nó là những xúc động và thái độ đối với sản phẩm hay dịch vụ cụ thể Nhận thức là tiến trình hiểu biết thông qua những trải nghiệm được ghi nhớ vào ký ức, giúp chúng ta nắm bắt và giải thích các tác động và biến cố xung quanh để đưa ra những hành vi thích hợp

Trang 4

 Đối với người tiêu dùng, tiến trình nhận thức giúp họ để ý, hiểu rõ sản phẩm hay sử dụng dịch vụ phù hợp với nhu cầu và thị hiếu của

họ

 Nắm rõ được nhu cầu và thị hiếu của khách hàng thì rất dễ dàng chinh phục họ

- Tiến trình ra quyết định mua hàng và sử dụng dịch vụ:

 Tiến trình ra quyết định mua hàng hay sử dụng dịch vụ của khách hàng chịu ảnh hưởng rất lớn từ môi trường xung quanh, sắc thái, không gian hữu hình, thời tiết v.v

2.3 Phương pháp nghiên cứu :

- Nghiên cứu tại bàn: thu thập thông tin từ sách báo, tài liệu có liên quan đến đề tài

- Nghiên cứu tại hiện trường: quan sát, phỏng vấn trực tiếp sinh viên, BCN khoa Thương Mại

- Phân tích: phân tích các dữ liệu thu thập được

- So sánh: so sánh về xu hướng chọn ngành của các khoá

Trang 5

CHƯƠNG 3: TỒNG QUAN VỀ KHOA THƯƠNG MẠI – XU HƯỚNG CHỌN NGÀNH TRONG NHỮNG NĂM QUA

3.1 Tổng quan về Khoa Thương Mại – Đại học DL Văn Lang:

Khoa Thương Mại được thành lập năm 1995 cùng với các khoa khác của trường Trong những năm đầu Khoa lấy tên là khoa Kinh Tế Thương Mại, nhưng

do Tp Hồ Chí Minh là một trung tâm thương mại và dịch vụ lớn nhất của đất nước, từ năm 2002, tên của khoa được đổi lại thành Khoa Thương Mại (Faculty

of Commerce) Ban đầu khoa chưa phân ngành, đến khoá 3, năm 1997, bắt đầu

có 2 chuyên ngành là Thương Mại Quốc Tế và Marketing

Theo website www.vanlanguni.edu.vn

Chương trình học của Khoa trong ba học kỳ đầu dựa trên chương trình khung của Bộ Giáo dục và Đào tạo và trong năm học kỳ sau được thiết kế theo hai chuyên ngành Marketing và Thương mại Quốc Tế với thời gian chung cho hai chuyên ngành này là bốn (4) năm Nội dung chương trình học cho chuyên ngành Marketing

Trang 6

được thiết kế với 40% lý thuyết và 60% kỹ năng và cho chuyên ngành Thương mại Quốc Tế là 60% lý thuyết và 40% kỹ năng Để được chấp nhận vào học chuyên ngành Thương mại Quốc tế, sinh viên phải đạt điểm trung bình tích lũy là 6,5 và điểm Anh Văn là 6,5 trong suốt 3 học kỳ đầu tiên Chuyên ngành Marketing nhằm đào tạo chuyên viên và nhà quản trị trong các lĩnh vực như quảng cáo, bán hàng, chiêu thị, nghiên cứu thị trường, xây dựng thương hiệu và quảng bá thương hiệu nhãn hiệu, Thương mại điện tử, v.v Chuyên ngành Thương mại Quốc Tế nhằm đào tạo chuyên viên và nhà quản trị trong các lĩnh vực như xuất nhập khẩu, kinh doanh quốc tế, marketing quốc tế, bảo hiểm và vận tải quốc tế, quản trị hậu cần/chuỗi cung ứng, thanh toán quốc tế, quản trị rủi ro trong ngoại thương, quản lý chất lượng hàng hóa, nghiệp vụ ngân hàng quốc tế, v.v

Kể từ năm 1995 cho đến nay (từ khóa 1 đến khóa 14), Khoa đã nhận tất cả là 3.713 sinh viên, trong đó Khoa đã cho tốt nghiệp 2.006 sinh viên (chỉ tính đến Khóa

10, chưa kể số sinh viên khóa 11 sắp tốt nghiệp) Tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp so với số nhập học của 10 khóa là 76,8%, một tỷ lệ khá cao

Tỷ lệ số sinh viên tốt nghiệp có việc làm sau một năm ra trường lên đến 90% Sinh viên, sau khi tốt nghiệp, thường được tuyển dụng vào các công ty, doanh nghiệp tư nhân trong nước hay nước ngòai, tỷ lệ khỏang 85% và chỉ có khoảng 15% số sinh viên tốt nghiệp đi làm cho khu vực nhà nước Ngoài ra, cũng phải kể đến số sinh viên tốt nghiệp tự mình quản lý doanh nghiệp riêng của mình Hầu hết các sinh viên tốt nghiệp chuyên ngành Marketing đều làm đúng ngành nghề mà mình học Đối với số sinh viên thuộc chuyên ngành Thương mại Quốc tế, chỉ có 5%

85%-là 85%-làm việc trong các công ty xuất nhập khẩu; số còn lại tìm việc 85%-làm trong các lĩnh vực khác như công nghiệp chế biến, dịch vụ, dược, dệt may, ngân hàng, v.v Cho tới nay, sinh viên tốt nghiệp tại Khoa Thương mại có việc làm tại đa số các công ty đa quốc gia như AC Nielsen, Pepsi Co., Wan Hai, Colgate –Palmolive, Unilever, PricewaerhouseCoopers, các ngân hàng lớn như Hong Kong Shanghai Banking Corporation (HSBC), Ngân Hàng Á Châu, các công ty xuất nhập khẩu lớn của Việt Nam, và một số trở về quê nhà làm trưởng phòng hay giám đốc các cơ quan chức năng ở đó

Hiện nay, Khoa Thương mại đang xây dựng các tiêu chuẩn đầu ra cho sinh viên hai chuyên ngành Marketing và Thương mại Quốc Tế Sau khi các tiêu chuẩn này được công bố và áp dụng, các sinh viên tốt nghiệp khi ra trường sẽ có cơ hội nhận

Trang 7

được các chứng chỉ quốc tế trong các lĩnh vực Marketing, Thương mại Quốc Tế, và Anh ngữ Chuyên Ngành Điều này sẽ giúp đỡ sinh viên tốt nghiệp có cơ hội tìm được việc làm dễ dàng hơn

3.2 Xu hướng chọn ngành các năm qua:

Từ năm 1997, sinh viên Khoa Thương Mại phải đứng trước sự lựa chọn giữa

2 chuyên ngành : Thương mại quốc tế(TMQT) và Marketing Và xu hướng các năm qua cho thấy, ngành TMQT được nhiều sinh viên lựa chọn hơn

Cụ thể trong 2 năm qua :

TMQT đang đứng trước nguy cơ thiếu việc làm

Tất cả chứng tỏ một sự thật là hiện nay công tác định hướng chọn ngành cho sinh viên vẫn chưa phát huy hết hiệu quả

Trang 8

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

VÀ THẢO LUẬN

4.1 Quá trình cảm nhận và nhận thức của sinh viên:

- Đối với đa số sinh viên, việc lựa chọn ngành học là một việc làm có ảnh hưởng rất lớn đối với cuộc sống, tương lai của mỗi sinh viên sau này Chính vì vậy, việc tư vấn lựa chọn ngành cho Sinh viên càng trở nên quan trọng đối với các bậc phụ huynh cũng như những nhà làm giáo dục có liên quan

- Trước đây, tại Khoa Thương Mại, khi chưa phân ngành, việc tư vấn chọn ngành, cũng như việc băn khoăn không biết học ngành gì sau 3 học kỳ tại Khoa Thương Mại – Đại học dân lập Văn Lang là không có

- Tuy nhiên, từ Khóa 3 – 1997 đến nay, cùng với việc kinh tế ngày càng

mở cửa, sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt hơn, thì Khoa Thương Mại – Đại học dân lập Văn Lang đã bắt đầu phân ngành và có 2 chuyên ngành: ngành Thương Mại Quốc Tế và ngành Marketing, đáp ứng nhu cầu của sinh viên và xã hội

Mỗi chuyên ngành có một đặc điểm khác nhau, chương trình học cũng khác nhau Vì thế, tùy vào khả năng, tính cách bản thân, cũng như truyền thống gia đình hay nhiều nguyên nhân khác nhau mà mỗi Sinh Viên khoa Thương Mại lại có sự lựa chọn khác nhau, sao cho phù hợp với hoàn cảnh

Trang 9

4.2 Tiến trình quyết định việc lựa chọn ngành học:

4.2.1.Nhìn nhận vấn đề:

- Việc đứng trước quyết định lựa chọn liên quan đến tương lai và sự nghiệpcủa mình, đa số các Sinh viên đều rất quan tâm Có những sinh viên đã có định hướng hoặc được tư vấn chọn ngành ngay cả trước khi vào Đại học

Biểu đồ 4.1: Biểu đồ thể hiện việc định hướng nghề nghiệp trước khi vào

đại học của Sinh Viên Khoa Thương Mại

39 61

28

72

77 23

Biểu đồ thể hiện việc định hướng nghề nghiệp trước khi vào đại

học của SV Khoa Thương Mại

Có Không

- Đối với K12 và K13: việc tỉ lệ có định hướng trước khi vào Đại Học đã cho thấy có sự tư vấn rất tốt từ gia đình, và sự quan tâm đến tương lai của bản thân Sinh viên

- Đối với K14: Tỉ lệ có định hướng trước khi vào đại học của Sinh viên K14 Khoa Thương Mại cho thấy đa số không được tư vấn nhiều hay ít có sự quan tâm từ phía gia đình hơn Hỏi thêm các trường hợp này, chúng tôi được biết đa

số các trường hợp lấy thông tin chủ yếu trên báo đài làm cơ sở cho việc lựa chọn của mình

Trang 10

4.2.2 Tìm kiếm và đánh giá thông tin:

- Qua nhiều nguồn như bạn bè, gia đình, thầy cô, báo đài… sinh viên chọn lọc cho mình nhưng thông tin cần thiết và có ích để từ đó có thể lựa chọn ra cho mình một ngành học phù hợp Tuy vậy, quá trình này vẫn xảy ra bất trắc khi có một số yếu tố gây cản trở các yếu tố khác chẳng hạn việc ảnh hưởng từ gia đình gây cản trở cho việc quyết định từ sở thích bản thân Chính những điều như vậy

là nguyên nhân gây ra việc chọn ngành không phù hợp với năng lực bản thân của một số sinh viên.

Biểu đồ 4.2 Biểu đồ thể hiện sự ảnh hưởng của các nhân tố trong việc lựa

chọn chuyên ngành

Do tên chuyên ngành hấp dẫn

Do bạn bè ảnh hưởng

Do tư vấn của gia đình

Do định hướng của thầy cô/ BCN Khoa

Do thông tin báo đài

Trang 11

Rất ảnh hưởng (%)

Ảnh hưởng (%)

Bình thường (%)

Ảnh hưởng

ít (%)

Không ảnh hưởng (%)

Nhìn chung, hầu hết các quyết định lựa chọn ngành của Sinh viên đều đa số dựa vào sự quyết định của bản thân, với 43%% và 39% cho rằng các bạn lựa chọn ngành là do bản thân thấy phù hợp Điều này cần được khuyến khích vì chính bản thân mỗi sinh viên tự hiểu điểm mạnh, điểm yếu của mình hơn ai hết

và mọi thông tin còn lại chỉ có giá trị tham khảo

Về phía thông tin báo đài, thì phần đông cũng bị ảnh hưởng khi có đến 35% sinh viên bị ảnh hưởng bởi thông tin báo đài Điều này có thể khiến xu hướng lựa chọn ngành Marketing có sự gia tăng trong thời gian tới, vì hiện nay báo chí đang cho rằng ngành Marketing là ngành “hot” và dễ xin việc làm Tuy vậy cũng

có khoảng 14% và 20% sinh viên cho rằng họ ít bị ảnh hưởng và không bị ảnh hưởng bởi các thông tin từ báo đài

Các năm vừa qua, Ban Chủ Nhiệm Khoa và các thầy cô luôn tích cực tư vấn cho sinh viên trong việc lựa chọn ngành học Tuy nhiên có vẻ như sự tư vấn đó chưa đạt được nhiều hiệu quả khi chỉ có 4% và 20% là rất ảnh hưởng và có ảnh hưởng từ sự tư vấn của Ban Chủ Nhiệm Khoa và các thầy cô

Bên cạnh đó, về phía gia đình cũng có sự tác động đến hành vi ra quyết định của sinh viên Với tỉ lệ 40 % bao gồm cả những sinh viên có bị ảnh hưởng và rất

bị ảnh hưởng bởi gia đình thì có thể nói nhân tố tác động từ gia đình chi phối khá lớn đến sự ra quyết định trong việc lựa chọn ngành học của sinh viên Khoa Thương Mại

Trang 12

Nhân tố bạn bè không ảnh hưởng nhiều đến việc lựa chọn ngành học, tuy nhiên cũng có 16% cho rằng có ảnh hưởng và thậm chí rất ảnh hưởng đến quyết định của bản thân Có nhiều trường hợp thấy bạn mình chọn ngành Thương mại quốc tế nhiều vì nghe nói được làm ngân hàng, ngồi phòng máy lạnh, thế là nhiều sinh viên đã nghe theo

Bấy lâu nay, cái chữ Thương mại quốc tế rất thu hút sinh viên, vì hình như được gắn cái “mác” là quốc tế nên có nhiều sinh viên lựa chọn dựa vào yếu tố

ấy, có đến 35% sinh viên cho rằng mình bị ảnh hưởng và rất ảnh hưởng bởi cái tên chuyên ngành “đẹp” Đây rõ ràng là một sự lệch lạc trong vấn đề chọn ngành của sinh viên Khoa Thương Mại hiện nay

4.2.3 Quyết định chọn lựa chuyên ngành:

- Tâm lý của sinh viên là ai cũng muốn lựa chọn cho mình được một ngành học phù hợp với sở thích Tuy nhiên, như đã nói ở trên, trong quá trình tìm kiếm

và đánh giá thông tin, có một số mâu thuẫn dẫn đến việc lựa chọn ngành học không phù hợp chẳng hạn như việc không hiểu là ngành học của mình học gì, học để sau này ra trường làm gì

Biểu đồ 4.3 Mức độ am hiểu về chuyên ngành đã lựa chọn của sinh viên

K12

7 76

107

7 37 26 26 4

Trang 13

Sau 1 năm rưỡi học chuyên ngành, khi được khảo sát về mức độ am hiểu về chuyên ngành đã lựa chọn, thì phần đông sinh viên K12 Marketing đều cho rằng mình hiểu, thậm chí hiểu rất rõ về chuyên ngành đã lựa chọn, với 76% cho rằng mình hiểu và 7% cho rằng hiểu rất rõ chuyên ngành đã lựa chọn Tuy nhiên, có 1

sự khác biệt khi cũng những tiêu chí ấy thì con số này chỉ là 37% và 7% đối với sinh viên Thương Mại Quốc Tế

Với tỉ lệ như vậy, rõ ràng có thể thấy được rằng hiện tại nhiều sinh viên K12 Thương Mại quốc tế đang học mà không biết mình học gì, ra trường làm gì, không còn là một viễn cảnh màu hồng ra trường làm ngân hàng, ngồi phòng máy lạnh nữa

Biểu đồ 4.4 Mức độ am hiểu về chuyên ngành đã lựa chọn của sinh

viên K13

12 34

26 8

2 54

Trải qua nửa năm học chuyên ngành, chưa có sự tiếp cận sâu với chuyên ngành, nên sự đánh giá của cả K13 TMQT và K13 Marketing khá tương đồng Ngành marketing với tỉ lệ 54% hiểu, và 12% rất hiểu, tuy vậy vẫn còn đến 26% còn lờ mờ và 8% chưa rõ lắm về ngành đã lựa chọn, tỉ lệ này có khả năng

sẽ giảm dần sau khi tiếp xúc nhiều hơn với các môn chuyên ngành cũng như có thời gian nhiều hơn tìm hiểu về ngành Marketing

Trang 14

Tỉ lệ của ngành Thương mại quốc tế K13 về sự am hiểu chuyên ngành lựa chọn là 54% hiểu và 2% hiểu rất rõ, tì lệ này cao hơn so với K12 Thương mại quốc tế Điều này cho chúng ta thấy được 2 vấn đề:

 Việc định hướng của Khoa Thương Mại có hiệu quả

 Nếu ngược lại, có nghĩa là ngành Thương mại quốc tế ở khoa Thương Mại đang có xu hướng làm cho sinh viên ngày càng không hiểu là mình học gì,

Đối với K14, có 35% sinh viên cho rằng mình hiểu rõ chuyên ngành sắp lựa chọn và 2% cho rằng mình hiểu rất rõ Phần còn lại đều khá lờ mờ và chưa hiểu

rõ lắm về chuyên ngành đã có định hướng lựa chọn trong tương lai Điều này đòi hỏi việc tư vấn hiệu quả của Ban chủ nhiệm Khoa Thương Mại trong tương lai

Trang 15

4.2.4 Hành vi sau khi lựa chọn chuyên ngành:

Sau khi sử dụng một dịch vụ, hành vi của khách hàng là cảm nhận xem dịch

vụ đó có phù hợp với mình, có mang đến lợi ích tốt nhất cho mình hay chưa Nếu không sau này sẽ chuyển sang sử dụng dịch vụ của đối thủ

Sinh viên lựa chọn chuyên ngành cũng có hành vi như vậy Việc lựa chọn chuyên ngành chỉ được thực hiện 1 lần duy nhất và không thể thay đổi Mặc dù vậy, sau khi lựa chọn chuyên ngành, sẽ có những phản hồi đối với ban chủ nhiệm khoa hay đối với các sinh viên khóa dưới về giảng viên, môn học, phương pháp học… Điều này một phần ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn chuyên ngành của nhiều sinh viên các khóa tiếp theo Ngoài ra, những yếu tố đó còn ảnh

hưởng đến chất lượng sinh viên tốt nghiệp ra trường sau này

Biều đồ 4.6 Biểu đồ về sự lựa chọn của K12 Marketing sau khi đã chọn

Trang 16

Biểu đồ 4.7 Biểu đồ về sự lựa chọn của K12 TMQT sau khi đã chọn

Trong số các sinh viên lựa chọn lại chuyên ngành khác (Thương mại quốc tế)

và quyết định không học Khoa Thương Mại thì đều cho rằng học ngành Marketing hoặc Khoa Thương Mại không phù hợp với khả năng của bản thân

Ở các sinh viên đã lựa chọn chuyên ngành Thương Mại Quốc Tế, tỉ lê chọn chuyên ngành khác là 11% và quyết định không học khoa Thương Mại là 30% Đây có thể nói là một tỉ lệ khá cao

Giải thích cho việc lựa chọn chuyên ngành khác thì đa số các ý kiến cho rằng mình đã chọn sai ngành, chọn ngành không phù hợp với khả năng Một số ý kiến lại cho rằng trình độ anh văn của các bạn không đủ đáp ứng yêu cầu của ngành Thương Mại Quốc Tế

Trong khi đó, đối với các sinh viên quyết định không học khoa Thương Mại nếu được lựa chọn lại thì cho rằng “Khoa Thương Mại ra quy định về điểm BULAT hoặc TOEIC 650 là không phù hợp với khả năng sinh viên, là vô lý”,

Trang 17

cách dạy của giảng viên khó hiểu Một số ý kiến cho rằng sau khi học xong, các

bạn không biết áp dụng gì cho công việc tương lai…

Biểu đồ 4.8 Biểu đồ về sự lựa chọn của K13 Marketing sau khi đã

Vẫn giữ nguyên quyết định Chọn lai chuyên ngành khác

Không học khoa Thương Mại

Trải qua 1 học kỳ học chuyên ngành, nên tỉ lệ giữ nguyên quyết định của K13 cao hơn so với K12

Trang 18

Ở đây tỉ lệ chọn lại chuyên ngành khác của sinh viên K13 TMQT cao hơn so với Marketing(8% so với 2%) Giải thích cho điều này, một số sinh viên TMQT cho rằng “Do Ban Chủ Nhiệm Khoa cho rằng học Thương Mại Quốc Tế hiện nay các bạn ra trường khó tìm việc, trong khi đó các bạn đã lỡ chọn ngành Thương Mại Quốc Tế”, ngoài ra một số ý kiến thì cho rằng sau thời gian học cảm thấy không phù hợp với bản thân

Tuy nhiên, tỉ lệ quyết định không học Khoa Thương Mại nếu được lựa chọn lại của các sinh viên K13 Marketing lại cao hơn khá nhiền so với K13 Thương mại quốc tế(16% so với 2%) Đa số các trường hợp này là do các bạn Sinh viên

có sở thích ở một lĩnh vực khác như: y dược, Công nghệ thông tin, Mỹ thuật công nghiệp… có thể thấy các trường hợp này chủ yếu là đã không có sự định hướng trước khi nộp nguyện vọng vào khoa Thương Mại Nhiều bạn chọn ngành

Marketing xong thì không biết sau này học xong làm gì…

Biểu đồ 4.10 Biểu đồ đánh giá về chương trình học của

Khoa Thương Mại

Biểu đồ đánh giá về chương trình học của sinh

viên Khoa Thương Mại

Rất tốt Tốt Bình thưòng Tạm chấp nhận Rất tệ hại

Trang 19

Rất tốt(%)

Tốt(%) Bình

thường(%)

Tạm chấp nhận được(%)

Rất tệ hại(%)

Về giảng viên: Hầu hết các sinh viên đều đánh giá khá cao chất lượng giảng

viên của Khoa Thương Mại Với tỉ lệ 3% đánh giá rất tốt, 52% đánh giá tốt Có thể nói đa số các giảng viên hiện nay của Khoa Thương Mại là các giảng viên trẻ, tuy nhiên ít có sự than phiền về chất lượng giảng viên của Khoa

Về giáo trình: với tỉ lệ 48% đánh giá giáo trình chỉ ở mức bình thường, và

39% đánh giá tốt Giáo trình là một yếu tố cũng khá quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng học của Sinh viên Một số giảng viên còn dạy phụ thuộc nhiều vào các giáo trình có sẵn, một số soạn giáo trình riêng cho sinh viên dễ tự nghiên cứu Tuy nhiên đa số vẫn là các tài liệu được in ra từ Slide bài giảng của các giảng viên, điều này giúp các sinh viên không phải mất thời gian ngồi chép bài, nhưng ít có sinh viên chịu tự mày mò nghiên cứu thêm các tài liệu khác mà thường chỉ học mỗi Slide bài giảng của giàng viên – mặc dù các slide này chủ yếu tóm tắt các ý chính

Về phương pháp học: đa số sinh viên chỉ đánh giá phương pháp học ở mức

bình thường với 50% ý kiến Ở khía cạnh này, mỗi một môn có một phương pháp học khác nhau và ở mỗi chuyên ngành cũng khác nhau Có một số ý kiến đánh giá phương pháp học ở Khoa Thương Mại chỉ ở mức tạm chấp nhận được(11%) cho đến mức rất tệ hại(2%), giải thích cho nguyên nhân này là do ở một số giảng viên ít cho sinh viên làm bài tập tình huống nhiều, chỉ vào lớp giảng hết bài xong rồi ra

Về môn học: ở khía cạnh này, đa số các sinh viên cũng chỉ đánh giá ở mức

bình thường với tỉ lệ 50% Một số cho rằng có một số môn học không cần thiết,

Trang 20

không biết học xong đề làm gì - với 11% và 1% sinh viên đánh giá các môn học

là chỉ ở mức tạm và rất tệ

 Tóm lại, hành vi của sinh viên bị chi phối bởi nhiều yếu tố tác động

Qua tìm hiểu và phân tích, chúng tôi thấy rằng việc lựa chọn chuyên ngành là một quá trình quan trọng và có chọn lọc, cân nhắc từ nhiều yếu tố, yếu tố nào tác động mạnh thì sẽ ảnh hưởng lớn đến quyết định của sinh viên Tuy nhiên đối với việc lựa chọn chuyên ngành thì năng lực bản thân có phụ hợp hay không là nhân tố quan trọng nhất quyết định đến sự thành công Vì vậy sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác sẽ gây ra tình trạng chọn và học sai ngành

Trang 21

CHƯƠNG 5 : KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

5.1 Kết luận:

Sau quá trình nghiên cứu, nhóm chúng tôi xin được phép đưa ra những kết luận sau đây:

 Đa số sinh viên đều có được sự định hướng từ gia đình, trường phổ thông

và báo đài trước khi ra quyết định về tương lai sẽ học ngành gì Mặc dù vậy cũng có những sinh viên trước khi thi đại học vẫn chưa dự định được sau này mình sẽ học gì, đây là một trong những sai lầm đầu tiên dẫn đến việc chọn sai ngành sau này

 Sau khi bước vào học tại Khoa Thương Mại, đứng trước việc lựa chọn ngành học cho mình, đã có nhiều nhân tố tác động ảnh hưởng đến việc ra quyết định của mỗi sinh viên Mỗi nhân tố lại mang một mức độ tác động khác nhau đối với sinh viên Do đó có những quyết định là chính xác, cũng có những quyết định sai do sinh viên không biết nhân tố nào thật sự

là tác động đúng đắn nhất đối với bản thân mình

 Một số sinh viên sau khi đã chọn chuyên ngành vẫn còn không biết rõ về chuyên ngành đã lựa chọn, chẳng hạn: “Ngành này học để làm gì?”, “Ra trường sẽ làm những công việc gì?” v.v Điều này chứng tỏ công tác định hướng vẫn chưa thật sự mang lại hiệu quả

Ngày đăng: 28/04/2016, 00:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w