Luận văn “Nghiên cứu đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển một số loài cây Lâm sản ngoài gỗ ở xã Đồng Lâm - huyện Hoành Bồ - tỉnh Quảng Ninh” được hoàn thành tại Trường Đại học Nông Lâ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
L£ §×NH ANH
"NGHI£N CøU §Ò XUÊT GI¶I PH¸P B¶O TåN Vµ PH¸T TRIÓN MéT Sè LOµI C¢Y L¢M S¶N NGOµI Gç ë X$ §åNG
L¢M - HUYÖN HOµNH Bå - TØNH QU¶NG NINH"
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
THÁI NGUYÊN, 2012
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS Nguyễn Huy Sơn
Thái Nguyên, 2012
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những lời cam đoan trên
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2012
Người làm cam đoan
Lê Đình Anh
Trang 4Luận văn “Nghiên cứu đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển một số loài cây Lâm sản ngoài gỗ ở xã Đồng Lâm - huyện Hoành Bồ - tỉnh Quảng Ninh” được hoàn
thành tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên theo chương trình đào tạo cao học chuyên ngành Lâm nghiệp, khóa 18 (2010-2012)
Trong quá trình học tập và thực hiện luận văn, tác giả đã nhận được sự qua tâm giúp đỡ của Ban giám hiệu, Khoa sau đại học và các thầy cô giáo Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, các bạn bè đồng nghiệp và các cán bộ địa phương tại xã Đồng Lâm, huyện Hoành Bồ nơi tác giả thực hiện luận văn Nhân dịp này, tác giả xin bày tỏ lòng biết
ơn sâu sắc trước sự quan tâm và giúp đỡ quý báu đó
Đặc biệt, tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới PGS.TS Nguyễn Huy
Sơn, người thầy đã hướng dẫn nhiệt tình, truyền đạt kinh nghiệm quý báu, những ý tưởng trong nghiên cứu khoa học giúp tác giả hoàn thành luận văn
Mặc dù đã hết sức cố gắng và nỗ lực, nhưng kinh nghiệm nghiên cứu còn hạn chế,
đặc biệt là hạn chế về mặt thời gian trong quá trình nghiên cứu nên luận văn chắc chắn
không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Tác giả rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô giáo và bạn bè đồng nghiệp để cho luận văn được hoàn chỉnh hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Tác giả
Lê Đình Anh
Trang 5MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1.TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Trên thế giới 3
1.1.1 Khái niệm Lâm sản ngoài gỗ 3
1.1.2 Phân loại Lâm sản ngoài gỗ 4
1.1.3 Các nghiên cứu về vai trò và tiềm năng của Lâm sản ngoài gỗ 6
1.1.4 Về giá trị kinh tế, xã hội của Lâm sản ngoài gỗ 8
1.1.5 Các nghiên cứu về sử dụng bền vững, giải pháp nâng cao vai trò của LSNG 13
1.2 Ở trong nước 14
1.2.1 Khái niệm về lâm sản ngoài gỗ 14
1.2.2 Về phân loại Lâm sản ngoài gỗ ở Việt Nam 15
1.2.3 Các nghiên cứu về vai trò, tiềm năng của Lâm sản ngoài gỗ 17
1.2.4 Tình hình quản lý Lâm sản ngoài gỗ ở Việt Nam 21
1.3 Một số nghiên cứu về LSNG tại xã Đồng Lâm, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh 22
Chương 2.MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, GIỚI HẠN, NỘI DUNGVÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 24
2.1.1 Mục tiêu chung 24
2.1.2 Mục tiêu cụ thể 24
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 24
2.3 Nội dung nghiên cứu 24
2.3.1 Nghiên cứu đánh giá tiềm năng LSNG ở xã Đồng Lâm 24
2.3.2 Đánh giá thực trạng kỹ thuật gây trồng, khai thác các loài LSNG, bao gồm cả kỹ thuật truyền thống và kỹ thuật hiện đại (chú trọng các loài cây có giá trị) 25 2.3.3 Nghiên cứu xác định giá trị và thị trường tiêu thụ một số loài LSNG chủ yếu 25
2.3.4 Đánh giá hiệu quả kinh tế của một số mô hình trồng cây LSNG điển hình ở địa phương để làm cơ sở nhân rộng 25
2.3.5 Nghiên cứu ảnh hưởng của các chính sách đã áp dụng ở địa phương tới việc bảo tồn và phát triển LSNG 25
2.3.6 Đề xuất một số giải pháp phát triển các loài LSNG ở địa phương 25
2.4 Phương pháp nghiên cứu 25
2.4.1 Phương pháp nghiên cứu chung 25
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể 26
2.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 29
Chương 3.ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 32
3.1 Điều kiện tự nhiên 32
3.1.1 Vị trí địa lý 32
3.1.2 Khí hậu, thuỷ văn 32
3.1.3 Địa hình 33
3.1.4 Thổ nhưỡng 33
3.1.5 Hiên trạng đất đai, tài nguyên rừng 33
3.2 Điều kiện dân sinh kinh tế - xã hội 35
Trang 63.2.1 Điều kiện dân sinh 35
3.2.2 Điều kiện kinh tế: 35
3.2.3 Cơ sở hạ tầng, dịch vụ 36
3.3 Nhận xét và đánh giá chung 36
3.3.1 Thuận lợi 36
3.3.2 Khó khăn 37
Chương 4.KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 38
4.1 Tiềm năng các loài cây LSNG ở xã Đồng Lâm 38
4.1.1 Thực trạng các loài cây LSNG hiện có ở xã Đồng Lâm 38
4.1.2 Lựa chọn một số loài cây LSNG có giá trị và tiềm năng phát triển 43
4.2 Đặc điểm sinh thái, kỹ thuật gây trồng và khai thác sử dụng các loài có giá trị ở xã Đồng Lâm 43
4.2.1 Cây tre Bát độ 43
4.2.2 Cây Trám trắng 49
4.2.3 Cây Ba kích 53
4.2.4 Cây Tai chua 58
4.3 Giá trị sử dụng, thị trường tiêu thụ một số loài cây LSNG có giá trị 63
4.3.1 Cây tre Bát độ 63
4.3.2 Cây Trám trắng 64
4.3.3 Cây Ba kích 65
4.3.4 Cây Tai chua 66
4.4 Hiệu quả về kinh tế một số mô hình trồng cây LSNG có giá trị 67
4.4.1 Chi phí xây dựng mô hình 67
4.4.2 Hiệu quả kinh tế 71
4.5 Ảnh hưởng của các chính sách đã áp dụng đến việc bảo tồn và phát triển LSNG ở Đồng Lâm 73
4.5.1 Chính sách về đất đai, quy hoạch, giao đất giao rừng 73
4.5.2 Chính sách về hỗ trợ kỹ thuật: Đào tạo, tập huấn, khuyến lâm… 74
4.5.3 Chính sách về khai thác, vận chuyển, tiêu thụ sản phẩm 74
4.5.4 Chính sách về vay vốn và hỗ trợ lãi suất 74
4.5.5 Chính sách về hỗ trợ đầu tư 75
4.5.6 Những thuận lợi và bất cập của các chính sách hiện hành như sau: 75
4.6 Đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển cho các loài cây LSNG 76
4.6.1 Giải pháp về kỹ thuật 77
4.6.2 Giải pháp về chính sách 78
Chương 5.KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KHUYẾN NGHỊ 80
5.1 Kết luận 80
5.1.1 Thực trạng các loài cây LSNG ở xã Đồng Lâm 80
5.1.2 Đặc điểm sinh thái, kỹ thuật gây trồng một số loài cây LSNG có giá trị 80
5.1.3 Thị trường tiêu thụ các loài LSNG có giá trị 81
5.1.4 Hiệu quả kinh tế các loài LSNG có giá trị 82
5.1.5 Ảnh hưởng của các chính sách đến bảo tồn và phát triển các loài LSNG 82
5.2 Tồn tại 82
5.3 Khuyến nghị 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
Tiếng Việt Nam 84
Tiếng Anh 85
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
1.1 Xuất nhập khẩu Lâm sản ngoại gỗ ở Việt Nam (1999-2004) 20 1.2 Xuất khẩu gỗ, các sản phẩm từ gỗ và quế (2000-2007) 20
4.2 Danh sách các loài cây cho sản phẩm chiết xuất 39
4.7 Kinh nghiệm của các hộ gia đình trong việc xác định mật độ trồng Bát độ 46
4.12 Xác định thời vụ trồng và mật độ trồng Ba kích 55
4.15 Đặc điểm sinh trưởng của cây Ba kích ở tuổi 2-3 57 4.16 Xác định thời vụ trồng và mật độ trồng Tai chua 59
4.19 Đặc điểm sinh trưởng của cây tai chua ở tuổi 15 62 4.20 Chi phí cho 1ha mô hình trồng và chăm sóc tre Bát độ chu kỳ 10 năm 67 4.21 Chi phí cho 1ha mô hình trồng Trám trắng chu kỳ 10 năm 68 4.22 Chi phí cho 1ha mô hình trồng Ba kích chu kỳ 6 năm 69 4.23 Chi phí cho 1ha mô hình trồng Tai chua chu kỳ 10 năm 70 4.24 Hiệu quả kinh tế của một số mô hình cây LSNG tại Đồng Lâm 71
Trang 8STT Trang
Hình 4.2 Hình ảnh thân, lá cây Trám trắng tại Đồng Lâm 49 Hình 4.3 Hình ảnh thân, lá và củ cây Ba kích tại Đồng Lâm 53 Hình 4.4 Hình ảnh thân, lá cây Tai chua tại Đồng Lâm 58
Trang 9BẢNG CHÚ GIẢI CHỮ VIẾT TẮT VÀ CÁC KÝ HIỆU
- Bộ NN&PTNT: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn;
- D1,3: Đường kính cây tại vị trí 1,3 m;
- D00: Đường kính gốc cây;
- F: Tiêu chuẩn kiểm tra của Fisher;
- Hchồi: Chiều cao chồi;
- PTPS: Phân tích phương sai;
- Sh, Sd : Sai tiêu chuẩn về chiều cao, đường kính;
- Sh%, Sd%: Hệ số biến động chiều cao, đường kính;
- CT: Công thức;
- PP: Phương pháp;
- N/ha: Mật độ;
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Lâm sản ngoài gỗ (LSNG) là một thành phần quan trọng của hệ sinh thái rừng Việt Nam nói riêng và của hệ sinh thái rừng nhiệt đới nói chung, là nguồn thu nhập đáng kể của người dân Nhiều địa phương ở miền núi, nguồn thu từ LSNG chiếm từ 10-20% trong tổng thu nhập kinh tế hộ gia đình, chủ yếu là nguồn lương thực, thực phẩm và thuốc chữa bệnh đáp ứng nhu cầu thiết yếu hàng ngày
LSNG không những góp phần cung cấp nguyên liệu cho các ngành công nghiệp, thủ công mỹ nghệ, chế biến lâm sản mà còn đóng góp tích cực cho nền kinh tế quốc dân thông qua các mặt hàng xuất khẩu Hàng năm, kim ngạch xuất khẩu 8 mặt hàng LSNG chủ yếu ngày một tăng: năm 2002 đạt 108 triệu USD, năm 2003 đạt 154 triệu USD, năm 2004 đạt 198 triệu USD, năm 2007 đạt 219 triệu USD, năm 2008 đạt 250 triệu USD, năm 2010 đạt 255 triệu USD, năm 2011 đạt hơn 380 triệu USD Ngoài ra, LSNG còn có vai trò quan trọng trong bảo vệ môi trường, bảo vệ rừng, làm tăng giá trị kinh tế của rừng góp phần khôi phục, nâng cao giá trị của các khu rừng nghèo Hơn nữa, việc khai thác LSNG ít ảnh hưởng đến cấu trúc tầng cây gỗ, vẫn giữ được vai trò bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học của rừng
Để quản lý, sử dụng và phát triển tài nguyên rừng một cách bền vững, đồng thời vừa nâng cao thu nhập cho người dân từ chính diện tích rừng của mình thì việc gây trồng, phát triển LSNG là một trong những giải pháp hữu hiệu đã được thực tế chứng minh Trong những năm gần đây, Bộ NN&TNT cũng như Chính phủ đã ban hành một
số chính sách khuyến khích việc gây trồng và phát triển LSNG, cụ thể như đề án bảo tồn và phát triển LSNG giai đoạn 2006-2020, kế hoạch hành động bảo tồn và phát triển LSNG giai đoạn 2007-2010 Đặc biệt, ngày 09/01/2012, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 57/QĐ-TTg về phê duyệt Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011-2020 Theo quyết định này, việc chú trọng gây trồng và phát triển LSNG ở tất cả các loại rừng là một trong những nhiệm vụ ưu tiên, đây là một hướng đi giúp người dân sống được bằng nghề rừng, gắn bó với rừng hơn
Tuy nhiên, tiềm năng kinh tế của LSNG chưa được phát huy, chưa đóng góp xứng đáng cho nền KTQD, mặt khác trong một thời gian dài, việc sử dụng rừng chủ yếu là khai thác gỗ, ít quan tâm đến việc bảo tồn và phát triển LSNG nên nguồn tài
Trang 11nguyên này có xu hướng bị suy giảm, ảnh hưởng đến cuộc sống của các cộng đồng dân cư sống ở gần rừng
Đứng trước thực trạng trên, việc nghiên cứu các giải pháp bảo tồn và phát triển nguồn LSNG để phục hồi và phát triển nguồn tài nguyên rừng góp phần tạo việc làm, cải thiện đời sống cho một bộ phận cư dân sống ở gần rừng có ý nghĩa thực tiễn rất lớn Trong những năm gần đây, nhiều tổ chức quốc tế cũng như Chính phủ Việt nam
đã thực hiện một số dự án nhằm bảo tồn đa dạng sinh học, xoá đói giảm nghèo, nâng cao nhận thức, đời sống và sức khoẻ cộng đồng cũng như các vấn đề phụ nữ và dân tộc thiểu số Tuy nhiên, diện tích rừng nước ta ngày càng bị thu hẹp về diện tích, giảm sút
vầ chất lượng, nhất là các loài cây thuốc quý, các loài thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao… ngày càng bị cạn kiệt, nhiều loài có nguy cơ bị tuyệt chủng Hơn nữa, những kiến thức bản địa từ việc gây trồng, khai thác, bảo quản đến chế biến và sử dụng ngày càng bị mai một Vì thế cần phải có các chương trình nghiên cứu bảo tồn và phát triển các loài LSNG cũng như kiến thức bản địa mang bản sắc văn hóa của từng địa phương trong cả nước
Xã Đồng Lâm là xã miền núi nghèo của huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh, đời sống văn hóa, y tế, giáo dục còn nhiều khó khăn, thiếu thốn Hầu hết các thôn, bản là đồng bào dân tộc Dao nên đa số có trình độ dân trí thấp, còn nhiều người không biết chữ Cuộc sống của họ phụ thuộc rất rõ vào tài nguyên rừng, nhất là nguồn LSNG là chủ yếu Vì thế, các hoạt động khai thác và buôn bán LSNG là hoạt động thường xuyên và mang tính không bền vững Trong thực tế, rất nhiều loài LSNG đã cạn kiệt, không còn để khai thác mặc dù trước đây có rất nhiều với trữ lượng lớn Nguyên nhân dẫn đến thực trạng này là do người dân khai thác mang tính hủy diệt, chưa chú ý tới việc bảo tồn, gây trồng, chăm sóc hoặc khai thác một cách hợp lý
Để góp phần bảo tồn và phát triển bền vững các loài LSNG ở địa phương, đồng thời nâng cao nhận thức cũng như đời sống cho cộng đồng người dân địa phương, việc
thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển một số loài cây Lâm sản ngoài gỗ ở xã Đồng Lâm - huyện Hoành Bồ - tỉnh Quảng Ninh” là cần
thiết, có ý nghĩa cả về khoa học và thực tiễn sản xuất, nhất là trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu như hiện nay
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Trên thế giới
1.1.1 Khái niệm Lâm sản ngoài gỗ
Trước đây những loài cây trong rừng không phải là gỗ thường được gọi là lâm sản phụ, một số loài có giá trị đặc biệt gọi là đặc sản Ngày nay thống nhất gọi các sản phẩm không phải là gỗ có ở trong rừng là lâm sản ngoài gỗ Khái niệm về Lâm sản ngoài gỗ là một khái niệm tương đối mới so với gỗ Đến nay, nhiều khái niệm về Lâm sản ngoài gỗ đã được đề xuất, điển hình là các khái niệm sau đây:
Tháng 11/1991, hội thảo chuyên gia vùng về Lâm sản ngoài gỗ Châu Á Thái Bình Dương tổ chức ở Bangkok - Thái Lan đã đưa ra khái niệm về Lâm sản ngoài gỗ:
“Lâm sản ngoài gỗ bao gồm tất cả các sản phẩm có thể tái sinh được của sinh vật, trừ gỗ, củi và than củi, được thu hái từ rừng, đất rừng hoặc từ thực vật thân gỗ Như vậy, các sản phẩm như cát, đá, nước và du lịch sinh thái không phải là Lâm sản ngoài gỗ”
Nhóm chuyên gia này nhấn mạnh rằng du lịch sinh thái không phải là Lâm sản ngoài gỗ Quan điểm này khác với quan điểm của Chandrasekhan (1995) cho rằng Lâm sản ngoài gỗ bao gồm cả những dịch vụ do rừng đem lại như câu cá, cắm trại, quan sát chim thú và thưởng ngoạn
Năm 1992, FAO thì cho rằng “Lâm sản ngoài gỗ là tất cả các sản phẩm không phải là gỗ phục vụ thương mại, công nghiệp và sinh kế, được cung cấp từ rừng và sinh khối của rừng, chúng được khai thác ổn định, nghĩa là khai thác từ một hệ sinh thái rừng với một khối lượng không ảnh hưởng tới chức năng tái sản xuất cơ bản của rừng.”
Năm 1995, hội thảo chuyên gia được tổ chức ở Tanzania (Châu Phi), đã đưa ra khái niệm:
“Tất cả các sản phẩm động vật, thực vật được cung cấp từ rừng, đất rừng và các cây rừng ở ngoài rừng; không kể gỗ tròn công nghiệp, gỗ dùng làm năng lượng, sản phẩm từ vườn và chăn nuôi
Năm 1995, FAO lại đưa ra một khái niệm khác tổng quát hơn về Lâm sản ngoài
gỗ, đó là: “Lâm sản ngoài gỗ bao gồm các sản phẩm có nguồn gốc từ sinh vật cũng
Trang 13như các dịch vụ được cung cấp từ rừng hoặc các loại đất được sử dụng dưới dạng tương tự, không kể gỗ và các dạng gỗ”
Các khái niệm chủ yếu do FAO đưa ra ở trên đều chưa hoàn thiện, năm 1999, hội nghị của FAO lại đưa ra một khái niệm ngắn gọn về Lâm sản ngoài gỗ:
“Lâm sản ngoài gỗ (non timber forest product - NTFP, hoặc Non wood forest products - NWFP) bao gồm các sản phẩm có nguồn gốc sinh vật, khác gỗ, được khai thác từ rừng, và từ cây gỗ ở ngoài rừng”
Khái niệm này được để ngỏ và trưng cầu ý kiến đóng góp của các nhà khoa học
để hoàn thiện khái niệm về Lâm sản ngoài gỗ
Năm 2000, J.H De Beer, một chuyên gia về Lâm sản ngoài gỗ đã đưa ra khái niệm sau:
“Lâm sản ngoài gỗ là các nguyên liệu thô có nguồn gốc từ sinh vật không phải là
gỗ, được thu hoạch từ rừng cho mục đích sử dụng của con người Chúng có thể bao gồm thực phẩm, thuốc, gia vị, tinh dầu, nhựa béo, nhựa mủ, ta nanh, thuốc nhuộm, cây cảnh, động vật hoang dã (động vật sống hoặc sản phẩm của chúng), gỗ nhiên liệu và các nguyên liệu thô khác như tre nứa, song mây và thực vật gỗ nhỏ hoặc gỗ sợi”
Như vậy, quan niệm về Lâm sản ngoài gỗ là một vấn đề khó và phức tạp Trong
số các khái niệm đưa ra trên, khái niệm của FAO (1999) tương đối đầy đủ và được nhiều người ủng hộ hơn
1.1.2 Phân loại Lâm sản ngoài gỗ
Lâm sản ngoài gỗ rất đa dạng, phong phú và được sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau Do vậy, việc phân loại có nhiều quan điểm khác nhau Theo quan điểm hiện nay, Lâm sản ngoài gỗ được phân làm hai dạng chủ yếu sau:
- Phương pháp phân loại theo hệ thống sinh:
Theo phương pháp phân loại này thì các loại LSNG được phân theo hệ thống tiến hóa của sinh giới bao gồm hai nhóm chính: động vật và thực vật Giới động vật và giới thực vật tuy rất phong phú và đa dạng nhưng đều có thể sắp xếp một cách khách quan vào hệ thống các bậc phân loại từ lớn đến nhỏ: Giới/Ngành/Lớp/Bộ/Họ/Chi/Loài Có thể thấy phân loại theo phương pháp này đòi hỏi phải chú ý nhiều đến đặc điểm sinh học của loài và người sử dụng phải có hiểu biết nhất định về phân loại động thực vật
- Phương pháp phân loại Lâm sản ngoài gỗ theo nhóm giá trị sử dụng:
Trang 14Theo phương pháp này nhiều loài Lâm sản ngoài gỗ khác nhau không kể nguồn
gốc trong hệ thống sinh thái, nơi phân bố có cùng giá trị sử dụng được phân vào cùng một nhóm
Hội nghị Quốc tế tháng 11/1991 tại Bangkok đã chia LSNG làm 6 nhóm:
+ Nhóm 1 Các sản phẩm có sợi: bao gồm tre nứa, song mây, lá và thân có sợi và các loại cỏ
+ Nhóm 2 Sản phẩm làm thực phẩm: gồm các sản phẩm có nguồn gốc thực vật như: thân, chồi, rễ, củ, lá, hoa,… Các sản phẩm có nguồn gốc động vật như: Mật ong, thịt động vật rừng, trứng và côn trùng,…
+ Nhóm 3 Thuốc và mỹ phẩm có nguồn gốc thực vật
+ Nhóm 4 Các sản phẩm chiết xuất: Nhựa, nhựa dầu, nhựa mủ, ta nanh, dầu béo, tinh dầu
+ Nhóm 5 Động vật và các sản phẩm từ động vật không làm thực phẩm: tơ, động vật sống, chim, sừng, ngà, xương và nhựa cánh kiến đỏ
+ Nhóm bán tại địa phương
+ Nhóm được sử dụng trực tiếp bởi người thu hoạch
Ông cho rằng, nhóm thứ 3 là nhóm chiếm đa số, vì vậy giá trị đích thực của Lâm sản ngoài gỗ thường chưa được biết đến và tính toán cho phù hợp
Theo FAO phân loại các sản phẩm này vào danh mục như là một bước đầu tiên quan trọng của sự hiểu biết ngành kinh doanh Lâm sản ngoài gỗ Lâm sản ngoài gỗ có thể được phân loại chung vào nhóm ăn được và không ăn được Nhóm ăn được bao
Trang 15gồm cây ăn được và động vật, mật ong, dầu, cá, gia vị, vv… trong khi các sản phẩm không ăn được bao gồm các loại cỏ, cây cảnh, dầu để sử dụng làm mỹ phẩm, dược phẩm, vv… [28]
Năm 1995, C Chandrasekaran, một chuyên gia về Lâm sản ngoài gỗ của FAO đã đưa ra một khung phân loại về Lâm sản ngoài gỗ như sau:
- Thực vật sống và các bộ phận của chúng
- Động vật và các sản phẩm từ động vật
- Các sản phẩm được chế biến: như gia vị, dầu và nhựa thực vật
- Các dịch vụ từ rừng
1.1.3 Các nghiên cứu về vai trò và tiềm năng của Lâm sản ngoài gỗ
- Về công dụng và tiềm năng của Lâm sản ngoài gỗ:
Lâm sản ngoài gỗ một trong những nguồn tài nguyên thiên nhiên chủ yếu của rừng, từ lâu đã giữ một vai trò to lớn và quan trọng trong sự tồn tại và phát triển của các cộng đồng dân tộc sống ở vùng rừng núi, là nguồn nguyên liệu chính không thể thiếu đối với nhiều ngành công nghiệp, thủ công mỹ nghệ, hoá mỹ phẩm, dược phẩm, Ngày nay, nhiều loại LSNG đã trở thành những mặt hàng xuất khẩu có giá trị
Đã từ lâu nhiều nước trên thế giới, đặc biệt các nước nhiệt đới đã đầu tư nghiên cứu về LSNG nhằm định hướng quy hoạch phát triển
Số lượng các sản phẩm từ Lâm sản ngoài gỗ được coi là rất lớn Theo báo cáo của tổ chức Liên Hiệp Quốc và FAO (1998) cho thấy ít nhất 150 sản phẩm Lâm sản ngoài gỗ được tìm thấy trong các thị trường quốc tế Chẳng hạn chỉ riêng về năng lượng được biết tới 138 sản phẩm từ 80 loài trong rừng trên bán đảo Michigan
Theo Maxim Lobovikov (2009) [31] thì cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu hiện nay đã thu hút sự chú ý hơn tới Lâm sản ngoài gỗ, đặc biệt là nguồn thực phẩm thay thế Một nghiên cứu gần đây tiến hành tại ba cộng đồng ở miền Nam Cameroon tiết lộ rằng nông nghiệp cung cấp 80% lượng carbohydrate, nông thôn ở Cameroon nhận được 90% protein từ rừng Trái cây rừng và thảo dược là nguồn cung cấp vitamin
và chất dinh dưỡng cho cư dân nông thôn Hàng triệu người dân Châu Á phụ thuộc phần lớn vào sự cung cấp cá từ rừng ngập mặn
Ngoài ra, lâm sản ngoài gỗ cũng ngày càng được thừa nhận về vai trò của nó trong phát triển bền vững và bảo tồn các hệ sinh thái Có đến 80% dân số ở các nước đang phát triển sống phụ thuộc vào Lâm sản ngoài gỗ cho sinh hoạt, cả về kinh tế và dinh dưỡng
Trang 16Lâm sản ngoài gỗ đặc biệt quan trọng đối với phụ nữ ở các nước đang phát triển từ châu
Mỹ Latinh đến châu Á và châu Phi (Russel M và cộng sự, 1999) [37]
Hàng ngàn năm trước đây, thu thập cây dược liệu từ rừng ở Châu Á là một thành phần quan trọng của hệ thống y học cổ truyền, điều này vẫn có giá trị cho đến ngày nay Hầu hết các nước đã duy trì và hợp pháp hóa một hệ thống kép của việc cung cấp
cả thuốc tây và chăm sóc sức khỏe bằng cây dược liệu của y học cổ truyền (Adepoju
và cộng sự, 2007) [24]
Theo Elaine Marshall và Cherukat Chandrasekharan (2009) [25] nghiên cứu tại Nigeria, số lượng các loài thực vật hoang dã có tới 27 loài cho thực phẩm, 20 loài cho củi thương mại, 16 loài cho gỗ (chạm khắc và xây dựng), 8 loài cho thuốc nhuộm, 6 loài cho vật liệu lợp nhà và 6 loài để sử dụng khác như lễ nghi, lễ hội và thiết kế hoá trang Một phần nhỏ của thực vật hoang dã đã được thuần hóa, đặc biệt đối với y học
cổ truyền (24%), lễ nghi, lễ hội và hoá trang (15%) và thuốc nhuộm (13%) Người dân nông thôn đã có một số kiến thức về cây trồng, cây truyền thống được sử dụng làm thuốc nhuộm (31%), y học cổ truyền (25%) và thực phẩm (17%) Cộng đồng nông thôn đã nhận thức được một số loài thực vật hoang dã sử dụng hàng ngày đang có nguy cơ tuyệt chủng
Nguồn tài nguyên dược liệu được biết đến là rất phong phú và đa dạng Số liệu của IUCN/TRAFFIC/WWF về cây thuốc và cây có chất thơm trên toàn thế giới lên tới 40.000 - 50.000 loài, gần 2.500 loài được mua bán rộng rãi trên toàn thế giới; ở Châu
Âu có khoảng 2.000 loài cây thuốc được sử dụng vào mục đích thương mại Thống kê của IUCN (2004) cũng cho thấy khoảng 4.000 loài cây thuốc và cây có chất thơm trên thế giới đang bị đe dọa tuyệt chủng và chỉ có một vài trăm loài đang được gây trồng (Châu Âu 130-140 loài, trong khi đó đã có khoảng 2.000 loài được sử dụng với mục đích thương mại); khoảng 70% số loài có nguồn gốc từ các loài hoang dã [4]
Theo báo cáo của FAO (1996) [29], tại Bhutan và Thái Lan có hơn 300 loài cây thuốc, hệ thống y học cổ truyền ở đây được hành nghề rộng khắp Ở phía nam, với kiến thức gia truyền được truyền lại từ đời cha sang con trai Viện y học cổ truyền đã kết hợp giữa châm cứu và sử dụng cây dược liệu để chữa nhiều loại bệnh nhanh chóng trở nên phổ biến mặc dù bệnh viện hiện đại có cung cấp nhiều dịch vụ miễn phí
Về sử dụng các sản phẩm Lâm sản ngoài gỗ, các báo cáo khu vực Châu Á-Thái Bình Dương (2009) [25] cho biết ở đây tập trung phần lớn sản lượng của mây tre
Trang 17chiếm khoảng 80% sản lượng thế giới Mây và tre đã được sử dụng để đan giỏ (Salix viminalis) ở các vùng ôn đới, cận nhiệt đới và đũa (Clusia) ở Guyana, đặc biệt để sản xuất đồ thủ công mỹ nghệ
Theo báo cáo của FAO (1995) [28] về nguồn tài nguyên Mây, thế giới có khoảng
600 loài thuộc 13 chi trong các rừng nhiệt đới vùng đất thấp ở đông bán cầu Hầu hết các loài có phạm vi phân bố rất hạn chế trong tự nhiên, từ sát mực nước biển tới độ cao 3.000 m Trong số 13 chi được biết đến có 10 chi với khoảng 574 loài được tìm thấy ở Đông Nam Á và các vùng lân cận, từ Fiji tới tiểu lục địa Ấn Độ, và từ miền Nam Trung Quốc đến Queensland ở Úc Đông Nam Á được coi là trung tâm đa dạng sinh học của song mây Thương mại của loài mây chỉ khoảng 10% của tổng số loài được biết đến trên toàn thế giới
Theo Joost Foppes và cộng sự (2004) [35] tại Philippines, có khoảng 600 loài thuộc họ cau dừa, 90 loài mây, trong đó một 1/3 số loài mây là đặc hữu, chiếm 5% các loài mây trên toàn thế giới Trong đầu thập kỷ 1900, tại Philippines rừng bao phủ 70%,
21 triệu ha có các hệ sinh thái rừng đa dạng và phong phú, đến năm 2000 chỉ còn 5,39 triệu ha rừng Đánh giá cho thấy mất sinh cảnh rừng là mối đe dọa lớn cho sự tồn tại của các loài mây trong tự nhiên
1.1.4 Về giá trị kinh tế, xã hội của Lâm sản ngoài gỗ
Ngày nay các tổ chức quốc tế, chính phủ của các Quốc gia cũng như người dân vùng núi đã nhận thức được giá trị của các loài LSNG, chúng không chỉ có giá trị về kinh tế mà còn có giá trị cả về văn hoá xã hội và môi trường
1.1.4.1 Giá trị kinh tế
Theo báo cáo của Bert Jan Ottens (2005) [1] nhu cầu Lâm sản ngoài gỗ như sau:
- Nhu cầu của thế giới về thuốc có nguồn gốc từ thực vật tăng mạnh trong 10 năm qua, tăng nhanh hơn thuốc có nguồn gốc hóa học
- Thương mại thuốc có nguồn gốc từ thực vật ước tính khoảng 10 tỉ Euro hàng năm; tăng trưởng hơn 10% mỗi năm
- Nhu cầu về thuốc thiên nhiên tăng liên quan nhiều đến phong trào tiêu thụ xanh (thay thế hoặc phụ trợ cho thuốc tân dược)
- Nhu cầu về an toàn, chất lượng: Sản phẩm tiêu chuẩn hóa yêu cầu phải có nguyên liệu thô chất lượng cao, nghiên cứu và phát triển (R&D) sẽ tăng cường tính hợp pháp của thuốc có nguồn gốc từ thực vật
Trang 18Ngành Lâm sản ngoài gỗ phát triển ngày càng tăng, có xu hướng tăng nhanh hơn
so với ngành công nghiệp gỗ và được dự kiến tăng thêm trong tương lai Theo Mater, (New York Times, 1996) [29] thị trường cho các sản phẩm rừng khác như nấm chiếm gần 20% hàng năm trong những năm qua Ngoài ra, thị trường thuốc thảo dược của
Mỹ đã tăng trưởng với một tốc độ hàng năm ước tính khoảng 13-15% so với doanh số bán hàng của thảo dược
Theo đánh giá của Tinde van Andel (2006) [39] thực vật hoang dã được bán gần như tất cả trên thị trường ở châu Phi, Caribê và Thái Bình Dương, nhưng ít thông tin
về đóng góp của nó cho nền kinh tế quốc dân của các nước Rất ít quốc gia đăng ký các loài được bán, ở đâu, số lượng và giá cả Thậm chí ít được biết về những người thu hoạch bán cho họ và những người mua chúng Không giống như gỗ và sản phẩm nông nghiệp, theo dõi không thường xuyên, đánh giá các nguồn tài nguyên, chuỗi thị trường
và đóng góp kinh tế xã hội của LSNG ở cấp quốc gia không được thực hiện bất cứ nơi nào Xuất khẩu Lâm sản ngoài gỗ đôi khi mới thấy xuất hiện trong số liệu thống kê quốc gia Tuy nhiên, thị trường thế giới hàng năm của các sản phẩm thực vật hoang dã ước tính khoảng 60 tỷ USD, thị trường này tiếp tục tăng trưởng gần 20% mỗi năm Theo FAO (2002) [26] ở Trung Quốc và Ấn Độ là hai nước lớn nhất thế giới về sản xuất và tiêu dùng Lâm sản ngoài gỗ Trung Quốc thống trị thương mại thế giới
về LSNG (ước tính khoảng 11 tỉ USD vào năm 1994), tiếp theo là Ấn Độ, và sau đó Indonesia, Việt Nam, Malaysia, Philippines và Thái Lan
Theo FAO (1995) [28] ước tính thương mại sản phẩm mây đạt khoảng 4 tỷ USD trong đó các quốc gia Đông Nam Á chiếm 2,5 tỷ USD Trên thế giới, khoảng 700 triệu người sử dụng song mây và khoảng 2 triệu người ở vùng nhiệt đới châu Á trực tiếp phụ thuộc vào mây hoặc thực hiện việc thu hoạch và thương mại mây
Theo báo cáo của FAO (1995) [28] cho thấy các thương mại bên ngoài và giá trị thương mại của đồ nội thất làm từ mây lên đến 7-8 tỷ USD Tuy nhiên, gần 90% nguyên liệu thô được cung cấp từ các khu rừng tự nhiên và rất ít từ rừng trồng
Theo đánh giá của FAO (2002) [26] thì Trung Quốc có diện tích rừng tre trúc lớn
nhất ước tính khoảng từ 7-17 triệu ha, chủ yếu Trúc sào (Phyllostachys edulis) Hàng
năm sản xuất cọc tre khoảng 6-7 triệu tấn (1/3 tổng sản lượng thế giới) Ước tính giá trị thương mại thế giới hàng hoá từ tre khoảng 36,2 triệu USD, Trung Quốc và Thái Lan là những nơi cung cấp chính; Malaysia, Myanmar, Hàn Quốc, Indonesia, Việt
Trang 19Nam, Philippines và Bangladesh là nước xuất khẩu nhỏ Sản phẩm măng tre nhanh chóng mở rộng thị trường xuất khẩu, trong đó Trung Quốc là nước sản xuất chính trên thế giới và xuất khẩu (1.6 triệu tấn măng tươi trong năm 1999), tiếp theo là Thái Lan, Indonesia, Việt Nam và Malaysia Măng tre được sản xuất tại các trang trại
Theo FAO (1995) [28] sản phẩm hạt từ cây họ đậu (Parkia spp) ở Châu Phi được
tiêu thụ nhiều tại châu lục này và ở Đông Nam Á, Nam Mỹ Ở Tây Phi từ Gambia tới Cameroon cung cấp hơn 200.000 tấn hạt mỗi năm Các sản phẩm khác như bột cọ sagu làm thực phẩm được sử dụng rộng rãi trong khu rừng nhiệt đới Châu Á, bột các loài
Metroxylon là nguồn thực phẩm cung cấp năng lượng chính cho ít nhất hơn 300.000
người ở Melanesia (Thuộc hòn đảo Vanuatu- Nam Thái Bình Dương) và một triệu người sử dụng làm thực phẩm thường xuyên như một phần trong chế độ ăn uống hàng ngày trên thế giới Củ các loài dây leo khoai mỡ trong rừng được tiêu thụ nhiều ở Châu Phi, Châu Úc và Châu Á
Theo Verina Ingram (2009) [40] thương mại quốc gia về cây thuốc ở Nam Phi ước tính trị giá 6- 9 triệu USD/năm, hơn 600 loài được bán hàng năm ở Natal
Theo Tejaswi (2008) [38] năm 1997 thị trường thế giới về nấm hoang dã sử dụng
làm dược phẩm dinh dưỡng và làm là l.3 tỷ USD Chiết xuất từ nấm vân chi (Trametes versicolor), một loài nấm phổ biến ở British Columbia chiếm khoảng 16% tiêu dùng
hàng năm ở Nhật Bản để chống ung thư, và một số hoạt chất chiết xuất từ loài này bán
ở Tokyo với giá 1.500 - 2.000 USD/ kg
Theo Verina Ingram (2009) [40] hơn 4 tỷ người dân trên toàn cầu sống dựa vào
hệ thống y học cổ truyền với các loài thực vật cho việc chăm sóc sức khoẻ chủ yếu của
họ Ai Cập là quốc gia xuất khẩu cây thuốc quan trọng nhất ở châu Phi và là nước xuất khẩu đứng thứ 5 về cây thuốc trên thế giới Đầu những năm 1990, Ai Cập xuất khẩu 11.250 tấn dược phẩm thực vật/ năm, trị giá trên 12 triệu USD
Theo đánh giá của FAO (2002) [26] thì Trung Quốc và Indonesia đứng đầu về sản xuất nhựa dầu, ước tính khoảng 1,1 - 1,2 triệu tấn mỗi năm Trung Quốc đã nổi lên
là nước sản xuất lớn nhất thế giới về nhựa thông, với mức sản xuất hàng năm gần
400.000 tấn Nấm hoang dại ăn được, đặc biệt nấm moscela phát triển tự nhiên trong
các khu rừng ôn đới của Ấn Độ, Pakistan, Afghanistan, Trung Quốc, Nepal và Bhutan Theo đánh giá của EC-FAO, tổng sản lượng thế giới được ước tính là 150 tấn Pakistan
và Ấn Độ là nơi sản xuất lớn, hàng năm sản xuất và xuất khẩu khoảng 50 tấn moscela
Trang 20khô (tương đương 500 tấn moscela tươi) Tổng thương mại thế giới của moscela đạt
khoảng 50-60 triệu USD
Theo Verina Ingram (2009) [40] tại Congo Basin ở tỉnh Equateur Fumbwa có 6% LSNG tiêu thụ trong hộ gia đình, hơn 80% sản lượng được thương mại hoá trong đó
30 làng người lùn Píchmy Bantu trong khu vực lấy được 22% thu nhập từ LSNG Tuy nhiên 40% số thu hoạch đã sử dụng các phương pháp thu hoạch không bền vững, phá hủy sinh cảnh [40]
Nghiên cứu của FAO (2002) [26] Trung Quốc là nước sản xuất lớn và xuất khẩu
các loài nấm hoang dã, nấm Mộc nhĩ (Auricularia auricula) được xuất khẩu hàng năm khoảng 1.000 tấn trị giá khoảng 8 triệu USD, nấm Tuyết nhĩ (Tremella fuciformis) đạt tới 1.000 tấn, 1/3 trong số đó là xuất khẩu, nấm Hương (Lentinus edodes) hàng năm
ước tỉnh sản lượng khoảng 120.000 tấn, chiếm 38% sản lượng thế giới trong đó xuất khẩu hàng năm 1.000 tấn nấm hương khô, trị giá 20 triệu USD
Theo FAO (2002) [26] Indonesia là nước sản xuất lớn nhất thế giới về nhục đậu khấu và vỏ của nó, chiếm khoảng 3/4 thế giới về sản xuất và xuất khẩu Indonesia sản xuất 15.800 tấn nhục đậu khấu trong năm 1990 Thương mại Quế trên thế giới đạt khoảng 20.000-25.000 tấn mỗi năm, trong đó Indonesia chiếm 2/3 và Trung Quốc chiếm phần còn lại Sản xuất nhỏ bao gồm Việt Nam và Ấn Độ, khoảng 2.000-3.000 tấn quế vỏ được xuất khẩu từ Việt Nam hàng năm Chủ yếu xuất khẩu sang các nước châu Âu, Hoa Kỳ và Nhật Bản [26]
Đánh giá của FAO (1995) [28] tại Ấn Độ, LSNG được sản xuất rộng rãi và được
sử dụng ở Madhya Pradesh, Maharastra, Orissa, Bihar, Tây Bengal, Gujarat, Andhra Pradesh và Đông Bắc Hoa Kỳ Nhóm bộ lạc đã dần dần đẩy vào vùng biên, nơi sản lượng nông nghiệp thấp và không chắc chắn, do đó ngành LSNG cung cấp việc làm chủ yếu cho 5,7 triệu người/năm Hầu như 50% doanh thu quốc gia về rừng và 80% xuất khẩu ròng thu nhập từ rừng sản xuất từ LSNG
Theo FAO (2002) [26] tổ Yến được khai thác nhiều ở Malaysia và Thái Lan cung cấp chủ yếu cho thị trường Trung Quốc Đồng thời Malaysia cũng là nước sản xuất và xuất khẩu lớn tổ chim, năm 1991 xuất khẩu tổ chim đạt tổng cộng 18,6 tấn, chủ yếu tới Hồng Kông, Singapore, Nhật Bản và Đài Loan, trị giá khoảng 1 triệu USD Ngoài ra, sản phẩm gồm (Karaya) sử dụng làm nước giải khát, thu được từ khai thác nhựa một
số cây cây của Chi Trôm (Sterculia) ở Ấn Độ là nhà sản xuất lớn duy nhất, tổng số sản
Trang 21xuất trên thế giới là khoảng 5.500 tấn/năm nhưng chủ yếu thị trường chính vẫn là Trung Quốc
Theo FAO (2002) [26] Bông gòn được sử dụng nhồi cho nệm, túi ngủ và chất cách điện Thái Lan và Indonesia là những nước cung cấp chính trong thị trường thương mại của thế giới Nhật Bản, Trung Quốc, Liên minh châu Âu và Hoa Kỳ là thị trường lớn Trong năm 1992 tổng giá trị thương mại thế giới về loại LSNG này khoảng 11 triệu USD, trong đó có khoảng 66% được đóng góp của Thái Lan và 16% của Indonesia Ngoài ra, Thái Lan và Ấn Độ thống trị thương mại thế giới về cánh kiến đỏ, mỗi năm xuất khẩu trung bình khoảng 6.000 tấn/năm, Việt Nam xuất khẩu trung bình hàng năm khoảng 300 tấn, Trung Quốc sản xuất khoảng 3.000 tấn
Roderick P Neumann (2000) [36] khảo sát 470 hộ gia đình ở tỉnh Luang Nam Tha - Lào (Nale và huyện Sing) cho thấy hộ gia đình trung bình trong khoảng thời gian
10 năm, sẽ có 5-6 năm với năng suất gạo bình quân (9 tháng/năm đủ gạo để ăn), 3-4 năm với sản lượng thấp (5-6 tháng đủ gạo để ăn) và 1-2 năm với năng suất cao (không thiếu) Nghiên cứu đi đến kết luận Lâm sản ngoài gỗ đóng góp trên 61% thu nhập bình quân của các hộ gia đình (74% ở Nale, 48% ở huyện Sing), khoảng 60 USD cho mỗi gia đình Tác giả kết luận rằng hầu như tất cả các thu nhập xuất phát từ bán Lâm sản ngoài gỗ, được sử dụng để mua gạo (55/61 hoặc 90%)
1.1.4.2 Giá trị xã hội
Ngoài giá trị kinh tế, nhiều nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng LSNG đóng vai trò quan trọng đối với xã hội trong việc giải quyết công ăn việc làm, giảm thiểu thất nghiệp, xoá đói giảm nghèo hoặc nâng cao vai trò của giới trong cộng đồng điển hình
là một số nghiên cứu sau đây:
Nghiên cứu của Roderick P Neumann và Eric Hirsch (2000) [36] chỉ ra rằng lao động cho các hoạt động khác nhau liên quan trong việc khai thác đưa LSNG từ rừng
ra thị trường thường được phân chia giới tính Trong đó, phụ nữ thường là những người chủ yếu khai thác, xử lý và tiếp thị LSNG Mặc dù vai trò tích cực của phụ nữ trong thu hoạch và sử dụng nhưng họ thường không có kiểm soát trực tiếp thu nhập
có nguồn gốc từ LSNG, do đó có thể không trực tiếp hưởng lợi từ thương mại hóa tăng lên Nghiên cứu cũng cho thấy thương mại hóa các dự án LSNG rõ ràng tập trung vào sự tham gia của phụ nữ có thể có tác dụng gia tăng quyền lực chính trị và kinh tế của họ
Trang 22Theo IFAD (2008) [34] ở Scotland sự quan tâm đến LSNG đã được tăng lên trong
10 năm qua Nghiên cứu đã chỉ ra rằng trong phạm vi tại Scotland, 24% dân số có thu hái LSNG trong 5 năm trước đây và 80% những người đó (tương đương khoảng 19% tổng số dân Scotland) đã thu hái LSNG trong 12 tháng trong năm, nhưng đa số chỉ được sử dụng
1.1.5 Các nghiên cứu về sử dụng bền vững, giải pháp nâng cao vai trò của LSNG
Một số tổ chức quốc tế tiêu biểu trong hoạt động nghiên cứu về LSNG như tổ chức Nông lương thế giới (FAO), trung tâm nghiên cứu nông nghiệp quốc tế (CIFOR),
tổ chức quốc tế về tre nứa và song mây (INBAR) tập trung chủ yếu vào các nhóm nghiên cứu sau:
- Khảo sát tình hình nhằm cung cấp những hiểu biết chung về sử dụng LSNG
và tầm quan trọng cuả LSNG ở các mức độ khác nhau (hộ gia đình, địa phương, quốc gia và quốc tế);
- Phát triển công nghệ để cải thiện quá trình chế biến và sử dụng LSNG;
- Nghiên cứu gây trồng LSNG;
- Nghiên cứu về kinh tế, xã hội, bao gồm cả nghiên cứu về thị trường LSNG Việc quan tâm đến công nghệ sau thu hoạch thường ít ỏi, vì thế gây lãng phí cả
về số lượng và chất lượng trong quá trình thu hái, vận chuyển và cất trữ các sản phẩm LSNG (FAO, 1995) Một số vấn đề nổi cộm trong sản xuất, chế biến LSNG ở các
Trang 23nước đang phát triển là kỹ thuật khai thác và xử lý sau thu hoạch; thiếu các nghiên cứu
về phát triển giống loài cao sản; kỹ thuật chế biến kém hiệu quả; thiếu các giải pháp điều chỉnh chất lượng; khó khăn về thị trường và thiếu cán bộ được đào tạo, v.v
Chương trình Rừng, cây và con người (FTPP) (1992) đã nghiên cứu và đề xuất các bản hướng dẫn để tạo ra các hệ thống thông tin thị trường LSNG ở mức địa phương Phương pháp này được kiểm nghiệm ở Bangladesh và Uganda năm 1993
Theo nghiên cứu của FAO (2009) [31] liên quan tới quản lý rừng để sản xuất gỗ thì LSNG và dịch vụ môi trường chỉ nhận được rất ít sự chú ý của ngành lâm nghiệp cho đến gần đây LSNG tăng trưởng chậm trong thập niên 1980 Shiva (1995) gọi LSNG là "tiềm năng trụ cột của lâm nghiệp bền vững" Giá trị hiện tại và tiềm năng của các LSNG cho các cộng đồng địa phương đang được sử dụng trong việc hợp nhất bảo tồn và phát triển của các dự án (ICDPs)
Theo đánh giá của Roderick P Neumann và Eric Hirsch (2000) [36] trữ lượng
gỗ khai thác từ rừng nhiệt đới khủng hoảng ở Nam Mỹ vào cuối những năm 1980 đã loé lên một làn sóng mới quan tâm đến LSNG Do đó, các nghiên cứu chủ yếu tập trung về LSNG đã được thực hiện tại đây
Adepoju, Adenike Adebusola và Salau, Adekunle Sheu (2007) [24] nghiên cứu
về giá trị kinh tế của LSNG đưa ra nhận định: Trong quá khứ, các cơ sở hợp lý cho việc bảo tồn rừng chỉ đơn giản để duy trì vai trò rừng sản xuất cho ngành công nghiệp
gỗ Tuy nhiên điều này đã thay đổi ở nhiều nước trong 15 năm qua Với sự nổi lên của khu bảo tồn tại Brazil, Lâm nghiệp cộng đồng ở Nepal, Quản lý rừng ở Ấn Độ và các sáng kiến tương tự ở nhiều nước khác, người dân địa phương đã được tiếp cận với những lợi ích đáng kể từ LSNG
1.2 Ở trong nước
1.2.1 Khái niệm về lâm sản ngoài gỗ
Trước năm 1991, sản phẩm chính của rừng được khai thác sử dụng chủ yếu là gỗ, các lâm sản khác như: song, mây, tre, nứa, dầu nhựa, cây thuốc còn ít được quan tâm
và quản lý nên gọi là lâm sản phụ (Minor forest product) Sau năm 1961, một số loài
lâm sản phụ có giá trị đặc biệt trong sử dụng và thương mại như: hồi, quế, thảo quả,
nấm hương thì gọi là đặc sản rừng (Special forest product) Vài thập kỷ gần đây, vai
trò và chức năng cung cấp gỗ của rừng, nhất là rừng tự nhiên nhiệt đới ngày càng hạn chế, vai trò và chức năng phòng hộ môi trường của rừng ngày càng được thể hiện rõ và
Trang 24được quan tâm nhiều hơn trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu hiện nay Muốn phát triển rừng nhằm bảo vệ môi trường sinh thái kết hợp với phát triển kinh tế, cải thiện đời sống của người dân làm nghề rừng thì lâm sản phụ hay đặc sản rừng lại có vai trò hết sức quan trọng Chính vì lẽ đó một thuật ngữ mới được đề xuất và sử dụng
là Lâm sản ngoài gỗ (LSNG)
Ở Việt Nam chưa có thấy một khái niệm nào về LSNG, mà chỉ nói đến giá trị của một số loại LSNG ảnh hưởng tới từng mặt của xã hội như: Đỗ Tất Lợi (1991) cho rằng xuất xứ của dược liệu hầu hết là các sản phẩm của rừng; Lê Mộng Chân (1992) cho rằng nhiều loài cây rừng cho các sản phẩm tự nhiên ngoài gỗ, đó là cây đặc sản; Trần Hợp (2000) thì đưa ra 6 nhóm cây làm cảnh phục vụ cho đời sống tinh thần của con người
Trong quá trình thực hiện Dự án pha II tại Việt Nam do chính phủ Hà Lan tài trợ
từ năm 2002-2007 thì nhóm chuyên gia Việt Nam chấp nhận định nghĩa của FAO năm
1999, nhưng giải thích thêm rằng “Những lợi ích gián tiếp từ rừng mang lại như củi, than gỗ và những dịch vụ trong rừng như săn bắn, giải trí, du lịch sinh thái, hấp thụ khí nhà kính, bảo tồn đa dạng sinh học, cải tạo đất, không xếp vào LSNG mà gọi là dịch
vụ môi trường” Theo quan điểm này thì củi và than gỗ không phải là gỗ và cũng không phải là LSNG mà là dịch vụ môi trường
1.2.2 Về phân loại Lâm sản ngoài gỗ ở Việt Nam
Tháng 12 năm 1984 Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) đã thông qua Quyết định số 160/HĐBT về việc thống nhất quản lý lâm đặc sản Đây là hệ thống phân loại chính thức đầu tiên tại Việt Nam Theo Quyết định này, danh mục các loại lâm sản được xếp thành 2 nhóm chính trong hệ thực vật rừng và hệ động vật rừng, cụ thể như sau:
Hệ thực vật rừng gồm có các nhóm sau:
+ Nhóm cây cho nhựa, tinh dầu, dầu béo, tanin như: Nhựa Thông, Quế, Hồi, dầu Tràm, nhựa Trám, dầu Bạch đàn…
+ Nhóm cây thuốc như: Ba kích, Sa nhân, Hoàng đằng, Vàng đắng…
+ Nhóm thực vật sử dụng làm nguyên liệu cho hàng thủ công, như: Tre nứa, song mây, lá nón…
+ Nhóm thực vật sử dụng làm nguyên liệu công nghiệp như: Cánh kiến, nhựa thông, nhựa gôm…
Trang 25Hệ động vật rừng gồm các nhóm sau:
+ Nhóm động vật hoang dã cho da, lông, xương, ngà, mỡ, xạ, mật và các sản phẩm dược liệu Ví dụ như: Voi, hổ, báo, hươu, trăn, rắn, khỉ, nhím, ong, chim cảnh và các loài động vật khác
+ Nhóm các sản phẩm được chế biến từ nguyên liệu thô của động vật
Năm 1991, báo cáo của Bộ Lâm nghiệp (nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn) về "Tình trạng và triển vọng phát triển các loại lâm đặc sản của Việt Nam (Ministry of Forestry - Current Status of Perspective for Non - Wood/ (Special) Forest Products Devlopment in S R Vietnam) thì lâm đặc sản (hay Lâm sản ngoài gỗ) của Việt Nam được chia thành 9 loại sau:
1 Sản phẩm tinh dầu chiết xuất: Hoàng đàn, Pơ mu, Trầm hương, Quế, Hồi, Bạc hà
2 Cây sử dụng làm thuốc: Thảo quả, Sa nhân, Thảo quyết minh, Hoa hoè, Mã tiền, Trân châu, Ba kích, Củ mài, Bình vôi, Sâm ngọc linh
3 Cây thực phẩm: Nghệ, Gừng, Hạt điều, Hạt dẻ và các đồ gia vị
4 Sản phẩm dầu béo: Sở, Trẩu, các loại dầu ăn thực vật
5 Sản phẩm dầu nhựa và keo gôm: Trám, Dầu rái chai cục, dầu Thông
6 Chất tannin và thuốc nhuộm: Đước, Chàm nhuộm
7 Sản phẩm cho sợi: Thùa, Bông, Gạo, Gòn
8 Sản phẩm thủ công từ tre nứa và song mây
9 Các sản phẩm khác: Nấm ăn được, tơ lụa, lá cọ, lá nón , động vật và sản phẩm từ động vật
Theo Võ Văn Chi và Trần Hợp (1999) [23] về phân loại nhóm cây có ích đã phác thảo một hệ thống phân chia dựa trên các sản phẩm chính của cây cỏ để phân ra 11 nhóm theo công dụng như sau:
- Nhóm cung cấp gỗ
- Nhóm cho sợi
- Nhóm nhựa mủ, gôm, nhựa dầu
- Nhóm cây cho dầu béo, sáp mỡ
- Nhóm cây cho dầu thơm (hương liệu)
- Nhóm cây cây cho Tanin, chất nhuộm
- Nhóm cây làm thuốc, diệt sâu bọ, cỏ dại
Trang 26- Nhóm cây làm lương thực, cây cho bột, cho đường
- Nhóm cây làm thực phẩm
- Nhóm cây làm thức ăn gia súc
- Nhóm cây cho gia vị, nước uống
Dự án Lâm sản ngoài gỗ pha II thực hiện tại Trung tâm Nghiên cứu Lâm đặc sản, cũng đã dựa trên khung phân loại Lâm sản ngoài gỗ của FAO (2007) [20] để phân loại
và giới thiệu các loài Lâm sản ngoài gỗ ở Việt Nam theo công dụng
Như đã đề cập trên, tuy khung phân loại ở Việt Nam đã gần giống với phân loại của FAO, nhưng việc điều tra và thống kê chúng chưa được thống nhất Ví dụ như rừng tre nứa được thống kê riêng chưa đưa vào rừng đặc sản, hoặc một số loại như Cao su, Điều, Tiêu vẫn được thống kê là cây công nghiệp trong ngành nông nghiệp trong khi chúng chiếm một tỷ trọng rất lớn trong thành phần LSNG Để thuận lợi cho công tác quản lý, đề nghị đưa các loài cây này trong hệ thống các loài LSNG
Tóm lại, Lâm sản ngoài gỗ nếu hiểu theo các khái niệm và cách phân loại trên thì chúng có thành phần đa dạng, bao gồm toàn bộ các loại lâm sản trừ gỗ Để nghiên cứu toàn diện về Lâm sản ngoài gỗ, cần phải có một chương trình lớn, huy động nhiều nguồn lực mới đánh giá đúng mức vai trò của Lâm sản ngoài gỗ
1.2.3 Các nghiên cứu về vai trò, tiềm năng của Lâm sản ngoài gỗ
- Nghiên cứu về vai trò và tiềm năng của Lâm sản ngoài gỗ:
Theo Trần Văn Kỳ với tác phẩm "Dược học cổ truyền" đã giới thiệu một loạt thực vật có giá trị làm thuốc, tác giả tập trung mô tả về công dụng và nơi mọc của các loài thực vật này Theo Viện Dược liệu (2004) [21] đã phát hiện được 1863 loài cây làm thuốc ở Việt Nam thuộc 1033 chi, 236 họ và 101 bộ, 17 lớp, 11 ngành thực vật Theo Võ Văn Chi (1997) [22] con số này lên tới hơn 3.000 loài Chúng đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc chăm sóc sức khỏe con người từ xưa đến nay, đặc biệt là đối với người dân tộc thiểu số
Theo kết quả nghiên cứu của Dự án Lâm sản ngoài gỗ Việt Nam trong số 12.000 loài cây được thống kê có 76 loài cho nhựa thơm, 160 loài cho dầu, 600 loài cho tanin,
260 loài cho tinh dầu, 93 loài cho chất màu, 1498 loài cho các dược phẩm Theo dự đoán của nhiều nhà thực vật số loài thực vật bậc cao có thể lên tới 20.000 loài; hệ động vật cũng đã thống kê được 225 loài thú, 828 loài chim, 259 loài bò sát, 84 loài ếch nhái Dẫn theo Triệu Văn Hùng và các cộng sự (2007) [20]
Trang 27Theo Nguyễn Hữu Dũng (2005) [9] ở Việt Nam hiện nay đã xác định được 11.373 loài thực vật thuộc 2.524 chi và 378 họ Về động vật có xương sống có khoảng
310 loài thú, 840 loài chim, 286 loài bò sát và 162 loài lưỡng cư (Đặng Huy Huỳnh, 2005) và nhiều loài động vật không xương sống khác Trong đó có rất nhiều loài là LSNG có giá trị
Trong công trình nghiên cứu và bảo vệ tài nguyên thực vật sinh thái núi cao ở SaPa, Lã Đình Mỡi, Nguyễn Thị Thuỷ và Phạm Văn Thính (1995) [5] đã phân hạng LSNG theo hệ thống sinh và thống kê được tập đoàn đông đảo thực vật có giá trị làm thuốc ở địa phương
Trong báo cáo hội thảo quốc gia về Lâm sản ngoài gỗ năm 2005 tại Hà Nội [17] cho thấy tại Việt Nam đã có 28% các loài động vật, 10% các loài chim, 20% các loài
bò sát/ lưỡng cư đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng; 350 loài thực vật cũng đang có nguy cơ tuyệt chủng Báo cáo cũng cho thấy rằng về nguồn tài nguyên cây thuốc có khoảng 4.000 loài (truyền thống và hiện đại) được sản xuất tại Việt Nam đã đáp ứng được 30% tổng nhu cầu, còn 70% phải nhập khẩu Trong đó, hơn 2000 loài cây gỗ (238 họ thực vật) có đặc tính thảo dược; 300 loài cây được thu hoạch phục vụ cho các mục đích trong nước và thương mại; cây thuốc Việt Nam ở phía Bắc được nhập khẩu dưới dạng phơi sấy khô và hoặc dạng chiết suất; chỉ 10-20% được tiêu thụ hoặc chế biến trong nước
Phạm Hồng Ban và cộng sự (2009) [16] nghiên cứu về sự đa dạng cây thuốc ở vùng đệm khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên- Thanh Hóa đã xác định được 178 loài thuộc 142 chi và 75 họ Ngành Mộc lan có đa dạng cao nhất chiếm 94,38% tổng số loài Có 6 loài có nguy cơ bị tuyệt chủng được ghi trong sách đỏ Việt Nam (Danh lục
đỏ cây thuốc và nghị định 32/NĐ-CP/2006) Tác giả cũng cho thấy sự đa dạng về dạng thân, bộ phận sử dụng của cây làm thuốc và đa dạng trong các bộ phận được sử dụng Với 16 nhóm bệnh được sử dụng như ngoài da, thận, xương, mắt, thần kinh…
Theo Đỗ Huy Bích và các tác giả (2004) [3] trong cuốn “cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam” đã giới thiệu danh mục nhiều loài cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam bao gồm tên họ, đặc điểm nhận biết, phân bố sinh thái, thành phần hóa học, công dụng và cách nuôi trồng cho từng loài
Tiếp theo công trình của Đỗ Tất Lợi (2004) [4] đã giới thiệu chi tiết danh mục phần lớn nhiều loài cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam về tên gọi, đặc điểm
Trang 28sinh thái, hình thái, thành phần hóa học, công dụng và các bài thuốc liên quan nhiều loại bệnh Có thể nói đây là công trình chuyên sâu nhất về các vị thuốc cổ truyền Việt Nam chủ yếu có nguồn gốc từ thực vật
Nghiên cứu của Lê Thị Diên và Hồ Đăng Nguyên (2009) [8] về sự đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc Việt Nam tại Vườn Quốc gia Bạch Mã đã thống kê được tại khu vực có 120 loài thực vật thuộc 110 chi và 67 họ được sử dụng làm thuốc có 8 nhóm thuộc các dạng sống khác nhau: Cây phụ sinh, cây gỗ lớn, cây gỗ trung bình, cây gỗ nhỏ, cây bụi, cây dây leo thân gỗ, cây dây leo thân cỏ, cây cỏ đứng Trong đó, cây cỏ đứng chiếm 40% tổng số loài cây được người dân sử dụng làm thuốc Tác giả đã phân loại cây thuốc nam theo hệ thống sinh học, kết quả cho thấy có 114 loài (95% tổng số loài) được làm thuốc thuộc ngành Ngọc lan chữa nhiều loại bệnh như: Bao tử, viêm gan, sỏi thận, trị rắn độc
Trần Tuấn Kha (2009) [19] nghiên cứu về nấm Lỗ tại Ba Vì xác định 18 loài nấm
thuộc bộ nấm lỗ (Aphyllophorales) trong đó có sự đa dạng về hình thái Kết quả cũng
cho thấy các loài nấm này có nhiều công dụng khác nhau như làm thực phẩm, dược liệu, phân giải gỗ mục và kháng khối u
Nghiên cứu về khu hệ mây song tại Bà Nà - Núi Chúa - Đà Nẵng, Nguyễn Quốc Dựng (2009) [14] đã ghi nhận được 12 loài thuộc 3 chi chiếm 30% tổng số loài song
mây tại Việt Nam Có 2 loài mới là Mây tôm (Calamus crispus Henderson, N K Ban& N Q Dung) và Mây cám (Calamus fissilis Henderson, N K) bổ sung cho danh
lục mây song trên thế giới Có 8 loài được sử dụng làm đồ mỹ nghệ và đan lát, 4 loài chưa rõ công dụng
Theo Nguyễn Hoàng Nghĩa và cộng sự (2000), ở Việt Nam hiện có 6 chi song mây với 30 loài, mây nếp 19 loài, chi mây nước 4 loài, chi phướn 2 loài, chi mây húp 1 loài, chi song lá bạc 3 loài và chi song voi 1 loài Tác giả cũng đã mô tả tóm tắt hình thái, phân bố địa lý và sử dụng của từng loài [11]
Về nguồn tài nguyên tre trúc Việt Nam theo Biswas (1995) thì Việt Nam đã có tới 92 loài của 16 chi tre trúc (dẫn theo Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2005) [10] Theo thống
kê của sách thực vật chí Đông Dương thì ở Việt Nam có tới 61 loài thuộc 31 chi khác nhau (dẫn theo Nguyễn Ngọc Bình, Phạm Đức Tuấn 2007) [13]
Nghiên cứu về nguồn lợi chim ở Ninh Sơn - Ninh Thuận, Lê Đình Thủy (2009) [7] đã ghi nhận được 120 loài chim thuộc 46 họ và 14 bộ Thống kê đã xác định được
Trang 2917 loài chim quý hiếm có giá trị kinh tế và giá trị bảo tồn nguồn gen sinh sống ở 4 dạng sinh cảnh đặc trưng: Sinh cảnh rừng hỗn giao lá rộng và lá kim (86 loài chiếm 71,66%); sinh cảnh rừng thứ sinh, cây bụi ven sông suối, nương rẫy ở các sườn núi (74 loài chiếm 61,66%); sinh cảnh rừng lá rộng thường xanh (43 loài chiếm 35,83%); sinh cảnh khu vực dân cư, đất canh tác nông nghiệp (36 loài chiếm 30%)
Tại Quảng Ninh - Quảng Bình, Lê Đình Thủy (2009) [7] nghiên cứu về tài nguyên chim cũng đã thống kê được 161 loài chim thuộc 50 họ và 15 bộ phân bố ở 5 dạng sinh cảnh khác nhau Trong đó có 9 loài chim có giá trị bảo tồn nguồn gen và kinh tế Số loài chim ở đây chiếm 19,56% so với khu hệ chim Việt Nam
- Các nghiên cứu về thị trường Lâm sản ngoài gỗ ở Việt Nam:
Theo Phan Sinh (2005) [17] và Nguyễn Huy Sơn (2010) [12] cho thấy doanh thu xuất nhập khẩu LSNG tăng đều từ 15 đến 30% hàng năm, chiếm một phần nhỏ trong tổng doanh thu xuất nhập khẩu (58,37 tỉ USD/ năm 2004) Số liệu xuất nhập khẩu về Lâm sản ngoài gỗ từ năm 1999 đến 2004 như sau:
Bảng 1.1: Xuất nhập khẩu Lâm sản ngoài gỗ Việt Nam (1999-2004)
Năm
Thương mại (triệu USD)
Phi thương mại (triệu USD)
Thương mại (triệu USD)
Phi thương mại (triệu USD)
Năm 2007 xuất khẩu gỗ, các sản phẩm gỗ và quế xuất khẩu đạt được như sau
Bảng 1.2: Xuất khẩu gỗ, các sản phẩm gỗ và Quế (2000-2007)
Nguồn: Niên giám thống kê 2007
Nghiên cứu đánh giá về thị trường LSNG Việt Nam cho thấy còn ít và chưa đầy
đủ Ngoài giá trị trên trường quốc tế về xuất nhập khẩu đóng góp cho kinh tế quốc dân, phải kể đến giá trị tiềm ẩn mà LSNG chưa thể hiện Thiếu đánh giá vai trò to lớn của
Trang 30LSNG đối với vùng nông thôn, đặc biệt là các vùng miền núi vùng sâu, vùng xa mà đa
số cuộc sống của họ phụ thuộc vào rừng Một số nghiên cứu vai trò của giới trong thị trường LSNG cũng chưa được đánh giá đầy đủ
1.2.4 Tình hình quản lý Lâm sản ngoài gỗ ở Việt Nam
Nhận thấy rõ vai trò quan trọng của LSNG, Chính phủ đã ban hành nhiều chương trình, chính sách cho việc phát triển và bảo tồn rừng, trong đó có đề cập đến nội dung quản lý LSNG Một số chính sách quan trọng đã tạo nên sự chuyển biến về phát triển và quản lý LSNG như chính sách của chính phủ về giao đất giao rừng cho
hộ gia đình và cộng đồng quản lý (Nghị định 02/CP ngày 15 tháng 1 năm 1994; thông
tư 06LN/KN về giao đất lâm nghiệp; Nghị định 163/CP ngày 16/11/1999 về giao đất
và cho thuê đất lâm nghiệp); chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng cũng đã đề cập đến việc phát triển Lâm sản ngoài gỗ; luật bảo vệ và phát triển rừng (19/8/1991), thông
tư 13LN/KL của Bộ Lâm nghiệp đã ban hành nhiều quy định nhằm bảo vệ và phát triển tài nguyên động thực vật rừng quý hiếm
Hiện nay, LSNG được quản lý dưới nhiều hình thức khác nhau: quản lý nhà nước, quản lý cộng đồng và quản lý ở cấp hộ gia đình, cá nhân với nhiều mục đích khác nhau (kinh doanh, sử dụng cho mục đích tự cung tự cấp, nghiên cứu khoa học…) Trong đó việc lập kế hoạch quản lý bền vững LSNG dựa vào cộng đồng là một trong những vấn đề được quan tâm và nó đang ngày càng thể hiện rõ vai trò tích cực trong phát triển nguồn tài nguyên LSNG
Theo chiến lược phát triển Lâm nghiệp Việt Nam 2006-2020 [2] định hướng phát triển LSNG của Việt Nam đến năm 2020 dự kiến xuất khẩu lâm sản đạt trên 7,8
tỷ USD (bao gồm 7 tỷ USD sản phẩm gỗ và 0,8 tỷ USD sản phẩm Lâm sản ngoài gỗ) Đến năm 2020, LSNG trở thành một trong các ngành hàng sản xuất chính, chiếm trên 20% tổng giá trị sản xuất lâm nghiệp, giá trị LSNG xuất khẩu tăng bình quân 15 - 20%; thu hút khoảng 1,5 triệu lao động và thu nhập từ LSNG chiếm 15 - 20% trong kinh tế hộ gia đình nông thôn
Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã trình Quốc hội phê duyệt chương trình mục tiêu Quốc gia về bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2012-2020 Trong đó, đặc biệt quan tâm bảo vệ và phát triển LSNG nhằm giảm bớt áp lực về gỗ cũng như tăng cường các lợi ích từ rừng Các chương trình hoạt động khác như: Chương trình xây dựng mô hình trình diễn và đào tạo, huấn luyện cho chủ rừng; chương trình canh
Trang 31tác lâm nông kết hợp trên đất sau nương rẫy; Chương trình đào tạo cho cán bộ làm công tác khuyến lâm; Chương trình thông tin, tuyên truyền; Chương trình tư vấn và dịch vụ khuyến lâm
Mặc dù vậy, cho đến nay vẫn chưa có các chính sách và chương trình phát triển riêng cho LSNG mà các chính sách, chương trình phát triển LSNG vẫn lồng ghép vào các chính sách, chương trình liên quan đến quản lý tài nguyên rừng nói chung Điều này rất bất cập trong công tác quản lý vì mỗi loại LSNG có những đặc thù riêng về môi trường sinh thái, phương thức khai thác và công nghệ chế biến, làm hạn chế nhiều đến việc sử dụng hiệu quả và phát triển nguồn tài nguyên quý giá này
1.3 Một số nghiên cứu về LSNG tại xã Đồng Lâm, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh
Đồng Lâm là một xã vùng cao của huyện Hoành Bồ có tổng diện tích đất lâm nghiệp có rừng là: 11.510ha Người dân sống dựa vào rừng sản xuất và khai thác LSNG từ rừng tự nhiên là chủ yếu Tuy nhiên, các nghiên cứu về LSNG ở tỉnh còn ít chưa đáp ứng được tiềm năng đất đai cũng như kỳ vọng của người dân địa phương, nhưng cũng có thể đưa qua một số công trình điển hình liên quan như sau:
Dự án LSNG pha II tại Việt Nam đã triển khai hoạt động “Điều tra và phân loại cây thuốc cổ truyền dân tộc tại xã Đồng Lâm, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh” Với sự tham gia của tập thể cán bộ Viện Dược liệu do PGS.TS Nguyễn Văn
Tập (2006) làm chủ nhiệm Kết quả qua 10 ngày điều tra khảo sát, cùng với sự tham gia cung cấp thông tin của 22 người dân địa phương, kết quả đã ghi nhận được ở xã Đồng Lâm, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh có tổng số 288 loài cây thuốc, thuộc
233 chi, 107 họ của 6 ngành thực vật và nấm khác nhau Trong số 288 loài cây thuốc mọc tự nhiên đã ghi nhận được, có 49 loài nằm trong Danh sách “Những cây thuốc và
vị thuốc thiết yếu của Bộ Y tế” và danh sách “Những cây thuốc có giá trị sử dụng phổ biến ở Việt Nam”, có thể khai thác trong tự nhiên (do Viện Dược liệu tập hợp năm 2003) Báo cũng đã đưa ra đề xuất cần bảo tồn một số cây thuốc quý có giá trị như: Ba
kích (Morinda officinalis How), Cát sâm (Milletia speciora Champ), Hoàng tinh cách (Disporopsis longifolia Craib), Ngũ gia bì gai (Acanthopanax trifoliatus (L.), Thổ phục linh (Smilax glabra Roxb), Hoàng đằng (Fibraureca tinctoria Lour), Khôi tía (Ardisia gigantifolia Staff), Bình vôi (Stephania rotumda Lour )
Trang 32Ngoài ra, dự án LSNG pha II triển khai hiện trường tại ba thôn Đèo Đọc, Cài, Đồng Trà Trong khuôn khổ hoạt động của dự án có các hoạt động tập huấn nâng cao nhận thức về LSNG, tập huấn kỹ thuật nhân giống, gây trồng và khai thác bền vững các loài cây LSNG có giá trị tại địa phương Dự án đã triển khai xây dựng nhiều mô hình trình diễn cây LSNG như: Mô hình trồng cây Ba kích, Lá khôi, Tai chua, Tre mai… Tuy nhiên, do dự án kết thúc nên chưa có những hoạt động điều tra đánh giá tình hình sinh trưởng và hiệu quả kinh tế của các mô hình đó
Tóm lại: Thông qua các thông tin cả ở trong và ngoài nước cho thấy rõ quan
niệm nhận thức về vai trò của LSNG đối với kinh tế, xã hội và môi trường Việc đánh giá tiềm năng LSNG cũng đã được thực hiện ở một số địa phương và một số Quốc gia Tuy nhiên mỗi địa phương, mỗi vùng sinh thái có một số nhóm, loài có tiềm năng cũng như thích hợp với một số điều kiện sinh thái nhất định, không thể áp đặt kết quả nghiên cứu ở vùng này cho vùng khác Đồng Lâm là một xã vùng cao chủ yếu là đồng bào người Dao sinh sống, số loài LSNG rất đa dạng và phong phú, nhưng không tập trung nên không thể phát triển thành hàng hoá nếu không có điều tra đánh giá cụ thể
Vì vậy, việc nghiên cứu đề xuất giải pháp nhằm bảo tồn và phát triển các loài LSNG tại địa phương là cần thiết
Trang 33Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, GIỚI HẠN, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1 Mục tiêu chung
Nhằm bảo tồn và phát triển một số loài cây LSNG có giá trị ở xã Đồng Lâm (thuộc huyện Hoành Bồ - Quảng Ninh), đồng thời góp phần nâng cao nhận thức cũng như đời sống cho cộng đồng người Dao ở địa phương
- Bước đầu đánh giá được hiệu quả kinh tế của 3-5 mô hình trồng cây LSNG cụ thể đã có ở địa phương làm cơ sở khuyến khích nhân rộng
- Đề xuất được một số giải pháp phù hợp với trình độ người dân địa phương nhằm bảo tồn và phát triển
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: các loài cây LSNG hiện có ở địa phương, bao gồm cả các loài có trong rừng tự nhiên và các loài đã được gây trồng trong vườn hộ gia đình hoặc vườn rừng, đặc biệt chú trọng các loài có giá trị sử dụng và có giá trị kinh tế
- Phạm vi nghiên cứu: đề tài chỉ đánh giá thực trạng và tổng kết kỹ thuật từ tạo giống, gây trồng, khai thác, sử dụng và thị trường tiêu thụ các sản phẩm của những loài có giá trị và có nhu cầu sử dụng lớn
- Địa điểm nghiên cứu: Đề tài triển khai thực hiện tại 6/6 thôn của xã Đồng Lâm, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh
2.3 Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Nghiên cứu đánh giá tiềm năng khai thác, sử dụng cây LSNG ở xã Đồng Lâm
- Thực trạng các loài cây LSNG ở xã Đồng Lâm
- Lựa chọn một số loài LSNG có giá trị
Trang 342.3.2 Đánh giá thực trạng kỹ thuật gây trồng, khai thác các loài LSNG, bao gồm cả
kỹ thuật truyền thống và kỹ thuật hiện đại (chú trọng các loài cây có giá trị)
- Kỹ thuật truyền thống gồm: Tạo giống, gây trồng, khai thác, chế biến và sử dụng
- Kỹ thuật hiện đại gồm các tiến bộ kỹ thuật đã được áp dụng ở địa phương thông qua các chương trình, dự án từ chọn tạo giống, gây trồng đến khai thác, chế biến và sử dụng
- Đánh giá nhận thức của người dân về các biện pháp kỹ thuật đã nêu ở trên
2.3.3 Nghiên cứu xác định giá trị và thị trường tiêu thụ một số loài LSNG chủ yếu
- Công dụng của các loài LSNG đã lựa chọn
- Thị trường tiêu thụ sản phẩm các loài LSNG có giá trị đã lựa chọn
2.3.4 Đánh giá hiệu quả kinh tế của một số mô hình trồng cây LSNG điển hình ở
địa phương để làm cơ sở nhân rộng
- Chi phí xây dựng mô hình các loài LSNG đã lựa chọn
- Hiệu quả kinh tế của các loài LSNG đã lựa chọn
2.3.5 Nghiên cứu ảnh hưởng của các chính sách đã áp dụng ở địa phương tới việc bảo tồn và phát triển LSNG
- Chính sách về đất đai, quy hoạch, giao đất giao rừng
- Chính sách về hỗ trợ kỹ thuật: Đào tạo, tập huấn, khuyến lâm…
- Chính sách về khai thác, vận chuyển, tiêu thụ sản phẩm
- Chính sách về vay vốn và hỗ trợ lãi suất
- Chính sách về hỗ trợ đầu tư
2.3.6 Đề xuất một số giải pháp phát triển các loài LSNG ở địa phương
- Giải pháp về kỹ thuật (Chọn tạo giống, gây trồng, khai thác, chế biến, bảo quản )
- Giải pháp về chính sách (giao đất khoán rừng, vay vốn, thuế tiêu thụ sản phẩm )
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp nghiên cứu chung
Đề tài sử dụng phương pháp kế thừa tài liệu và các mô hình có sẵn kết hợp
phương pháp điều tra nhanh nông thôn (RRA) và phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA) kết hợp với phương pháp phỏng vấn để thu thập các thông
Trang 35tin cần thiết Ngoài ra, còn sử dụng phương pháp điều tra ô tiêu chuẩn tạm thời diện tích từ 500 - 1.000m2 để điều tra một số chỉ tiêu cần thiết như: chỉ tiêu sinh trưởng, năng suất, Xử lý số liệu theo phương pháp thống kê sinh học có sự trợ giúp của các phần mềm Exel, SPSS
Sơ đồ các bước tiến hành nghiên cứu
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
2.4.2.1 Phương pháp kế thừa số liệu
- Kế thừa số liệu về diện tích, năng suất trồng các loài cây LSNG từ Chi Cục Thống kê và Sở NN&PTNT tỉnh Quảng Ninh, phòng NN&PTNT huyện Hoành Bồ, UBND xã Đồng Lâm và các thôn trong xã
Lựa chọn địa điểm
Điều tra, phỏng vấn thu thập thông
tin về kinh tế hộ, thị trường và tiềm
năng phát triển các loài LSNG Kỹ
thuật đã áp dụng
Lập tuyến, lập OTC, thống kê loài,
đo đếm sinh trưởng, năng suất, điều tra đất đai…
Trang 36- Kế thừa số liệu về điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội từ các cơ quan liên quan trong huyện Hoành Bồ và xã Đồng Lâm
- Kế thừa các văn bản, chính sách hiện hành có liên quan đến LSNG của nhà nước và huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh
2.4.2.2 Phương pháp điều tra phỏng vấn
Sử dụng phương pháp điều tra nhanh nông thôn (RRA) và phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA) để tổng kết về kỹ thuật gây trồng, kỹ thuật thu hái, bảo quản, năng suất, giá cả, chính sách, Sử dụng các câu hỏi phỏng vấn bán định hướng để thu thập các thông tin về các loài LSNG Đồng thời quá trình này còn giúp cho người dân được trực tiếp tham gia vào việc lập kế hoạch, đề xuất các phương án lựa chọn loại cây trồng phù hợp, định hướng cho việc đề xuất những giải pháp thay thế trong sử dụng tài nguyên Thông tin được thu thập qua 120 phiếu điều tra theo mẫu phiếu (Phần phụ lục 01)
Để đạt được mục tiêu đã đề ra tiến hành các hoạt động phỏng vấn, thảo luận nhóm nông dân như sau:
- Thu thập thông tin từ 120 hộ gia đình điển hình ở 6 thôn có các loài Lâm sản ngoài gỗ của xã Đồng Lâm
- Tổ chức thảo luận nhóm nông dân đại diện tại 6 thôn nghiên cứu để thu thập thông tin về LSNG
- Ngoài ra, đề tài cũng tiến hành phỏng vấn nhanh các đối tượng bao gồm: Cán bộ kiểm lâm phụ trách địa bàn, trưởng thôn, cán bộ ban lâm nghiệp xã và các thầy lang trong khu vực nghiên cứu
2.4.2.3 Phương pháp điều tra ô tiêu chuẩn
Sử dụng phương pháp ô tiêu chuẩn điển hình tạm thời để điều tra một số loài cây LSNG có giá trị đã được lựa chọn, chủ yếu là các loài cây gỗ từ nhỏ - nhỡ - lớn các chỉ tiêu sinh trưởng được đo đếm theo các phương pháp sau đây:
- Với những loài cây LSNG có giá trị và có tiềm năng chỉ có trong tự nhiên chưa được gây trồng tiến hành điều tra theo tuyến điển hình, trên tuyến khi bắt gặp các loài cây LSNG đã lựa chọn tiến hành lập OTC điển hình, diện tích từ 500 m2 khi mật độ
cây lớn và 1000m2 khi mật độ cây thấp để đảm bảo dung lượng mẫu >30, các chỉ tiêu đo đếm gồm D00, D1.3, Hvn, Hdc, Dt, loại đất đai, độ tàn che, độ cao, độ dốc, năng suất (nếu có)
Trang 37- Với những loài cây LSNG có giá trị và có tiềm năng đã được gây trồng, đề tài
sử dụng phương pháp lập OTC điển hình tạm thời, lặp lại 3 lần diện tích mỗi OTC 500m2 Tuy nhiên trong quá trình đi điều tra có loài diện tích nhiều nên lập OTC nhiều hơn Trên OTC tiến hành điều tra thu thập một số đặc điểm sinh thái, các chỉ tiêu sinh trưởng và xác định năng suất
- Đối với cây thân gỗ và tre nứa:
+ Đường kính ngang ngực (D1,3) được đo bằng thước kẹp kính có chia vạch đến
mm tại độ cao 1,3 m Đối với tre trúc, đường kính lóng và chiều dài lóng được đo ở vị trí lóng thứ 5
+ Chiều cao vút ngọn (Hvn) và chiều cao dưới cành (Hdc), được đo bằng thước đo cao có độ chính xác đến 10cm
+ Đường kính tán các cây trong ô (Dt) được đo bằng thước dây và sào có độ chính xác tới 10cm, đo theo 2 hướng Đông Tây và Nam Bắc, kết quả được lấy trị số trung bình của 2 hướng:
Dt = (DtĐT + DtNB)/2 (2.1) Trong đó:
+ DtĐT + DtNB là đường kính tán theo 2 hướng Đông Tây và Nam Bắc
+ Chiều cao dưới cành (Hdc) được đo bằng thước có độ chính xác tới 10cm
- Đối với cây thân thảo:
+ Đường kính gốc (D00) được đo bằng thước kẹp kính có khắc vạch đến mm + Chiều cao cây (Hvn) được đo bằng thước dây có khắc vạch đến mm
+ Đo đường kính bụi (nếu có) bằng thước dây theo 2 hướng Đông Tây và Nam Bắc
+ Đếm số nhánh trong bụi (nếu có)
- Đối với cây dây leo:
+ Đường kính gốc (D00) được đo bằng thước kẹp kính có khắc vạch đến mm + Chiều cao hay chiều dài dây (Hvn) được đo bằng thước dây có khắc vạch đến
Trang 38tán cây giá trị tàn che được ghi là 1, nếu không gặp tán cây giá trị tàn che được ghi là
0, nếu ở vị trí mép tán lá thì giá trị sẽ là 0,5 Độ tàn che chung của ô tiêu chuẩn là giá trị trung bình của tất cả các điểm ngắm trên
+ Độ dốc OTC được đo bằng địa bàn cầm tay kết hợp với bản đồ địa hình
+ Độ cao OTC được đo bằng GPS cầm tay
2.4.2.4 Phương pháp đánh giá hiệu quả kinh tế
Đánh giá hiệu quả kinh tế trên các mô hình gây trồng sẵn có của người dân trên cơ
sở chi phí đầu tư từ khi trồng đến khi thu và giá trị sản phẩm khi thu hoạch 1 lần (nếu là cây ngắn ngày), và thu hoặc nhiều năm, nhiều lần nếu là cây dài ngày và cho thu hoạch nhiều lần (xác định hiệu quả kinh tế theo phương pháp động)
2.4.2.5 Phương pháp đánh giá các biện pháp kỹ thuật gây trồng một số loài cây
LSNG có giá trị kinh tế
Sử dụng phương pháp điều tra nhanh nông thôn (PRA), phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA) kết hợp với phương pháp điều tra, phỏng vấn tại thực địa
Kế thừa tài liệu sẵn có như các quy trình, hướng dẫn kỹ thuật,…
Phỏng vấn và quan sát: Sử dụng các câu hỏi phỏng vấn và quan sát thực tế tại hiện trường để thu thập các thông tin về kỹ thuật gây trồng đã và đang được áp dụng tại địa phương, đối tượng phỏng vấn là các cán bộ kỹ thuật, người dân đã và đang gây trồng cây LSNG
Điều tra tại thực địa để thu thập các thông tin về loài cây trồng, phương thức trồng, mật độ trồng, kích thước hố, phát dọn thực bì, các thông tin về kỹ thuật khai thác, chế biến và bảo quản,…
Đánh giá kỹ thuật gây trồng, khai thác, chế biến và bảo quản sử dụng phương pháp
so sánh thông qua năng suất, chất lượng sản phẩm và các tiến bộ kỹ thuật hiện có
n
i i
(2.3)
Trang 39xi là trị số giữa cỡ thứ i
x là số bình quân được tính theo công thức 2.2
- Hệ số biến động tính theo công thức :
* Phương pháp dự toán hiệu quả kinh tế
Đánh giá hiệu quả kinh tế theo phương pháp động, là phương pháp đánh giá
hiệu quả kinh tế thông qua các chỉ tiêu NPV, BCR, IRR
- Giá trị hiện tại thực (NPV): Chỉ tiêu này được tính bằng giá trị hiện tại của tất
cả các thu nhập trừ đi giá trị hiện tại của tất cả chi phí trong chu kỳ sản xuất kinh doanh Công thức tính theo DK Paul như sau:
0 (1 ) (2.5) Trong đó: NPV là giá trị hiện tại thực (giá trị lợi nhận ròng hiện tại)
Nếu NPV = 0, kinh doanh hoà vốn
Chỉ tiêu này cho biết quy mô của lợi nhuận về mặt số lượng Nó cho phép lựa chọn các phương án có quy mô và kết cấu đầu tư như nhau, phương án nào có NPV lớn nhất thì được chọn
- Tỷ lệ thu nhập trên chi phí (BCR): là thương số giữa toàn bộ thu nhập so với toàn bộ các chi phí sau khi đã chiết khấu đưa về giá trị hiện tại Công thức tính theo John E Gunter như sau:
1
1
) 1 (
) 1 (
(2.6)
Trong đó: BCR là tỷ lệ thu nhập trên chi phí
Trang 40- Tỷ lệ thu hồi nội bộ IRR: Còn gọi là tỷ lệ thu hồi vốn nội tại, là một tỷ lệ chiết khấu, nó làm cho NPV = 0 khi:
1 (1 ) =0 thì r = IRR (2.7) Chỉ tiêu này cho biết khả năng thu hồi vốn đầu tư, nó phản ánh mức độ quay vòng vốn và xác định thời điểm hoàn trả vốn đầu tư Nó cho phép so sánh và lựa chọn các phương án có quý mô và kết cấu đầu tư khác nhau, phương án nào có IRR lớn hơn thì được chọn
Nếu IRR>r, phương án có khả năng hoàn trả vốn và được chấp nhận
Nếu IRR<r, phương án không có khả năng hoàn trả vốn nên không được chấp nhận