1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh do giun tròn trichocephalus spp gây ra trên lợn tại thị xã sông công, tỉnh thái nguyên và biện pháp điều trị

63 332 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 3,88 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Được sự đồng ý của ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y, cô giáo hướng dẫn và sự nhất trí của chi cục Thú y thị xã Sông Công, tỉnh Thái Nguyên, em thực

Trang 1

-o0o -

nguyễn thị ngân

Tờn đề tài:

“Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh do giun tròn

trichocephalus spp gây ra trên lợn tại thị xã Sông Công

tỉnh Thái Nguyên và biện pháp phòng trị”

khóa luận tốt nghiệp đại học

Trang 2

“Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh do giun tròn

trichocephalus spp gây ra trên lợn tại thị xã Sông Công

tỉnh Thái Nguyên và biện pháp phòng trị”

khóa luận tốt nghiệp đại học

Chuyờn ngành : Thỳ y

Khoa : Chăn nuụi Thỳ y Khoỏ học : 2009 - 2013 Giảng viờn hướng dẫn : TS Nguyễn Thị Ngõn

Thỏi Nguyờn, năm 2013

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Được sự đồng ý của ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y, cô giáo hướng dẫn và sự nhất trí của chi cục Thú y thị xã

Sông Công, tỉnh Thái Nguyên, em thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm

bệnh lý và lâm sàng bệnh do giun tròn Trichocephalus spp gây ra trên lợn tại thị xã Sông Công, tỉnh Thái Nguyên và biện pháp điều trị”

Trong quá trình thực hiện đề tài em đã nhận được sự quan tâm của nhà trường, Khoa Chăn nuôi Thú y, cán bộ chi cục Thú y thị xã Sông Công, cán

bộ xã và các hộ gia đình chăn nuôi lợn tại các xã ở địa phương nơi em thực tập cùng với sự giúp đỡ của bạn bè và gia đình

Với lòng biết ơn vô hạn, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới:

Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Ban chủ nhiệm khoa và toàn thể các thầy cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y đã tận tình dìu dắt và dạy đỗ em trong suốt quá trình học tập và trong thời gian thực tập

Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo hướng dẫn TS Nguyễn Thị Ngân, GS.TS Nguyễn Thị Kim Lan, NCS Nguyễn Thị Bích Ngà

đã tận tình hướng dẫn chỉ bảo giúp đỡ em trong quá trình thực hiện đề tài

Em xin gửi lời cảm ơn tới tập thể lớp 41 - TY đã quan tâm, giúp đỡ, động viên em trong suốt quá trình học tập, rèn luyện tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Một lần nữa em xin kính chúc toàn thể thầy, cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú Y sức khỏe, hạnh phúc và thành đạt Chúc cán bộ, nhân viên chi cục thú y thị xã Sông Công, tỉnh Thái Nguyên mạnh khỏe công tác tốt, chúc các bạn sinh viên mạnh khỏe, học tập tốt và thành công trong cuộc sống

Em xin chân thành cám ơn!

Thái Nguyên, ngày 18 tháng 11 năm 2013

Sinh viên

Nguyễn Thị Ngân

Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU

Trong thời kì kinh tế hội nhập như hiện nay thì ngành nghề nào cũng rất cần có kiến thức thực tiễn Trên giảng đường nhà trường, sinh viên được cung cấp kiến thức chủ yếu qua lí thuyết Bên cạnh đó có những buổi thực hành, đợt thực tập để giúp sinh viên hiểu rõ hơn về kiến thức giảng dạy Tuy nhiên những hiểu biết về thực tế của sinh viên còn rất nhiều hạn chế Giai đoạn thực tập tốt nghiệp cuối khóa giúp sinh viên hiểu rõ hơn về những kiến thức được học trên sách vở, nắm bắt được nhiều những hiểu biết, kinh nghiệm thực tế, nâng cao tay nghề, lòng yêu nghề, tạo điều kiện giúp sinh viên có thể sống tự lập, khẳng định bản thân đồng thời cũng giúp sinh viên nhận ra được những nhược điểm của mình trong công việc từ đó rút ra kinh nghiệm để sau này ra làm việc tốt hơn, trở thành người cán bộ chuyên môn có năng lực làm việc tốt đáp ứng nhu cầu của thực tiễn sản xuất

Được sự đồng ý của Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú

Y, thầy cô giáo hướng dẫn và sự nhất trí của ban lãnh đạo chi cục thú y thị xã Sông Công, tỉnh Thái Nguyên, em được về thực tập tại thị xã Sông Công từ ngày

3/06/2013 đến ngày 18/11/2013, thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm bệnh

lý và lâm sàng bệnh do giun tròn Trichocephalus spp gây ra trên lợn tại thị

xã Sông Công, tỉnh Thái Nguyên và biện pháp điều trị”

Trong thời gian thực tập, được sự giúp đỡ tận tình của ban lãnh đạo chi cục thú y, các cán bộ xã , thôn của thị xã Sông Công, tỉnh Thái Nguyên, sự hướng dẫn tận tình của thầy, cô giáo cùng với sự cố gắng lỗ lực của bản thân,

em đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp

Mặc dù đã cố gắng rất nhiều nhưng do thời gian ngắn, kinh nghiệm thực

tế chưa có nhiều, kiến thức còn hạn chế nên khóa luận của em không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong được sự giúp đỡ, đóng góp ý kiến quý báu của thầy cô giáo và các bạn để khóa luận của em được hoàn thiện hơn

Thái Nguyên, ngày 18 tháng 11 năm

Sinh viên

Nguyễn Thị Ngân

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 4.1 Thời gian hoàn thành vòng đời và tình hình thải trứng của giun

T suis sau gây nhiễm 29

Bảng 4.2 Biểu hiện lâm sàng của lợn bị bệnh giun T suis sau gây nhiễm 30

Bảng 4.3 Sự thay đổi một số chỉ số máu của lợn gây nhiễm 31

Bảng 4.4 Sự thay đổi công thức bạch cầu của lợn gây nhiễm 33

Bảng 4.5 Bệnh tích đại thể ở cơ quan tiêu hoá lợn gây nhiễm 36

Bảng 4.6 Tỷ lệ tiêu bản có bệnh tích vi thể 37

Bảng 4.7 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun T suis giữa lợn tiêu chảy và

lợn khỏe 38

Bảng 4.8 Tỷ lệ lợn có triệu chứng lâm sàng chủ yếu của bệnh giun T suis 39 Bảng 4.9 Tỷ lệ lợn có bệnh tích đại thể ở ruột già do giun T suis 40

Bảng 4.10 Hiệu lực của thuốc tẩy giun T suis cho lợn trên thực địa 41

Bảng 4.11 Độ an toàn của thuốc tẩy giun T suis cho lợn trên thực địa 42

Trang 6

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang Hình 2.1 Giun Trichocephalus suis 5 Hình 2.2 Sơ đồ vòng đời của giun T suis 6

Hình 4.1 Biểu đồ số lượng hồng cầu, số lượng bạch cầu, hàm lượng huyết sắc

tố của lợn đối chứng và lợn sau gây nhiễm 33 Hình 4.2 Biểu đồ công thức bạch cầu của lợn ở lô đối chứng và lô gây nhiễm 35

Trang 7

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT

cs : Cộng sự

ĐC : Đối chứng Nxb : Nhà xuất bản

T suis : Trichocephalus suis

TN : Thí nghiệm

TT : Thể trọng

Trang 8

MỤC LỤC

Trang

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích nghiên cứu 2

1.3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 2

1.3.2 Ý nghĩa khoa học 2

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3

2.1.1 Đặc điểm sinh học của giun T suis lợn 3

2.1.2 Bệnh giun T suis ở lợn 7

2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 18

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 18

2.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 20

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23

3.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu 23

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 23

3.1.2 Vật liệu nghiên cứu 23

3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 23

3.2.1 Địa điểm nghiên cứu 23

3.2.2 Thời gian nghiên cứu 24

3.3 Nội dung nghiên cứu 24

3.3.1 Nghiên cứu bệnh giun T suis ở lợn gây nhiễm 24

3.3.2 Nghiên cứu bệnh giun T.suis ở lợn nhiễm tự nhiên 24

3.4 Phương pháp nghiên cứu 24

3.4.1 Phương pháp thu thập, xét nghiệm mẫu 24

3.4.2 Phương pháp nghiên cứu bệnh giun T suis tại thị xã Sông Công, tỉnh Thái Nguyên 25

Trang 9

3.4.3 Phương pháp xác định hiệu lực và độ an toàn của một số thuốc tẩy giun

T suis cho lợn 27

3.4.4 Đề xuất biện pháp phòng trị bệnh giun T suis cho lợn 28

3.5 Phương pháp xử lý số liệu 28

PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 29

4.1 Nghiên cứu bệnh giun T suis ở lợn gây nhiễm 29

4.1.1 Thời gian hoàn thành vòng đời và tình hình thải trứng của giun T suis sau gây nhiễm 29

4.1.2 Biểu hiện lâm sàng của lợn bị bệnh giun T suis sau gây nhiễm 30

4.1.3 Số lượng hồng cầu, số lượng bạch cầu và hàm lượng huyết sắc tố của lợn đối chứng và gây nhiễm 31

4.1.4 Công thức bạch cầu của lợn đối chứng và lợn gây nhiễm 33

4.1.5 Bệnh tích đại thể của lợn mắc bệnh giun T suis do gây nhiễm 36

4.1.6 Bệnh tích vi thể của lợn mắc bệnh giun T suis do gây nhiễm 37

4.2 Nghiên cứu bệnh giun T suis ở lợn nhiễm tự nhiên 38

4.2.1 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun T suis giữa lợn tiêu chảy và lợn khỏe 38 4.2.2 Tỷ lệ lợn có triệu chứng lâm sàng chủ yếu của bệnh giun T suis 39

4.2.3 Tỷ lệ lợn có bệnh tích đại thể ở ruột già do giun T suis 40

4.3 NGHIÊN CỨU BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ BỆNH GIUN T SUIS

CHO LỢN 41

4.3.1 Hiệu lực và độ an toàn của một số thuốc tẩy trong điều trị bệnh giun T suis cho lợn 41

4.3.2 Độ an toàn của một số thuốc tẩy trong điều trị bệnh giun T suis

cho lợn 42

4.3.3 Đề xuất quy tình phòng trị bệnh giun T suis cho lợn 43

PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 44

5.1 Kết luận 44

5.2 Tồn tại 45

5.3 Đề nghị 45

TÀI LIỆU THAM KHẢO 46

Trang 10

PHẦN 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Nước ta là một nước nông nghiệp, trong đó ngành chăn nuôi đã và đang chiếm một vị trí quan trọng trong sản xuất nông nghiệp nói riêng và trong cơ cấu nền kinh tế nói chung Chăn nuôi lợn có một vị trí quan trọng trong ngành chăn nuôi gia súc ở các nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam Chăn nuôi lợn cung cấp một khối lượng lớn thực phẩm có giá trị cho con người Chăn nuôi lợn phát triển không chỉ cung cấp nguồn thực phẩm cho xã hội mà còn cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến và phân bón cho ngành trồng trọt Phân lợn

là loại có chất dinh dưỡng cao đối với cây trồng (5 - 25 % chất khô; 1,6 - 1,8 % nitơ; 0,6 - 2,1 % photpho và 1,7 - 3,6 % kali) Hiện nay, phân lợn còn được dùng làm nguyên liệu để sản xuất khí đốt (bioga) vừa đem lại hiệu quả kinh tế cao vừa

có tác dụng chống ô nhiễm môi trường, đặc biệt là khu vực đông dân cư

Xác định vai trò quan trọng của ngành chăn nuôi lợn trong những năm qua Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách nhằm thúc đẩy chăn nuôi lợn phát triển cả về số lượng và chất lượng Tuy nhiên, trên thực tế dịch bệnh vẫn thường xuyên xảy ra, gây nên những thiệt hại đáng kể cho ngành chăn nuôi Vì vậy, để phát triển ngành chăn nuôi thì bên cạnh việc thực hiện tốt công tác giống, thức ăn,…còn phải quan tâm đến công tác thú y, đặc biệt với xu hướng chăn nuôi tập chung, quy mô trang trại như hiện nay Nước

ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới ẩm, gió mùa có một mùa mưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 6 với khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều đã tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều loài ký sinh trùng phát triển, ký sinh và gây bệnh cho vật nuôi Đây chính là vấn đề khó khăn lớn cho ngành chăn nuôi nói chung và ngành chăn nuôi lợn nói riêng trong công tác phòng trừ và điều trị bệnh ký sinh trùng Bệnh ký sinh trùng ở gia súc, gia cầm nói chung và bệnh ký sinh trùng đường tiêu hoá lợn nói riêng không gây ra các ổ dịch lớn như những bệnh truyền nhiễm do virus, vi khuẩn Song, bệnh ký sinh trùng thường diễn ra ở thể mãn tính, làm lợn sinh trưởng và phát triển chậm, tiêu tốn thức ăn tăng và các chi phí như thuốc điều trị, công chăm sóc nuôi dưỡng cũng tăng Ngoài ra,

Trang 11

ký sinh trùng ký sinh còn làm giảm sức đề kháng của lợn và là yếu tố mở đường cho nhiều loại vi khuẩn, virus xâm nhập gây bệnh (Trịnh Văn Thịnh và

Thái Nguyên là một tỉnh miền núi, phần lớn dân số làm nông nghiệp, trong đó chăn nuôi lợn giữ một ví trí quan trọng Tuy nhiên, công tác phòng

chống bệnh giun Trichocephalus spp chưa được chú ý nhiều nên chưa có

biện pháp phòng chống bệnh hiệu quả

Từ yêu cầu cấp thiết của việc khống chế dịch bệnh, nâng cao năng suất chăn

nuôi lợn ở tỉnh Thái Nguyên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu

đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh do giun tròn Trichocephalus spp gây ra trên lợn tại thị xã Sông Công, tỉnh Thái Nguyên và biện pháp phòng trị”

1.2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý, lâm sàng và biện pháp phòng trị bệnh do

giun Trichocephalus spp gây ra ở lợn

1.3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

1.3.2 Ý nghĩa khoa học

Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học về đặc điểm bệnh lý và

lâm sàng của bệnh giun Trichocephalus spp ở lợn, góp phần rất quan trọng cho việc nghiên cứu các biện pháp phòng và điều trị bệnh Trichocephalus spp ở lợn, để từ đó đề xuất được các quy trình phòng trị bệnh cho lợn

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để khuyến cáo người chăn nuôi

cách nhận biết được lợn mắc bệnh giun Trichocephalus spp để từ đó áp dụng quy trình phòng, trị bệnh giun Trichocephalus spp cho lợn, nhằm hạn chế tỷ lệ

và cường độ nhiễm giun ở lợn, hạn chế tác hại đối với lợn, góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi, thúc đẩy ngành chăn nuôi lợn phát triển

Trang 12

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài

2.1.1 Đặc điểm sinh học của giun tóc lợn

2.1.1.1 Vị trí của giun tóc trong hệ thống phân loại động vật học

Theo Skrjabin K I (1979) [36], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [18], vị trí của

giun tóc Trichocephalus suis (T suis) trong hệ thống phân loại động vật như sau: Lớp Nematoda Rudolphi, 1808

Phân lớp Enoplia Chitwood, 1933

Bộ Trichocephalida Skrjabin et Schulz, 1928

Phân bộ Trichocephalata Skrjabin et Schulz, 1928

Họ Trichocephalidae Baird, 1953

Phân họ Trichocephalinae Ransom, 1911

Giống Trichocephalus Schrank, 1788

Loài Trichocephalus suis Schrank, 1788 2.1.1.2 Đặc điểm hình thái, cấu tạo của giun T suis lợn

Theo Skrjabin K I (1979) [36], thì hình thái cấu tạo của giun tròn T suis

như sau: Con đực: Dài trung bình 40,35 mm; tối thiểu 33 mm; tối đa 48 mm Chiều dài phần trước trung bình 25,3 mm (20 - 30 mm); phần sau 15,1mm (12 -

19 mm) Tỷ lệ chiều dài phần trước với phần sau 1,68 : 1 Thân phủ lớp cutin, trên lớp cutin có nhiều rãnh ngang nên lớp cutin có nhiều mấp mô, hình răng nhỏ Thực quản kéo dài dọc theo phần mỏng trước thân và chuyển vào ruột ở chỗ ranh giới giữa phần mỏng và dày của thân Chiều rộng của phần trước thực quản 0,035

- 0,044 mm; của chỗ chuyển vào ruột 0,074 - 0,092 mm Thực quản được bao quanh bởi một hàng tế bào đơn nhân theo dạng móc xích Ruột kết thúc bởi huyệt trên phần đuôi Hệ thống sinh dục gồm những ống dẫn tinh uốn khúc chiếm hầu hết phần sau thân Đuôi con đực vòng xoắn ốc Giao gai hợp kết thúc bằng một đỉnh nhọn Gai có chiều dài nằm trong khoảng từ 1,74 - 2,84 mm Chỗ rộng nhất của gai gốc gai dài 0,084 - 0,110 mm Có bao gai bọc xung quanh và

Trang 13

cùng với gai nhô ra khỏi lỗ huyệt Bao gai được phủ bởi rất nhiều gai nhỏ, những gai này xếp theo thứ tự quân cờ Số lượng hàng gai nhỏ gần nơi chuyển của bao vào thân 24 - 42; Ở đầu đối diện với nó số lượng hàng tăng tới 44 - 46 Hình dạng bao gai tròn, căng, dài 0,044 mm Chiều rộng của bao gai ở chỗ lồi ra khỏi huyệt tăng lên về kích thước: Chiều rộng chỗ gần huyệt

là 0,057 - 0,092 mm; trong khi đó ở chỗ cuối gai 0,079 - 0,159 mm Tất cả con đực có một đầu bao gai gập hình cổ tay áo hay là hình bao tay, bao này một phần hay toàn bộ bao phủ phần bao gai lồi ra khỏi thân Chiều dài của chỗ gập 0,242 - 0,330 mm; rộng 0,290 - 0,352 mm

Con cái: Thân dài trung bình 45,55 mm; tối thiểu 38 mm và tối đa 53 mm Phần trước mỏng, phần sau dày Chiều dài phần trước của thân trung bình 30,55 mm (25 - 35 mm); chiều dài phần sau 15 mm (13 - 18 mm) Trên danh giới chỗ chuyển tiếp của phần thân trước và phần thân sau, hơi dịch về phía sau cách đầu cuối của thực quản có âm hộ Âm hộ nhô ra ngoài, dạng hình trụ hơi cong về phía sau (0,037 - 0,061 mm) và hơi rộng ở chỗ cạnh tự do (0,050

- 0,075 mm) Chỗ này được phủ rất nhiều gai nhỏ hình lưới (3 - 4 µm) Tử cung có hình ống thẳng hay hơi cong, nằm ngay trước âm hộ, dài 0,92 - 1,28 mm; trong tử cung có trứng xếp thành một hàng Đuôi con cái tù Trứng dài 0,056 - 0,066 mm và rộng 0,025 - 0,030 mm Màu sắc thay đổi từ vàng nhạt đến vàng sẫm

Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [18] đã mô tả giun T suis như sau:

Con đực: Dài 37,52 - 40,63 mm; rộng nhất 0,634 - 0,713 mm Phần trước cơ thể dài 23,48 - 25,75 mm; phần sau dài 14,00 - 15,00 mm; có dạng xoắn lò xo Gai sinh dục dài 1,70 - 2,55 mm; rộng 0,07 - 0,10 mm; mút cuối gai nhọn Bao gai phủ đầy gai nhỏ Lỗ huyệt nằm ở mút cuối đuôi

Con cái: Cơ thể dài 37,89 - 50,60 mm; rộng 0,734 - 1,012 mm; phần trước cơ thể dài 23 - 33 mm Ống sinh dục đơn Âm đạo có thành cơ dày, chứa đầy trứng Kích thước trứng 0,024 - 0,027 x 0,056 - 0,061 mm

Phan Địch Lân và cs (2005) [14] cho biết: Loài giun T suis trông giống

như một sợi tóc, màu trắng Cơ thể chia làm hai phần rõ rệt:

Trang 14

Phần đầu: Nhỏ, dài như sợi tóc, chiếm 2/3 chiều dài cơ thể, dưới lớp biểu bì

là thực quản, thực quản do các tế bào xếp nối tiếp như chuỗi hạt

Phần sau: Ngắn và to hơn phần đầu, bên trong chứa các cơ quan nội tạng của giun như: Ruột, cơ quan sinh dục…

Giun đực: Dài 20 - 52 mm, đuôi hơi tù, phần đuôi cuộn tròn lại, chỉ có một gai giao hợp dài 5 - 7 mm, được bọc trong một cái màng có nhiều gai nhỏ bao phủ Lỗ sinh tiết thông với ngoài ở phần cuối của giun

Giun cái: Dài 39 - 53 mm, đuôi thẳng Hậu môn ở đoạn cuối cùng, âm hộ

ở đoạn cuối thực quản Trứng giun tóc hình hạt chanh, màu vàng nhạt, kích thước 0,052 - 0,061 x 0,027 - 0,03 mm Hai cực có hai nút trong, vỏ dày có 2 lớp

Hình 2.1 Giun Trichocephalus suis

a: Trứng giun; b: Giun cái; c: Giun đực

(Nguồn: Phan Địch Lân và cs, 2005)[14]

Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [13] cho biết: Hình thể của giun T suis

giống như một sợi tóc màu trắng Cơ thể chia thành hai phần rõ rệt Phần trước nhỏ như sợi tóc, dưới lớp biểu bì là thực quản, thực quản do các tế bào xếp nối tiếp như chuỗi hạt, phần này chiếm 2/3 chiều dài cơ thể Phần sau ngắn và to, bên trong là ruột và cơ quan sinh sản Giun đực dài 20 - 52 mm đuôi hơi tù, phần đuôi cuộn tròn lại chỉ có một gai giao hợp rất dài 5 - 7 mm, gai giao hợp được bọc trong một cái màng có nhiều gai nhỏ bao phủ Giun cái dài 39 - 53 mm, đuôi thẳng, âm hộ ở đoạn cuối cùng của thực quản

2.1.1.3 Vòng đời của giun T suis lợn

Skrjabin K I (1979) [36] cho biết: Giun T suis phát triển không cần

vật chủ trung gian Trứng được bài tiết cùng với phân lợn ra môi trường ngoại

Trang 15

cảnh Ở môi trường thuận lợi, thời gian để trứng phát triển thành dạng cảm nhiễm từ 3 đến 4 tuần Trong thời gian này, có thể thấy ấu trùng đã hình thành hoàn toàn và chuyển động bên trong trứng

Theo Trịnh Văn Thịnh (1985) [28], Đào Trọng Đạt và cs (1996) [3] thì

tuổi thọ của giun T suis ở lợn là từ 4 - 5 tháng

Bonner Stewart T và cs (2000) [34] cho biết: Khi lợn nuốt phải

những ấu trùng giun T suis này nằm sâu trong niêm mạc 2 tuần, nhô ra khỏi

niêm mạc ở tuần thứ 3 và phát triển thành giun trưởng thành

Theo Phan Địch Lân và cs (2005) [14], thời gian hoàn thành vòng đời

của giun tròn T suis là 30 ngày

Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2012) [13], vòng đời phát triển của

giun T suis diễn ra theo sơ đồ sau:

Hình 2.2 Sơ đồ vòng đời của giun T suis

Giun T suis trưởng thành kí sinh ở manh tràng đẻ trứng, trứng theo

phân ra ngoài, gặp điều kiện thuận lợi (nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng) qua 15 - 28 ngày trứng phát triển thành trứng cảm nhiễm Trứng này lẫn vào thức ăn, nước uống, nếu gia súc ăn phải, vào đường tiêu hóa trứng nở thành ấu trùng, thọc sâu phần đầu vào niêm mạc ruột già, tiếp tục phát triển thành giun trưởng

thành Thời gian hoàn thành vòng đời trong cơ thể tùy từng loài giun T suis nhưng đối với T suis cần 30 ngày

Trang 16

2.1.1.4 Sức đề kháng của trứng giun T suis lợn ở ngoại cảnh

Theo Đặng Văn Ngữ và cs (1965) [21], ở ẩm độ tối đa (gần 100 %) và nhiệt độ 22 oC thì trứng phát triển được đến giai đoạn trứng cảm nhiễm Nhưng cũng điều kiện ẩm độ như trên mà ở 30 oC thì trứng sẽ chết sau 1

tháng Nhiệt độ phát triển thuận lợi nhất của trứng giun Trichuris trichiura

(giun tóc người) ở ngoại cảnh là 25 - 30 oC Thời gian là 17 - 30 ngày tỷ lệ trứng có ấu trùng gần 90 % Nhiệt độ lên quá 50 oC làm hỏng phần lớn trứng

trước khi tới giai đoạn trứng cảm nhiễm Như vậy, trứng giun T suis và trứng giun Trichuris trichiura có giới hạn nhiệt độ phát triển thuận lợi ở ngoại cảnh

tương tự nhau

Theo Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [18], trứng giun T suis bị diệt

dưới tác dụng của ủ phân nhiệt sinh học Sau 3 - 4 tuần, nhiệt độ hố ủ tăng lên tới 45 oC sẽ làm hủy trứng giun T suis Tuy nhiên, trứng non có khả

năng chịu đựng các điều kiện nhiệt độ cao hơn trứng cảm nhiễm

Theo Lehand S Shapiro (2005) [42], trứng giun T suis có thể tồn tại rất

lâu (vài năm) trong đất Sự phát triển của trứng phụ thuộc vào nhiệt độ: Ở 30 oC cần 17 ngày, ở nhiệt độ thất hơn, thời gian này kéo dài hơn Ở 10 oC trứng ngừng phát triển nhưng vẫn duy trì khả năng sống Nhiệt độ từ 45 oC trở lên diệt được

trứng giun T suis Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [13]: Trứng giun T suis có

vỏ dày nên có sức đề kháng cao với điều kiện ngoại cảnh

2.1.2 Bệnh giun T suis ở lợn

2.1.2.1 Những thiệt hại kinh tế do giun T suis gây ra ở lợn

Bệnh ký sinh trùng thường là những bệnh mãn tính, làm giảm mức sinh trưởng và sinh sản của gia súc, ảnh hưởng đến sản phẩm chăn nuôi Lợn nuôi lấy thịt chậm lớn, sụt cân, phẩm chất thịt giảm (theo Trịnh Văn Thịnh và cs, 1982) [27]

Bonner Stewart T và cs (2000) [34] cho biết: Tại Mỹ, nội ký sinh trùng

ở lợn hàng năm gây thiệt hại ước tính khoảng 538 triệu đô la, bao gồm thiệt hại do lợn chết, tiêu hủy, giảm thu và chi phí để tẩy giun sán

Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [16], T suis ký sinh là một trong

những nguyên nhân làm giảm năng suất chăn nuôi và tạo điều kiện cho

các mầm bệnh khác xâm nhập Lợn bị bệnh giun T suis giảm tăng trọng

từ 15 - 20 % so với lợn khỏe

Trang 17

2.1.2.2 Đặc điểm dịch tễ học

* Động vật mắc bệnh

Theo Phan Thế Việt và cs (1977) [33], lợn nhà và lợn rừng đều cảm

nhiễm với giun T suis

Theo Nguyễn Phước Tương (2002) [32], người nhiễm bệnh sau khi

nuốt phải trứng giun T suis lẫn trong nước hay thức ăn thực vật chưa được nấu chín Sau khi vào người, trứng cảm nhiễm phát triển thành giun T suis

trưởng thành, khu trú ở ruột thừa và gây bệnh cho người Giun đẻ trứng, trứng này được bài xuất ra ngoài qua phân người, sau khi phát triển thành trứng cảm nhiễm thì có khả năng gây nhiễm lại lợn (tuy nhiên tỷ lệ trứng phát triển chỉ

có 11 %, trong khi trứng giun T suis ở lợn có tỷ lệ phát triển là 86 %).Bùi Qúy Huy (2006) [6] cho biết : Giun T suis ở lợn và giun Trichuris trichiura ở

người có nhiều điểm giống nhau về hình thái, hóa học và kháng nguyên, do

đó bệnh giun T suis dễ lây sang người

Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2006) [10] cho biết: Lợn sau khi cai sữa ở

tỉnh Thái Nguyên nhiễm giun T suis 23,01 % - 27,01 %

* Đường lây nhiễm

Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2005) [15], bệnh lây nhiễm qua đường tiêu hóa do lợn nuốt phải trứng cảm nhiễm lẫn trong thức ăn, nước

uống.Lây nhiễm trực tiếp: Lợn bệnh bài xuất trứng giun T suis qua phân,

những trứng này phát tán trên nền chuồng, máng ăn, máng uống Vì vậy, lợn

khỏe dễ dàng bị nhiễm trứng giun T suis Lây nhiễm trực tiếp chủ yếu giữa

lợn bệnh và lợn khỏe trong cùng một ô chuồng Lợn con nhiễm bệnh chủ yếu khi bú sữa mẹ, nuốt phải trứng bám ở đầu vú lợn mẹ

Lây nhiễm gián tiếp: Dụng cụ chăn nuôi, người chăm sóc… cũng là tác nhân mang mầm bệnh Đây là những yếu tố trung gian góp phần lây nhiễm

giun T suis từ lợn bệnh sang lợn khỏe, từ ô chuồng này sang ô chuồng khác

Ngoài ra, ruồi, chuột cũng có thể phân tán trứng giun, gió cuốn trứng

giun theo bụi, mang trứng giun T suis từ chuồng này sang chuồng khác gây

phát tán mầm bệnh

Trang 18

* Điều kiện vệ sinh thú y

Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2005) [15]: Các cơ sở chăn nuôi có điều kiện vệ

sinh kém lợn bị nhiễm bệnh với tỷ lệ cao, gây thiệt hại đáng kể cho đàn lợn con

* Tuổi mắc bệnh

Theo Trịnh Văn Thịnh (1963) [24], bệnh thường xảy ra nặng nề đối với

lợn con dưới 6 tháng tuổi Lợn nái và lợn trưởng thành nhiễm giun T suis nhẹ

hơn, ít thể hiện các triệu chứng lâm sàng

Theo Lương Văn Huấn và cs (1990) [5] cho biết, tỷ lệ nhiễm giun T suis theo

tuổi lợn như sau:

Dưới 3 tháng tuổi nhiễm 20,4 %

Từ 3 - 4 tháng tuổi nhiễm 21,2 %

Từ 5 - 6 tháng tuổi nhiễm 8,5 %

Trên 6 tháng tuổi nhiễm 6,4 %

Theo Đào Trọng Đạt và cs (1996) [3], lợn ở giai đoạn 2 - 6 tháng tuổi nhạy cảm

nhất với giun T suis Kết quả điều tra tại hợp tác xã Tiền Phong (Hà Nội), lợn Ỉ lai Yorkshire, Berkshire có tỷ lệ nhiễm giun T suis ở lợn dưới 2 tháng tuổi là 16 %,

trong khi lợn 5 tháng tuổi nhiễm 13,5 % và lợn 7 tháng tuổi nhiễm 6,2 % Tại hợp

tác xã Đông Mỹ (Hà Nội) tỷ lệ lợn dưới 2 tháng tuổi nhiễm giun T suis là 20,8 % Ngày tuổi bình quân phát hiện trứng giun T suis trong phân lợn nội là 74 ngày (từ

58 - 89 ngày), lợn lai Landrace 56 ngày (43 - 64 ngày), lợn Berkshire 61 ngày (56 -

75 ngày), lợn lai Yorkshire 76 ngày và lợn ngoại 62 ngày (38 - 81 ngày)

Theo Phạm Sĩ Lăng và cs (2009) [17], tỷ lệ nhiễm giun T suis ở lợn theo

tuổi ở Hà Nội như sau: Lợn từ 2 - 6 tháng tuổi nhiễm 4,3 - 30 %, lợn trên 6 tháng tuổi nhiễm 0,56 - 7,8 %

* Mùa vụ

Nguyễn Đăng Khải, Nguyễn Đăng Nhượng (1996) [7] mổ khám 89 con lợn ở vùng đồng bằng và miền núi thuộc các tỉnh Quảng Ninh, Quảng Ngãi,

Bình Định cho biết: Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun T suis có sự khác nhau giữa

các vùng, trong đó sự khác nhau này có liên quan đến khí hậu của mỗi vùng Vùng đồng bằng, do mùa khô hạn kéo dài, nhiều ánh sáng (tổng số giờ nắng

2000 - 2300 giờ /năm) nhiệt độ những tháng nóng có thể lên tới 38 - 40 oC nên

Trang 19

tỷ lên nhiễm các loài giun tròn nói chung đều thấp, đặc biệt là các loài giun

nhiễm trực tiếp như T suis (dẫn theo Trịnh Văn Thịnh và cs, 1978) [26]

Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [17], bệnh giun T suis lây nhiễm

quanh năm nhưng tập trung từ mùa xuân tới mùa thu Mùa đông, thời tiết lạnh, độ ẩm thấp, không thích hợp cho trứng phát triển thành dạng trứng

cảm nhiễm nên tỷ lệ nhiễm giun T suis trong đàn lợn giảm đi

* Vùng mắc bệnh

Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [16], bệnh giun T suis ở lợn phân bố trên toàn

thế giới Tại Việt Nam, bệnh cũng đã được phát hiện ở tất cả các tỉnh miền Bắc,

miền Trung và miền Nam Ở Hà Nội, lợn bị nhiễm T suis từ 4,3 - 30 % (ở lứa tuổi

từ 2 - 6 tháng) và 0,56 - 7,8 % (ở lứa tuổi trên 6 tháng)

Theo Trịnh Văn Thịnh (1963) [24], kết quả điều tra ở các lò mổ các tỉnh, tỉ

lệ nhiễm giun T suis ở lợn như sau: Nghĩa Lộ: 40,3 % ; Quảng Ninh: 33,7 % ;

Thanh Hóa: 12,5 %; Hải Hưng: 15,1 % ; Nam Hà: 33,3 %; Hà Bắc: 27,3 %

* Phương thức chăn nuôi

Giun tròn T suis là loài phát triển trực tiếp nên tỷ lệ nhiễm trong đàn

lợn là rất cao, lên đến 100 % Còn những loài giun sán phải qua ký chủ trung gian thì tỷ lệ nhiễm phụ thuộc vào điều kiện đất đai, thức ăn trồng ở nước hay

ở cạn, sự tồn tại của ký chủ trung gian và điều kiện vệ sinh chăn nuôi (dẫn theo Trịnh Văn Thịnh và cs, 1978) [26]

Mổ khám 57 lợn và xét nghiệm 1000 mẫu phân lợn tại xã Yên Nguyên (Tuyên Quang) cho biết: Tỷ lệ nhiễm các loài giun tròn ở lợn thả rông là 47 % (dẫn theo Trịnh Văn Thịnh và cs, 1978) [26] Bornay F J và cs (2003) [47] cho biết: Kiểm tra 5 trại lợn chăn nuôi theo phương thức công nghiệp tại tỉnh Alicante

(Tây Ban Nha) thấy tỷ lệ nhiễm T suis là 11 %

Trang 20

tiếp không qua vật chủ trung gian Trứng cảm nhiễm xâm nhập vào cơ thể vật chủ

qua đường tiêu hóa do lợn ăn phải thức ăn, nước uống có lẫn trứng giun T suis

* Đường bài xuất mầm bệnh

Lợn mắc bệnh sau một thời gian bài xuất trứng theo phân ra ngoài ngoại cảnh Vì vậy, trứng được phát triển rộng rãi ở ngoài tự nhiên và quá trình phát triển bắt đầu để tạo thành trứng cảm nhiễm (trứng có ấu trùng bên trong)

* Vị trí gây bệnh

Giun T suis ký sinh và gây bệnh ở ruột già lợn, đặc biệt ở manh tràng

và kết tràng

* Quá trình sinh bệnh

Phần đầu của giun T suis nhỏ, dài, cắm sâu vào niêm mạc ruột gây tổn

thương, mở đường cho vi khuẩn gây bệnh vào cơ thể vật chủ Ngoài ra, trong quá

trình sinh sống, giun T suis thải ra cặn bã và độc tố làm con vật trúng độc

Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [9]: Giun T suis lấy dịch tổ

chức niêm mạc ruột để sống gây ra hiện tượng xuất huyết, viêm ruột và dẫn đến ỉa chảy

Ngoài tác động chiếm đoạt dinh dưỡng của lợn, giun T suis còn gây tác

hại nặng nề cho lợn

- Tác hại cơ giới: Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [9],

Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [16], phần đầu của giun T suis cắm sâu vào

thành ruột gây tổn thương, làm niêm mạc ruột già bị viêm và xuất huyết, gây rối loạn tiêu hóa, làm cho lợn có hội chứng hồng lỵ

- Tác hại mang trùng: Theo Đào Trọng Đạt và cs (1996) [3], giun

T suis ký sinh gây tổn thương, tạo điều kiện cho các nhân tố khác xâm

nhập Nhân tố gây bệnh kế phát là xoắn khuẩn và phẩy khuẩn

- Tác hại tiết độc tố: Độc tố là những sản phẩm mà giun T suis bài tiết

ra làm cho ký chủ trúng độc, gầy còm, thiếu máu, gây rối loạn tiêu hóa

2.1.2.4 Triệu chứng lâm sàng và bệnh tích

* Triệu chứng lâm sàng

Theo Skrjabin K.I (1979) [36], triệu chứng bệnh giun T suis phụ thuộc vào

cường độ nhiễm Khi nhiễm nặng lợn có biểu hiện da khô, xù lông, ỉa chảy rồi bị

Trang 21

táo bón… Độc tố do T suis tiết ra có tác dụng gây bệnh mạnh, làm cho vi nhung

mao và các tế bào biểu mô mất đi tính chất cấu tạo và bị phân hủy

Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2005) [15]: Phần đầu của giun T suis cắm

sâu vào thành ruột để hút chất dinh dưỡng gây tổn thương, tạo điều kiện cho viêm ruột già nhiễm khuẩn Các tổn thương cũng có thể gây xuất huyết ruột

già, nên lợn có hội chứng lỵ

Lợn trưởng thành nhiễm giun T suis thường không thể hiện rõ các triệu

chứng lâm sàng Lợn con ở các lứa tuổi 2 - 4 tháng bị nhiễm giun xuất hiện các dấu hiệu: Ỉa chảy, lúc đầu phân lỏng sau phân sệt có nhiều dịch nhày như mũi, lẫn máu Mỗi lần thải phân lợn bệnh phải cong lưng để rặn, nhưng phân chỉ ra rất ít Các triệu chứng trên giống như lợn bị kiết lị Nếu không được điều trị kịp thời lợn con sẽ bị kiệt sức rồi chết sau 6 - 10 ngày Lợn bị bệnh

mãn tính còi cọc, thiếu máu, tăng trọng giảm

Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [13]: Khi nhiễm nhẹ thì triệu trứng không rõ, khi nhiễm nặng thì con vật ăn kém, gầy yếu, thiếu máu, tiêu chảy, trong phân có lẫn máu và những mảnh niêm mạc ruột bị bong tróc Con vật có khi bị kiết lỵ, đi ngoài liên tục nhưng mỗi lần đi rất ít phân, phân lẫn máu và chất nhày Bệnh thường thấy ở lợn con, lợn mẹ và lợn 6 tháng tuổi trong giai đoạn vỗ béo thì rất ít bị bệnh

* Bệnh tích

Theo Trịnh Văn Thịnh và cs (1982) [27], khi lợn bị nhiễm bệnh giun T suis

nặng, toàn bộ manh tràng xuất huyết màu hồng sẫm Niêm mạc ruột bong ra

Phạm Sỹ Lăng (2009) [17] mổ lợn bệnh thấy: Niêm mạc ruột bị viêm, xuất huyết Trên niêm mạc có nhiều giun trưởng thành cắm sâu vào niêm mạc ruột

Đào Trọng Đạt và cs (1996) [3] cho biết: Về mặt tổ chức học, giun

T suis ký sinh gây viêm niêm mạc, thâm nhiễm tế bào, hình thành nhiều

vết loét và tạo nhiều niêm dịch

Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [13]: Lợn bị bệnh giun T suis xác chết gầy, có nhiều giun T suis ở ruột già (nhất là manh tràng) Một số giun

T suis vẫn cắm sâu vào niêm mạc ruột, phải kéo mạnh mới lấy ra được

Trên niêm mạc ruột có những lỗ loét to bằng hạt đậu xanh Khi bị nhiễm

Trang 22

nặng, toàn bộ ruột già có giun T suis ký sinh dày đặc, niêm mạc ruột sần

sùi, xuất huyết, lớp chất nhầy trên niêm mạc có màu hồng sẫm Niêm mạc ruột có thể bị bong tróc từng mảng

2.1.2.5 Chẩn đoán bệnh giun T suis ở lợn

* Với gia súc sống

Để chẩn đoán bệnh có thể áp dụng hai phương pháp là chẩn đoán lâm sàng kết hợp với đặc điểm dịch tễ và chẩn đoán trong phòng thí nghiệm Chẩn đoán trong phòng thí nghiệm lại gồm: Nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng

Nghiên cứu định tính nhằm xác định có hoặc không có giun T suis ký sinh Đây

là phương pháp thông dụng để đánh giá tình hình nhiễm giun T suis ở lợn

Nghiên cứu định lượng nhằm xác định số lượng trứng trong phân để đánh giá mức

độ nhiễm và hiệu quả của một số thuốc tẩy giun

Phương pháp chẩn đoán lâm sàng kết hợp với đặc điểm dịch tễ: Những triệu chứng lâm sàng cần chú ý là lợn ăn kém, gầy yếu, da khô, lông xù, ỉa chảy…

Về đặc điểm dịch tễ học, cần căn cứ vào lứa tuổi mắc bệnh, mùa vụ, tình trạng vệ sinh thú y… Tuy nhiên, nếu chỉ căn cứ vào những đặc điểm nói trên để chẩn đoán thì sẽ không chính xác Bởi vì các bệnh ký sinh trùng thường có những triệu chứng lâm sàng tương tự nhau (rối loạn tiêu hóa, thể trạng gầy, da khô, lông xù…) Vì vậy, để chẩn đoán chính xác bệnh phải tiến hành xét nghiệm phân tìm

trứng giun T suis (theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 1999) [9]

Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2005) [15], có 4 phương pháp xét nghiệm phân: Phương pháp trực tiếp, phương pháp Fullerborn, phương pháp Darling

và phương pháp Cherbovick

- Phương pháp trực tiếp

Dùng đũa thủy tinh lấy 1 mẫu phân bằng hạt đậu của con vật định xét nghiệm, để mẫu phân lên phiến kính sạch, nhỏ 1 - 2 giọt glycerin 50 % vào mẫu phân Nghiền nát phân trong glycerin và gạt cặn bã ra 2 đầu phiến kính Phân được dàn mỏng trên phiến kính và kiểm tra dưới kính hiển vi để tìm trứng giun tròn

Trang 23

- Phương pháp phù nổi (Fulleborn)

Nguyên lý: Dựa trên sự chênh lệch về tỷ trọng của dung dịch muối NaCl bão hòa lớn hơn tỷ trọng của trứng giun Trứng sẽ nổi lên trên, ta có thể tìm thấy trứng giun dưới kính hiển vi, độ phóng đại 100 hoặc 400

Cách pha dung dịch muối bão hòa: Cho 380 g muối NaCl vào 1 lít nước sôi, khuấy đều đến khi muối không tan được nữa, khi để nguội trên bề mặt có lớp muối kết tinh là được Lọc qua vải màn hoặc bông, bỏ cặn

Cách xét nghiệm phân: Dùng đũa thủy tinh lấy 1 mẫu phân khoảng 5 - 10 gam của con vật cần xét nghiệm, chẩn đoán Để phân vào cốc (nên dùng cốc nhựa) cho tiếp nước muối bão hòa vào cốc với lượng thể tích gấp 10 lần khối lượng phân Dùng đũa thủy tinh khuấy nát phân và lọc qua phễu lọc vào lọ tiêu bản Cặn bã bỏ đi, dung dịch lọc được giữ lại

Sau khi đã để yên từ 15 - 20 phút, dùng vòng vớt lớp váng phía trên mặt dung dịch để lên phiến kính sạch, đậy lá kính và kiểm tra dưới kính hiển

vi tìm trứng giun tròn

- Phương pháp Darling

Nguyên lý: Dựa trên sự chênh lệch về tỷ trọng giữa dung dịch NaCl bão

hòa và trứng giun, đồng thời lợi dụng lực ly tâm để phân ly trứng giun T suis

nhẹ hơn ra khỏi phân Khi đó, dùng vòng sắt vớt lớp váng phía trên ta sẽ tìm được trứng giun

Cách xét nghiệm: Lấy khoảng 5 - 10 gam phân của con vật cần chẩn đoán, để vào một cốc nhựa Cho vào đó một lượng nước sạch gấp khoảng 10 lần thể tích khối lượng phân, dùng đũa thủy tinh khuấy tan phân và lọc qua phễu lọc vào các ống ly tâm, cặn bã bỏ đi Sau đó ly tâm dung dịch phân với tốc độ 3000 vòng /phút từ 3 - 5 phút Đổ bỏ lớp nước phía trên và giữ lại cặn trong các ống ly tâm Sau đó cho nước muối bão hòa váo ống ly tâm bịt miệng ống và lắc đều cho cặn bã hòa đều trong dung dịch, tiến hành li tâm lần 2 với thời gian và tốc độ như trên, dùng vòng vớt để vớt lớp váng nổi trên bề mặt, đặt lên các phiến kính sạch, đậy lá kính, kiểm tra dưới kính hiển vi tìm trứng giun

- Phương pháp Cherborvich: Phương pháp này hoàn toàn giống phương pháp Darling, chỉ khác dung dịch bão hòa sử dụng là MgSO4

Trang 24

Thường dùng để chẩn đoán, xét nghiệm phân tìm trứng giun tròn có tỷ trọng cao (khi có ấu trùng bên trong) Cách tiến hành tương tự như phương pháp Darling nhưng dùng dung dịch MgSO4 bão hòa có tỷ trọng cao hơn nước muối (NaCl) bão hòa để làm nổi những trứng đã hình thành ấu trùng bên trong khi theo phân ra ngoài

Hagsten Dr (2000) [35] cho rằng, thực chất của bất kỳ chương trình khống chế giun sán nào thì việc phá vỡ vòng đời của chúng là cần thiết Và điều này phụ thuộc trước hết vào sự ô nhiễm nơi đó Mức độ ô nhiễm cao là những nơi lợn nuôi trong tình trạng vệ sinh thú y kém, ít sử dụng các thuốc phòng và trị bệnh cho lợn

Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [16], để phòng bệnh T suis cần thực

hiện tốt các biện pháp sau:

Vệ sinh chuồng trại và khu vực xung quanh chuồng nuôi để hạn chế sự phát tán trứng giun, kết hợp với sử dụng hóa chất phun vào chuồng trại theo định

kỳ như: Dung dịch NaOH 2 %, Cresyl 3 %, nước vôi 10 % để diệt trứng giun

Việc phòng bệnh giun T suis nói riêng và các bệnh ký sinh trùng nói

chung có ý nghĩa rất quan trọng Vì vậy, để nâng cao hiệu quả trong việc

Trang 25

phòng ngừa bệnh T suis, góp phần nâng cao hiệu quả chăn nuôi lợn, giảm

thiệt hại kinh tế chúng ta cần thực hiện tốt các biện pháp sau:

- Vệ sinh chuồng trại, thiết bị sạch sẽ Không sử dụng chung các dụng

cụ chăn nuôi khi chưa qua khử trùng Cơ sở chăn nuôi phải được xây ở nơi cao ráo, có nhiều ánh sáng mặt trời chiếu trực tiếp Chuồng trại khi xây dựng phải đảm bảo đông ấm, hè mát

- Ở các cở sở bị ô nhiễm, có thể sử dụng những hóa dược đặc hiệu tẩy

dự phòng cho lợn nái trước khi sinh và cho lợn từ 2 - 4 tháng

- Chất thải từ đàn gia súc phải được thu gom ủ phân để diệt trứng giun Hiện nay có hai phương pháp ủ đó là ủ yếm khí (biogas) và ủ hiếu khí (ủ phân compost), khi ủ phân nhiệt độ trong hố ủ có thể lên đến 60 oC làm cho trứng giun sán bị chết

- Thường xuyên có biện pháp tiêu diệt côn trùng, chuột và động vật hoang dã

vì chúng là những động vật môi giới mang mầm bệnh phát tán trong tự nhiên

- Không nuôi chung lợn ở nhiều nứa tuổi khác nhau trong cùng một khu vực

- Thức ăn phải đảm bảo về chất lượng, nước uống sạch sẽ

- Có kế hoạch tẩy giun T suis định kỳ cho lợn

Tất cả các nghiên cứu trước đây cho thấy việc phòng ngừa các bệnh giun tròn cho lợn gồm: Diệt giun trong cơ thể lợn, mục đích làm cho con vật khỏe mạnh và ngăn ngừa ngoại cảnh không bị ô nhiễm; diệt trứng giun ở ngoại cảnh mục đích đề phòng cho lợn không bị nhiễm bệnh

* Biện pháp trị bệnh

Nguyễn Xuân Bình và cs (1996) [1] cho biết, hiện nay trên thị trường

có nhiều thuốc điều trị bệnh giun T suis Tuy nhiên, tác giả khuyên nên

dùng một trong các hóa dược sau để tẩy giun T suis cho lợn:

Trang 26

Theo Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [18], để tẩy giun T suis có hiệu quả

cần thực hiện tốt một số yêu cầu sau:

+ Trước tiên phải chẩn đoán bệnh chính xác Sau đó tẩy cho những lợn bị nhiễm nặng và có biểu hiện lâm sàng Với mục đích phòng bệnh thì nên tẩy cho

cả đàn vì có những con đang mang mầm bệnh nhưng chưa phát hiện được

+ Xác định thời điểm tẩy thích hợp Tốt nhất là tẩy vào mùa xuân (tháng 3 - 4) và mùa thu (tháng 8 - 9) Lượng phân lợn thải ra phải đem ủ nhiệt sinh học để diệt mầm bệnh, sau 15 - 20 ngày kiểm tra để đánh giá hiệu quả của thuốc

Theo Phan Lục và Nguyễn Đức Tâm (2000) [19], Levamisol tên thương phẩm là Tramisol hay Ripercol, thuốc có thể trộn vào thức ăn hay pha nước uống có phổ tác dụng rộng với giun tròn Ngoài ra, Fenbendazol tên

thương phẩm là Safe Guard, thuốc có thể trộn vào thức ăn dùng liên tục trong

3 ngày, không tồn dư trong cơ thể, có hiệu quả mạnh đối với giun T suis

Theo Phạm Đức Chương và cs (2003) [2], các thuốc dùng để điều trị bệnh giun tròn có hiệu quả cao như:

Levamisole: Thuốc có tác dụng đối với cả ấu trùng và giun trưởng

thành Hiệu lực tẩy giun T suis là 72 - 99 %

Ivermectin: Tác dụng trên phổ rộng đối với nhiều loại giun tròn Tiêm dưới da liều 0,3 mg /kg TT lợn, có tác dụng làm giảm 94 - 100 % các giai

đoạn chưa trưởng thành của giun T suis

Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [17], có thể dùng một trong các hóa dược

sau để tẩy giun T suis cho lợn:

Mebenvet: Dùng liều 50 mg /kg TT, trộn thức ăn cho lợn ăn một lần

Fenbendazol: Liều 30 mg /kg TT, trộn thức ăn cho lợn ăn từ 6 - 15 ngày Levamisol: Liều 7,5 mg /kg TT, trộn thức ăn hoặc tiêm cho lợn

Febentel: Liều 20 mg /kg TT thuốc dùng dạng uống

Ivermectin: Liều 0,2 - 0,3 mg /kg TT, thuốc dùng tiêm cho lợn 2 lần,

cách nhau 1 - 2 ngày

Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2012) [13] , việc dùng thuốc tẩy giun phải đạt được những yêu cầu sau:

Trang 27

Trước hết phải tiêu diệt ký sinh trùng, dùng thuốc tẩy trùng cho vật nuôi Chữa cho con vật ốm khỏi bệnh và đảm bảo cho ngoại cảnh không bị nhiễm bệnh giun sán Tránh mầm bệnh nhiễm vào những con vật khác Phải dùng thuốc tẩy giun sán từ lúc nó chưa trưởng thành, chưa đẻ trứng và phải tiêu độc thật tốt phân có trứng giun

Dùng thuốc tẩy giun sán thì phải dùng thuốc hướng ký sinh trùng, tức

là độc với giun sán mà không độc với ký chủ, nên chọn thuốc có hiệu lực nhất đối với ký sinh trùng, đồng thời ít nguy hiểm nhất đối với ký chủ, rẻ tiền và

dễ dùng nhất

Ngăn chặn không cho con vật ốm tái nhiễm, chăm sóc, nuôi dưỡng tốt,

bổ sung đầy đủ dinh dưỡng, đưa con vật ra khỏi nơi có bệnh, tiêu độc chỗ đó trước khi cho con vật nuôi vào lại

Hướng mới trong việc chữa bệnh ký sinh trùng là tìm những thuốc có

hiệu lực chống được nhiều loài ký sinh trùng như: Mebendazole có tác dụng

tẩy nhiều loài giun tròn Có các loại thuốc điều trị giun tròn như:

Menbendazol; Levamisol; Ivermectin; Febentel; Oxybendazol

2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Năm 1975 - 1979 điều tra ở 10 địa điểm thuộc 10 vùng địa lý khác nhau trong những điều kiện chăn nuôi khác nhau trên khoảng 2000 con lợn bằng cách xét nghiệm phân cho thấy tỷ lệ nhiễm giun đầu gai

(Macracanthoruynobis hirudinageus) là 0,18 %, giun T suis là 2,3 %, giun đũa (Ascaris suum) là 56 %, các loài giun xoăn (Strongilata) là 3,25 % Tuổi

lợn nhiễm các loại giun tròn nặng nhất là từ 2 - 4 tháng tuổi trên một tỷ lệ nhiễm chung là 49 - 65,9 % Qua mổ khám thấy các loài giun sán chính ở lợn

là: Ascaris suum, Metastrongylus enlongatus, T suis, Oesophagostomum dentatum (Đỗ Dương Thái, Trịnh Văn Thịnh, 1975 [22])

Theo Nguyễn Đăng Khải (1996) [7] , tỷ lệ nhiễm T suis ở 7 vùng kinh tế

như sau:

1.Trung du và miền núi bắc bộ

+ Trung du: 29,8 %

Trang 28

Ở một số tỉnh phía Nam, Lương Văn Huấn và cs (1990) [5], ở các tỉnh:

Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, lợn nhiễm giun T suis với tỷ lệ 14 %;

Quảng Nam, Đà Nẵng 8,75 %; Quảng Ngãi, Bình Định 27,5 %; Phú Yên, Khánh Hoà 8,3 %; Lâm Đồng 10 %; Đồng Nai 26,3 %; Bình Dương, Bình Phước 10 %; Tây Ninh 8,6 %; thành phố Hồ Chí Minh 39,0 %; Long An 11 %, Tiền Giang 2 %; Cần Thơ, Sóc Trăng 8,69 - 30 %

Theo Phan Địch Lân và cs (2005) [14], kết quả điều tra mổ khám ở 7 tỉnh miền Bắc và miền Trung như sau: Tỷ lệ nhiễm giun đũa từ 13 - 43 % với

cường độ nhiễm trung bình từ 3,0 - 21,5 con /lợn Tỷ lệ nhiễm giun T suis từ 12,5 - 40,3 % Tác giả còn cho biết: Do giun T suis lợn và loài giun tóc gây

bệnh cho người có rất nhiều điểm giống nhau về mặt hình thái Do vậy, bệnh này ở lợn có thể lây sang người, người nhiễm bệnh một cách tự nhiên do nuốt

trứng giun T suis của lợn chứa ấu trùng Sau khi vào ruột người, ấu trùng phát triển thành giun T suis trưởng thành, cư trú ở ruột và gây bệnh giun tóc

ở người Sau khi trứng giun T suis được bài xuất ra ngoài qua phân người có

khả năng gây nhiễm lại cho lợn (tỷ lệ trứng phát triển chỉ có 11 % so với

trứng của lợn có tỷ lệ phát triển là 86 %)

Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2006) [10], khi nghiên cứu T suis và các loại ký

sinh trùng đường tiêu hóa lợn tại Thái Nguyên thấy: Đàn lợn nuôi ở Thái Nguyên

nhiễm T suis, Oesophagostomum sp và Fasciolopsis buski Trong đó, lợn bình thường nhiễm T suis 23,01 %; Oesophagostomum 20,86 %; Fasciolopsis buski

Trang 29

18,71 %; tỷ lệ nhiễm tương ứng ở lợn tiêu chảy là 27,01 %; 23,85 % và 16,95 %,

mức độ nhiễm T suis ở lợn tiêu chảy lớn hơn lợn bình thường

Giun sán ở đường tiêu hóa có vai trò rõ rệt trong hội chứng tiêu chảy ở lợn sau cai sữa Lợn sau cai sữa tại Thái Nguyên mắc tiêu chảy là 11,81 % Ở lợn bình

thường và lợn bị tiêu chảy đều nhiễm các loại Ascaris suum, Oesophagostomum sp., Strongyloides, Fasciolopsis buski và T suis nhưng ở lợn tiêu chảy nhiễm tỷ lệ cao

hơn và mức độ nặng hơn (theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 2009 ) [12]

2.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Hale O M và Stewart T B (1979) [39], đã tiến hành thí nghiệm như sau: 48 lợn ở 83 ngày tuổi có khối lượng trung bình 25,7 kg /con Căn cứ vào tính biệt và khối lượng ban đầu, số lợn này được chia thành 4 nhóm, mỗi

nhóm 12 con Mỗi nhóm lợn được gây nhiễm bằng một trong 4 mức như sau:

Nhóm 1 : 0 trứng giun T suis /kg TT

Nhóm 2 : 550 trứng giun T suis /kg TT

Nhóm 3 : 1100 trứng giun T suis /kg TT

Nhóm 4 : 1650 trứng giun T suis /kg TT

Khẩu phần ăn và chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng ở mỗi nhóm được thực

hiện như nhau trong suốt thời gian thí nghiệm

Trứng giun T suis dùng để gây nhiễm được lấy từ những lợn bị bệnh giun

T suis nặng trong tự nhiên Những trứng này được nuôi trong dung dịch Kali

Bicromat 1 % trong phòng thí nghiệm ở nhiệt độ 25 oC và chỉ những trứng đã phát triển thành trứng cảm nhiễm (trứng có ấu trùng) mới được gây nhiễm cho lợn Mỗi nhóm lợn được gây nhiễm qua đường tiêu hóa bằng một số lượng trứng

như đã trình bày Lợn thí nghiệm được theo dõi trong vòng 77 ngày

Kết quả thí nghiệm như sau: Khối lượng cuối cùng (khi kết thúc thí nghiệm) và tăng trọng hàng ngày của lợn gây nhiễm bị ảnh hưởng dưới tác động

của giun T suis Mức độ bị ảnh hưởng tỷ lệ thuận với số lượng trứng giun T suis

đã gây nhiễm ban đầu Khi kết thúc thí nghiệm, lợn không bị nhiễm giun T suis

nặng hơn 23 % và tăng trọng hàng ngày nhanh hơn 35 % so với những lợn bị

nhiễm trung bình 1650 trứng giun T suis /kg thể trọng (P < 0,05)

Trang 30

Vào ngày thứ 21 sau gây nhiễm, khối lượng trung bình của những lợn gây nhiễm bắt đầu giảm xuống so với những lợn đối chứng (lợn nhóm 1) Kết quả này phù hợp với những nghiên cứu của Powers (1960) khi tác giả cho rằng có sự khác nhau về khối lượng giữa nhóm lợn đối chứng và nhóm

lợn thí nghiệm trong 3 tuần đầu sau gây nhiễm

Kết quả sau 77 ngày, tất cả những lợn gây nhiễm (lợn nhóm 2, 3 và 4) đều bị tiêu chảy với những mức độ khác nhau Lợn ở nhóm 4 (gây nhiễm với

cường độ cao nhất 1650 trứng giun T suis /kg TT) bị nặng nhất: Có 4 lợn

trong nhóm 4 bị ỉa ra máu trong khi đó nhóm 3 có 2 lợn ỉa ra máu

Cuối cùng, có sự khác nhau lớn về số lượng giun ký sinh tìm được khi

mổ khám giữa các nhóm lợn được gây nhiễm Số lượng giun biến động từ 0 -

4410 ở nhóm 2; từ 0 - 8850 ở nhóm 3 và từ 10 - 3350 ở nhóm 4 Số

lượng giun T suis trung bình khi mổ khám ở lợn thuộc nhóm 2, nhóm 3 và

nhóm 4 tương ứng là 1067, 2386, và 1532 Lợn chỉ tăng được 10,9 kg trong

77 ngày Không tìm thấy giun T suis khi mổ khám những lợn thuộc nhóm 1

Kết quả này phù hợp với những nghiên cứu của Hass và Collins (1973)

Johanes Kaufmann (1996) [43] cho biết: Ivermectin với liều 300 µm /kg TT cho hiệu quả tốt trong 1 - 2 tuần Tuy nhiên, cần chú ý tới lượng sữa của lợn mẹ khi

sử dụng thuốc tẩy

Theo Bowman D D (1999) [37], biện pháp tẩy giun trước khi chúng trưởng thành có tác dụng phòng bệnh rất tốt Hầu hết các tác giả đều thống nhất Phenothiazin là một trong những thuốc ức chế giun trưởng thành đẻ trứng và có tác dụng tẩy cả giun non nên được khuyến cáo dùng Mejer H và cs (2001) [44]cho

biết: Ngoài Ascaris suum thì Oesophagostomum và T suis cũng rất phổ biến ở lợn tại Đan Mạch Oesophagostomum và T suis ký sinh ở ruột già (manh tràng) nhưng những tác động bệnh lý do chúng gây ra là rất đáng kể T suis nhiễm ở mức nặng

ảnh hưởng đến tăng trọng và có thể gây chết nhiều lợn con

Pedersen S và cs (2001) [45] đã nghiên cứu ảnh hưởng của giun T suis và

A suum ký sinh đến sự thiếu sắt của cơ thể lợn Sáu mươi hai lợn ở 10 tuần tuổi được chia làm 2 lô: Lô 1 gây nhiễm đồng thời 4500 trứng giun T suis và 1200 trứng giun A suum Lô 2: Đối chứng Khẩu phần ăn của lợn ở 2 lô là như nhau

Trang 31

Kết quả cho thấy, giun T suis và A suum ký sinh đã làm cho cơ thể lợn thiếu sắt,

ngoài ra số lượng hồng cầu trong máu của những lợn này giảm thấp

Bornay F J và cs (2003) [47] cho biết: Kiểm tra 5 trại lợn chăn nuôi theo

phương thức công nghiệp tại tỉnh Alicante (Tây Ban Nha) thấy tỷ lệ nhiễm T suis

là 11 % Helene Kringel và cs (2006) [40] đã làm thí nghiệm sau:

Lô thí nghiệm: Gây nhiễm 40 lợn với 5000 trứng giun T suis /lợn

Lô đối chứng: 40 lợn Số lợn của 2 nhóm được nuôi trong những điều kiện tương tự nhau và theo dõi từ tuần 1 - 11 Kết quả mổ khám lợn thí

nghiệm đã thu được những giun T suis ký sinh

Kết quả nghiên cứu mô học cho thấy sự xuất hiện của T suis gắn liền

với những biến đổi bệnh lý đường ruột lợn Tại niêm mạc manh tràng của những lợn bị nhiễm, số lượng bạch cầu ái toan tăng lên ở tuần thứ 5 Số lượng đại thực bào tăng đáng kể từ tuần thứ 5 - 11 sau gây nhiễm

Jarvis Toivo và cs (2007) [41] nghiên cứu về nội ký sinh trùng lợn tại một trang

trại nuôi lợn rừng ở Estonia, thấy tỷ lệ nhiễm các loài như sau: Oesophagostomum spp

64 %, T suis 21 %, Metastrongylus sp 7 % và Eimeria spp 100 %

Ngày đăng: 27/04/2016, 23:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Xuân Bình (1996), Điều trị bệnh heo nái, heo thịt, Nxb Tổng hợp Đồng Tháp, tr. 47 - 56 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều trị bệnh heo nái, heo thịt
Tác giả: Nguyễn Xuân Bình
Nhà XB: Nxb Tổng hợp Đồng Tháp
Năm: 1996
3. Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng, Lê Ng ọc Mỹ , Huỳnh Văn Kháng (1996), Bệnh ở lợn nái và lợn con, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 235 - 238 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh ở lợn nái và lợn con
Tác giả: Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng, Lê Ng ọc Mỹ , Huỳnh Văn Kháng
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1996
4. Nguyễ n Xuân Hoạt, Phạ m Đức Lộ (1980), Tổ chức phôi thai học, Nxb Đại học và trung học chuyên nghiệp Hà Nội, tr. 76 - 84 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức phôi thai học
Tác giả: Nguyễ n Xuân Hoạt, Phạ m Đức Lộ
Nhà XB: Nxb Đại học và trung học chuyên nghiệp Hà Nội
Năm: 1980
5. Lương Văn Huấn, Lê Hữu Khương (1990), Ký sinh và bệnh ký sinh ở gia súc, gia cầm, Nxb Nông nghiệp - Hà Nội, tr. 236 - 239 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ký sinh và bệnh ký sinh ở gia súc, gia cầm
Tác giả: Lương Văn Huấn, Lê Hữu Khương
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp - Hà Nội
Năm: 1990
6. Bùi Quý Huy (2006), Phòng chống các bệnh ký sinh trùng từ động vật lây sang người, Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội, tr. 71 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng chống các bệnh ký sinh trùng từ động vật lây sang người
Tác giả: Bùi Quý Huy
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 2006
7. Nguyễn Đăng Khải (1996), Nghiên cứu những đặc điểm dịch tễ học của các bệnh ký sinh trùng chính ở trâu bò lợn Việt Nam nhằm đề xuất biện pháp phòng trừ, Luận án Phó tiến sĩ khoa học nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu những đặc điểm dịch tễ học của các bệnh ký sinh trùng chính ở trâu bò lợn Việt Nam nhằm đề xuất biện pháp phòng trừ
Tác giả: Nguyễn Đăng Khải
Năm: 1996
8. Nguyễn Thị Kim Lan (1999), Bệnh giun sán đường tiêu hóa của dê địa phương ở một số tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam và biện pháp phòng trị, Luận án tiến sỹ Khoa học Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh giun sán đường tiêu hóa của dê địa phương ở một số tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam và biện pháp phòng trị
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Lan
Năm: 1999
9. Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Văn Quang và nguyễn Quang Tuyên (1999), Ký sinh trùng Thú y, Nxb Nông nghiệp - Hà Nội, tr. 12, 112 - 115 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ký sinh trùng Thú y
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Văn Quang và nguyễn Quang Tuyên
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp - Hà Nội
Năm: 1999
10. Nguyễn Thị Kim Lan, Lê Minh, Nguyễn Thị Ngân (2006), “Vai trò của ký sinh trùng đường tiêu hóa trong hội chứng tiêu chảy ở lợn sau cai sữa tại Thái nguyên”, Tạp chí khoa học kỹ thuật Thú y, Tập XII, số 3, tr. 30 - 40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của ký sinh trùng đường tiêu hóa trong hội chứng tiêu chảy ở lợn sau cai sữa tại Thái nguyên”, "Tạp chí khoa học kỹ thuật Thú y, Tập XII, số 3
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Lan, Lê Minh, Nguyễn Thị Ngân
Năm: 2006
11. Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Thị Lê, Phạm Sĩ Lăng, Nguyễn Văn Quang (2008), Ký sinh trùng học Thú y (giáo trình dùng chi bậc cao học), Nxb Nông nghiệp - Hà Nội, tr. 78 - 87 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ký sinh trùng học Thú y (giáo trình dùng chi bậc cao học)
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Thị Lê, Phạm Sĩ Lăng, Nguyễn Văn Quang
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp - Hà Nội
Năm: 2008
12. Nguyễn Thị Kim Lan, La Văn Công, Nguyễn Thị, Lê Minh (2009), “Tình hình bệnh tiêu chảy ở lợn con sau cai sữa và tỷ lệ nhiễm giun sán ở lợn tiêu chảy tại Thái Nguyên” Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y, Tập XVI, số 1, tr. 36 - 40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình bệnh tiêu chảy ở lợn con sau cai sữa và tỷ lệ nhiễm giun sán ở lợn tiêu chảy tại Thái Nguyên” "Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y, Tập XVI, số 1
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Lan, La Văn Công, Nguyễn Thị, Lê Minh
Năm: 2009
13. Nguyễn Thị Kim Lan (2012), Ký sinh trùng thú y, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 176 - 180 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ký sinh trùng thú y
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Lan
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2012
14. Phan Địch Lân, Phạm Sỹ Lăng, Đoàn Văn Phúc (2005), Bệnh giun tròn của vật nuôi ở Việt Nam, Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội, tr. 52 - 56, 110 - 115 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh giun tròn của vật nuôi ở Việt Nam
Tác giả: Phan Địch Lân, Phạm Sỹ Lăng, Đoàn Văn Phúc
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 2005
15. Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân, Trương Văn Dung (2005), Bệnh phổ biến ở lợn và biện pháp điều trị, Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội, tr. 148 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh phổ biến ở lợn và biện pháp điều trị
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân, Trương Văn Dung
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 2005
16. Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn văn Thọ (2006), Các bệnh ký sinh trùng và bệnh nội sản khoa thường gặp ở lợn và biện pháp phòng trị, Nxb Nông nghiệp - Hà Nội, tr. 39 - 43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các bệnh ký sinh trùng và bệnh nội sản khoa thường gặp ở lợn và biện pháp phòng trị
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn văn Thọ
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp - Hà Nội
Năm: 2006
17. Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Thị Kim Lan, Lê Ngọc Mỹ, Nguyễn Thị Kim Thành, Nguyễn Văn Thọ, Chu Đình Tới (2009), Ký sinh trùng và bệnh ký sinh trùng ở vật nuôi, Nxb Giáo dục Việt Nam, tr. 204 - 207 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ký sinh trùng và bệnh ký sinh trùng ở vật nuôi
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Thị Kim Lan, Lê Ngọc Mỹ, Nguyễn Thị Kim Thành, Nguyễn Văn Thọ, Chu Đình Tới
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
18. Nguyễn Thị Lê, Phạm Văn Lực, Hà Duy Ngọ, Nguyễn Văn Đức, Nguyễn Thị Minh (1996), Giun sán ký sinh ở gia súc Việt Nam, Nxb Khoa học - Kỹ thuật, tr. 157 - 158 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giun sán ký sinh ở gia súc Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Lê, Phạm Văn Lực, Hà Duy Ngọ, Nguyễn Văn Đức, Nguyễn Thị Minh
Nhà XB: Nxb Khoa học - Kỹ thuật
Năm: 1996
19. Phan Lục, Nguyễn Đức Tâm (2000), “Giun tròn chủ yếu ký sinh ở lợn và hiệu quả của thuốc tẩy”, Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y, tập XI, số 1, tr.70 - 73 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giun tròn chủ yếu ký sinh ở lợn và hiệu quả của thuốc tẩy”," Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y, tập XI
Tác giả: Phan Lục, Nguyễn Đức Tâm
Năm: 2000
20. Phan Lục (2006), Giáo trình bệnh ký sinh trùng thú y, Nxb Nông nghiệp - Hà Nội, tr. 124 - 126 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình bệnh ký sinh trùng thú y
Tác giả: Phan Lục
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp - Hà Nội
Năm: 2006
21. Đặng Văn Ngữ, Đỗ Dương Thái (1965), Ký sinh trùng y học, Nxb Y học và Thể dục thể thao, tr. 66 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ký sinh trùng y học
Tác giả: Đặng Văn Ngữ, Đỗ Dương Thái
Nhà XB: Nxb Y học và Thể dục thể thao
Năm: 1965

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.2. Sơ đồ vòng đời của giun T. suis - Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh do giun tròn trichocephalus spp  gây ra trên lợn tại thị xã sông công, tỉnh thái nguyên và biện pháp điều trị
Hình 2.2. Sơ đồ vòng đời của giun T. suis (Trang 15)
Bảng 4.1. Thời gian hoàn thành vòng đời và tình hình thải trứng - Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh do giun tròn trichocephalus spp  gây ra trên lợn tại thị xã sông công, tỉnh thái nguyên và biện pháp điều trị
Bảng 4.1. Thời gian hoàn thành vòng đời và tình hình thải trứng (Trang 38)
Bảng 4.2. Biểu hiện lâm sàng của lợn bị bệnh giun T. suis sau gây nhiễm - Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh do giun tròn trichocephalus spp  gây ra trên lợn tại thị xã sông công, tỉnh thái nguyên và biện pháp điều trị
Bảng 4.2. Biểu hiện lâm sàng của lợn bị bệnh giun T. suis sau gây nhiễm (Trang 39)
Hình 4.1. Biểu đồ số lượng hồng cầu, số lượng bạch cầu, hàm lượng huyết - Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh do giun tròn trichocephalus spp  gây ra trên lợn tại thị xã sông công, tỉnh thái nguyên và biện pháp điều trị
Hình 4.1. Biểu đồ số lượng hồng cầu, số lượng bạch cầu, hàm lượng huyết (Trang 42)
Hình 4.2. Biểu  đồ công thức bạch cầu của lợn  ở lô  đối chứng và lô gây nhiễm - Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh do giun tròn trichocephalus spp  gây ra trên lợn tại thị xã sông công, tỉnh thái nguyên và biện pháp điều trị
Hình 4.2. Biểu đồ công thức bạch cầu của lợn ở lô đối chứng và lô gây nhiễm (Trang 44)
Bảng 4.5. Bệnh tích đại thể ở cơ quan tiêu hoá lợn gây nhiễm - Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh do giun tròn trichocephalus spp  gây ra trên lợn tại thị xã sông công, tỉnh thái nguyên và biện pháp điều trị
Bảng 4.5. Bệnh tích đại thể ở cơ quan tiêu hoá lợn gây nhiễm (Trang 45)
Bảng 4.6. Tỷ lệ tiêu bản có bệnh tích vi thể - Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh do giun tròn trichocephalus spp  gây ra trên lợn tại thị xã sông công, tỉnh thái nguyên và biện pháp điều trị
Bảng 4.6. Tỷ lệ tiêu bản có bệnh tích vi thể (Trang 46)
Bảng 4.8. Tỷ lệ lợn có triệu chứng lâm sàng chủ yếu của bệnh giun T. suis - Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh do giun tròn trichocephalus spp  gây ra trên lợn tại thị xã sông công, tỉnh thái nguyên và biện pháp điều trị
Bảng 4.8. Tỷ lệ lợn có triệu chứng lâm sàng chủ yếu của bệnh giun T. suis (Trang 48)
Bảng 4.9. Tỷ lệ lợn có bệnh tích đại thể ở ruột già do giun T. suis - Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh do giun tròn trichocephalus spp  gây ra trên lợn tại thị xã sông công, tỉnh thái nguyên và biện pháp điều trị
Bảng 4.9. Tỷ lệ lợn có bệnh tích đại thể ở ruột già do giun T. suis (Trang 49)
Bảng 4.10. Hiệu lực của thuốc tẩy giun T. suis cho lợn trên thực địa - Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh do giun tròn trichocephalus spp  gây ra trên lợn tại thị xã sông công, tỉnh thái nguyên và biện pháp điều trị
Bảng 4.10. Hiệu lực của thuốc tẩy giun T. suis cho lợn trên thực địa (Trang 50)
Bảng 4.11. Độ an toàn của thuốc tẩy giun T. suis cho lợn trên thực địa - Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh do giun tròn trichocephalus spp  gây ra trên lợn tại thị xã sông công, tỉnh thái nguyên và biện pháp điều trị
Bảng 4.11. Độ an toàn của thuốc tẩy giun T. suis cho lợn trên thực địa (Trang 51)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w