TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TRƯƠNG THỊ GIANG Tên đề tài: “TÌNH HÌNH MẮC BỆNH PHÂN TRẮNG LỢN CON VÀ SO SÁNH HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ BỆNH CỦA HAI LOẠI THUỐC MULTIBIO VÀ NORFACOLI TẠI TRANG TRẠI L
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TRƯƠNG THỊ GIANG
Tên đề tài:
“TÌNH HÌNH MẮC BỆNH PHÂN TRẮNG LỢN CON VÀ SO SÁNH HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ BỆNH CỦA HAI LOẠI THUỐC MULTIBIO VÀ NORFACOLI TẠI TRANG TRẠI LỢN TƯ NHÂN BÙI NGỌC TUẤN, XÃ QUẢNG HẢI, HUYỆN QUẢNG XƯƠNG, TỈNH THANH HÓA”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Thú y Khoa : Chăn nuôi Thú y
Khóa học : 2009 - 2014
Giảng viên hướng dẫn: TS Từ Trung Kiên
Bộ môn: Cơ sở - Khoa Ch¨n nu«i Thó y Tr−êng §¹i häc N«ng L©m Th¸i Nguyªn
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và rèn luyện tại trường Đại học Nông Lâm
- Thái Nguyên cũng như trong thời gian thực tập tại trại lợn tư nhân Bùi Ngọc Tuấn, xã Quảng Hải, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa Tôi đã nhận được
sự giúp đỡ quý báu của các thầy cô trong Ban Giám hiệu nhà trường, Ban Chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y cùng toàn thể các thầy, các cô trong khoa đã tận tình giảng dạy và dìu dắt tôi trong suốt thời gian qua
Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến: Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, ban lãnh đạo, cán bộ, công nhân viên trong trại, cùng tập thể các thầy, cô giáo trường Đại học Nông Lâm - Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện cho tôi hoàn thành bản khóa luận này đúng thời gian
Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo hướng dẫn
TS Từ Trung Kiên đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành Báo cáo Thực tập tốt nghiệp của mình
Qua đây tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp và những người đã thường xuyên tạo mọi điều kiện giúp đỡ, dành những tình cảm, sự động viên vô cùng quý báu trong suốt thời gian thực tập, nghiên cứu
và quá trình hoàn thành bản khóa luận này
Cuối cùng tôi xin kính chúc các thầy giáo, cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y luôn luôn mạnh khỏe, hạnh phúc, đạt nhiều thành tích trong công tác và nhiều thành công trong nghiên cứu khoa học và giảng dạy
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 18 tháng 11 năm 2013
Sinh viên
Trương Thị Giang
Trang 3MỞ ĐẦU
Để trở thành một Bác sỹ Thú y trong tương lai, ngoài việc tự trang bị cho mình một lượng kiến thức về mặt lý thuyết, mỗi sinh viên còn phải trải qua giai đoạn tiếp cận với thực tế sản xuất Chính vì vậy, thực tập tốt nghiệp
là một khâu quan trọng đối với tất cả sinh viên các trường Đại học nói chung
và trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên nói riêng Đây là thời gian cần thiết để sinh viên củng cố và áp dụng những kiến thức đã học trong nhà trường và trong thực tế, thực hiện phương châm “Học đi đôi với hành”
Thực tập tốt nghiệp cũng là quá trình rèn luyện giúp cho sinh viên tác phong khoa học đúng đắn, tạo lập tư duy sáng tạo để trở thành kỹ sư thật sự,
có trình độ, năng lực làm việc, góp phần vào việc xây dựng, phát triển nông thôn nói riêng và đất nước nói chung
Được sự nhất trí của Nhà trường và Ban Chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y, Trường Đại học Nông Lâm - Thái Nguyên, được sự phân công của thầy, cô giáo và sự tiếp nhận của cơ sở, tôi tiến hành thí nghiệm đề tài: “Tình hình nhiễm bệnh lợn con phân trắng và so sánh hiệu quả điều trị bệnh của hai loại thuốc Multibio và Norfacoli tại trang trại lợn tư nhân Bùi Ngọc Tuấn xã Quảng Hải, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa”
Được sự giúp đỡ tận tình của thầy giáo hướng dẫn TS Từ Trung Kiên Cùng sự nỗ lực của bản thân, tôi đã hoàn thành bản khóa luận này Do bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu nên trong bản khóa luận này không tránh khỏi những hạn chế và sai sót Vì vậy, tôi mong nhận được sự đóng góp quý báu của thầy giáo, cô giáo và các bạn đồng nghiệp để khóa luận của tôi được hoàn thiện hơn
Thái Nguyên, ngày 18 tháng 11 năm 2013
Sinh viên
Trương Thị Giang
Trang 4DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang Bảng 1.1: Tình hình sản xuất chăn nuôi lợn của trại trong 3 năm 2010-2012 4
Bảng 1.2: Lịch tiêm phòng vacxin của trại 10
Bảng 1.3: Kết quả công tác phục vụ sản xuất 13
Bảng 2.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm 36
Bảng 2.2: Tỷ lệ lợn con mắc bệnh phân trắng theo cá thể 38
Bảng 2.3: Tình hình mắc bệnh phân trắng theo lứa tuổi 39
Bảng 2.4: Tỷ lệ mắc bệnh phân trắng theo tháng trong năm 40
Bảng 2.5: Tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con theo tính biệt 41
Bảng 2.6: So sánh hiệu lực của hai phác đồ điều trị 42
Bảng 2.7: Sinh trưởng tích lũy của lợn con qua các giai đoạn 43
Bảng 2.8: Hạch toán chi phí thuốc thú y 44
DANH MỤC CÁC HÌNH Trang Hình 2.1: Biểu đồ tỷ lệ mắc bệnh phân trắng theo tháng trong năm 40
Trang 6MỤC LỤC
Trang
Phần 1: CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT 1
1.1 ĐIỀU TRA CƠ BẢN 1
1.1.1 Điều kiện tự nhiên 1
1.1.1.1 Vị trí địa lý 1
1.1.1.2 Điều kiện khí hậu, thuỷ văn 1
1.1.1.3 Giao thông, thuỷ lợi 2
1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 2
1.1.2.1 Tình hình dân cư quanh trại 2
1.1.2.2 Cơ cấu tổ chức của trại 3
1.1.2.3 Cơ sở vật chất kỹ thuật của trại 3
1.1.3 Tình hình sản xuất 4
1.1.3.1 Đối với ngành trồng trọt 4
1.1.3.2 Đối với ngành chăn nuôi 4
1.1.3.3 Công tác thú y của trại 5
1.1.4 Đánh giá chung 5
1.1.4.1 Thuận lợi 5
1.1.4.2 Khó khăn 6
1.2 NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ KẾT QUẢ PHỤC VỤ SẢN XUẤT 6 1.2.1 Nội dung phục vụ sản xuất 6
1.2.1.1 Công tác chăn nuôi 7
1.2.1.2 Công tác thú y 7
1.2.1.3 Công tác khác 7
1.2.2 Biện pháp thực hiện 7
1.2.3 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 7
1.2.3.1 Công tác chăn nuôi 7
1.2.3.2 Công tác thú y 9
1.2.3.3 Công tác khác 13
1.3 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 13
1.3.1 Kết luận 13
Trang 71.3.2 Đề nghị 14
Phần 2: CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 15
2.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 15
2.1.1 Mục tiêu nghiên cứu 15
2.1.2 Ý nghĩa khoa học và cơ sở thực tiễn 16
2.2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 16
2.2.1 Cơ sở khoa học 16
2.2.1.1 Đặc điểm sinh trưởng, phát triển của lợn con theo mẹ 16
2.2.1.2 Đặc điểm phát triển của cơ quan tiêu hóa 17
2.2.1.3 Đặc điểm về cơ năng điều tiết nhiệt 19
2.2.1.4 Đặc điểm về khả năng miễn dịch 20
2.2.1.5 Các thời kỳ quan trọng của lợn con 21
2.2.2 Những hiểu biết về vi khuẩn E coli 21
2.2.2.1 Đặc điểm hình thái 22
2.2.2.2 Đặc điểm nuôi cấy 22
2.2.2.3 Đặc tính sinh hóa 22
2.2.2.4 Cấu trúc kháng nguyên 23
2.2.2.5 Độc tố 23
2.2.2.6 Sức kháng của mầm bệnh 24
2.2.3 Những hiểu biết về bệnh lợn con phân trắng (Colibacillsis) 24
2.2.3.1 Tình hình dịch tễ của bệnh 24
2.2.3.2 Đường nhiễm bệnh 25
2.2.3.3 Quá trình sinh bệnh 26
2.2.3.4 Nguyên nhân gây bệnh phân trắng lợn con 27
2.2.3.5 Triệu chứng lâm sàng 28
2.2.3.6 Bệnh tích 29
2.2.3.7 Phòng bệnh 30
2.2.3.8 Chữa bệnh 31
2.2.4 Giới thiệu về thuốc sử dụng trong nghiên cứu 32
2.2.4.1 Thuốc Multibio 32
2.2.4.2 Thuốc Norfacoli 32
Trang 82.2.5 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 33
2.2.5.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 33
2.2.5.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 34
2.3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35
2.3.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 35
2.3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 35
2.3.1.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 35
2.3.2 Nội dung nghiên cứu 35
2.3.3 Phương pháp nghiên cứu 35
2.3.3.1 Phương pháp điều tra lợn con nhiễm bệnh phân trắng 35
2.3.3.2 Phương pháp nghiên cứu so sánh hiệu quả điều trị của hai
loại thuốc 36
2.3.3.3 Các chỉ tiêu theo dõi 36
2.3.3.4 Phương pháp xử lý số liệu 37
2.4 KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ 38
2.4.1 Tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con của Trang trại 38
2.4.2 Tình hình nhiễm bệnh phân trắng lợn con theo lứa tuổi 38
2.4.3 Tỷ lệ nhiễm bệnh phân trắng lợn con qua các tháng theo dõi 40
2.4.4 Tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con theo tính biệt 41
2.4.5 Hiệu lực điều trị của hai thuốc 41
2.4.6 Ảnh hưởng của các loại thuốc tới khả năng sinh trưởng của lợn con qua các giai đoạn 42
2.4.7 Hạch toán chi phí thuốc thú y 44
2.5 KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ ĐỀ NGHỊ 45
2.5.1 Kết luận 45
2.5.2 Tồn tại 45
2.5.3 Đề nghị 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO 46
I Tài liệu tiếng Việt 46
II Tài liệu dịch 48
III Tài liệu nước ngoài 48
Trang 9Phần 1 CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT
1.1 ĐIỀU TRA CƠ BẢN
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
1.1.1.1 Vị trí địa lý
Trại lợn tư nhân Bùi Ngọc Tuấn đóng trên địa bàn thôn 6, xã Quảng Hải, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa Nằm cách Thị trấn Quảng Xương
6 km, cách thị xã Sầm Sơn 7 km và cách thành phố Thanh Hóa 13 km
Quảng Hải là xã nằm ở phía đông của huyện Quảng Xương, ven vịnh Bắc Bộ với chiều dài 1,5 km bờ biển
Phía đông giáp biển Đông
Phía nam giáp xã Quảng Lưu
Phía tây giáp các xã Quảng Lưu và Quảng Nhân
Phía bắc giáp các xã Quảng Giao và Quảng Đại
Xã Quảng Hải có 11 thôn, xóm và gồm 4 làng: Làng Bào, Làng Bùi, Làng Đới, Khang Bắc được phân bố đều trên địa bàn xã
Nhìn chung, đây là một vị trí khá thuận lợi để một trại chăn nuôi lợn phát triển, do cách xa khu công nghiệp, bệnh viện, trường học và đường giao thông
chính nhưng vẫn thuận tiện cho việc giao thông vận tải và thông thương
1.1.1.2 Điều kiện khí hậu, thuỷ văn
Quảng Hải nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa khí hậu thay đổi chia làm
4 mùa rõ rệt Với lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1600 - 2300 mm, mỗi năm có khoảng 90 - 130 ngày mưa Nhiệt độ trung bình 24 - 250C Độ ẩm tương đối 85 - 87%, số giờ nắng bình quân khoảng 1600 - 1800 giờ Hướng gió phổ biến mùa Đông là Tây bắc và Đông bắc, mùa hè là Đông và Đông Nam
Hiện tại nguồn nước sản xuất và sinh hoạt của trại được lấy từ giếng khoan
và máy bơm Nước giếng khoan được bơm lên bể chứa với trữ lượng khoảng 120
- 150 m3/ngày đêm
Với điều kiện khí hậu, thuỷ văn như vậy, nhìn chung rất thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp cả về trồng trọt lẫn chăn nuôi Tuy nhiên, cũng có những giai đoạn điều kiện khí hậu thay đổi thất thường như:
Trang 10Về mùa đông khí hậu lạnh, có ngày nhiệt độ rất thấp (dưới 110C), mưa nhiều, lũ lụt, thời tiết thay đổi nên chăn nuôi gặp nhiều khó khăn, những điều kiện bất lợi đã ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng, sức chống chịu bệnh tật của gia súc, gia cầm
Mùa hè, khí hậu nóng ẩm nhiều, nhiệt độ cao, có ngày nhiệt độ rất cao (39 - 400C), hạn hán và có gió Lào thổi sang tạo điều kiện thuận lợi cho vi sinh vật phát triển và gây bệnh đã ảnh hưởng xấu đến sản xuất nông nghiệp và tới sức khoẻ gia súc, gia cầm
1.1.1.3 Giao thông, thuỷ lợi
Giao thông
Nhìn chung hệ thống giao thông, cầu cống, trục xã, liên thôn của xã rất thuận lợi Hầu hết các đường giao thông đều được rải nhựa và bê tông hoá Bởi vậy giao thông ở đây không những thuận lợi cho việc đi lại, mà còn rất thuận lợi cho việc buôn bán, vận chuyển hàng hóa, vận chuyển thức ăn, thuốc thú
y, con giống, cũng như tiêu thụ sản phẩm trong địa bàn huyện, trong tỉnh cũng như trong các tỉnh bạn
Thuỷ lợi
Hệ thống thuỷ lợi tương đối rộng khắp và phần lớn đã được kiên cố hoá
hệ thống kênh mương, trạm bơm Diện tích trồng trọt của trại sử dụng nguồn nước của hệ thống thuỷ lợi và những ao hồ chứa nước để phục vụ trồng trọt
1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Với chiều dài bờ biển gần 1,5 km, Quảng Hải là một trong những xã có tiềm năng về thuỷ, hải sản Hơn nữa, phía bắc Quảng Hải là thành phố Thanh Hoá với khu công nghiệp Lễ Môn, phía nam là Khu công nghiệp động lực Nghi Sơn - Tĩnh Gia, đồng thời là xã có vị trí trọng yếu về an ninh - quốc phòng của tỉnh Thanh Hóa Ðây là lợi thế đặc biệt quan trọng để thu hút đầu
tư phát triển kinh tế, củng cố quốc phòng
1.1.2.1 Tình hình dân cư quanh trại
Trại chăn nuôi lợn nằm trên địa bàn khu vực đồng bằng, địa hình khá bằng phẳng, là một xã nông nghiệp của huyện Quảng Xương Dân cư sống quanh trại 100% là dân tộc kinh, sống chủ yếu là làm nông nghiệp và buôn bán Ngoài ra còn có một số hộ gia đình là công nhân viên chức Nhà nước
Trang 11Nhìn chung tình hình dân trí của các hộ dân xung quanh trang trại khá tốt Đây cũng là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của trang trại
1.1.2.2 Cơ cấu tổ chức của trại
Mặc dù trại mới được xây dựng từ năm 2003 đến nay mới chỉ được 10 năm, song hàng năm sản xuất của trại đều gia tăng, đời sống của cán bộ công nhân viên được cải thiện bởi trại có ban lãnh đạo là những người đam mê giàu nghị lực và tâm huyết đối với nghề chăn nuôi Hơn nữa, trại có một đội ngũ công nhân giỏi, yêu nghề và đã có kinh nghiệm nhiều năm trong nghề
Nhiệm vụ đặt ra của trại là: Cung cấp con giống có chất lượng cho bà con nông dân trong và ngoài tỉnh, thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học
1.1.2.3 Cơ sở vật chất kỹ thuật của trại
Hệ thống chuồng trại
Hệ thống chuồng trại được xây dựng trên nền đất cao, dễ thoát nước Được bố trí tách biệt với khu hành chính và hộ gia đình Xung quanh trại có hàng rào bảo vệ, cổng vào và nơi sản xuất có hố sát trùng để ngăn ngừa dịch bệnh từ bên ngoài xâm nhập vào Chuồng nuôi được xây dựng theo hướng Đông Nam - Tây Bắc, đảm bảo mát về mùa hè, ấm về mùa đông xây dựng theo kiểu hai mái, có 2 dãy ô chuồng với lối đi ở giữa Trại đã xây dựng với quy mô phù hợp theo hướng chăn nuôi kiểu công nghiệp
Đối với dãy chuồng lợn nái chờ phối, lợn nái chửa được thiết kế các ô cũi lồng có sàn, nền sàn bê tông
Chuồng lợn đẻ được thiết kế theo kiểu cũi lồng có sân, chuồng lợn con cai sữa và chuồng lợn thịt được thiết kế theo kiểu sàn nhựa, bê tông
Các chuồng nuôi đều được lắp đặt điện chiếu sáng, hệ thống uống nước
tự động, mùa hè có hệ thống làm mát bằng quạt điện Mùa đông có hệ thống bóng đèn hồng ngoại để sưởi ấm cho lợn Hệ thống che chắn kín đáo thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông Mái che hai ngăn có độ thông thoáng tốt,
có tường rào bao quanh để ngăn chặn dịch bệnh từ bên ngoài xâm nhập vào khu chăn nuôi Ở cuối mỗi ô chuồng đều có hệ thống thoát phân và nước thải
Hệ thống nước sạch được đưa về từng ô chuồng, đảm bảo cho việc cung cấp nước uống tự động cho lợn, nước tắm cho lợn và nước rửa chuồng hàng ngày Trại đã lắp đặt hệ thống nước máy đảm bảo cung cấp đủ nước sạch cho lợn uống, tắm và vệ sinh chuồng trại
Trang 12Các công trình khác
Gần khu chuồng, trại cho xây dựng một phòng kỹ thuật, một nhà kho, phòng thay đồ Phòng kỹ thuật được trang bị đầy đủ dụng cụ thú y như: Panh, dao mổ, bơm tiêm, kìm bấm số tai, kìm bấm nanh, bình phun thuốc sát trùng, cân, tủ thuốc thú y đồng thời cũng là phòng trực của các cán bộ kỹ thuật Nhà kho được xây dựng gần khu chuồng, là nơi chứa thức ăn hàng ngày cho lợn
Bên cạnh đó, trại còn cho xây dựng một giếng khoan, bể chứa nước, máy bơm nước đảm bảo cung cấp nước sạch cho sản xuất và sinh hoạt
Ngoài cơ sở vật chất trên, trại còn chuẩn bị máy phát điện dự phòng Còn chú trọng củng cố bếp ăn, phòng tắm, nhà vệ sinh để phục vụ sinh hoạt hàng ngày của cán bộ công nhân viên trong trại
1.1.3 Tình hình sản xuất
1.1.3.1 Đối với ngành trồng trọt
Do diện tích đất đai ít nên ngành trồng trọt chưa phát triển, chỉ trồng một số cây ăn quả quanh trại như: vải, xoài, ổi, táo, chuối, ngô và một số cây cao quanh khu vực tạo bóng mát và tận dụng nguồn phân lợn
1.1.3.2 Đối với ngành chăn nuôi
Ngành chăn nuôi của trại chiếm một vị trí chủ đạo với mục đích chính
là sản xuất con giống, cung ứng nhu cầu lợn nuôi thịt, các sản phẩm khác cho
các địa bàn lân cận nên trại đã áp dụng nhiều tiến bộ khoa học vào sản xuất Kết quả sản xuất chăn nuôi lợn được thể hiện như ở bảng 1.1
Bảng 1.1: Tình hình sản xuất chăn nuôi lợn của trại trong 3 năm 2010-2012
Loại lợn
Số lượng (con)
Tổng khối lượng (kg)
Số lượng (con)
Tổng khối lượng (kg)
Số lượng (con)
Tổng khối lượng (kg)
Trang 13Thông qua số liệu 3 năm gần đây, ta cũng nhận thấy được mức tăng số đầu gia súc, tuy mức tăng ở đây là chưa cao, chỉ đủ để xuất bán ra thị trường xung quanh khu vực, chưa đủ để phát triển sản phẩm và con giống sang nhiều tỉnh lân cận khác Trong những năm tiếp theo trại tiếp tục xây dựng và mở rộng chuồng trại, đặc biệt là lợn nái sinh sản và lợn thịt
Các chỉ tiêu kinh tế đạt được như sau:
Số lứa đẻ/nái = 2 - 2,2 lứa/năm
Số con/lứa = 9 - 12 con/lứa
1.1.3.3 Công tác thú y của trại
Trại chăn nuôi luôn đề cao việc chăm sóc nuôi dưỡng và vệ sinh phòng bệnh là một việc làm hết sức quan trọng nhằm đảm bảo sức khỏe, tăng khả năng chống đỡ bệnh tật của đàn lợn ở mức cao nhất
- Phòng bệnh: Với phương châm “Phòng bệnh hơn chữa bệnh” thì công tác phòng bệnh được đưa lên hàng đầu Việc phòng bệnh được kiểm soát chặt chẽ nhằm hạn chế tới mức thấp nhất việc xảy ra dịch bệnh, đặc biệt có những bệnh có tính chất lây lan nhanh Định kỳ tiêm phòng cho đàn lợn của trại bằng các loại vacxin phổ biến và bắt buộc cho đàn lợn như: Dịch tả lợn, tụ huyết
trùng, phó thương hàn, lở mồm long móng, Mycoplasma…
Thường xuyên thay hố sát trùng và phun sát trùng định kỳ toàn bộ khu vực chăn nuôi, phát hiện gia súc ốm phải cách ly và điều tri kịp thời, tiêu hủy lợn chết bệnh, không bán chạy
- Trị bệnh: Các bác sỹ thú y của trại thường xuyên kiểm tra theo dõi tình hình sức khỏe của đàn lợn Khi phát hiện lợn bệnh thì điều trị một cách kịp thời, đúng thuốc Đối với những con mắc bệnh truyền nhiễm thì cho cách
Trang 14- Trại có vị trí địa lý khá thuận lợi về cả giao thông vận tải và giao lưu với dân cư quanh vùng, đây là lợi thế để có thể học hỏi kinh nghiệm của các nơi Đồng thời sản phẩm của trại là lợn nái ngoại hậu bị, lợn thịt có tỷ lệ nạc cao phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng hiện nay
- Ban lãnh đạo trại có năng lực, năng động, trình độ chuyên môn cao, nhiệt tình, có kinh nghiệm lâu năm trong nghề Cán bộ kỹ thuật giỏi, công nhân lao động nhiệt tình có trách nhiệm, có ý thức và lòng yêu nghề
- Ban lãnh đạo trại thường xuyên quan tâm, chú ý đến phát triển sản xuất và nâng cao đời sống cho cán bộ, nhân viên trại
- Do các hộ còn chăn nuôi nhỏ lẻ, nhận thức của người chăn nuôi còn nhiều hạn chế
- Diễn biến thời tiết hiện nay khá phức tạp nên khâu phòng trừ bệnh gặp nhiều khó khăn, không triệt để, chi phí phòng và chữa bệnh tăng, ảnh hưởng đến giá thành chăn nuôi
- Do đặc điểm sản xuất của ngành chăn nuôi lợn là ngành có chu kỳ sản xuất dài, tốc độ quay vòng vốn chậm nên lâu thu hồi vốn Mặt khác để đầu tư cho một chu kỳ sản xuất đòi hỏi một lượng vốn tương đối lớn, trong khi đó kinh phí đầu tư cho sản xuất còn hạn hẹp
1.2 NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ KẾT QUẢ PHỤC VỤ SẢN XUẤT
1.2.1 Nội dung phục vụ sản xuất
Thực hiện phương châm “Học đi đôi với hành, lý thuyết gắn với thực tiễn”, căn cứ vào kết quả điều tra cơ bản, tôi nhận thấy trong quá trình thực tập tốt nghiệp không chỉ cần hoàn thành tốt bản khoá luận tốt nghiệp mà còn phải tích cực, năng động tham gia vào công tác phòng trị một số bệnh cho đàn lợn ở trại để nâng cao tay nghề kỹ thuật và hiểu biết của mình
Trang 15Nội dung công tác phục vụ sản xuất:
1.2.1.1 Công tác chăn nuôi
Tham gia công tác chăm sóc, nuôi dưỡng các loại lợn: nuôi dưỡng lợn con cai sữa, lợn thịt, lợn nái chửa và lợn nái nuôi con, lợn con theo mẹ theo đúng quy trình chăn nuôi của trại
1.2.1.2 Công tác thú y
- Tiêm phòng vacxin cho đàn lợn theo đúng quy trình chăn nuôi của trại
- Chẩn đoán và điều trị một số bệnh trên lợn mắc phải
- Phun thuốc sát trùng và thuốc diệt nội, ngoại ký sinh trùng cho đàn lợn
- Thường xuyên kiểm tra theo dõi tình hình sức khỏe của lợn và có những biện pháp phòng trị bệnh hợp lý
1.2.1.3 Công tác khác
- Tham gia tuyên truyền, chuyển giao kỹ thuật cho người dân
- Tìm hiểu tình hình sản xuất, học hỏi kinh nghiệm của cơ sở
1.2.2 Biện pháp thực hiện
- Vận dụng những kiến thức lý thuyết đã học vào thực tiễn sản xuất một cách hợp lý Đề ra kế hoạch cho bản thân, sắp xếp thời gian biểu hợp lý để thu được kết quả tốt nhất
- Nhiệt tình, không quản ngại khó khăn để hoàn thành tốt công việc
- Khiêm tốn học hỏi cán bộ, công nhân cán bộ kỹ thuật tại cơ sở, tham khảo các tài liệu để nâng cao trình độ chuyên môn
- Tích cực tìm tòi trên sách báo, tài liệu, trau rồi kiến thức chuyên môn cũng như kiến thức liên quan để nâng cao kiến thức
- Thường xuyên xin ý kiến của thầy giáo hướng dẫn để kịp thời giải quyết các khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn sản xuất
- Tuân thủ nghiêm ngặt nội quy của trường, khoa, của thầy giáo hướng dẫn, đặc biệt tuân thủ nội quy về vệ sinh phòng dịch bệnh
- Thực hiện đúng quy trình chăn nuôi của trại
1.2.3 Kết quả công tác phục vụ sản xuất
1.2.3.1 Công tác chăn nuôi
Công tác giống
Trong chăn nuôi thì giống là tiền đề, đóng vai trò hết sức quan trọng và
có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả sản xuất Nhận thức rõ tầm quan trọng của
Trang 16công tác giống cho nên trong thời gian thực tập ở trại, tôi cùng với cán bộ kỹ thuật tham gia theo dõi từng cá thể lợn nái như: tầm vóc, số lứa, số con/lứa, số con sơ sinh… Đồng thời chọn lọc đàn lợn con đẻ ra, sắp xếp thành các nhóm:
nuôi thịt, nuôi hậu bị, loại thải những nái già, gầy yếu hoặc không động dục
Ngoài ra, còn phát hiện lợn động dục và trực tiếp thực hiện dẫn tinh cho một số lợn nái đạt kết quả tốt
Công tác chăm sóc nuôi dưỡng
Đàn lợn muốn khoẻ mạnh, chống chịu bệnh tật tốt, cho năng suất và chất lượng cao thì công tác chăm sóc, nuôi dưỡng đóng vai trò quan trọng để tạo nên thành công đó Để hiểu hơn về công tác này, tôi đã đi sâu tìm hiểu và
đã gặt hái được những kiến thức rất bổ ích và thực tế về nuôi dưỡng cho từng lứa tuổi của đàn lợn, cụ thể như sau:
- Đối với lợn nái hậu bị: Thức ăn phải đảm bảo cho quá trình sinh trưởng và phát triển, đàn lợn không quá béo hoặc quá gầy, nên bỏ qua lần động dục đầu tiên, lần động dục thứ 2 trước khi phối giống 10 ngày nên cho ăn thêm khẩu phần ăn một chút Sau khi phối giống xong lợn nái ăn theo chế độ của lợn nái chửa
- Đối với lợn nái chửa: chăm sóc lợn mẹ giai đoạn mang thai là một bước rất quan trọng đối với sự sinh trưởng, phát triển bình thường của bào thai, nhằm đảm bảo cho bào thai phát triển bình thường, lợn nái đẻ được nhiều con, khối lượng lợn sơ sinh cao, lợn con khoẻ mạnh Lợn nái chửa rất cần chế độ dinh dưỡng đặc biệt và phù hợp, nhằm đáp ứng cho sự phát triển của bào thai, duy trì sự hoạt động của bản thân lợn mẹ và tích lũy cho sự tiết sữa sinh con sau này
Lợn nái mang thai chia làm 2 giai đoạn:
+ Nái chửa kỳ I (84 ngày chửa đầu): Khối lượng bào thai đạt khoảng 25
- 30% Đây là giai đoạn trứng được thụ tinh, phôi làm tổ ở tử cung, bào thai phát triển chậm nên thức ăn cung cấp cho giai đoạn này cần thoả mãn nhu cầu duy trì cơ thể và một phần nhỏ nuôi bào thai Dinh dưỡng đảm bảo 13% protein và năng lượng trao đổi là 2800 kcal/kg thức ăn hỗn hợp
+ Nái chửa kỳ II (30 ngày chửa cuối): Đây là giai đoạn cuối của quá trình mang thai, bào thai phát triển nhanh, chiếm khoảng 65 - 70% khối lượng
Trang 17lợn con sơ sinh Do vậy, để lợn con đạt khối lượng sơ sinh cao, cần tăng khoảng 25 - 30% lượng thức ăn cho lợn chửa kỳ này, thoả mãn nhu cầu cơ thể, đảm bảo cho bào thai phát triển nhanh Dinh dưỡng đảm bảo tỷ lệ protein
là 15%, năng lượng trao đổi là 3000 kcal/thức ăn hỗn hợp
- Chăm sóc quản lý lợn nái nuôi con:
Lợn chửa cuối kỳ (cách 5 - 7 ngày trước khi đẻ) được chuyển từ chuồng chửa lên chuồng đẻ Trong thời gian này lợn được theo dõi chặt chẽ và vệ sinh sạch sẽ đặc biệt là bầu vú Khi lợn có biểu hiện sắp đẻ: cắn
ổ, phá máng, kiểm tra vú thấy có sữa đầu thì chuẩn bị dụng cụ đỡ đẻ, phân công người trực
Lợn nái khi đẻ được chăm sóc rất kỹ lưỡng để có sức khỏe tốt Chế độ
ăn của lợn nái đẻ: ngày đẻ thường nhịn, một ngày sau đẻ cho ăn với khẩu phần bằng 1/3 so với bình thường, các ngày sau cho ăn tăng dần
- Chăm sóc lợn con theo mẹ:
Lợn con sinh ra được lau nhớt rồi cho vào ô úm, đảm bảo nhiệt độ đầy
đủ Khi lợn mẹ đẻ xong, nhanh chóng cho lợn con bú sữa đầu trên nguyên tắc
là con nhỏ, yếu để bú ở vú đầu Khi lợn con khô rốn tiến hành cắt rốn và sát trùng rốn, bấm nanh, cắt đuôi, bấm số tai cho lợn con Giai đoạn này lợn con phụ thuộc phần lớn vào lợn mẹ Tuy nhiên, lợn con cũng chịu ảnh hưởng rất lớn vào môi trường bên ngoài nên việc chăm sóc kỹ cho lợn con là rất cần thiết Ngoài ra cần tiêm phòng đầy đủ các loại vacxin phòng bệnh theo lịch tiêm của trại
- Chăm sóc lợn thịt:
Chăm sóc lợn thịt tuy không đòi hỏi khắt khe như lợn con và lợn mẹ song quá trình chăm sóc và nuôi dưỡng có ảnh hưởng lớn tới tốc độ sinh trưởng và phát triển của đàn lợn
1.2.3.2 Công tác thú y
Công tác vệ sinh trong chăn nuôi
Đây là một trong những khâu quan trọng, nó quyết định đến thành quả trong chăn nuôi Hiểu được tầm quan trọng của vấn đề này nên trong suốt thời gian thực tập chúng tôi đã cùng với công nhân tổ chăn nuôi của trại thực hiện nghiêm ngặt quy trình vệ sinh thú y Hàng ngày, tôi tham gia quét dọn vệ sinh
Trang 18chuồng nuôi, thu gom phân thải, cống rãnh thoát nước, nhổ cỏ, rắc vôi bột xung quanh tất cả các ô chuồng, trồng cây để tạo bóng mát, định kỳ phun thuốc sát trùng để tránh mầm bệnh xâm nhập từ bên ngoài vào khu vực chăn nuôi
Công tác tiêm phòng
Trại thường xuyên tiến hành tiêm vacxin cho đàn gia súc được thực hiện quy trình tiêm phòng rất nghiêm ngặt Trại tổ chức tiêm phòng cho tất cả các loại lợn với quy trình như sau:
Bảng 1.2: Lịch tiêm phòng vacxin của trại
TT Loại lợn được tiêm Loại vacxin Ngày tiêm
1 Đực giống Dịch tả Định kỳ 1 năm 2 lần
Farosure Định kỳ 1 năm 2 lần Giả dại Định kỳ 1 năm 2 lần
3 Nái chửa Dịch tả Trước khi đẻ 3 - 5 tuần
Giả dại Trước khi đẻ 3 tuần LMLM Trước khi đẻ 3 - 5 tuần
E coli Trước khi đẻ 2 - 4 tuần
5 Nái đẻ Farosure Sau đẻ 10 - 14 ngày
6 Lợn con theo mẹ Suyễn lần 1 7 ngày sau khi đẻ
Suyễn lần 2 PTH lần 1
21 ngày sau khi đẻ
Tả lần 1 18 ngày sau khi đẻ
7 Lợn con cai sữa PTH lần 2 28 ngày tuổi
Dịch tả lần 2 35 ngày tuổi LMLM
8 Lợn thịt Dịch tả lần 3
Tụ - dấu Giả dại Lepto lần 1 Lepto lần 2
60 ngày tuổi
70 - 80 ngày tuổi
100 ngày tuổi
(Nguồn: Trại chăn nuôi Bùi Ngọc Tuấn)
Trang 19Tôi đã cùng cán bộ kỹ thuật của trại tiêm phòng các loại vacxin và kết quả đều đạt 100% an toàn
Công tác chẩn đoán và điều trị bệnh
Để việc điều trị bệnh cho gia súc đạt hiệu quả cao thì việc chẩn đoán kịp thời và chính xác giúp đưa ra các phác đồ điều trị phù hợp sẽ làm giảm thiệt hại về kinh tế Vì vậy, hàng ngày tôi cùng cán bộ kỹ thuật của trại tiến hành theo dõi,
kiểm tra, chẩn đoán lợn ốm qua kinh nghiệm và các triệu chứng lâm sàng
Khi mới mắc bệnh lợn ít biểu hiện triệu chứng điển hình Khi quan sát thấy những triệu chứng như: ủ rũ, mệt mỏi, giảm ăn uống, ít hoạt động, thân nhiệt cao thì chúng tôi tiến hành tập trung theo dõi và chẩn đoán bệnh Trong thời gian thực tập tại trại, tôi tiến hành chẩn đoán và điều trị một số bệnh thường gặp trên lợn và thu được kết quả nhất định:
Bệnh viêm vú: Thường xảy ra sau khi đẻ
- Nguyên nhân: Lợn mẹ tiết nhiều sữa nhưng lợn con lại không bú hết,
làm cho sữa ứ đọng lại, tạo môi trường cho vi khuẩn phát triển Chuồng bẩn,
sát trùng không cẩn thận nên vi khuẩn dễ dàng xâm nhập vào vết sây sát ở vú
- Triệu chứng: Vú sưng đỏ, sờ vào thấy nóng, lợn có cảm giác đau Lợn
mẹ kém ăn, không cho con bú, thân nhiệt tăng, trong sữa tiết ra có mủ màu xanh, mùi hôi
- Điều trị: Cho uống sulfat magie liều 30 g/con/ngày
Tiêm Streptomycin liều 10 mg/kgTT/ngày/lần
Ngoài ra, dùng mỡ Penicillin bôi ở vú viêm đến khi khỏi
Bệnh Suyễn lợn: Thường xảy ra ở lợn sau cai sữa và lợn thịt
- Nguyên nhân: do vệ sinh chuồng trại sạch sẽ làm cho vi khuẩn
Mycoplasma phát triển mạnh, đồng thời kết hợp với vi khuẩn kế phát như: Streptococcus, Staphylococcus…
- Triệu chứng: lợn ho vào sáng sớm và chiều tối, lúc đầu ho khan với
tần số ít, sau tăng dần thành từng cơn và kéo dài, nhất là sau khi vận động, thở khó, bụng hóp lại, thân nhiệt tăng
- Điều trị: Draxin: 1 ml/40 kgTT, tiêm 1 mũi duy nhất
Catosal: 1 ml/5 - 10 kgTT
Excede: 1 ml/15 kgTT
Trang 20Bệnh lợn con phân trắng: bệnh xảy ra quanh năm
- Nguyên nhân: Bệnh do trực khuẩn E coli thuộc họ vi khuẩn đường ruột Enterobacteria gây ra Do điều kiện thời tiết thay đổi, môi trường, nền
chuồng ẩm ướt Thức ăn, nước uống cho lợn mẹ không đảm bảo vệ sinh
- Triệu chứng: Lợn con bị bệnh thường bú kém, ăn kém, ỉa chảy phân
lỏng màu vàng trắng, trắng xám sau đó màu vàng xanh và có mùi tanh Lợn đi
ỉa da khô nhăn nheo, khát nước, đầu to bụng hóp, lợn gầy sút nhanh Tùy theo lứa tuổi lợn ỉa nhiều phân dính bê bết xung quanh hậu môn, ủ rũ lông xù, đi lại không vững, niêm mạc mắt, miệng, hậu môn nhợt nhạt, phân từ nát đến loãng như bị đi kiết, bệnh kéo dài từ 3 - 7 ngày
- Điều trị: Để điều trị bệnh có hiệu quả, người ta phải khắc phục những
nguyên nhân trên bằng cách sử dụng thuốc nhằm diệt khuẩn để hạn chế sự
mất nước và chất điện giải
Dùng thuốc: Dùng 1 trong 2 loại thuốc sau:
Norfacoli: 1 ml/10kgTT/ngày Multibio: 1 ml/10kgTT/ngày Tiêm bắp, điều trị liên tục trong 3 ngày
Những con tiêu chảy nặng còn tiếp nước sinh lý mặn hoặc glucose 5% vào xoang phúc mạc Trong điều trị còn kết hợp với một số loại vitamin như:
B complex, vitamin C, chất điện giải cho uống
Ngoài ra có thể dùng lá ổi hoặc lá chó đẻ giã nhỏ vắt lấy nước hòa thêm một chút muối và nước sôi để nguội, cho uống 5 ml/con/lần, liệu trình 3 - 5 ngày
Hộ lý: vệ sinh chuồng trại thu dọn sạch sẽ phân, giữ sạch nền sàn,
chuồng khô ráo, sưởi ấm cho lợn con bằng đèn hồng ngoại
Bệnh Viêm khớp:
- Nguyên nhân: Do cầu khuẩn Streptococcus gây viêm khớp cấp và mãn tính
ở lợn các lứa tuổi Bệnh thường xảy ra ở lợn con, khi thời tiết lạnh bệnh dễ phát sinh Tỷ lệ lợn mắc rất thấp, chỉ nhỏ hơn 5%
- Triệu chứng: Lợn thường bị viêm khớp gối, khớp bàn và khớp ngón
Lúc đầu con vật đi khập khiễng, sau nặng dần và bị què, ngại vận động, chỗ viêm sưng đỏ, sờ vào có cảm giác đau Lợn ủ rũ, lông xù, nằm một chỗ
Trang 21- Trực và đỡ đẻ cho lợn, tiêm dextran - Fe cho lợn 3 ngày tuổi
- Thiến lợn đực từ 4 - 5 ngày tuổi
- Chuyển lợn qua các ô chuồng, cân, bán lợn
- Vệ sinh chuồng, phun thuốc sát trùng
Bảng 1.3: Kết quả công tác phục vụ sản xuất
Trang 22- Biết cách chẩn đoán một số bệnh thông thường xảy ra ở đàn lợn ngoại
và biện pháp phòng trị có hiệu quả
- Biết cách dùng một số loại vacxin phòng bệnh và thuốc điều trị bệnh
- Củng cố một cách rõ rệt về tay nghề và chuyên môn
- Học hỏi được ở cán bộ phụ trách công tác quản lý và sử dụng nguồn nhân lực, lên kế hoạch, sắp xếp công việc một cách hợp lý
Qua thực tế sản xuất, tôi đã mạnh dạn và tự tin vào khả năng của mình, củng cố được lòng yêu nghề Bên cạnh đó, tôi tự nhận thấy mình cần phải học hỏi thêm rất nhiều về kinh nghiệm, trình độ chuyên môn của các thầy, cô giáo, các đồng nghiệp đi trước Đồng thời còn phải tích cực nghiên cứu, tham khảo tài liệu và kiến thức mới để cập nhật những thông tin về tiến bộ khoa học kỹ thuật trong nghề nghiệp
Trong quá trình đi sâu vào thực tiễn sản xuất của trại, tôi nhận thấy một
số tồn tại cần khắc phục, cụ thể là:
- Hầu như những lợn ốm không kịp thời cách ly nên không ngăn chặn được bệnh kịp thời
- Vấn đề quản lý giết mổ, chôn xác lợn chết do bệnh còn nhiều bất cập
- Việc vệ sinh, sát trùng chỉ được coi trọng khi có dịch bệnh xảy ra
- Việc sử dụng kháng sinh cần có kế hoạch hơn, tránh sử dụng bừa bãi
- Tập trung giải quyết bệnh ở lợn và vấn đề chống nóng cho lợn
- Trại cần có những chính sách khuyến khích tinh thần làm việc có trách nhiệm của công nhân hơn nữa
- Trại chăn nuôi cần thêm trang thiết bị hiện đại hơn để phục vụ tốt hơn cho chăn nuôi
- Nên cánh ly lợn ốm ngay khỏi đàn lợn khi con vật mới có triệu chứng
- Vì đây là một môi trường học tập rất tốt cho học sinh, sinh viên chuyên ngành Chăn nuôi - Thú y, nên tôi mong muốn sẽ có nhiều lớp sinh viên nữa được về học tập tại trại
Trang 23Phần 2 CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Tên đề tài: “Tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con và so sánh hiệu quả điều trị bệnh của hai loại thuốc Multibio và Norfacoli tại trang trại lợn
tư nhân Bùi Ngọc Tuấn, Xã Quảng Hải, Huyện Quảng Xương, Tỉnh Thanh Hóa”
2.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngành chăn nuôi nước ta trong những năm gần đây đã và đang phát triển ngày càng mạnh với nhiều hình thức, quy mô khác nhau, từ chăn nuôi theo hộ gia đình đến các mô hình chăn nuôi theo mô hình trang trại với số lượng vật nuôi lớn
Chăn nuôi lợn là nghề truyền thống có từ lâu đời và ngày càng chiếm vai trò quan trọng trong nền sản xuất nông nghiệp, là nguồn thu nhập đáng kể
có giá trị lớn cho con người, góp phần xoá đói giảm nghèo, ổn định đời sống
xã hội, thúc đẩy sự phát triển kinh tế chung của đất nước Bên cạnh đó, nó còn cung cấp một lượng không nhỏ về phân bón cho ngành trồng trọt, cung cấp các sản phẩm phụ như: lông, da, mỡ… là nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến
Tuy nhiên, trong chăn nuôi muốn thu được lợi nhuận cao, ngoài các vấn đề về con giống, công tác dinh dưỡng thì công tác thú y là vấn đề cấp bách, quyết định thành công trong chăn nuôi
Cùng với sự phát triển của ngành chăn nuôi, sự gia tăng của đàn gia súc, người chăn nuôi gặp không ít khó khăn do dịch bệnh gây ra Một trong những bệnh thường gặp gây nhiều thiệt hại trong chăn nuôi là bệnh phân trắng
lợn con (Colibacillosis) Là bệnh phổ biến nhất trên khắp thế giới, gây thiệt
hại thường xuyên cho các cơ sở chăn nuôi tập trung theo phương thức truyền thống và công nghiệp, thậm chí trong các điều kiện chăn nuôi, đặc biệt cũng không loại trừ được bệnh này, tỷ lệ chết cao, nhất ở giai đoạn từ sơ sinh đến
28 ngày tuổi
Để hạn chế và giảm tác hại của bệnh, được sự đồng ý của chủ trại Bùi
Ngọc Tuấn và thầy giáo hướng dẫn, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Tình hình
Trang 24mắc bệnh phân trắng lợn con và so sánh hiệu quả điều trị bệnh của hai loại thuốc Multibio và Norfacoli tại trang trại lợn tư nhân Bùi Ngọc Tuấn, Xã Quảng Hải, Huyện Quảng Xương, Tỉnh Thanh Hóa”
2.1.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định một số đặc điểm dịch tễ của bệnh phân trắng lợn con trên đàn lợn nuôi tại trại Bùi Ngọc Tuấn
- Nắm bắt được tình hình lợn con bị nhiễm bệnh phân trắng ở cơ sở
- Biện pháp phòng trị và so sánh hiệu quả điều trị bệnh phân trắng lợn con của hai loại thuốc Multibio và Norfacoli giai đoạn theo mẹ
2.1.2 Ý nghĩa khoa học và cơ sở thực tiễn
- Các kết quả nghiên cứu dịch tễ học bệnh phân trắng lợn con là những
tư liệu khoa học phục vụ cho các nghiên cứu tiếp theo ở trại chăn nuôi Bùi Ngọc Tuấn
- Các kết quả nghiên cứu về biện pháp phòng trị bệnh, đánh giá hiệu quả điều trị bằng 2 loại thuốc kháng sinh Multibio và Norfacoli góp phần phục vụ sản xuất ở trại để kiểm soát và khống chế bệnh phân trắng lợn con nuôi tại cơ sở
2.2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.2.1 Cơ sở khoa học
2.2.1.1 Đặc điểm sinh trưởng, phát triển của lợn con theo mẹ
Theo Lê Huy Liễu (2002) [19], khi nghiên cứu về sinh trưởng ta không thể không đề cập đến quá trình phát triển Sự phát dục của gia súc là quá trình tăng thêm, hoàn chỉnh thêm về chức năng của từng cơ quan, bộ phận để cơ thể có thể phát triển sinh trưởng và phát dục, là 2 mặt của quá trình phát triển của cơ thể Hai mặt này không có ranh giới, có phát dục đồng thời có sinh trưởng và ngược lại
Lợn con ở giai đoạn này có khả năng sinh trưởng, phát dục rất nhanh
So với khối lượng sơ sinh thì sau 10 ngày tuổi trọng lượng lợn con tăng gấp 2 lần, lúc 21 ngày tuổi thì tăng gấp 4 lần, lúc 30 ngày tuổi thì tăng gấp 5 - 6 lần, lúc 40 ngày tuổi thì tăng gấp 7 - 8 lần, lúc 50 ngày tuổi thì tăng gấp 10 lần và lúc 60 ngày tuổi thì tăng gấp 12 - 14 lần
Trang 25Do sinh trưởng phát dục nhanh nên khả năng đồng hóa và trao đổi chất của lợn con rất mạnh, lợn con sau 20 ngày tuổi, mỗi ngày cần tích lũy 9 - 14 gram protein/1kg khối lượng cơ thể, trong khi đó lợn trưởng thành chỉ tích được 0,3 - 0,4 gram/1kg khối lượng cơ thể (Hà Thị Hảo và Trần Văn Phùng, 2003) [7] Điều đó cho thấy, nhu cầu dinh dưỡng của lợn con cao hơn lợn trưởng thành rất nhiều, đặc biệt là protein Mặt khác, ta biết lợn con trong thời
kỳ này chỉ tích luỹ nạc là chính Vì vậy, tiêu tốn thức ăn ít hơn so với lợn trưởng thành
Tác giả Nguyễn Khánh Quắc và Cs (1993) [25], cho biết: Các thành phần trong cơ thể lợn thay đổi rất nhiều, hàm lượng nước trong cơ thể giảm dần theo tuổi, đặc biệt lợn càng lớn thì giảm càng nhiều Hàm lượng lipit tăng nhanh theo tuổi từ khi mới đẻ đến 3 tuần tuổi Hàm lượng protein cũng tăng nhanh theo tuổi nhưng với hàm lượng không nhất định Hàm lượng khoáng có biến đổi liên quan đến quá trình tạo xương Từ lúc mới đẻ đến 3 tuần tuổi có hàm lượng khoáng giảm đáng kể và ở giai đoạn 21 - 56 ngày tuổi giảm không đáng kể
2.2.1.2 Đặc điểm phát triển của cơ quan tiêu hóa
Cùng với sự tăng lên của khối lượng, cơ thể còn có sự phát triển của các cơ quan trong cơ thể, trong đó có cơ quan tiêu hóa của lợn phát triển nhanh nhưng chưa hoàn thiện Cơ quan tiêu hoá của lợn con phát triển rất nhanh nhưng chưa được hoàn thiện, chủ yếu là sự tăng về dung tích dạ dày, ruột non và ruột già
Dung tích dạ dày của của lợn con lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi gấp 8 lần, lúc 60 ngày tuổi gấp 60 lần (dung tích dạ dày lúc sơ sinh khoảng 0,03 lít)
Dung tích ruột non của lợn lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần lúc sơ sinh, lúc
20 ngày tuổi gấp 6 lần, lúc 60 ngày tuổi gấp 5 lần (dung tích ruột non lúc sơ sinh khoảng 0,11 lít)
Sự tăng chiều dài và thể tích ruột non có quan hệ đến khả năng tiêu hóa cellulose khá cao trong thức ăn bổ sung Vì vậy, lợn con tập ăn sớm là biện pháp tốt nhất trong chăn nuôi
Cơ quan tiêu hoá của lợn phát triển hơn các cơ quan khác, khi còn trong bào thai, bộ máy tiêu hoá đã phát triển đầy đủ, song dung tích còn bé Ở
Trang 26miệng lợn mới sinh những ngày đầu, hoạt tính amylaza trong nước bọt cao Men amylaza chủ yếu tiêu hoá thức ăn bột đường còn lại, thức ăn xuống dạ dày tiêu hoá tiếp
Dạ dày tiết ra các dịch vị, các men tiêu hóa, khi thức ăn xuống dạ dày,
cơ trơn co bóp nhào trộn thức ăn, cùng với đó các men tiêu hóa được thêm vào thức ăn Men tripsinogen nhờ tác dụng của HCl chuyển thành tripsin có tác dụng thủy phân protit, peptit Dịch vị tiêu hóa trong dạ dày lợn là khác nhau: ở lợn con bú sữa dịch vị tiết ra ban ngày là 31%, ban đêm là 69%, trong khi đó ở lợn trưởng thành lượng dịch vị ban ngày tới 62%, ban đêm chỉ 38% Theo Nguyễn Thiện và Cs (1998) [29], thì hàm lượng HCl của lợn con
là 0,05 - 0,15%, ở lợn 90 ngày tuổi là 0,2 - 0,25%, lợn trưởng thành 0,35 - 0,40% Số lượng và chất lượng thức ăn tốt sẽ làm tăng tính ngon miệng, dịch
vị tiết ra nhiều, tỷ lệ tiêu hóa cao Ban đêm tỷ lệ tiêu hóa cao hơn ban ngày, ban ngày dịch vị lại tiết ra nhiều hơn
Ở lợn từ 14 - 16 ngày tuổi, tình trạng thiếu HCl ở dạ dày không còn ở trạng thái sinh lý bình thường nữa (Đào Trọng Đạt và Cs, 1986) [4] Vì vậy, việc tập cho lợn con ăn sớm đã rút ngắn được giai đoạn thiếu HCl, giúp hoạt hóa hoạt động tiết dịch, tạo khả năng xây dựng nhanh chóng các đáp ứng miễn dịch của cơ thể
Lợn con dưới 1 tháng tuổi trong dịch vị không có HCl, vì lúc này lượng axit tiết ra rất ít và nó nhanh chóng liên kết với niêm dịch Hiện tượng này được gọi là hypoclohydric, là một đặc điểm quan trọng trong tiêu hóa ở dạ dày lợn con Vì thiếu HCl tự do nên dịch không có tính sát trùng, vi sinh vật xâm nhập vào dạ dày dễ sinh sôi nảy nở và phát triển gây nhiều bệnh đường tiêu hóa ở lợn con (Từ Quang Hiển và Phan Đình Thắm, 1995) [8]
Dịch ruột do các tuyến Bruner ở màng nhầy tá tràng tiết ra Dịch ruột cùng với dịch tụy và dịch mật giúp cho quá trình trung hòa nhũ chấp xuống từ
dạ dày, như vậy nó giúp bảo vệ thành ruột khỏi tác động của độ axit cao xuống từ dạ dày Ruột già tiếp tục quá trình tiêu hóa những gì ruột non tiêu hóa chưa triệt để Ruột già chủ yếu tiêu hóa chất xơ do vi sinh vật ở manh tràng phân giải, hấp thu lại nước và chất khoáng Thời gian thức ăn dừng lại ở ruột già từ 12 - 16 giờ Song ở đây chỉ 9% gluxit, 3% protein được tiêu hóa
Trang 27Các chất không tiêu hóa hết được các vi khuẩn gây thối tạo thành các sản phẩm độc như crezol, phenol… Các sản phẩm này được hấp thu vào máu và được giải độc ở gan, phần cặn bã đi vào kết tràng, được tạo thành khuôn phân
và được thải ra ngoài
2.2.1.3 Đặc điểm về cơ năng điều tiết nhiệt
Cơ năng điều tiết nhiệt của lợn con chưa hoàn chỉnh nên thân nhiệt chưa ổn định, nghĩa là sự sinh nhiệt và thải nhiệt chưa cân bằng Khả năng điều tiết nhiệt của lợn con còn kém do nhiều nguyên nhân:
- Hệ thống thần kinh điều khiển cân bằng nhiệt hoạt động kém vì vỏ đại não phát triển chưa hoàn chỉnh, năng lực phản ứng còn yếu, dễ bị ảnh hưởng khi khí hậu bên ngoài thay đổi đột ngột
- Lớp mỡ dưới da còn mỏng, lượng mỡ và glycozen dự trữ trong cơ thể lợn con còn thấp, trên thân lợn con lông còn thưa nên khả năng cung cấp nhiệt để chống rét hạn chế và khả năng giữ nhiệt kém
- Do diện tích bề mặt cơ thể lợn so với khối lượng chênh lệch tương đối cao nên dễ bị mất nhiệt khi thời tiết thay đổi
Trong bào thai, dinh dưỡng chuyển qua hệ tuần hoàn nhau thai, khi đẻ nguồn dinh dưỡng đó mất đột ngột Vì vậy, trong vòng 30 phút đầu tiên, thân nhiệt lợn con giảm đột ngột từ 38,9 - 39,10C xuống còn 36,7 - 37,10C Sau khi
đẻ 1 giờ nếu lợn con được bú sữa đầu thì 8 - 12 giờ sau thân nhiệt ổn định Nếu 4 giờ sau đẻ, lợn con mới được bú sữa đầu thì phải mất 18 - 24 giờ thân nhiệt mới đạt mức bình thường
Các kết quả nghiên cứu của Cù Xuân Dần và Cs (1996) [3] về lợn con trong những năm qua đều cho thấy thân nhiệt của lợn nội từ khi mới đẻ đến khi cai sữa là:
Tuổi (ngày) Thân nhiệt (0C)
Sơ sinh 38,3 ± 0,6
10 39,6 ± 1,0
20 39,7 ± 0,9
30 39,3 ± 0,6
Trang 28Thân nhiệt của lợn con sau khi đẻ khoảng 380C, sau 10 ngày tăng lên 39,5
- 39,70C và giữ ở mức đó Trong thời gian này thân nhiệt lợn con có thể biến động trên dưới 10
C
Mức độ hạ thân nhiệt nhiều hay ít, nhanh hay chậm chủ yếu phụ thuộc vào nhiệt độ chuồng nuôi và tuổi của lợn con Nhiệt độ chuồng nuôi càng thấp, thân nhiệt lợn con hạ xuống càng nhanh, tuổi của lợn con càng ít thân nhiệt hạ xuống càng nhiều Do lợn con có khả năng điều hòa thân nhiệt kém nên cơ thể dễ bị lạnh và phát sinh bệnh, nhất là bệnh ỉa phân trắng
Độ ẩm cũng là một yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng điều hòa thân nhiệt của lợn con Nếu độ ẩm cao thì lợn con dễ bị mất nhiệt và có thể bị cảm lạnh Độ ẩm thích hợp cho lợn con ở nước ta là 65 - 70%
2.2.1.4 Đặc điểm về khả năng miễn dịch
Trần Văn Phùng và Cs (2004) [23] cho biết: Vì thiếu HCl tự do nên vi sinh vật có điều kiện dễ dàng phát triển gây bệnh đường tiêu hoá, điển hình là bệnh phân trắng lợn con Do đó, để hạn chế bệnh đường tiêu hoá ta có thể kích thích vách tế bào tiết ra HCl tự do sớm hơn, bằng cách bổ sung thức ăn sớm cho lợn con Nếu tập ăn sớm cho lợn con vào lúc 5 - 7 ngày tuổi thì HCl
tự do có thể được tiết ra từ 14 ngày tuổi
Ở lợn con mới đẻ, trong cơ thể hầu như chưa có kháng thể nhưng lượng kháng thể tăng lên rất nhanh sau khi lợn con được bú sữa đầu của lợn mẹ Do vậy, khả năng miễn dịch của lợn con là hoàn toàn thụ động, phụ thuộc vào lượng kháng thể hấp thụ được nhiều hay ít từ sữa đầu của lợn mẹ
Theo Phùng Ứng Lân (1996) [18], lợn con mới đẻ ra trong máu không
có globulin nhưng sau khi bú sữa đầu tăng lên một cách nhanh chóng, sau 3 -
4 tuần lại giảm, đến 5 - 6 tháng nó lại tăng lên và đạt đến chỉ số bình thường
là 65 mg globulin/100 ml máu
Lợn con hấp thụ globulin bằng con đường ẩm bào, 24 giờ sau khi đựơc
bú sữa đầu hàm lượng globulin trong máu đạt tới 20,3 mg/100ml máu Sau 24 giờ, sự hấp thụ globulin kém dần hàm lượng globulin trong máu lợn tăng lên chậm hơn, đến 3 ngày chỉ đạt 2,4 mg/100ml máu Do đó, lợn con càng được
bú sữa đầu càng sớm càng tốt
Trang 29Trong sữa đầu của lợn mẹ có hàm lượng protein chiếm tới 18 - 19%, trong
đó lượng globulin chiếm số lượng khá lớn 30 - 35%, globulin có tác dụng tạo sức
đề kháng, cho nên sữa đầu có vai trò quan trọng với khả năng miễn dịch của lợn con Do đó, lợn con cần được bú sữa đầu càng sớm càng tốt Nếu lợn con không được bú sữa đầu thì trong 20 ngày đầu lợn không có kháng thể, vì lợn con chỉ có kháng thể lúc 20 - 25 ngày tuổi Vì vậy, những lợn không được bú sữa đầu thì sức
đề kháng rất kém và tỉ lệ chết rất cao
2.2.1.5 Các thời kỳ quan trọng của lợn con
Thời kỳ từ sơ sinh đến 1 tuần tuổi: Là thời kỳ khủng hoảng đầu tiên của lợn con do sự thay đổi hoàn toàn về môi trường sống, bởi vì lợn con chuyển
từ điều kiện sống ổn định trong cơ thể mẹ sang tiếp xúc trực tiếp với môi trường bên ngoài Do vậy nếu chăm sóc nuôi dưỡng không tốt lợn con dễ bị mắc bệnh, còi cọc, tỷ lệ nuôi sống thấp
Thời kỳ 3 tuần tuổi: Là thời kỳ khủng hoảng thứ 2 của lợn con, do quy luật tiết sữa của lợn mẹ gây nên Sản lượng sữa của lợn mẹ tăng dần từ sau khi đẻ và đạt cao nhất ở 3 tuần tuổi, sau đó sản lượng sữa giảm nhanh, trong khi đó nhu cầu dinh dưỡng của lợn con ngày càng tăng do lợn con sinh trưởng phát dục nhanh, đây là mâu thuẫn giữa cung và cầu Để giải quyết mâu thuẫn này cần tập cho lợn con ăn sớm vào 7 - 10 ngày tuổi
Thời kỳ ngay sau khi cai sữa: Là thời kỳ khủng hoảng thứ 3 do môi trường sống thay đổi từ bú sữa mẹ đến cai sữa hoàn toàn Mặt khác, thức ăn thay đổi, chuyển từ thức ăn chủ yếu là sữa mẹ sang thức ăn hoàn toàn do con người cung cấp nên giai đoạn này nếu chăm sóc không chu đáo, lợn con rất dễ
bị còi cọc, mắc bệnh đường tiêu hoá, hô hấp
2.2.2 Những hiểu biết về vi khuẩn E coli
Trực khuẩn ruột già Escherichia coli thuộc họ Enterobacteriaceae, giống Escherichia Trong số các vi khuẩn hiếu khí trong đường tiêu hoá của
động vật thì E coli chiếm tỷ lệ nhiều nhất, khoảng 80%
Escherichia coli còn có tên khoa học là Bacterium coli commune, hay Bacilus coli communis do bác sỹ nhi khoa Đức Escherich phân lập từ phân
của trẻ em bị tiêu chảy năm 1885