1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý, lâm sàng của gà mắc bệnh đầu đen tại thái nguyên và so sánh hiệu lực của 2 phác đồ điều trị

76 575 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 615,29 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y - trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, của giáo viên hướng dẫn và sự tiếp nhận của cơ sở thực tập, em đã tiến hành thực tập với đề t

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN THỊ XUYẾN

Tên đề tài:

“NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM BỆNH LÝ, LÂM SÀNG CỦA GÀ

MẮC BỆNH ĐẦU ĐEN (HISTOMONIASIS) TẠI THÁI NGUYÊN VÀ

SO SÁNH HIỆU LỰC CỦA 2 PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ ”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Thú y Khoa : Chăn nuôi thú y

Khóa học : 2009 - 2014

Giảng viên hướng dẫn: TS Phan Thị Hồng Phúc

Khoa Chăn nuôi thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Thái Nguyên - 2013

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian thực tập và thực hiện đề tài này, nhờ sự nỗ lực của bản thân

và được sự quan tâm, chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo, bạn bè; sự động viên khích lệ của gia đình em đã hoàn thành luận văn này

Nhân dịp này em xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới: Ban Giám hiệu trường Đại Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi - Thú y, các thầy giáo, cô giáo đã tận tình dìu dắt em trong suốt thời gian học tập tại trường

Đặc biệt em xin trân trọng cảm ơn TS Phan Thị Hồng Phúc đã tận tình

hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ em trong quá trình hoàn thành luận văn này

Đồng thời em cũng xin trân trọng cảm ơn GS.TS Nguyễn Thị Kim Lan

đã đóng góp ý kiến quí báu và giúp đỡ nhiệt tình để em hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu của mình

Qua đây, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Th.S Trương Thị Tính đã

giúp đỡ, hỗ trợ kinh phí để em thực hiện và hoàn thành công tác nghiên cứu của mình

Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2013

Sinh viên

Nguyễn Thị Xuyến

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

Thực tập tốt nghiệp là một phần quan trọng trong chương trình đào tạo của nhà trường, là thời gian giúp sinh viên tiếp cận trực tiếp với thực tiễn sản xuất, hệ thống lại kiến thức, củng cố tay nghề, học hỏi kinh nghiệm, nắm vững phương pháp nghiên cứu khoa học, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất Đồng thời cũng là khoảng thời gian giúp sinh viên tạo cho mình khả năng tự lập, khả năng tự tin vào bản thân, lòng yêu nghề, có tác phong làm việc đúng đắn, có lối sống lành mạnh, có năng lực làm việc để có thể đáp ứng được nhu cầu của thực tiễn sản xuất

Được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y - trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, của giáo viên hướng dẫn và sự tiếp nhận của cơ

sở thực tập, em đã tiến hành thực tập với đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm bệnh

lý, lâm sàng của gà mắc bệnh đầu đen (Histomoniasis) tai Thái Nguyên và so

sánh hiệu lực của 2 phác đồ điều trị”

Trong thời gian thực tập, em đã nhận được sự giúp đỡ của Ban lãnh đạo địa phương, toàn thể người dân và sự chỉ bảo tận tình của cô giáo hướng dẫn, cùng sự cố gắng, nỗ lực của bản thân, em đã hoàn thành khoá luận tốt nghiệp này

Mặc dù đã cố gắng rất nhiều nhưng do thời gian có hạn, kinh nghiệm thực tế còn thiếu, kiến thức chuyên môn còn hạn chế nên trong bản khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo, sự đóng góp của bạn bè đồng nghiệp để bản khóa luận hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 4.1 Tỷ lệ nhiễm H meleagridis ở gà tại một số huyện của tỉnh

Thái Nguyên 33

Bảng 4.2 Tỷ lệ và các triệu chứng lâm sàng của gà bị bệnh đầu đen 36

Bảng 4.3 Bệnh tích đại thể của gà bị bệnh đầu đen ở Thái Nguyên 38

Bảng 4.4 Kết quả gây nhiễm bệnh đầu đen cho gà 41

Bảng 4.5 Thời gian gà xuất hiện triệu chứng lâm sàng sau gây nhiễm 44

Bảng 4.6 Triệu chứng lâm sàng của gà bị bệnh đầu đen sau gây nhiễm 47

Bảng 4.7 Kết quả theo dõi gà chết sau gây nhiễm 52

Bảng 4.8 Bệnh tích đại thể của gà sau gây nhiễm 55

Bảng 4.9 Bệnh tích vi thể của gà sau gây nhiễm 56

Bảng 4.10 Hiệu lực của thuốc trị bệnh đầu đen cho gà trên diện hẹp 58

Bảng 4.11 Hiệu lực của thuốc trị bệnh đầu đen cho gà trên diện rộng 60

DANH MỤC CÁC HÌNH Trang Hình 4.1 Tỷ lệ nhiễm H meleagridis ở gà tại một số huyện của tỉnh

Thái Nguyên 35

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT

( - ) ADN

: gam : Glutamicoxalacetic transaminase

HE : Hemotoxilin - Eosin

H meleagridis : Histomonas meleagridis

H gallinarum

Kg KGN LDH

ml Nxb

pp PCR

TT

Tr

µm

: Heterakis gallinarum : ki lô gam

: Không gây nhiễm

: Lactic dehydrogenase

: mililít : Nhà xuất bản

: trang : polymerase chain reaction : thể trọng

: trang : micromet

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

Phần 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục đích nghiên cứu 2

1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2

1.3.1 Ý nghĩa khoa học 2

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2

1.4 Những đóng góp mới của đề tài Error! Bookmark not defined Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3

2.1.1 Đặc điểm của đơn bào Histomonas meleagridis ký sinh ở gia cầm 3

2.1.1.1 Vị trí của đơn bào Histomonas meleagridis trong hệ thống phân loại động vật nguyên sinh 3

2.1.1.2 Hình thái học loài Histomonas meleagridis 4

2.1.1.3 Phương thức truyền lây của Histomonas meleagridis 6

2.1.1.4 Vòng đời của Histomonas meleagridis 13

2.1.1.5 Nuôi cấy đơn bào H.meleagridis 13

2.1.2 Bệnh đầu đen (Histomonosis) ở gà 14

2.1.2.1 Lịch sử bệnh 14

2.1.2.2 Những thiệt hại kinh tế do bệnh Histomonosis gây ra 15

2.1.2.3 Dịch tễ học bệnh đầu đen (Histomonosis) ở gia cầm 17

2.1.2.4 Cơ chế sinh bệnh 19

2.1.2.5 Triệu chứng và bệnh tích bệnh đầu đen 20

2.1.2.6 Chẩn đoán 23

2.1.2.7 Phòng, trị bệnh đầu đen cho gà 25

Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27

3.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu 27

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 27

3.1.2 Vật liệu nghiên cứu 27

Trang 7

3.2 Địa điểm, thời gian nghiên cứu 28

3.2.1 Địa điểm nghiên cứu 28

3.2.2 Thời gian nghiên cứu 28

3.3 Nội dung nghiên cứu 28

3.3.1 Nghiên cứu bệnh đầu đen do đơn bào H meleagridis gây ra 28

3.3.1.1 Nghiên cứu bệnh đầu đen do đơn bào H meleagridis gây ra ở gà nuôi tại tỉnh Thái Nguyên 28

3.3.1.2 Nghiên cứu bệnh đầu đen ở gà gây nhiễm 28

3.3.2 Đánh giá hiệu lực của một số thuốc điều trị bệnh đầu đen 28

3.3.2.1 Đánh giá hiệu lực của thuốc trên diện hẹp 28

3.3.2.2 Đánh giá hiệu lực của thuốc trên diện rộng 28

3.4 Phương pháp nghiên cứu 28

3.4.1 Nghiên cứu bệnh đầu đen ở gà tại Thái Nguyên 29

3.4.2 Phương pháp nghiên cứu bệnh đầu đen do H meleagridis gây nhiễm trên gà 29

3.4.2.1 Gây nhiễm bệnh đầu đen do đơn bào H meleagridis cho gà

thí nghiệm 29

3.4.2.2 Bố trí thí nghiệm gây nhiễm 30

3.4.2.3 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm bệnh lý, lâm sàng của gà bị bệnh đầu đen do gây nhiễm 30

3.4.3 Phương pháp đánh giá hiệu lực của một số thuốc trị bệnh đầu đen

cho gà 32

3.4.4 Phương pháp xử lý số liệu 32

Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 33

4.1 Nghiên cứu bệnh đầu đen do đơn bào H meleagridis gây ra 33

4.1.1 Nghiên cứu bệnh đầu đen do đơn bào H meleagridis gây ra ở gà nuôi tại tỉnh Thái Nguyên 33

4.1.1.1 Tình hình nhiễm H meleagridis ở gà tại một số huyện của

tỉnh Thái Nguyên 33

4.1.1.2 Triệu chứng lâm sàng của gà bị bệnh đầu đen tại tỉnh Thái Nguyên 35

4.1.1.3 Bệnh tích của gà bị bệnh đầu đen ở các địa phương 38

Trang 8

4.1.2 Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý, lâm sàng của gà mắc bệnh đầu đen do

gây nhiễm 40

4.1.2.1 Khả năng gây bệnh của H meleagridis trên gà qua các đường 40

4.1.2.2 Thời gian xuất hiện triệu chứng lâm sàng của gà gây nhiễm 43

4.1.2.3 Triệu chứng ở gà bị bệnh đầu đen do gây nhiễm 46

4.1.2.4 Thời gian chết của gà sau gây nhiễm 52

4.1.2.5 Bệnh tích đại thể ở gà bị bệnh đầu đen do gây nhiễm 55

4.1.2.6 Bệnh tích vi thể ở manh tràng và gan của gà bị bệnh do

gây nhiễm 56

4.2 Đánh giá hiệu lực của một số thuốc điều trị bệnh đầu đen 57

4.2.1 Đánh giá hiệu lực của thuốc trên diện hẹp 57

4.2.2 Đánh giá hiệu lực của thuốc trên diện rộng 59

Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 62

5.1 Kết luận 62

5.1.1 Về tình hình gà bị bệnh đầu đen do đơn bào H meleagridis gây ra nuôi tại tỉnh Thái Nguyên 62

5.1.1.1 Về tỷ lệ nhiễm H meleagridis ở gà tại một số huyện của

tỉnh Thái Nguyên 62

5.1.1.2 Triệu chứng lâm sàng của gà bị bệnh đầu đen tại tỉnh

Thái Nguyên 62

5.1.1.3 Bệnh tích đại thể của gà bị bệnh đầu đen ở Thái Nguyên 62

5.1.2 Khả năng gây bệnh của đơn bào H meleagridis trên gà khi

gây nhiễm 62

5.1.2.1 Khả năng gây bệnh của H meleagridis trên gà qua các đường 62

5.1.2.2 Thời gian xuất hiện triệu chứng lâm sàng của gà gây nhiễm 62

5.1.2.3 Triệu chứng ở gà bị bệnh đầu đen do gây nhiễm 63

5.1.2.4 Thời gian chết của gà sau gây nhiễm 63

5.1.2.5 Bệnh tích ở gà bị bệnh đầu đen do gây nhiễm 63

5.1.3 Về đánh giá hiệu lực của một số thuốc điều trị bệnh đầu đen 63

5.2 Đề nghị 64

TÀI LIỆU THAM KHẢO 65

I Tài liệu tiếng Việt 65

II Tài liệu tiếng Anh 65

Trang 9

Phần 1

MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Đất nước ta đang trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa tiến tới xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội Để đạt được mục tiêu đó Đảng

và Nhà nước ta đã có nhiều chính sách phát triển kinh tế trong đó có ngành chăn nuôi Nhờ đó ngành chăn nuôi đã có nhiều bước phát triển đáng kể, đóng góp một phần không nhỏ vào nền kinh tế quốc dân Trong

đó ngành chăn nuôi gia cầm chiếm một vị trí quan trọng với những ưu thế

mà các ngành chăn nuôi khác không có

Theo kết quả điều tra tại thời điểm 01/10/2012 của Tổng cục thống kê, tổng đàn gia cầm nước ta có 308,5 triệu con, giảm 4,4% so với cùng kì năm

2011 Trong đó đàn gà có 223,7 triệu con, giảm 3,86% Tuy nhiên, sản lượng thịt gia cầm hơi giết bán tăng 4,8%, sản lượng trứng tăng 5,8%

Tuy nhiên ngành chăn nuôi gia cầm vẫn gặp những khó khăn nhất định, đặc biệt là dịch bệnh xảy ra nhiều, thường xuyên trong đó có bệnh ký sinh trùng Do nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm đã tạo điều kiện thuận lợi cho các bệnh ký sinh trùng nói chung và bệnh giun kim ở gà nói riêng

phát triển, kéo theo sự phát triển của bệnh do đơn bào H meleagridis gây ra Bệnh do đơn bào H meleagridis (bệnh đầu đen) ở gà hiện nay đã xuất hiện ở

nhiều địa phương, đặc biệt là ở các địa phương chăn nuôi gà và gà tây theo lối tập trung công nghiệp Bệnh gây tác hại đáng kể tại các địa phương và làm giảm hiệu quả kinh tế của người chăn nuôi gà

Bệnh đầu đen là một bệnh ký sinh trùng nguy hiểm ở gà và gà tây do đơn

bào H meleagridis gây ra Bệnh biểu hiện bất thường ở da vùng đầu, ban đầu có

màu xanh tím, sau đó nhanh chóng trở lên thâm đen nên có tên là bệnh đầu đen Bệnh có những bệnh tích đặc trưng như: Viêm hoại tử tạo mủ ở ruột thừa và gan, thể trạng xấu, da vùng đầu và mào tích thâm đen Gà bệnh chết rải rác và thường chết về ban đêm, mức độ chết không ồ ạt nhưng hiện tượng chết kéo dài, gây cho người chăn nuôi cảm giác bệnh không nguy hiểm Thực chất cuối cùng gà chết đến 85 - 95%

Trang 10

Mặc dù vậy, ở Việt Nam chưa có công trình nghiên cứu nào về bệnh đầu đen ở gà, vì vậy cũng chưa có quy trình phòng, trị bệnh hiệu quả Mặt khác, tại một số tỉnh chăn nuôi nhiều gà như tỉnh Thái Nguyên, Bắc Giang, trong 3 năm gần đây liên tục xuất hiện bệnh đầu đen trên đàn gà nuôi thả vườn, tỷ lệ chết cao gây thiệt hại lớn cho người chăn nuôi

Xuất phát từ yêu cầu cấp thiết của việc khống chế dịch bệnh, nâng cao

năng suất chăn nuôi gà, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm

bệnh lý, lâm sàng của gà mắc bệnh đầu đen (Histomoniasis) tại Thái Nguyên và

so sánh hiệu lực của 2 phác đồ điều trị ”

1.2 Mục đích nghiên cứu

- Nghiên cứu tình hình nhiễm đơn bào H meleagridis ở gà nuôi tại tỉnh

Thái Nguyên

- Nghiên cứu tình hình nhiễm đơn bào H meleagridis do gây nhiễm trên gà

- Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý, lâm sàng của bệnh đầu đen do đơn bào

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để đề ra biện pháp phòng, trị bệnh có hiệu quả, nhằm hạn chế tỷ lệ nhiễm và thiệt hại do bệnh đầu đen gây ra; góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi, thúc đẩy ngành chăn nuôi gà phát triển

Trang 11

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài

Bệnh đầu đen (Histomonosis) là một bệnh kí sinh trùng truyền

nhiễm nguy hiểm ở gà và gà tây do một loại đơn bào có tên khoa học là

Histomonas meleagridis gây ra Histomonas meleagridis ký sinh chủ yếu

trong lòng manh tràng và nhu mô gan, gây viêm xuất huyết hoại tử tạo, tăng sinh ở manh tràng và gan, thể trạng xấu, da vùng đầu và mào tích

thâm đen nên từ đây bệnh có tên là bệnh đầu đen (Blackhead) Cũng vì

các biến đổi đặc trưng tập trung song hành ở gan và ruột, lây lan nhanh và gây chết gia cầm với tỷ lệ cao, nên bệnh còn có tên là bệnh viêm hoại tử

ruột gan truyền nhiễm (Infectious Enteroheatitis)

Ở Việt Nam do các biến đổi đặc trưng tạo kén ở manh tràng nên người chăn nuôi thường gọi là bệnh kén ruột

2.1.1 Đặc điểm của đơn bào Histomonas meleagridis ký sinh ở gia cầm

2.1.1.1 Vị trí của đơn bào Histomonas meleagridis trong hệ thống phân loại

động vật nguyên sinh

Theo Van der Heijden H (2009) [40], vị trí của H meleagridis trong hệ

thống phân loại nguyên sinh động vật như sau:

Sinh vật: Eukaryota

Giới: Excavata Ngành: Metamonada Lớp: Parabasalia Bộ: Trichomonadida Họ: Monocercomonadidae Giống: Histomonas Loài: Histomonas meleagridis

Tuy nhiên, sau kết quả phân tích trình tự gen, Cepicka và cs (2010) [9]

đã cho biết vị trí phân loại của H meleagridis như sau:

Trang 12

Loài: Histomonas meleagridis 2.1.1.2 Hình thái học loài Histomonas meleagridis

Khi nghiên cứu về bệnh đầu đen Tyzzer (1919) [35], đã mô tả hình

thái của H meleagridis ở từng giai đoạn phát triển khác nhau Ở giai đoạn

kí sinh tại khu vực ngoại vi của các tổn thương ban đầu được gọi là giai đoạn xâm lấn Trong giai đoạn này chúng di động kiểu amip và hình thành một chân giả có chiều dài 30 µm Trong các mô cố định, quan sát được đường kính dao động từ 8 - 17 µm Nguyên sinh chất trong giai đoạn này chứa các hạt không bào và một thể nhân Tiếp đến là giai đoạn sinh

dưỡng, H meleagridis tồn tại dưới dạng có tế bào chất mà không có thể

vùi và một lượng nhỏ chất lưới hoặc dạng hạt phân phối xung quanh thể nhân Ở giai đoạn này, chúng có kích thước lớn hơn, đường kính từ 12 -

21 µm Một giai đoạn tồn tại khác của H meleagridis đã được Tyzzer mô

tả và gọi với cái tên là giai đoạn kháng, kích thước nhỏ hơn, đường kính

từ 5 - 22 µm

Smith (1895) [34], đã mổ khám 50 gà tây mắc bệnh đầu đen Ông cho biết: ở gà mắc bệnh gan và manh tràng là 2 cơ quan bị tổn thương nặng

nề nhất Lấy chất chứa trong manh tràng gà bệnh soi tươi và tìm thấy tác

nhân gây bệnh là một sinh vật đơn bào (Amoeba meleagridis) có hình tròn

hoặc hình bầu dục, đường kính 8 - 14 µm, ngoại trừ một dạng gần giống cấu trúc nhân

Trong mô gan được cố định và nhuộm màu, Smith nhận thấy đơn bào

có dạng hình bầu dục nhỏ, đường kính dao động từ 6 - 10 µm, ở giữa có nhiều

cấu trúc nhỏ tập trung lại thành thể nhân

Trang 13

Dẫn theo Smith 1895 đến năm 1920 Tyzzer từ đặc điểm trùng roi của tác

nhân gây bệnh ông đã đổi tên loài ký sinh trùng này thành H meleagridis

Tyzzer và Fabyan (1925) [37] đã báo cáo: khi quan sát dưới kính hiển

vi, tác giả thấy H meleagridis tồn tại lưỡng hình (dạng amip và có roi) Trong

mô (giai đoạn xâm lấn) nó có dạng amip, trong lòng manh tràng H meleagridis

ở dạng có roi

H meleagridis ở dạng amip thường có đường kính 8 - 15 µm, trong khi

ở hình dạng có roi đường kính có thể lên tới 30 µm

Tyzzer (1934) [39] đã nghiên cứu sự chuyển động của H meleagridis ở

420C và mô tả, roi của đơn bào này nhịp nhàng rung động giúp nó có thể xoay ngược chiều kim đồng hồ

Lê Văn Năm (3/2010) [4] khi nghiên cứu bệnh đầu đen ở Việt Nam

báo cáo rằng, H meleagridis là một loại đơn bào đa hình thái: hình trùng

roi (4 roi), hình amip và hình lưới hợp bào, tùy thuộc vào giai đoạn phát

triển để có hình dạng tương ứng phù hợp,… H meleagridis với hình amip

có kích thước 8 - 30 µm, với hình roi thì có kích thước từ 20 - 30 µm, bé

nhất khi H meleagridis ở thể lưới: 5 - 10 µm, nhưng ở thể hợp bào (bao gồm nhiều H meleagridis thể hình lưới) thì chúng có kích thước cực đại

đến 60 -80 µm Trong các dạng hình thái thì hình roi là phổ biến nhất và dễ nhận biết nhất bởi chúng có 2 nhân (1 nhân to và 1 nhân nhỏ), từ nhân to

mọc ra 4 cái roi, H meleagridis vận động theo hai phương thức xoắn hoặc

theo kiểu làn sóng (impuls)

Nghiên cứu về cấu tạo của đơn bào H meleagridis, các nhà khoa học đã cho biết, theo thứ tự từ ngoài vào trong đơn bào H meleagridis cấu tạo gồm 3

phần: màng, tế bào chất và nhân

Màng đơn bào H meleagridis là một màng đơn

Tế bào chất H meleagridis chứa ß-glycogen, ribosome và ARN, một

số không bào và hạt nhân Nhân hình trứng hoặc hình chữ U, bao gồm một nucleolus Màng nhân là một màng kép Trong vùng lân cận của nhân là bộ máy Golgi hoặc một phần theo chiều dọc của microtubule

H meleagridis là sinh vật kỵ khí vì thiếu ty thể Lưới nội chất đã bị

thoái hóa

Trang 14

2.1.1.3 Phương thức truyền lây của Histomonas meleagridis

H meleagridis sinh sản bằng hình thức phân đôi (trực phân), lây

truyền bằng 2 con đường: truyền bệnh trực tiếp và truyền bệnh gián tiếp

* Truyền bệnh gián tiếp qua giun kim

Cushman và cs (1894) [10] đã nhận thấy, gà và gà tây bị nhiễm bệnh khi chúng được nuôi trên khu vực mà trước đó gà và gà tây đã bị mắc bệnh

Smith (1895) [34] đã tiến hành thí nghiệm với qui mô lớn và cho biết:

H meleagridis không lây truyền theo chiều dọc từ gà mái đẻ sang trứng, mặc

dù phát hiện gà con mắc bệnh đầu đen rất sớm và chết ở 12 - 14 ngày tuổi Tác giả cho rằng, những gà con này bị nhiễm bệnh do được nuôi trong khu đất nơi

mà đàn gà nuôi trước đó đã mắc bệnh Thí nghiệm được bố trí như sau:

Tiến hành lấy trứng ở những gà mẹ từ 3 trang trại khác nhau đang có bệnh đầu đen phát triển, ấp trứng nhân tạo Trước khi ấp, trứng được rửa sạch, lau nhẹ nhàng bằng nước ấm, ngâm trong clorua thủy ngân 0,5% trong 30 giây, sau đó rửa sạch và lau khô bằng khăn khử trùng

Sau khi nở 1 tuần, 4 gà tây đã bị chết do quá yếu, những gà còn lại được nuôi tại khu vực được bảo vệ an toàn và không có sự lây nhiễm của mầm bệnh Sau 1 tháng theo dõi thấy gà khỏe bình thường

Thí nghiệm tiếp tục được tiến hành sau hơn 6 tuần quan sát thấy không

có gà nào bị tử vong và xuất hiện dấu hiệu bệnh Điều này khẳng định rằng

Histomonas không lây truyền từ gà mẹ thông qua trứng

Tác giả tiếp tục tiến hành thí nghiệm bằng cách chuyển những gà thí nghiệm trên về các trang trại đang có gà bị nhiễm bệnh, sau 17 ngày thấy gà xuất hiện triệu chứng bệnh, đến ngày thứ 26 tất cả gà đều tử vong, mổ khám thấy tổn thương rõ rệt ở gan và đóng kén trắng ở manh tràng

Một số thí nghiệm được tiến hành sau đó với qui mô lớn hơn cũng nhận được kết quả tương tự

Khi nghiên cứu dịch tễ học của bệnh đầu đen, Graybill và cs (1920) [17] quan sát bệnh ở gà tây khỏe khi nhốt chung với gà bệnh Kiểm tra chất chứa

trong manh tràng của gà bệnh chết, thấy có sự tồn tại của Heterakis gallinarum cùng với H meleagridis Ông cho rằng tác nhân gây bệnh đầu đen có thể hấp thụ đồng thời cùng với trứng Heterakis gallinarum

Trang 15

Tyzzer E E (1925) [37] cho biết, gà tây có thể nhiễm bệnh khi nuôi nhốt chung với gà mắc bệnh hoặc nuôi trên khu đất đã có gà bị bệnh trước đó

Sau đó, tác giả đã chứng minh trứng giun kim (Heterakis) chính là tác

nhân lây truyền bệnh đầu đen Trứng có phôi chứa thành phần axit nitric 1,5% giúp chúng có khả năng bảo vệ khi đi qua đường tiêu hóa đến manh tràng của

gà Những phôi trứng Heterakis chứa H meleagridis là nguồn quan trọng để

bệnh đầu đen phát triển Đây là một phát hiện quan trọng vì đã xác định được vật chủ trung gian truyền bệnh, và có ý nghĩa quan trong cho các thử nghiệm sau này

Gibbs B J (1962) [16] đã tìm thấy H meleagridis trong đường sinh dục

và trứng của Heterakis dưới kính hiển vi quang học H meleagridis được tìm

thấy trong tất cả các bộ phận ở sinh sản của cả giun cái và giun đực Ở giun đực,

H meleagridis kí sinh trong ruột, xâm nhập vào các tế bào ruột, tinh trùng, ống

dẫn tinh và túi tinh Ở giun cái chúng kí sinh trong tất cả các bộ phận của đường

sinh dục như buồng trứng, ống dẫn trứng và tử cung Sau đó, H meleagridis đã

được thu thập và gây nhiễm cho gà 10 ngày tuổi Ông khẳng định rằng giun cái

có khả năng truyền bệnh cho gà mà không cần có sự thụ tinh của giun đực

Lund và Chute (1973) [29], tìm thấy mối tương quan giữa số lượng

Heterakis và tỷ lệ mắc Histomonas, ông cho rằng H meleagridis được giải phóng khi Heterakis chết

Hàng loạt những nghiên cứu của Farr M M (1959) [15], đã chỉ ra rằng

trứng Heterakis có sức đề kháng tốt với môi trường, ở ngoài môi trường đất

có thể tồn tại từ 2 - 3 năm, khi nở vẫn có thể gây ra Histomoniasis Đây là

nguyên nhân làm dịch bệnh đầu đen phát triển từ năm này sang năm khác

Trang 16

* Truyền bệnh gián tiếp qua giun đất

Khi nghiên cứu về dịch tễ của bệnh đầu đen Lund và Chute (1973) [29],

báo cáo rằng: giun đất chính là vật chủ trung gian mang ấu trùng H gallinarum

và tích trữ một lượng lớn đơn bào H meleagridis

Nghiên cứu rõ hơn vai trò của giun đất trong việc truyền tải bệnh đầu đen, Curtice (1907b) [11] tiến hành thí nghiệm cho gà khỏe ăn giun đất thu thập từ vùng có gà bị nhiễm bệnh Theo dõi một thời gian thấy gà xuất hiện triệu chứng, mổ khám kiểm tra gan và manh tràng có bệnh tích điển hình của bệnh đầu đen

Kết quả trên đã chứng minh rằng sự lan truyền bệnh đầu đen từ gia cầm này sang gia cầm khác còn do gia cầm ăn phải giun đất mang ấu trùng giun

kim (H gallinarum) chứa H meleagridis Theo tác giả giun đất chính là tác

nhân làm dịch bệnh đầu đen phát triển Đây là một phát hiện quan trọng vì đã xác định được vật chủ trung gian truyền bệnh, từ đó có những khuyến cáo để

nhăn ngừa bệnh đầu đen

Lund và cs (1956) [28] báo cáo: sau khi cho gà và gà tây ăn giun đất

chứa ấu trùng H gallinarum mang mầm bệnh, thấy gà mắc bệnh đầu đen, mổ

khám gà có bệnh tích điển hình ở gan và manh tràng Sau đó các tác giả tiến hành đun nóng giun đất trong phòng thí nghiệm, quan sát thấy rất nhiều ấu

trùng giun kim (H gallinarum) nổi lên trên bề mặt cơ thể Một lần nữa các

nhà nghiên cứu kết luận giun đất chính là vật chủ trung gian chứa ấu trùng

giun kim mang mầm bệnh Histomonas gây bùng phát bệnh đầu đen

Kemp và cs (1975) [25] cho biết: gà trống và gà tây bị nhiễm cả hai loài

H meleagridis và H gallinarum khi cho ăn giun đất từ nơi trước đây mầm

bệnh đã xảy ra

Gà có thể mắc bệnh đầu đen khi vô tình ăn phải giun đất có chứa trứng

giun kim nhiễm H meleagridis Khi kí sinh trong giun đất cùng ấu trùng giun kim, H meleagridis có thể tồn tại hơn 1 năm Sau khi gà và gà tây nuốt phải

giun đất nhiễm bệnh, ấu trùng giun kim sẽ di hành xuống manh tràng đồng

thời các đơn bào H meleagridis cũng được giải phóng và gây bệnh

Ngoài ra, gà tây có thể lây truyền từ con này sang con khác khi mổ ăn

phân của gia cầm nhiễm bệnh Tuy nhiên, H meleagridis tự do trong phân mà

Trang 17

không được bảo vệ bởi trứng giun kim sẽ chết một cách nhanh chóng, đặc biệt

là trong thời tiết khô nóng

* Truyền bệnh trực tiếp

Trong báo cáo ban đầu của Smith (1895) [34], sự lây truyền trực tiếp bệnh đầu đen đã được chứng minh qua thí nghiệm cho gà khỏe uống đơn bào

H meleagridis Theo đuổi quan điểm của Smith, Curtice (1907) [11] đã làm

các thí nghiệm cho gà tây khỏe ăn phân và các cơ quan bị tổn thương của gà bệnh, sau đó theo dõi và nhận thấy gà tây khỏe cũng bị nhiễm bệnh Tuy nhiên, các tác giả đều kết luận có thể gây nhiễm bệnh đầu đen ở gà và gà tây qua đường ăn, uống nhưng tỷ lệ nhiễm không cao

Năm 1922, Tyzzer và Fabyan lấy gan của gà bị bệnh nặng nghiền nhỏ cho gà và vịt được 4, 6, 16 ngày tuổi ăn Sau đó, Tyzzer và Collier (1925) [37], tiếp tục gây nhiễm bệnh đầu đen trên một số gà 5 ngày tuổi bằng cách cho ăn gan gà bệnh Sau hàng loạt thí nghiệm, Tyzzer (1926) [38] đã kết luận

rằng H meleagridis có thể được truyền đến một mức độ nào đó trong tự nhiên

bằng cách ăn, uống các cơ quan của gà bệnh có chứa mầm bệnh

Farmer and Stephenson (1949) [14] tiến hành gây nhiễm cho gà tây bằng cách cho ăn các tổn thương manh tràng mà không có các tổn thương gan, nhận thấy rằng gà mắc bệnh với tỷ lệ thấp

Horton-Smith và Long (1955, 1956) [22] cũng làm nhiều thí nghiệm gây nhiễm bằng cách cho gà khỏe nuốt trực tiếp gan và huyễn dịch trong

manh tràng của gà bệnh nặng, ông đã phát hiện ra rằng H meleagridis sống

sót với tỷ lệ thấp khi đi qua đường tiêu hóa do nồng độ pH thấp

Tác giả đã tiến hành gây nhiễm sau khi bỏ đói gà 18 giờ bằng cách cho uống huyễn dịch trong manh tràng của gà bị bệnh nặng, ông nhận thấy rằng tỷ

lệ nhiễm bệnh của gà thấp

Tiếp tục nghiên cứu đường tiêu hóa của gà bị bỏ đói 18 giờ, tác giả nhận thấy nồng độ pH tăng lên rất cao sau khi bổ sung 1 gam hỗn hợp gồm: canxi cacbonat chiếm 40%, magie trisilicate 17%, và cao lanh 43%, tác giả

nhận thấy tỷ lệ nhiễm H meleagridis ở gà tăng lên Kết quả này đã chứng minh rằng H meleagridis có thể sống sót ở nồng độ pH cao

Trang 18

Lund E E (1956) [28] đã gây bệnh bằng đường miệng cho 109 gà ở 6 -

9 tuần tuổi, mỗi gà nuốt 10.000 - 50.000 H meleagridis Kết quả chỉ có 1 gà

tử vong trong số 2 gà bị mắc bệnh do gây nhiễm Mổ khám thấy gan và manh tràng bị tổn thương

Mc Dougald L R (2003) [31] đã làm thí nghiệm gây nhiễm bệnh cho

gà 2 tuần tuổi Ông tiến hành đưa vào lỗ huyệt mỗi gà đơn bào H meleagridis nuôi cấy với liều 200.000 H meleagridis/con Kết quả, tất cả gà gây nhiễm đã

chết ở ngày 10 - 18, tiến hành mổ khám gà chết thấy gan và manh trang xuất

hiện tổn thương điển hình của Histomonosis

Để nghiên cứu sự lây truyền trực tiếp bệnh đầu đen mà không có sự có

mặt của giun kim (Heterakis gallinarum) Mc Dougald L R (2005) [32] đã bố

trí thí nghiệm với 120 gà ở 2 tuần tuổi thành các lô riêng biệt:

Lô 1: 10% gà bệnh (được gây nhiễm qua lỗ huyệt với H meleagridis liều 200.000 H meleagridis/ gà) và 90% gà khỏe cùng nhốt trong chuồng sàn

bê tông

Lô 2: tương tự lô 1, 25% gà bệnh với 75% gà khỏe

Tác giả thu được kết quả như sau: những gà tiếp xúc với 25% gà được gây nhiễm bắt đầu chết ở ngày thứ 16 và tất cả đều chết sau 23 ngày Những

gà tiếp xúc với 10% gà được gây nhiễm, bắt đầu chết ở ngày thứ 19, sau 31 ngày mổ khám gà chết và những gà còn sống đều thấy tổn thương gan nặng, manh tràng bị đóng kén Tiến hành soi tươi bệnh phẩm và phân không thấy có

sự xuất hiện của trứng giun kim (Heterakis gallinarum)

Tác giả kết luận rằng, mặc dù giun kim H gallinarum là kí chủ trung

gian lây truyền bệnh đầu đen từ đàn gia cầm này sang đàn gia cầm khác,

nhưng qua thí nghiệm này cho thấy, H meleagridis có thể dễ dàng truyền từ

đàn gia cầm này sang đàn gia cầm khác khi ăn phân gà nhiễm bệnh mà không

Trang 19

Hu và cs (2004) [23] tiến hành gây nhiễm H meleagridis qua lỗ huyệt

cho gà 2 tuần tuổi, liều 100.000 tế bào/con Theo dõi trong 12 ngày thấy không có gà nào bị chết, tiến hành mổ khám, thấy gan và manh tràng bị tổn thương nặng

Tỷ lệ tử vong bởi bệnh đầu đen ở gà lên đến 80% đã được báo cáo bởi

Mc Dougald.L.R (2005) [32] sau khi tác giả gây nhiễm bệnh cho gà tây ở 15

ngày tuổi với lượng 200.000 H meleagridis/con

Một tỷ lệ tử vong thấp hơn 50% đã được báo cáo bởi Hauck và cs (2006) [18], khi tác giả gây nhiễm bệnh cho gà tây 3 tuần tuổi với liều

150.000 H meleagridis/con

Một nghiên cứu khác về khả năng truyền bệnh trực tiếp ở gà tây cũng được mô tả bởi Hess.M và cs (2006) [21]: tác giả cũng tiến hành gây nhiễm thông qua lỗ huyệt cho gà tây ở 14 ngày tuổi với liều 380.000 đơn bào

H meleagridis Kết quả những gà được gây nhiễm bài tiết mầm bệnh ngay

sau khi gây nhiễm 2 ngày Sau 14 ngày gây nhiễm, mổ khám tất cả những gà sống sót, kiểm tra manh tràng và gan thấy xuất hiện tổn thương nặng của bệnh

đầu đen Ngoài ra, túi Fabricius cũng bị phá hủy nặng nề

Hess.M và cs (2008) [22] đã nghiên cứu bệnh đầu đen ở các loài gia cầm khác nhau trên mọi lứa tuổi với liều gây nhiễm khác nhau Các tác giả tiến hành gây nhiễm trực tiếp thông qua lỗ huyệt cho 14 loài gia cầm ở 1 ngày

tuổi, 14 ngày tuổi và 8 tuần tuổi với liều từ 10.000 - 1.000.000 H meleagridis/con Kết quả thu được, gia cầm 8 tuần tuổi khi gây nhiễm với liều

thấp hầu như không có dấu hiệu lâm sàng của bệnh và không có loài nào bị

chết Khi gây nhiễm với liều 1.000.000 H meleagridis/con, tất cả gia cầm đều

chết từ 11 - 21 ngày sau gây nhiễm Mổ khám kiểm tra gan và manh tràng có

tổn thương nặng của Histomoniasis

Hauck và cs (2010) [19], đã gây nhiễm bệnh cho gà tây bằng cả 2 đường, đường ăn uống và qua lỗ huyệt, kết quả như sau: Gà gây nhiễm qua đường miệng tỷ lệ mắc bệnh và tử vong thấp hơn so với gây nhiễm qua lỗ huyệt Cụ thể, gây nhiễm qua đường miệng tỷ lệ mắc bệnh là 20%, tỷ lệ chết 2%, trong khi gây nhiễm qua lỗ huyệt tỷ lệ mắc bệnh 65%, tỷ lệ chết 45%

Trang 20

Gần đây Armstrong P.L, Mc Dougald L.R (2011) [7], tiếp tục nghiên cứu sự truyền bệnh trực tiếp cho gà tây mà không cần sự có mặt của các vật chủ trung gian và điều tra khả năng lây nhiễm khi tiếp xúc Ông đã tiến hành 3

lô thí nghiệm khác nhau:

Lô 1: Ông tiến hành nuôi nhốt chung với gia cầm đã mắc bệnh đầu đen

Lô 2 và 3: Ông gây nhiễm trực tiếp bằng 2 đường, thông qua đường miệng và bơm trực tiếp vào lỗ huyệt (bằng một đầu ống hút nhựa gắn vào ống

tiêm 10 ml H meleagridis có trong hỗn hợp phân và manh tràng của gà bệnh

được 4 ngày)

Theo dõi thí nghiệm sau 14 ngày, tiến hành mổ khám thấy: 31 gà trong

số 44 gà ở lô 2 được bơm trực tiếp vào lỗ huyệt có bệnh tích điển hình ở cả gan và manh tràng, trong khi đó không thấy gà ở lô 3 bị tổn thương khi cho bằng đường miệng Ở lô 1 khi cho nuôi nhốt chung với đàn gà mắc bệnh đầu đen trước đó, mổ khám thấy có 11 gà mắc bệnh và có bệnh tích điển hình ở gan và manh tràng trong số 36 gà đối chứng (chiếm 30,5%)

Hauck R, Hafe H.M (2013) [20], cho biết trong 10 năm qua, phương pháp gây nhiễm thông qua lỗ huyệt được tiến hành một cách phổ biến nhất và đạt độ tin cậy cao

Trong hầu hết các nghiên cứu liều gây nhiễm thường từ 10.000

-100.000 đơn bào H meleagridis được sử dụng, tỷ lệ tử vong ở gà được gây

nhiễm chiếm hơn 70% Trong đó gà tử vong sớm nhất có thể xảy ra ở ngày thứ 6 sau khi gây nhiễm và muộn nhất thường từ 13 - 15 ngày sau gây nhiễm

Mổ khám có thể quan sát được tổn thương ở manh tràng sau 3 - 4 ngày

và tổn thương nặng sau 3 tuần, gan ở giai đoạn đầu không thấy xuất hiện tổn thương hoặc một số ít có các tổn thương nhẹ

Các kết quả trên, cho thấy: có thể gây nhiễm bệnh đầu đen cho gà khỏe bằng 2 đường, qua đường miệng và qua lỗ huyệt Do ảnh hưởng của axit đường tiêu hóa nên tỷ lệ nhiễm bệnh không cao khi gây nhiễm qua đường miệng Bệnh đầu đen có thể xảy ra bất cứ khi nào lỗ huyệt của gà khỏe tiếp xúc với phân tươi bị nhiễm mầm bệnh Ngay sau khi tiếp xúc với phân tươi

của gà bệnh, H meleagridis sẽ di chuyển ngược theo nhu động ruột vào ký

sinh ở manh tràng

Trang 21

2.1.1.4 Vòng đời của Histomonas meleagridis

Lê Văn Năm và cs (2010) [3] tóm tắt vòng đời phát triển của đơn bào

H meleagridis như sau:

Trong mô tổ chức của kí chủ (gà ta và gà tây) H meleagridis sinh sản

theo phương thức tự phân đôi và sinh sản mạnh nhất ở giai đoạn thể lưới

(Incistio) hay thể hợp bào Khi theo phân ra khỏi kí chủ, ở thể hình roi và thể

amip chúng chỉ sống được trong vòng 24 h, trong khi đó ở thể lưới chúng có

thể tồn tại hàng năm trong các trứng của giun kim H gallinarum Điều kiện

khô ráo và nhiệt độ thấp giúp cho H meleagridis tồn tại lâu trong môi trường

thiên nhiên ngoài cơ thể Do đó gà bị nhiễm bệnh khi ăn thức ăn, nước uống

bị nhiễm trứng giun kim H gallinarum có chứa thể hợp bào H meleagridis

H meleagridis có thể nuôi cấy ở môi trường nhân tạo và yếm khí

2.1.1.5 Nuôi cấy đơn bào H.meleagridis

Drbohlav (1924) [13] là người đầu tiên tiến hành nuôi cấy đơn bào

H Meleagridis đã báo cáo rằng: H meleagridis sinh trưởng tốt ở môi

trường thạch máu chứa 1% pepton so với môi trường thạch máu thông

thường và thích hợp nhất ở độ pH 7,2 - 7,8

Bishop (1937) [8] đã thu thập các đơn bào H meleagridis từ các tổn

thương ở gan của gà mắc bệnh nặng, sau đó nuôi cấy trong môi trường

huyết thanh ngựa pha với bột gạo với tỷ lệ 1: 8, đặt ống nghiệm thẳng

đứng cũng thu được kết quả tốt

DeVolt (1943) [12] cũng tiến hành thí nghiệm nuôi cấy đơn bào

H meleagridis trong hỗn hợp dung dịch huyết thanh gà tây 2% và NaOH

2%, pH = 9, hấp tiệt trùng ở 1200Ctrong 20 phút Trước khi sử dụng, mỗi

ống nghiệm cho thêm một ít dung dịch tinh bột gạo vô trùng Tác giả báo

cáo rằng, có một số vi khuẩn tồn tại trong môi trường nuôi cấy cùng với

đơn bào H meleagridis

Các nhà nghiên cứu khác cũng tiến hành nuôi cấy H meleagridis ở

các môi trường khác nhau Lesser (1960a) [27] thử nghiệm thay thế huyết

thanh ngựa bằng sữa tươi và sữa bò Ông nhận thấy chỉ có sữa tươi đã

được tiệt trùng hoặc chưa được tiệt trùng và được lọc qua màng lọc Selas

Trang 22

(0,6 micron) là có kết quả tương tự với huyết thanh ngựa Việc thay thế sữa tươi bằng sữa bò tươi cũng không đạt được kết quả

Sau này, Lesser (1960b) [27] đã nuôi cấy H meleagridis trong môi

trường M199 pha loãng 10 lần bằng nước cất và bổ sung 10% sữa tươi đã lọc hoặc huyết thanh ngựa và 0,05% NaHCO3 Nhận thấy H meleagridis

sinh trưởng tốt

Mc Dougald và Galloway (1970) [30] khẳng định rằng: môi trường

nuôi cấy đơn bào H.meleagridis tốt nhất là môi trường Dwyers (1970)

Môi trường này bao gồm 85% M199; 5% chiết xuất phôi thai gà và 10%

huyết thanh cừu hoặc huyết thanh ngựa, điều chỉnh pH 7,8 H.meleagridis

phát triển nhanh trong môi trường này và được sử dụng để chẩn đoán, xét

nghiệm Histomoniasis từ 28 - 48 h sau khi tiêm

2.1.2 Bệnh đầu đen (Histomonosis) ở gà

2.1.2.1 Lịch sử bệnh

Histomoniasis được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1893 ở Rhode

Island (Cushman, 1894) [10] Tuy nhiên, các báo cáo của Trạm thực nghiệm nông nghiệp tại địa phương về tình hình dịch bệnh từ năm 1891, báo cáo đã đề cập về một " bệnh khó hiểu" xuất hiện trên đàn gà tây, với triệu chứng chung

là da vùng đầu bị biến đổi màu, gà mắc bệnh tỷ lệ chết cao, gây thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi gà tây Những người nông dân địa phương căn cứ vào triệu chứng đặc biệt đã quan sát được ở vùng đầu của gà tây mắc bệnh: mào thâm tím, da mép và da vùng đầu xanh xám, thậm chí xanh đen nên gọi tên bệnh là bệnh “đầu đen”

Kể từ khi bệnh “đầu đen” xuất hiện phổ biến, các nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu về bệnh Sau một thời gian nghiên cứu, người ta nhận thấy dấu hiệu biến đổi da vùng đầu không phải là dấu hiệu đặc trưng cho bệnh, vì nó có thể quan sát thấy trong một số bệnh khác của gà tây Theo Smith (1895) [34], khi gà tây mắc bệnh thì gan và manh tràng là 2

cơ quan bị tổn thương nặng nề nhất Ông đã lấy bệnh phẩm là 2 cơ quan này để nghiên cứu và xác định được nguyên nhân gây bệnh là một sinh vật

đơn bào (Amoeba meleagridis), từ đó bệnh đã được đặt tên là bệnh truyền nhiễm Enterohepatitis Nghiên cứu kỹ hơn, Tyzzer (1920a) [36], đã xác

Trang 23

định được nguyên nhân gây bệnh và gọi tên sinh vật đơn bào gây bệnh đó là

H meleagridis Từ đó, bệnh cũng được gọi bằng tên khoa học là Histomoniasis

Tuy nhiên, vì lý do tiêu chuẩn hóa đã được đề xuất từ (năm 1990) về việc sử dụng hậu tố osis cho các bệnh ký sinh trùng (2006), do đó bệnh có tên khoa

học là "Histomonosis"

Sau sự bùng nổ đầu tiên ở Rhode Island, năm 1901 bệnh Histomoniasis

lần đầu tiên được phát hiện ở gà và đến năm 1908 vụ dịch đầu tiên bùng phát trên gà gây thiệt hại đáng kể cho người chăn nuôi Từ đó, các trang trại chăn nuôi ở Mỹ đã thực hiện mọi biện pháp để cải thiện, làm giảm tỷ lệ mắc bệnh

nhưng Histomoniasis vẫn xuất hiện ở nhiều tiểu bang Mỹ và là nguyên nhân

chính gây tử vong ở gà tây (Lund, 1956) [28]

Tiếp sau Hoa Kỳ, bệnh xảy ra tại Nhật Bản vào năm 1905 (1910) Ở

Châu Âu, dịch Histomoniasis cũng xuất hiện và đã được báo cáo ở Áo (2006),

Hà Lan (2009), Bỉ (2007), Ireland (1894) và Anh (2007)

Ở Đông Âu, Micheva đã thông báo bệnh có mặt ở Bungari vào năm 1950

Ngày nay, Histomoniasis là bệnh phổ biến trên toàn thế giới nhất là các

nước có ngành chăn nuôi gà tây và gà ta theo lối thả vườn và tập trung công nghiệp (McDougald, 2005) [32]

Hiện nay ở Việt Nam, bệnh đã xảy ra ở nhiều nơi nhưng chưa có nhiều nghiên cứu báo cáo về bệnh Lê Văn Năm và cs (2010) [4] đã quan sát thấy hàng loạt đàn gà nuôi tập trung thả vườn tại một số tỉnh Phía Bắc bị mắc bệnh Bệnh đã bùng phát dữ dội và gây nhiều thiệt hại cho người chăn nuôi

2.1.2.2 Những thiệt hại kinh tế do bệnh Histomoniasis gây ra

Trong những thập kỷ gần đây, Histomoniasis đã gây ra thiệt hại nghiêm

trọng cho ngành chăn nuôi gia cầm, đặc biệt là gà tây Những năm 1930, dịch bệnh đầu đen đã phá hủy hầu như hoàn toàn ngành chăn nuôi gà tây ở khu vực Đông và Trung Tây của Hoa Kỳ Trong năm 1945, bệnh đầu đen chiếm 32,2%

tỉ lệ tử vong của gà tây ở Bắc Carolina

Những năm tiếp theo dịch bệnh đầu đen ở gia cầm vẫn thường xuyên phát triển, tiếp tục gây thiệt hại nghiêm trọng về kinh tế cho người chăn nuôi.

Ổ dịch Histomoniasis mới trên đàn gà tây, tỷ lệ chết 25 - 75% đã được

báo cáo ở California vào năm 2001 (Jinghui hu (2002) [24]

Trang 24

Van der Heijden H (2009) [40] tiếp tục báo cáo rằng: Ở California một

đợt bùng phát Histomoniasis tiếp tục gây tỷ lệ tử vong cao cho gà tây từ 9 -

11 tuần tuổi Dấu hiệu lâm sàng bao gồm: ăn ít hoặc bỏ ăn, ủ rũ, tiêu chảy, giảm cân, và tỷ lệ tử vong tăng khi gà ở 3 - 13 tuần tuổi Gà tây mắc bệnh ở

7 tuần tuổi tỷ tử vong từ 24 - 68% Mổ khám thấy gan phì đại, trên bề mặt gan xuất hiện các nốt trắng nhạt khác nhau, kích thước 0,3 - 1,5 cm Thành

manh tràng dày lên, niêm mạc bị lở loét, túi Fabricius sưng to và có tiết dịch

màu vàng nhạt Thận, tuyến tụy, lá lách sưng Quan sát dưới kình hiển vi

thấy có nhiều ổ hoại tử trong gan, manh tràng, phúc mạc, túi Fabricius, thận,

phổi, tuyến tụy,…

Mc Dougald (2008) [33] khi nghiên cứu bệnh đầu đen ở khu vực Bắc

Mỹ đã báo cáo: Bệnh gây thiệt hại nghiêm trọng đến đàn gà tây nuôi tập trung, tỷ lệ tử vong lên đến 80 - 100% Mặt khác, bệnh cũng được tìm thấy ở

gà nhưng tỷ lệ chết chỉ đạt 10%

Hauck và cs (2010) [19] báo cáo: Histomoniasis là một căn bệnh

nghiêm trọng gây ra bởi kí sinh trùng đơn bào H meleagridis Tại Đức, trong

khoảng thời gian từ 2004 đến 2008, có ít nhất 35 vụ dịch xảy ra ở gà tây, gây thiệt hại lớn về kinh tế cho người chăn nuôi Trong báo cáo ông đã mô

tả sự tiếp diễn liên tục qua các năm của bệnh đầu đen của một trang trại chăn nuôi gà tây ở Đức Ổ dịch đầu tiên xảy ra vào năm 2005 khi gà đạt 17 tuần tuổi Ổ dịch thứ 2 xảy ra vào năm 2009 khi gà 8 tuần tuổi Tỷ lệ tử vong tăng đến 26 - 65% trong vài ngày mặc dù điều trị với các hợp chất khác nhau

Trong cả hai trường hợp H meleagridis thuộc kiểu gen A đã được phát hiện

nhưng chưa nghiên cứu được nguồn lây nhiễm rõ ràng

Từ tháng 4 năm 2003 đến tháng 3 năm 2005, ở Pháp xuất hiện 113 ổ dịch

Histomoniasis trên gà tây, trong đó 15 ổ dịch là các trang trại gà giống Năm

2009 có sự bùng nổ của dịch Histomoniasis ở gà tây 9 đến 11 tuần tuổi với tỷ lệ

tử vong 24 - 68%

Bệnh do ký sinh trùng đơn bào H meleagridis gây ra Trong cơ thể gà

H meleagridis cư trú chủ yếu ở manh tràng, gan và gây tổn thương nghiêm

trọng 2 cơ quan này

Trang 25

Trong trường hợp không được điều trị, hơn 90% số gia cầm bị bệnh có thể chết, số sống sót sẽ còi cọc, chậm lớn

Ở Việt Nam bệnh được phát hiện vào tháng 3 năm 2010 do Lê văn Năm

và cs báo cáo Bệnh thường thấy ở gà tây từ 2 tuần đến 2 - 3 tháng tuổi, nhưng

gà ta thì chậm hơn một chút: từ 3 tuần đến 3 - 4 tháng tuổi, gà lớn tuổi hơn vẫn có thể mắc

Lê Văn Năm (2010) [4] bước đầu đã quan sát thấy ở Miền Bắc Việt Nam bệnh bùng phát mạnh vào các tháng nóng ẩm: cuối xuân, hè, hè thu Trong khi đó gà lớn tuổi (gà già, gà đẻ) bệnh thường xảy ra vào cuối thu và mùa đông Bệnh gây thiệt hại lớn về kinh tế cho người chăn nuôi, làm ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống xã hội của đại bộ phận không nhỏ người dân nước

ta Tác giả cũng cho rằng các trang trại chăn nuôi gà thịt đang bị ô nhiễm nặng với giun kim mà giun kim là kí chủ trung gian truyền bệnh cho gà tây và gà thả vườn nuôi tập trung

2.1.2.3 Dịch tễ học bệnh đầu đen (Histomonasis) ở gia cầm

* Động vật mắc bệnh

Histomonasis thấy ở đàn gà, gà tây trên toàn thế giới Trong tự

nhiên, gà tây, gà, chim trĩ, chim công, chim cút, gà lôi, đà điểu, vịt, đều

có thể bị bệnh Trong đó gà tây mẫn cảm hơn cả

Lund và Chute (1973) [29] đã thử nghiệm và gây bệnh cho 8 loài chim thuộc về loài gà và thấy rằng gà lôi trắng Trung Quốc là vật chủ tốt nhất cho giun tròn, tiếp theo là gà và gà sao

Cũng giống như gà tây, gà dễ nhiễm bệnh, nhưng khả năng gây bệnh cho gà thấp hơn so cho gà tây Tỷ lệ tử vong ở gà là 10% trong khi con số này ở gà tây có thể đạt 80 đến 100% (Mc Dougald (2008) [33])

Armstrong P.L, Mc Dougald L.R (2011) [34] tìm thấy H meleagridis

có trong manh tràng vịt nhưng vịt không có triệu chứng lâm sàng của bệnh

Lấy H meleagridis ở manh tràng vịt gây nhiễm cho gà tây, gà tây bị mắc

bệnh Từ những phát hiện này có thể thấy rằng vịt đóng vai trò truyền bệnh cho các loài nhạy cảm

Trang 26

Bệnh xảy ra ở bất cứ nơi nào thích hợp cho sự tồn tại của giun kim

Heterakis gallinarum và các loại giun đất khác nhau được các phòng thí

nghiệm chẩn đoán ở Mỹ, Canada, Mexico báo cáo

Khi nghiên cứu bệnh đầu đen ở nước ta Lê Văn Năm (2010) [4] cho

biết: Bệnh do H meleagridis thường xuyên nổ ra ở những cơ sở nuôi gà ta

nuôi chung với gà tây Bệnh bùng phát chủ yếu ở gà nuôi theo lối chăn nuôi tập trung (gà thả vườn)

Một yếu tố quan trọng để H meleagridis tồn tại và phát tán mạnh ra

môi trường thiên nhiên là do chúng thường kí sinh trong trứng của giun kim

H gallinarum, mà khi nuôi gà thương phẩm hoặc làm giống thì hầu như 100%

gà bị nhiễm loại giun này Bởi thế mà gà ta và gà tây bị nhiễm H meleagridis chủ yếu qua đường ăn uống trong đó có trứng giun kim H gallinarum

* Tuổi mắc bệnh

Tuổi đã từng được cho là một yếu tố ảnh hưởng đến sức đề kháng

của gia cầm với H meleagridis Có ý kiến cho rằng gia cầm ở mọi lứa tuổi đều mắc bệnh Tuy nhiên, gia cầm non dễ nhiễm Histomonosis hơn

cả Gia cầm tuổi càng cao tỷ lệ nhiễm Histomonasis càng giảm

Hauck và cs (2010) [19] cho biết: giai đoạn 1 - 2 tháng tuổi tỷ lệ mắc

Histomonasis cao nhất, triệu chứng bệnh điển hình nhất

Tyzzer E E và Collier J (1925) [37] đã khẳng định không có sự khác

biệt về tính nhạy cảm với H meleagridis của gà tây từ 7 đến 20 tuần tuổi khi thí nghiệm cho ăn H gallinarum hoặc qua lỗ huyệt với H meleagridis

Bệnh đầu đen ở gia cầm, những gia cầm nhỏ thường mắc bệnh nghiêm trọng hơn những gia cầm trưởng thành Theo Gibbs B.J (1962) [16], không bao giờ tìm thấy bệnh đầu đen ở đàn gà trên 6 tuần tuổi Lund và Chute (1973) [29] đã nghiên cứu đưa các tổn thương ở manh tràng và gan qua lỗ huyệt cho gà con Tỉ lệ tử vong cao nhất ở nhóm gây nhiễm tại 21 ngày tuổi và thấp nhất ở 34 ngày tuổi

Kemp R L và J C Franson (1975) [29] cũng tiến hành thí nghiệm

cho gà ăn trứng H gallinarum và nhận thấy rằng những gà ở 32 ngày tuổi

dễ nhiễm bệnh hơn gà ở 46 hoặc 64 ngày tuổi Khi đưa qua lỗ huyệt của gà

Trang 27

đơn bào H meleagridis tác giả nhận thấy, những gia cầm từ 3 - 4 tuần tuổi

nhạy cảm nhất với đơn bào này

Kết quả gây nhiễm Histomonosis qua trực tràng cho gà ở các lứa tuổi

khác nhau của Hu J và cs (2004) [23] một lần nữa chỉ ra được mối quan hệ

giữa tuổi gia cầm với khả năng nhiễm Histomonosis Theo tác giả, gà tuổi càng cao sức đề kháng với Histomonosis càng lớn, trong đó gà ở 3 - 4 tuần

* Điều kiện vệ sinh thú y

Điều kiện vệ sinh thú y đối với chuồng trại và khu vực xung quanh chuồng trại, dụng cụ và môi trường chăn nuôi là một trong những yếu tố có

ảnh hưởng lớn tới khả năng nhiễm Histomonosis của gà Điều này có liên

quan mật thiết với sự tồn tại và phát triển của giun kim - môi giới trung gian truyền bệnh Theo Tyzzer E E và Collier J (1925) [37], bệnh đầu đen xảy ra chủ yếu trên những đàn gà nuôi thả vườn, nơi mà gà thường xuyên tiếp xúc với môi trường đất

* Yếu tố stress

Các yếu tố strees như chuồng trại chật chội, khí hậu nóng ẩm, thức ăn kém

dinh dưỡng đóng vai trò thúc đẩy mức độ và tốc độ lây lan Histomonosis ở gà 2.1.2.4 Cơ chế sinh bệnh

Khi gà bị nhiễm bệnh qua miệng hoặc qua lỗ huyệt với, tác nhân gây bệnh xâm nhập vào manh tràng và thâm nhập vào niêm mạc ruột Tại

đây, bằng sinh sản trực phân, đơn bào H meleagidis nhân lên rất nhanh

Số lượng đơn bào lớn tác động vào niêm mạc manh tràng làm cho niêm

Trang 28

mạc dày dần lên, sau đó dẫn đến hiện tượng viêm, loét, hoại tử Màng nhày

và dịch viêm đọng lại trong lòng manh tràng hình thành những cục rắn

màu trắng như phomat Từ manh tràng, H meleagidis xuyên qua niêm

mạc, thâm nhập vào mạch máu dưới niêm mạc, theo dòng máu xâm nhập

vào gan H meleagridis ký sinh ở gan và gây hoại tử gan Những ổ hoại tử

có màu vàng nhạt, ban đầu nhỏ, đường kính khoảng 0,5 cm, sau đó các ổ hoại tử mở rộng và sâu trên khắp bề mặt gan Từ gan, đơn bào này sẽ lây lan đi khắp cơ thể Do đó, ngoài gan và manh tràng người ta còn tìm thấy

H meleagridis trong dạ dày tuyến, tá tràng, ruột già, tuyến tụy, túi Fabricius, thận, lá lách, tim, phổi, tuyến ức, não, tủy xương Tuy nhiên, H meleagridis

không gây tổn thương ở các cơ quan này

Lê văn Năm và cs (2010) [4] cũng cho rằng: Qua đường miệng đơn

bào H meleagridis nhanh chóng được giải phóng ra khỏi trứng giun kim

và bám vào thành dạ dày, ruột, nhất là đoạn ruột mù (ruột thừa) Tại đây chúng bắt đầu sinh sản theo phương thức tự nhân đôi để hình thành ra các thể phân lập… chỉ trong một thời gian ngắn có hàng triệu tế bào niêm mạc

dạ dày và ruột thừa bị phá hủy gây ra các ổ viêm loét hoại tử, rồi ngay sau

đó là viêm phúc mạc cấp

Tuy nhiên, trong thực tế rất ít các trường hợp quan sát được biến đổi ở dạ

dày tuyến và dạ dày cơ Từ các ổ loét của thành ruột thừa H meleagridis đi

theo đường huyết đến kí sinh trong các tế bào gan, tại đây chúng gây ra các ổ viêm xuất huyết hoại tử và phá hủy cấu trúc cũng như chức năng gan làm cho thể trọng gà nhanh chóng giảm sút Các ổ viêm loét của ruột thừa

và của gan đã tạo điều kiện hết sức thuận lợi cho nhiều loại vi khuẩn gây bệnh nhiễm trùng thứ phát khác, khiến cho gà kiệt sức và chết nhanh chóng

2.1.2.5 Triệu chứng và bệnh tích bệnh đầu đen

* Triệu chứng

Gia cầm khoảng 3 - 12 tuần tuổi tỷ lệ và cường độ nhiễm H meleagridis

cao, có triệu chứng điển hình và tỷ lệ chết lên tới 70 - 90% Những dấu hiệu lâm sàng phát triển từ 12 - 15 ngày sau khi nhiễm bệnh và tử vong sau 15 - 21 ngày Gia cầm mắc bệnh đột nhiên thấy sốt cao 43 - 440C, đứng ủ

rũ, hai mắt nhắm nghiền, ăn ít hoặc bỏ ăn, uống nước nhiều, gà lông xù, vùng

Trang 29

hậu môn lông bết và bẩn do bị tiêu chảy, phân màu lưu huỳnh (Mc Dougald

và cs (2008) [33]) Sung huyết, phù nề, bạch cầu đa nhân trung tính tăng ở giai đoạn đầu của gà bệnh, các tế bào đa nhân khổng lồ tăng lên với số lượng rất lớn Farmer và cs (1951) [14] cho biết: Gà mắc bệnh trong phân có lẫn những mảnh của niêm mạc manh tràng, ông cho rằng gà tiêu chảy, phân màu vàng lưu huỳnh và trong phân có những mảnh tổ chức của niêm mạc manh tràng là dấu hiệu phổ biến nhất Triệu chứng tiêu chảy phân màu lưu huỳnh xảy ra trong giai đoạn cuối của bệnh, khi chức năng gan bị suy yếu Gia cầm

sã cánh, đứng run rẩy, dấu đầu vào dưới cánh

Gia cầm lớn triệu chứng không điển hình, bệnh thường kéo dài, gà gầy dần rồi chết Giai đoạn cuối quan sát thấy gia cầm mào thâm tím, da mép và

da vùng đầu xanh xám, thậm chí xanh đen Bệnh thường kéo dài khoảng 10 -

20 ngày Trước khi chết thân nhiệt gà giảm xuống tới 39 - 380C Gà bệnh thường chết về ban đêm, mức độ chết không ồ ạt nhưng hiện tượng gà chết kéo dài lê thê, gây cho người chăn nuôi cảm giác bệnh không nguy hiểm Thực chất cuối cùng gà chết 85 - 95%

Lê Văn Năm (2010) [4] khi nghiên cứu về bệnh đầu đen đã mô tả triệu chứng bệnh như sau: Thời kỳ ủ bệnh thường kéo dài từ 1 - 4 tuần và phụ thuộc rất nhiều vào nhiễm trùng thứ phát Bệnh thể hiện ở 2 thể cấp tính và mãn tính, rất ít khi bệnh xảy ra ở thể quá cấp

- Thể quá cấp và cấp tính: Các triệu chứng lâm sàng của bệnh ở thể này thể hiện rất dữ dội Bệnh xảy ra hết sức đột ngột, gà đột nhiên ủ rũ và rúc đầu vào dưới cánh, đứng dang rộng chân, sã cánh, lông xù, bỏ ăn, sốt cao 43 -

440C, tiêu chảy phân vàng lẫn bọt, sau vài ngày ỉa ra máu hoặc phân lẫn máu rất giống bệnh Cầu trùng Sau đó vài ngày gà ỉa ra các thỏi phân màu nâu đỏ hoặc loãng trắng lờ mờ như nước vo gạo đặc Da mép, da vùng đầu, mào, tích nhanh chóng có màu xám xanh rồi chuyển sang xanh đen, nhìn thấy rõ nhất là

ở gà tây Gần cuối giai đoạn ốm thân nhiệt gà giảm mạnh xuống dưới mức bình thường (39 - 380C) nên gà cảm thấy rất rét Vì vậy cho dù bệnh xảy ra trong các tháng mùa nóng, nhưng những gà ốm vẫn tìm những nơi có ánh nắng mặt trời hoặc ló sưởi để sưởi ấm, mắt nhắm nghiền, đứng yên không

cử động, đầu rúc vào nách cánh Bệnh kéo dài 10 - 20 ngày nên gà rất gầy,

Trang 30

chúng liên tục run rẩy hoặc co dật rồi chết do suy nhược cơ thể Tỷ lệ chết rất cao 80 - 95% (nếu không được điều trị kịp thời)

- Thể mãn tính: Thể mãn tính thường thấy ở gà ta, gà tây lớn tuổi với sự xuất hiện các triệu chứng đặc trưng như đã mô tả ở phần thể cấp tính, nhưng cường độ biểu hiện yếu vì thế chúng ta có thể quan sát thấy thể trạng đàn gà lúc tốt, lúc xấu Bệnh kéo dài 2 - 3 tuần và kết thúc gà bị chết vì suy nhược, tự nhiễm độc hoặc chết do bệnh kế phát

* Bệnh tích

Bệnh tích tập trung chủ yếu ở gan và manh tràng

Qua gây nhiễm Kemp R L và Springer W T (1978) [26] đã xác định được tổn thương đầu tiên trong manh trành từ ngày thứ 8 sau khi nhiễm Manh tràng bị viêm sưng, thành manh tràng dày lên gấp nhiều lần Sau đó trong dịch tiết có hồng cầu, bạch cầu, ký sinh trùng và chất dịch từ thức ăn tích lại tạo thành kén rắn chắc, màu trắng giống như pho mát Đôi khi còn thấy manh tràng bị viêm loét, thủng, rò rỉ chất chứa gây viêm phúc mạc

Tổn thương gan thường bắt đầu vào ngày thứ 10 Gan sưng to gấp 2 - 3 lần, viêm xuất huyết, hoại tử Lúc đầu trên bề mặt gan có các đốm đỏ thẫm làm cho gan lỗ chỗ như đá hoa cương, sau đó biến thành ổ hoại tử màu trắng hình hoa cúc như ổ lao hoặc như khối u của bệnh marek

Các tổn thương ở các cơ quan khác như túi fabricius, phổi, lá lách, tuyến tụy, thận, dạ dày tuyến và màng treo ruột đôi khi có thể xảy ra dưới dạng các ổ hoại tử tròn, màu trắng hoặc màu vàng

Mổ khám gà mắc bệnh quan sát thấy manh tràng bị lấp đầy bởi các vật chất khô, cứng của protein huyết thanh và các mảnh vỡ tế bào Bề mặt màng thanh dịch của manh tràng có các ổ viêm loét, những ổ viêm này lan xuống làm viêm màng phúc mạc Gan của gia cầm bị mắc bệnh sưng, phù nề, thoái hóa, và hoại tử tế bào Mạch máu và các xoang bị tắc nghẽn Trong các ổ hoại

tử, thấy xuất hiện các tế bào lympho, các đại thực bào và các tế bào khổng lồ,

sau này thường chứa đơn bào H meleagridis (Smith, 1915 ; Tyzzer, 1920) [36]

Trên bề mặt gan bị tổn thương nặng, các mô hoại tử và thoái hóa có hình đĩa, có màu vàng đến xanh vàng

Trang 31

Van der Heijden H (2009) [40], nghiên cứu ảnh hưởng của Histomonas

trên các tế bào máu, ông nhận thấy rằng số lượng bạch cầu trong máu tăng ngay sau khi mắc bệnh một ngày và đạt tối đa 70.000/ mm3 ngay sau khi nhiễm Tế bào lymho và hồng cầu không thay đổi Tổng số lượng các tế bào trở về mức bình thường 21 ngày sau khi nhiễm bệnh

McDougald và cs (1970) [30] xác định tác động của Histomoniasis

trên nhiều enzym huyết tương ở gà và gà tây Hàm lượng glutamicoxalacetic transaminase (GOT) và lactic dehydrogenase (LDH) tăng đáng kể và bền vững trong 9 - 12 ngày sau khi gà nhiễm bệnh GOT hoạt động tăng lên khi gà mắc bệnh sau 9 ngày có tổn thương gan, và ở dưới mức bình thường khi gà mắc bệnh có tổn thương manh tràng nhưng không có tổn thương gan

Khi gà tây bị bệnh nồng độ albumin giảm và γ - globulin tăng đáng kể trong thời gian nhiễm Sự sụt giảm albumin là do tình trạng viêm cấp tính của niêm mạc manh tràng cùng với sự xuất hiện một lượng lớn huyết thanh protein trong lòng manh tràng, sự gia tăng γ - globulin xuất hiện liên quan đến đáp ứng miễn dịch

2.1.2.6 Chẩn đoán

* Với gà còn sống

- Chẩn đoán lâm sàng: Hiện nay, ở các cơ sở chăn nuôi, việc chẩn đoán đối với gà còn sống chủ yếu dựa vào các triệu chứng của bệnh (xù lông, đứng nhắm mắt, ăn ít, lười vận động, thường đứng dấu đầu dưới cánh, da vùng đầu xạm màu, đi ỉa phân màu vàng lưu huỳnh…) Trong đó, triệu chứng điển hình nhất là gà đi ỉa phân màu vàng lưu huỳnh, da vùng đầu xanh xám, thậm chí xanh đen (Mc Dougald, 2008) [33]

- Chẩn đoán xét nghiệm: Lấy phân màu lưu huỳnh của gà ốm, làm xét nghiệm, nếu quan sát dưới kính hiển vi tìm thấy trứng của giun kim sẽ giúp cho việc chẩn đoán dễ dàng hơn

* Với gà đã chết

Phương pháp chẩn đoán sau khi gia cầm chết là phương pháp chính xác nhất Việc chẩn đoán được tiến hành qua phương pháp mổ khám, kiểm tra bệnh tích kết hợp với việc lấy các cơ quan nội tạng như gan, manh tràng để

tìm đơn bào H meleagridis ký sinh

Trang 32

Tiến hành mổ khám gà chết do Histomonosis, quan sát thấy ở gan và

manh tràng bị tổn thương nặng, bệnh tích điển hình của bệnh là: gan to gấp 2 -

3 lần, bề mặt gan có những ổ hoại tử lỗ chỗ như đá vân cương, hoặc ổ hoại tử hình hoa cúc màu trắng hoặc vàng nhạt

Lấy bệnh phẩm manh tràng và gan của gà vừa mới chết, kiểm tra dưới

kính hiển vi có thể quan sát thấy đơn bào H meleagridis Trong điều kiện nhiệt

độ ấm, đơn bào vẫn hoạt động và điều này giúp việc chẩn đoán dễ dàng hơn

Dưới kính hiển vi quan sát thấy H meleagridis di chuyển không theo một hướng

cố định, roi chuyển động xoay ngược chiều kim đồng hồ giúp việc xác định dễ

dàng hơn (McDougald, 2008) [33]

Kiểm tra mô bệnh học giúp cho việc chẩn đoán chính xác hơn Đặc biệt

là phần mô của gan và manh tràng Phương pháp nhuộm tiêu bản mô bệnh phẩm thường được áp dụng là nhuộm Hematoxilin-eosin và nhuộm PAS (McDougald, 2008 [33])

Đơn bào từ nguyên liệu tươi (manh tràng gà bệnh) có thể được nuôi và nhân lên trong môi trường Dwyer cổ điển (van der Heijden, 2009 [40]), giúp

cho việc quan sát H meleagridis dễ dàng hơn dưới kính hiển vi

Chẩn đoán bằng phản ứng PCR (phản ứng chuỗi polymerase) cho kết quả nhanh chóng và chính xác Với phản ứng PCR, người ta có thể chứng

minh ADN của H meleagridis trong phân hoặc ruột PCR cũng giúp tìm ra ADN của ký sinh trùng H meleagridis trong các cơ quan khác như trong não,

hoặc tuyến ức,… nơi mà các phương pháp thông thường không thể chẩn đoán được sự có mặt ký sinh trùng này

* Chẩn đoán phân biệt với một số bệnh khác

Bệnh do H meleagridis cần phải chẩn đoán phân biệt với các bệnh sau:

đông thậm chí máu tươi, trong khi đó chất chứa do đơn bào H meleagridis

gây ra giai đoạn giữa của bệnh cũng rất giống bệnh cầu trùng: chất chứa có

Trang 33

màu nâu, đỏ lẫn máu, nhớt như máu cá Giai đoạn sau đó các chất chứa này tạo thành kén đông đặc, gạt lớp phủ niêm mạc ruột thừa ta thấy niêm mạc ruột thừa bị viêm hoại tử rất nặng, thành ruột thừa dày lên và rắn chắc, lỗ ruột thừa

bé và hẹp lại rất nhiều so với bình thường

- Bệnh do Trichomonas

Các triệu chứng và các biến đổi bệnh lý do Trichomonas gây ra trong

một số trường hợp cũng rất giống với bệnh đầu đen Chỉ khác là bệnh do

Trichomonas gây ra ngoài các biến đổi ở ruột thừa, luôn kèm theo các biến

đổi ở 1/3 cuối ruột non Các biến đổi ổ viêm hoại tử trên bề mặt gan có kích thước nhỏ hơn và lồi lên khỏi bề mặt gan giống như các ổ lao gà Trong khi

đó các ổ viêm loét hoại tử ở bệnh đầu đen lại bị lõm trũng ở giữa (tâm của ổ viêm loét do bệnh đầu đen bị lõm xuống)

- Bệnh lao gà

Các ổ lao (viêm loét hoại tử) quan sát được không chỉ ở gan mà còn thấy ở lách, ruột và tủy xương Bệnh lao gà chỉ quan sát thấy ở gà ta, gà tây lớn tuổi, nhưng không thấy ở gà con gà dò Ở bệnh lao gà không có các biến đổi tạo kén ở ruột thừa như ở bệnh đầu đen

2.1.2.7 Phòng, trị bệnh đầu đen cho gà

* Phòng bệnh

- Để phòng bệnh Histomonosis, trước hết không được nuôi chung gà tây với

gà ta

- Phải chú ý đến mật độ và các thông số nhiệt độ, độ ẩm, khí độc chuồng

- Không nuôi nhiều lứa gà trong cùng một cơ sở chăn nuôi

- Hằng ngày phải quan sát vùng da đầu mép, mào và tích… để kịp thời phát hiện và điều trị ngay khi chưa phát thành dịch

- Thường xuyên quét dọn, vệ sinh khu vực chăn nuôi

- Chia khu vực chăn nuôi thành nhiều ô, thực hiện nuôi luân phiên gà trên các ô, tiến hành làm sạch, khử trùng tiêu độc ô chuồng vừa nuôi, để trống chuồng

một thời gian dài giúp phòng bệnh Histomonosis có hiệu quả

- Thức ăn và nước uống phải được vệ sinh sạch sẽ, thiết kế vị trí để sao cho không lây nhiễm phân vào thức ăn, nước uống của gà

Trang 34

- Từ 20 ngày tuổi trở lên hàng tuần trong nước uống cần bổ sung CuSO4hoặc mỗi tuần 1 lần cho uống KMnO4 pha với tỷ lệ (một phần vạn) tức một gam thuốc tím pha với 10 lít nước cho uống trong vòng 1 - 2 h/ngày/đợt

- Không thả gà ra vườn vào những ngày mưa gió

- H meleagridis có thể tồn tại 2 - 3 năm trong trứng của giun kim, gà ăn phải trứng giun kim có chứa H meleagridis sẽ bị bệnh, do đó cần hạn chế cho

gà tiếp xúc với đất, nên nuôi gà trên nền bê tông

- Hàng tuần cần phun thuốc khử trùng chuồng trại, cuốc xới vườn rồi rắc vôi bột để diệt trứng giun kim (McDougald, 2008 [33])

và có thể gây ung thư

Nitarsone, một hợp chất chứa asen, có hiệu quả trong ngăn ngừa bệnh đầu đen khi sử dụng liên tục trong thức ăn, nhưng đây là một loại thuốc đắt tiền

Hiện tại chưa có loại hóa dược nào điều trị đầu đen có hiệu quả cao Tại Việt Nam, công ty thuốc thú y Năm Thái đưa ra phác đồ điều trị bệnh đầu đen cho gà như sau:

Cách 1:

- Bước 1: Tiêm bắp T.Avibrasin 1 ml/5 kg gà 1 lần/ngày, tiêm 2 - 3 ngày

- Bước 2: Cho uống

T cúm gia súc: 1,5 - 2 g, T coryzin: 1,5 - 2 g, Super Vitamin 2 g Cả 3 loại trên pha vào 1 lít nước, cho gà uống liên tục 3 - 4 ngày đêm

Cách 2:

- Bước 1: Tiêm bắp Macavet 1 ml/ 6 - 8 kg TT/1 lần Sau 48 giờ tiêm mũi thứ 2

- Bước 2: Cho uống

T cúm gia súc: 1,5 - 2 g, T coryzin: 1,5 - 2 g, T.Flox - C 1,5 g, Docyvit Thái Cả 4 loại trên pha vào 1 lit nước, cho gà uống liên tục 3 - 4 ngày đêm

Trang 35

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Gà nuôi tại tỉnh Thái Nguyên

- Gà mắc bệnh đầu đen (Histomoniasis) do gây nhiễm

3.1.2 Vật liệu nghiên cứu

- Gà các lứa tuổi, ở các phương thức nuôi khác nhau

- Mẫu bệnh phẩm (gan, manh tràng) của gà bị mắc bệnh đầu đen và

- Thuốc điều trị bệnh đầu đen

* Dụng cụ dùng trong nghiên cứu:

Trang 36

3.2 Địa điểm, thời gian nghiên cứu

3.2.1 Địa điểm nghiên cứu

- Địa điểm lấy mẫu: các nông hộ, các trại chăn nuôi gà gia đình và tập thể với các quy mô khác nhau trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên

- Địa điểm xét nghiệm mẫu:

Phòng thí nghiệm Khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Phòng thí nghiệm Khoa Kỹ thuật Nông Lâm - Trường Cao đẳng Kinh

tế - Kỹ thuật Thái Nguyên

Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên

3.2.2 Thời gian nghiên cứu

Từ 03/06/2013 đến 18/11/2013

3.3 Nội dung nghiên cứu

3.3.1 Nghiên cứu bệnh đầu đen do đơn bào H meleagridis gây ra

3.3.1.1 Nghiên cứu bệnh đầu đen do đơn bào H meleagridis gây ra ở gà nuôi tại tỉnh Thái Nguyên

- Triệu chứng lâm sàng của gà bị bệnh đầu đen do đơn bào H meleagridis

gây ra

- Bệnh tích của gà bị bệnh đầu đen do đơn bào H meleagridis gây ra

ở các địa phương

3.3.1.2 Nghiên cứu bệnh đầu đen ở gà gây nhiễm

- Thời gian xuất hiện triệu chứng lâm sàng của gà gây nhiễm

- Triệu chứng ở gà bị bệnh đầu đen do gây nhiễm

- Thời gian chết của gà sau gây nhiễm

- Bệnh tích đại thể ở gà bị bệnh đầu đen do gây nhiễm

- Bệnh tích vi thể ở manh tràng và gan của gà bị bệnh do gây nhiễm

3.3.2 Xác định hiệu lực của một số phác đồ điều trị bệnh đầu đen

3.3.2.1 Hiệu lực của phác đồ điều trị trên diện hẹp

3.3.2.2 Hiệu lực của phác đồ điều trị trên diện rộng

3.4 Phương pháp nghiên cứu

Trang 37

3.4.1 Nghiên cứu bệnh đầu đen ở gà tại Thái Nguyên

* Phương pháp xác định triệu chứng lâm sàng và bệnh tích đại thể của

Ghi lại các biểu hiện lâm sàng, các thông tin của gà mổ khám vào nhật ký thí nghiệm

- Xác định bệnh tích đại thể:

Mổ khám gà theo phương pháp mổ khám toàn diện của Skrjabin K I (1928), quan sát bằng mắt thường và kính lúp các nội quan như thận, lách, tim, phổi, đặc biệt là gan và manh tràng để xác định những biến đổi đại thể, chụp ảnh vùng có bệnh tích điển hình

3.4.2 Phương pháp nghiên cứu bệnh đầu đen do H meleagridis gây nhiễm trên gà

3.4.2.1 Gây nhiễm bệnh đầu đen do đơn bào H meleagridis cho gà thí nghiệm

* Vật liệu gây nhiễm bệnh đầu đen cho gà thí nghiệm gồm:

- Gan và manh tràng của gà có bệnh tích điển hình của bệnh đầu đen

* Phương pháp gây nhiễm:

Bước 1: Dùng kéo nhọn, sắc vô trùng cắt gan và manh tràng của gà có

bệnh tích điển hình Nghiền nhỏ bằng máy xay đa năng, cho toàn bộ huyễn

dịch vào cốc thủy tinh

Bước 2: Sử dụng xilanh 1 ml vô trùng, hút huyễn dịch đã xay nhuyễn

để gây nhiễm cho gà

Bước 3: Gây nhiễm H meleagridis cho gà thí nghiệm:

Kích thích cho gà thải phân Sau đó, dùng xilanh 1 ml vô trùng, hút huyễn dịch và lần lượt gây nhiễm cho các lô gà thí nghiệm bằng đường miệng

và hậu môn ở các liều 1 ml, 2 ml, 3 ml Cho gà nhịn ăn, nhịn uống trong 5 h sau gây nhiễm

Trang 38

3.4.2.2 Bố trí thí nghiệm gây nhiễm

Bố trí 2 đợt gây nhiễm bệnh đầu đen cho gà thí nghiệm theo sơ đồ sau:

Đợt gây

nhiễm

Gà thí nghiệm

Số gà đối chứng (con)

Tuổi gà (tuần) Giống gà

Liều gây nhiễm

(ml/gà)

Đường gây nhiễm

Số gà (con)

* Mục đích của các đợt gây nhiễm:

- Xác định thời gian xuất hiện triệu chứng

- Xác định thời gian chết của gà gây nhiễm

- Triệu chứng của gà bị bệnh đầu đen do gây nhiễm

- Mổ khám gà chết và những gà còn sống sau 45 ngày gây nhiễm để:

+ Kiểm tra bệnh tích đại thể + Kiểm tra bệnh tích vi thể

3.4.2.3 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm bệnh lý, lâm sàng của gà bị bệnh

đầu đen do gây nhiễm

* Phương pháp theo dõi triệu chứng lâm sàng

- Phương pháp theo dõi triệu chứng lâm sàng: Hàng ngày quan sát và ghi lại những biểu hiện của gà thí nghiệm: Thể trạng, mào, tích, niêm mạc, phân, ăn uống, vận động

Ngày đăng: 27/04/2016, 23:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Văn Khuê, Phan Lục (1996), Ký sinh trùng thú y, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 130 - 133 + 138 - 140 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ký sinh trùng thú y
Tác giả: Phạm Văn Khuê, Phan Lục
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1996
2. Phạm Sỹ Lăng, Tô Long Thành (2006), Bệnh đơn bào k ý sinh ở vật nuôi, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 92 - 95 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm Sỹ Lăng, Tô Long Thành (2006), "Bệnh đơn bào k ý sinh ở vật nuôi
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Tô Long Thành
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2006
3. Nguyễn Hữu Nam, Lê Văn Năm, Nguyễn Vũ Sơn (2013), “Một số đặc điểm bệnh l ý chủ yếu bệnh do Histomonas meleagridis gây ra ở gà thả vườn”, Khoa học kỹ thuật thú y tập XX, số 2- 2013, tr. 42 - 47 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm bệnh l ý chủ yếu bệnh do "Histomonas meleagridis" gây ra ở gà thả vườn”", Khoa học kỹ thuật thú y tập XX
Tác giả: Nguyễn Hữu Nam, Lê Văn Năm, Nguyễn Vũ Sơn
Năm: 2013
5. Nguyễn Văn Thiện (2008), Thống kê sinh vật học ứng dụng trong chăn nuôi, Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thống kê sinh vật học ứng dụng trong chăn nuôi
Tác giả: Nguyễn Văn Thiện
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 2008
6. Trịnh Văn Thịnh (1963), Ký sinh trùng thú y, Nxb Nông thôn, Hà Nội, tr. 192 - 267.II. Tài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ký sinh trùng thú y
Tác giả: Trịnh Văn Thịnh
Nhà XB: Nxb Nông thôn
Năm: 1963
7. Armstrong PL, McDougald LR (2011), The infection of turkeys with Histomonas meleagridis caused by exposure to infected poultry or contaminated cages, SourceDepartment Poultry Science, University of Georgia, Athens, GA 30602, USA Sách, tạp chí
Tiêu đề: Armstrong PL, McDougald LR (2011), "The infection of turkeys with Histomonas meleagridis caused by exposure to infected poultry or contaminated cages
Tác giả: Armstrong PL, McDougald LR
Năm: 2011
8. Bishop, A (1938), Histomonas meleagridis in domestic fowls (Gallus gallus). Cultivation and experimental infection. Parasitol. 30:181 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Histomonas meleagridis in domestic fowls (Gallus gallus). Cultivation and experimental infection
Tác giả: Bishop, A
Năm: 1938
9. Cepicka I., Hamp V. và Kulda J. (2010), Critical Taxonomic Revision of Parabasalids with Description of one new Genus and three new Species, Protist, 161, 400 - 433 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Critical Taxonomic Revision of Parabasalids with Description of one new Genus and three new Species
Tác giả: Cepicka I., Hamp V. và Kulda J
Năm: 2010
10. Cushman S. (1894), A study of the diseases of turkeys, In Sixth Annual Report of the Rhode Island Agricultural Experiment Station 1893, pp.286-288 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A study of the diseases of turkeys
11. Curtice C. (1907), The rearing and management of turkeys with specireference to the blackhead disease, R. I. Agri. Exp. Sta. Bull, 123, 1-64 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The rearing and management of turkeys with specireference to the blackhead disease
Tác giả: Curtice C
Năm: 1907
12. DeVolt, H. M (1943), A new medium for the cultivation of Histomonas meleagridis. J. Parasitol, pp. 29, 353 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A new medium for the cultivation of Histomonas meleagridis
Tác giả: DeVolt, H. M
Năm: 1943
13. Drbohlav, J. J (1924), The cultivation of the protozoon of blackhead. Journal of Medical, pp. 44, 411 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The cultivation of the protozoon of blackhead. "Journal of Medical
Tác giả: Drbohlav, J. J
Năm: 1924
14. Farmer, R. K. và J. Stephenson (1949), Infectious enterohepatitis (blackhead) in turkeys: Acomparative study of methods of infection. J.Comp. Path. Therap, pp. 59,119-127 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Infectiou"s "enterohepatitis (blackhead) in turkeys: Acomparative study of methods of infection
Tác giả: Farmer, R. K. và J. Stephenson
Năm: 1949
15. Farr, M (1959), Survival of Histomonas meleagridis and eggs of five species of turkey nematodes outdoors in soil. J. Parasitol. pp. 45, 41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Survival of Histomonas meleagridis and eggs of five species of turkey nematodes outdoors in soil
Tác giả: Farr, M
Năm: 1959
16. Gibbs, B. J (1962), The occurrence of the protozoan parasite Histomonas meleagridis in the adults and eggs of the cecal worm Heterakis gallinae.J. Protozool. pp. 9, 288-293 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The occurrence of the protozoan parasite Histomonas meleagridis in the adults and eggs of the cecal worm Heterakis gallinae
Tác giả: Gibbs, B. J
Năm: 1962
17. Graybill, H. W. và T. Smith (1920), Production of fatal blackhead in turkeys by feeding embryonated eggs of Heterakis papillosa. J. Exp. Med.pp. 31, 647-655 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Production of fatal blackhead in turkeys by feeding embryonated eggs of Heterakis papillosa
Tác giả: Graybill, H. W. và T. Smith
Năm: 1920
18. Hauck R., Lüschow D. và Hafez H.M (2006), Detection of Histomonas meleagridis DNA in different organs after natural and experimental infections of meat turkeys. Avian Dis, 50, 35-38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Detection of Histomonas meleagridis DNA in different organs after natural and experimental infections of meat turkeys
Tác giả: Hauck R., Lüschow D. và Hafez H.M
Năm: 2006
19. Hauck et al (2010), Direct transmission of Histomonas meleagridis from bird to bird in a laboratory model, SourceDepartment Poultry Science, USA, pp. 602 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Direct transmission of Histomonas meleagridis from bird to bird in a laboratory model
Tác giả: Hauck et al
Năm: 2010
22. Horton-Smith G. và Long P. L. (1955, 1956), The infection of chickens (Gallusgallus) with suspension of the blackhead organism Histomonas meleagridis, Vet. Rec, 67 - 478 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The infection of chickens (Gallusgallus) with suspension of the blackhead organism Histomonas meleagridis
23. Hu J., Fuller L. & McDougald L.R. (2004), Infection of turkeys with histomonas meliagridis by the cloacal drop method. Avian Diseases, 48, 746 - 750 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Infection of turkeys with histomonas meliagridis by the cloacal drop method." Avian Diseases", 48
Tác giả: Hu J., Fuller L. & McDougald L.R
Năm: 2004

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.1. Tỷ lệ nhiễm H. meleagridis ở gà tại một số huyện của - Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý, lâm sàng của gà mắc bệnh đầu đen tại thái nguyên và so sánh hiệu lực của 2 phác đồ điều trị
Bảng 4.1. Tỷ lệ nhiễm H. meleagridis ở gà tại một số huyện của (Trang 41)
Hình 4.1 minh họa thêm cho những kết quả mà chúng tôi đã trình bày ở  bảng 4.1. - Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý, lâm sàng của gà mắc bệnh đầu đen tại thái nguyên và so sánh hiệu lực của 2 phác đồ điều trị
Hình 4.1 minh họa thêm cho những kết quả mà chúng tôi đã trình bày ở bảng 4.1 (Trang 43)
Bảng 4.2. Tỷ lệ và các triệu chứng lâm sàng của gà bị bệnh đầu đen - Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý, lâm sàng của gà mắc bệnh đầu đen tại thái nguyên và so sánh hiệu lực của 2 phác đồ điều trị
Bảng 4.2. Tỷ lệ và các triệu chứng lâm sàng của gà bị bệnh đầu đen (Trang 44)
Bảng 4.3. Bệnh tích đại thể của gà bị bệnh đầu đen ở Thái Nguyên - Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý, lâm sàng của gà mắc bệnh đầu đen tại thái nguyên và so sánh hiệu lực của 2 phác đồ điều trị
Bảng 4.3. Bệnh tích đại thể của gà bị bệnh đầu đen ở Thái Nguyên (Trang 46)
Bảng 4.4. Kết quả gây nhiễm bệnh đầu đen cho gà - Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý, lâm sàng của gà mắc bệnh đầu đen tại thái nguyên và so sánh hiệu lực của 2 phác đồ điều trị
Bảng 4.4. Kết quả gây nhiễm bệnh đầu đen cho gà (Trang 49)
Bảng 4.5. Thời gian gà xuất hiện triệu chứng lâm sàng sau gây nhiễm - Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý, lâm sàng của gà mắc bệnh đầu đen tại thái nguyên và so sánh hiệu lực của 2 phác đồ điều trị
Bảng 4.5. Thời gian gà xuất hiện triệu chứng lâm sàng sau gây nhiễm (Trang 52)
Bảng 4.7. Kết quả theo dõi gà chết sau gây nhiễm - Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý, lâm sàng của gà mắc bệnh đầu đen tại thái nguyên và so sánh hiệu lực của 2 phác đồ điều trị
Bảng 4.7. Kết quả theo dõi gà chết sau gây nhiễm (Trang 60)
Bảng 4.8. Bệnh tích đại thể của gà sau gây nhiễm - Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý, lâm sàng của gà mắc bệnh đầu đen tại thái nguyên và so sánh hiệu lực của 2 phác đồ điều trị
Bảng 4.8. Bệnh tích đại thể của gà sau gây nhiễm (Trang 63)
Bảng 4.9. Bệnh tích vi thể của gà sau gây nhiễm  Chỉ tiêu mẫu  Số mẫu kiểm tra  Số mẫu có bệnh tích  Tỷ lệ (%) - Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý, lâm sàng của gà mắc bệnh đầu đen tại thái nguyên và so sánh hiệu lực của 2 phác đồ điều trị
Bảng 4.9. Bệnh tích vi thể của gà sau gây nhiễm Chỉ tiêu mẫu Số mẫu kiểm tra Số mẫu có bệnh tích Tỷ lệ (%) (Trang 64)
Bảng 4.10. Hiệu lực của thuốc trị bệnh đầu đen cho gà trên diện hẹp - Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý, lâm sàng của gà mắc bệnh đầu đen tại thái nguyên và so sánh hiệu lực của 2 phác đồ điều trị
Bảng 4.10. Hiệu lực của thuốc trị bệnh đầu đen cho gà trên diện hẹp (Trang 66)
Bảng 4.11. Hiệu lực của thuốc trị bệnh đầu đen cho gà trên diện rộng - Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý, lâm sàng của gà mắc bệnh đầu đen tại thái nguyên và so sánh hiệu lực của 2 phác đồ điều trị
Bảng 4.11. Hiệu lực của thuốc trị bệnh đầu đen cho gà trên diện rộng (Trang 68)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w