1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tình hình hội chứng tiêu chảy ở lợn con từ sơ sinh đến 60 ngày tuổi tại trại lợn đạt thúy huyện hiệp hòa, tỉnh bắc giang và thử nghiệm một số phác đồ điều trị

69 517 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 570,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình hình mắc hội chứng tiêu chảy trên đàn lợn con theo mẹtại trại trong 4 tháng .... Các triệu chứng lâm sàng của lợn con theo mẹ mắc hội chứng tiêu chảy n = 60 .... Trong thời gian thự

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM -  -

PHẠM HỮU CHUNG

Tên đề tài:

“TÌNH HÌNH HỘI CHỨNG TIÊU CHẢY Ở LỢN CON TỪ SƠ SINH ĐẾN 60

NGÀY TUỔI TẠI TRẠI LỢN ĐẠT THÚY HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG VÀ THỬ NGHIỆM MỘT SỐ PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Thú y Khoa : Chăn nuôi Thú y Khoá học : 2009 - 2014

Giảng viên hướng dẫn: TS Nguyễn Quang Tính

Khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Thái Nguyên, 2013

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình thực tập và thực hiện đề tài, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi còn nhận được rất nhiều sự quan tâm giúp đỡ của tập thể, cá nhân trong và ngoài trường

Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, thầy cô giáo và bạn bè đã giúp đỡ tôi trong những năm học vừa qua và trong suốt quá trình thực tập Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn TS Nguyễn Quang Tính - Bộ môn Dược Lý - Khoa Chăn Nuôi Thú Y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã giúp đỡ chỉ bảo tận tình để tôi hoàn thành báo cáo tốt nghiệp

Tôi xin chân thành cảm ơn cán bộ trạm thú ý và chủ trại lợn Đạt Thúy huyện Hiệp Hòa - Bắc Giang đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập tốt nghiệp

Tôi xin chân thành cảm ơn

Phạm Hữu Chung

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

Phần 1: CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT 1

1 Điều tra cơ bản 1

1.1 Điều kiện cơ sở 1

1.1.1 Điều kiện tự nhiên 1

1.1.1.1 Điều kiện khí hậu thủy văn 1

1.1.1.2 Giao thông 2

1.1.1.3 Nguồn nước 2

1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 2

1.1.2.1 Tổ chức quản lý cơ sở 2

1.1.2.2 Tình hình kinh tế - xã hội 2

1.1.3 Tình hình sản xuất trồng trọt, chăn nuôi và công tác thú y 3

1.1.3.1 Tình hình sản xuất ngành trồng trọt 3

1.1.3.2 Tình hình sản xuất ngành chăn nuôi 3

1.1.4 Đánh giá chung 4

1.1.4.1 Thuận lợi 4

1.1.4.2 Khó khăn 4

1.2 Nội dung, phương pháp và kết quả phục vụ sản xuất 4

1.2.1 Nội dung phục vụ sản xuất 4

1.2.3 Kết quả phục vụ sản xuất 5

1.4 Kết luận và đề nghị 14

1.4.1 Kết luận 14

1.4.2 Đề nghị 15

Phần 2: CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU 16

Phần 3: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 18

3.1 Cơ sở khoa học 18

3.1.2 Những nguyên nhân gây tiêu chảy 19

3.1.2.1 Nhóm nguyên nhân nội tại 19

3.1.2.2 Nhóm nguyên nhân do ngoại cảnh 22

3.1.2.3 Các nguyên nhân gây Hội chứng tiêu chảy là vi khuẩn 22

3.1.2.4 Các nguyên nhân gây Hội chứng tiêu chảy là virus 26

Trang 4

3.1.2.5 Các nguyên nhân do ký sinh trùng 27

3.1.3 Cơ chế gây tiêu chảy và bệnh lý lâm sàng 28

3.1.4 Hậu quả của hội chứng tiêu chảy 29

3.1.4.1 Mất nước do tiêu chảy 29

3.1.4.2 Tình trạng mất nước và chất điện giải 29

3.1.4.3 Rối loạn cân bằng acid - base 30

3.1.5 Triệu chứng và bệnh tích của hội chứng tiêu chảy 31

3.1.5.1 Triệu chứng 31

3.1.5.2 Bệnh tích 32

3.1.6 Các biện pháp phòng bệnh 32

3.1.6.1.Vệ sinh phòng bệnh 32

3.1.6.2 Phòng bệnh bằng vaccine 33

3.1.6.3 Phòng bệnh bằng chế phẩm sinh học 33

3.1.7 Điều trị hội chứng tiêu chảy 33

3.1.8 Đặc điểm sinh lý của lợn con 34

3.1.8.1 Đặc điểm sinh trưởng phát dục của lợn con 35

3.1.8.2 Đặc điểm phát triển cơ quan tiêu hóa 35

3.1.8.3 Đặc điểm về khả năng điều tiết thân nhiệt 36

3.1.8.4 Đặc điểm về khả năng miễn dịch 36

3.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 37

3.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 37

3.2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 38

Phần 4: ĐỐI TƯỢNG, NGUYÊN LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 39

4.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 39

4.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 39

4.3 Nội dung nghiên cứu 39

4.3.1 Tình hình mắc bệnh chung của lợn con theo mẹ tại trại 39

4.3.2 Tình hình mắc hội chứng tiêu chảy trên đàn lợn con theo mẹ qua 4 tháng đầu năm 2013 39

4.3.3 Tình hình nhiễm Hội chứng tiêu chảy ở lợn con theo tuổi 39

4.3.4 Tình hình nhiễm Hội chứng tiêu chảy ở lợn con theo tính biệt 39

Trang 5

4.3.5 Kết quả điều tra tình hình lợn con mắc Hội chứng tiêu chảy theo lứa đẻ

của lợn mẹ 39

4.3.6 Những biểu hiện lâm sàng của lợn con khi mắc hội chứng tiêu chảy 39

4.3.7 Đánh giá hiệu quả của quy trình điều trị Hội chứng tiêu chảy lợn con 39 4.4 Phương pháp nghiên cứu 39

4.4.1 Phương pháp tiến hành 39

4.4.2 Các chỉ tiêu theo dõi 40

4.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 41

Phần 5: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 43

5.1 Tình hình mắc bệnh chung ở lợn con theo mẹ 43

5.2 Tình hình mắc hội chứng tiêu chảy trên đàn lợn con theo mẹ qua 4 tháng năm 2013 44

5.3 Kết quả điều tra tình hình lợn con mắc Hội chứng tiêu chảy

theo lứa tuổi 46

5.4 Kết quả điều tra tình hình lợn con mắc hội chứng tiêu chảy

theo tính biệt 50

5.5 Kết quả điều tra tình hình lợn con mắc Hội tiêu chảy lứa đẻ của lợn mẹ 51 5.6 Những biểu hiện lâm sàng của lợn con khi mắc hội chứng tiêu chảy 52

5.7 Đánh giá hiệu quả của quy trình điều trị Hội chứng tiêu chảy lợn con 54

KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ ĐỀ NGHỊ 57

1 Kết luận 57

2 Tồn tại 57

3 Đề nghị 58

TÀI LIỆU THAM KHẢO 59

I Tài liệu Tiếng Việt 59

II Tài liệu Tiếng Anh 62

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 1.1: Cơ cấu đàn lợn của trại 4 năm gần đây 3

Bảng 1.2 Quy trình tiêm phòng vaccine cho lợn con của trại 9

Bảng 1.3 Quy trình tiêm phòng vaccine cho đàn lợn nái của trại 10

Bảng 1.4 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 14

Bảng 5.1: Tình hình mắc bệnh chung ở lợn con theo mẹ 43

Bảng 5.2 Tình hình mắc hội chứng tiêu chảy trên đàn lợn con theo mẹtại trại trong 4 tháng 44

Bảng 5.3 Tỷ lệ lợn con mắc tiêu chảy và chết do tiêu chảy theo lứa tuổi 47

Bảng 5.4 Tỷ lệ lợn con mắc Hội chứng tiêu chảy theo tính biệt 50

Bảng 5.5 Ảnh hưởng của số lứa đẻ của lợn mẹ đến tình hình mắc hội chứng tiêu chảy ở lợn con 52

Bảng 5.6 Các triệu chứng lâm sàng của lợn con theo mẹ mắc hội chứng tiêu chảy (n = 60) 52

Bảng 5.7 Kết quả điều trị thực nghiệm phác đồ điều trịbệnh tiêu chảy cho lợn con 55

Trang 7

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang Hình 5.1 Biểu đồ tỷ lệ và chết do tiêu chảy trên đàn lợn con theo mẹ tại trại

trong 4 tháng 45

Hình 5.2 Biểu đồ so sánh tỷ lệ lợn con mắc và chết do tiêu chảy

theo lứa tuổi 47

Hình 5.3 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ lợn chết do mắc HCTC theo tính biệt

trong 4 tháng 50

Trang 8

Phần 1 CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT

1 Điều tra cơ bản

1.1 Điều kiện cơ sở

Trại lợn giống ngoại Đạt Thúy, nằm trên địa bàn xã Lương Phong

- huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang Trại được xây dựng trên một khu vực xa khu dân cư, cách đường quốc lộ khoảng 2km Trại xây dựng năm 2009 với tổng diện tích 2000m2 Trong đó diện tích sử dụng chăn nuôi khoảng 1200m2, diện tích vườn cây và khu xử lý nước thải khoảng 100m2, còn lại là khu hành chính và khu nhà ở của công nhân

Ranh giới của trang trại được xác định bởi:

- Phía Bắc giáp xã Ngọc Vân

- Phía Đông giáp thôn Sơn Quả 3

- Phía Nam giáp thôn Sơn Quả 2

- Phía Tây giáp thôn Giữa

Trại nằm khá tách biệt với khu dân cư, thuận tiện cho việc phòng chống dịch bệnh, vận chuyển thức ăn và tiêu thụ sản phẩm

1.1.1 Điều kiện tự nhiên

1.1.1.1 Điều kiện khí hậu thủy văn

Nhiệt độ: Theo số liệu thống kê cho thấy nhiệt độ trung bình năm dao

Ẩm độ: Ẩm độ trong năm dao động lớn từ 73 - 87%, những tháng

có độ ẩm cao là tháng 12,1,2,3,4

Trang 9

Với điều kiện như vậy, nhìn chung thuận lợi cho phát triển nông nghiệp

cả về trồng trọt và chăn nuôi Tuy nhiên có những giai đoạn khí hậu thay đổi bất thường như hạn hán, lũ lụt, mùa hè có ngày nhiệt độ tăng cao trên 390

C,

đến sản xuất nông nghiệp

Trình độ dân trí phát triển, người dân sống đoàn kết, tình hình an ninh trật tự ổn định, ít tệ nạn xã hội, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho trại

phát triển

Song song với việc chăn nuôi thì việc phát triển cơ sở vật chất kĩ thuật cũng được trang trại rất quan tâm Trang trại đã xây dựng, lắp đặt đầy đủ các trang thiết bị như: Téc nước làm mát, quạt thông gió, hệ thống xilo, tời cám tự

động, xây bể biogas xử lí chất thải nhằm giữ cho môi trường trong và ngoài

khu vực chăn nuôi không bị ô nhiễm, đồng thời cung cấp gas phục vụ đời sống sinh hoạt của toàn bộ trang trại

Trang 10

1.1.3 Tình hình sản xuất trồng trọt, chăn nuôi và công tác thú y

1.1.3.1 Tình hình sản xuất ngành trồng trọt

Chăn nuôi lợn là nhiệm vụ trọng tâm của trại cho nên trồng trọt chỉ là

lĩnh vực phụ Mặt khác, do diện tích của trang trại còn ít nên ngành trồng trọt

chưa được phát triển Trang trại chỉ trồng một số cây ăn quả như xoài, ổi, bưởi và một số cây keo lá chàm quanh khu vực chuồng nuôi nhằm tạo bóng mát, cải thiện bầu không khí

1.1.3.2 Tình hình sản xuất ngành chăn nuôi

Mục tiêu của trại là chăn nuôi giống lợn ngoại bố mẹ sinh sản, sản phẩm tạo ra các giống lợn thương phẩm giá trị cao cung cấp cho thị trường người tiêu dùng

Đàn lợn sinh sản của trại được nhập về từ công ty Charoen Phokphand (CP) Việt Nam

Cơ cấu đàn lợn của trại trong năm 2010, 2011, 2012 và 2013 trình bày

tăng lên 67 con, lợn đực là 2 con và số lợn con tăng lên 216 con

Trang 11

Như vậy, qua bảng trên cho thấy qua các năm thì số đầu lợn nái sinh sản tại trại đều tăng thêm, cùng với sự tăng số lợn nái sinh sản thì số lợn con sinh ra năm sau cao hơn năm trước Nguyên nhân của sự tăng này là do sự

phát triển của trại, do kỹ thuật chăm sóc, do sự phát triển của đàn lợn nái

1.1.4 Đánh giá chung

1.1.4.1 Thuận lợi

Trang trại có vị trí thuận lợi, địa hình bằng phẳng gần đường giao thông nên thuận lợi cho việc vận chuyển thức ăn chăn nuôi và tiêu thụ sản phẩm

Trại đã đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị để phục vụ cho sản xuất và

mở rộng quy mô trang trại

Công nhân làm việc tại trại có tay nghề và có tinh thần làm việc trách nhiệm cao

1.2 Nội dung, phương pháp và kết quả phục vụ sản xuất

1.2.1 Nội dung phục vụ sản xuất

Thực tập tốt nghiệp là dịp để sinh viên đem những hiểu biết của mình

về khoa học kỹ thuật áp dụng vào thực tiễn sản xuất, bước đầu làm quen với thực tế để rèn luyện tay nghề, nâng cao trình độ chuyên môn.Trong thời gian thực tập, chúng tôi đã căn cứ vào kết quả điều tra cơ bản, trên cơ sở phân tích

khó khăn thuận lợi của trại, áp dụng những kiến thức đã học trong nhà trường, sách báo vào thực tiễn sản xuất

Kết hợp với học hỏi kinh nghiệm của cán bộ kỹ thuật và công nhân tại trại, tôi xác định một số nội dung trong thời gian thực tập như sau:

- Nuôi dưỡng, chăm sóc đàn lợn tại trại

- Tiêm vaccine cho đàn lợn theo định kỳ, theo quy trình chăn nuôi

- Chẩn đoán và điều trị một số bệnh xảy ra tại trại

- Sát trùng chuồng trại theo định kỳ

- Tham gia các công tác khác

Trang 12

- Tiến hành nghiên cứu chuyên đề khoa học trên đàn lợn tại trại

1.2.2 Phương pháp tiến hành

Để thu được kết quả tốt trong thời gian thực tập và thực hiện tốt nội

dung đã đề ra, bản thân tôi đã đưa ra một số biện pháp thực hiện sau:

- Xây dựng kế hoạch thực hiện cụ thể phù hợp với tình hình sản xuất

của trại

- Chấp hành nội quy, quy chế của Nhà trường, của Khoa và của trại đề ra

- Vận dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn sản xuất

- Tìm tòi, học hỏi cán bộ, công nhân kỹ thuật và nhân dân

- Thường xuyên liên hệ xin ý kiến của thầy giáo hướng dẫn

1.2.3 Kết quả phục vụ sản xuất

- Tình hình công tác giống

Trong chăn nuôi thì giống là tiền đề, nó đóng vai trò hết sức quan trọng

và có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả sản xuất Nhận thức rõ được tầm quan

trọng của công tác chọn giống nên trong thời gian thực tập tại trại tôi đã cùng với cán bộ kỹ thuật của trại tiến hành công việc chọn lọc giống để đưa vào sản xuất Do trại chỉ nuôi lợn nái sinh sản để lấy giống nuôi thương phẩm, không

sử dụng bán lợn giống nên để làm tốt công tác giống chúng tôi chọn lọc và loại thải những con nái không đáp ứng được yêu cầu sản xuất Đối với lợn con chúng tôi tiến hành loại thải những con không đảm bảo được yêu cầu sản xuất

Trại đã chọn giống Landrace, lợn Yorkshire Hình thức phối giống

được áp dụng chủ yếu là thụ tinh nhân tạo với tỷ lệ phối giống cao

Công tác chọn lợn hậu bị được diễn ra thường xuyên nhằm nâng cao chất lượng đàn nái và thay thế những nái có kết quả sản xuất thấp Quá trình thực tập tôi đã tham gia chọn lợn nái hậu bị với các tiêu chuẩn: Lợn phàm ăn,

cơ thể cân đối, chân đi móng, không chạm khoeo, trán rộng, lưng thẳng, mông

và vai nở, bụng to nhưng không sệ Da, lông bóng mượt, có 12 vú trở lên, hai hàng vú đều, không có vú kẹ, các vú thẳng hàng, khoảng cách rộng

- Tình hình công tác chăm sóc nuôi dưỡng

Với hệ thống chuồng khép kín, có quạt thông gió ở cuối dãy chuồng và

hệ thống làm mát ở đầu chuồng có tác dụng làm mát và ngăn chặn mầm bệnh theo không khí vào chuồng nuôi Chủ động điều chỉnh được mức độ nhiệt

Trang 13

trong chuồng thích hợp Hệ thống khung lồng, sàn, máng ăn, vòi phun, độ dốc nền chuồng,… được thiết kế phù hợp Lợn ở các lứa tuổi được nuôi ở các khu vực riêng biệt, các khu chuồng được thiết kế lần lượt từ khu chuồng mang thai

- khu chuồng đẻ - khu cai sữa - khu nuôi thịt, giữa các khu được xây dựng cách nhau một khoảng trống Số đầu lợn được tính toán hợp lý giữa các khu Với tỷ lệ là 2,4 lứa/năm thì số nái ở chuồng mang thai luôn chiếm 4/5 tổng số nái và chuồng đẻ chiếm 1/5 tổng số nái, khu chuồng đẻ gồm lợn nái chờ đẻ và lợn nái nuôi con

Việc chăm sóc nuôi dưỡng, giữ vai trò quan trọng đến sự sinh trưởng

và phát triển của đàn lợn Trang trại đã xây dựng quy trình chăm sóc nuôi dưỡng các đàn lợn khác nhau, ở các giai đoạn tuổi khác nhau Tính toán chi phí sử dụng sử dụng sao cho hiệu quả nhất nhưng vẫn đảm bảo được nhu cầu dinh dưỡng và phòng bệnh của đàn lợn

Trong thời gian thực tập tại trại, chúng tôi đã tham gia cùng công nhân của trại chăm sóc các loại lợn:

* Chăm sóc lợn nái mang thai

Nái mang thai chia làm hai giai đoạn:

- Nái chửa kỳ I (từ 1 - 84 ngày): Đây là giai đoạn trứng được thụ tinh, phôi làm tổ ở tử cung, bào thai phát triển chậm nên dinh dưỡng giai đoạn này

chỉ để duy trì cơ thể lợn nái và phần không đáng kể nuôi bào thai Chuồng nuôi giai đoạn này đảm bảo luôn thông thoáng, nhốt riêng từng con Dinh dưỡng đảm bảo 13% protein và năng lượng trao đổi 2800 Kcalo Công tác thú

y được quan tâm để tránh cho lợn bị xảy thai, giúp cho thai sinh trưởng, phát dục bình thường

- Nái chửa kỳ II (từ 85 ngày đến đẻ): Dinh dưỡng đảm bảo ở giai đoạn

này là 15% protein và năng lượng trao đổi 3000 Kcalo Vì đây là giai đoạn cuối của quá trình mang thai, thai phát triển nhanh, khối lượng sơ sinh của lợn con được quyết định trong thời gian này Do đó khâu chăm sóc nuôi dưỡng và tiêm phòng cho lợn là hết sức quan trọng Ngoài ra phải luôn đảm bảo chuồng nuôi khô thoáng

* Chăm sóc lợn nái nuôi con

Chế độ ăn của nái đẻ là:

Trang 14

Ngày đẻ không cho ăn, cho uống nước tự do, bổ sung chất điện giải Ngày thứ nhất sau đẻ cho ăn 1kg / con

Ngày thứ 2 sau đẻ cho ăn 2kg / con

Ngày thứ 3 sau đẻ cho ăn 3kg / con

Ngày thứ 4 sau đẻ cho ăn 4kg /con

Từ ngày thứ 7 trở đi cho đến khi cai sữa có thể dùng công thức sau để tính lượng thức ăn cho một nái trong một ngày

Thức ăn / nái / ngày = 2kg + (0,3 x số con theo mẹ)

Tùy theo thể trạng của lợn nái mà ta có sự điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp, với những lợn nái gầy ta có thể tăng thêm lượng thức ăn và ngược lại

Một ngày trước khi cai sữa lượng thức ăn của lợn mẹ giảm đi 20 - 30% Ngày cai sữa cho lợn mẹ nhịn ăn, hạn chế uống nước

Ngoài ra, trong chuồng nái đẻ cần có ô úm và tập cho lợn con ăn sớm

* Chăm sóc lợn con

Mục đích chăm sóc lợn con là áp dụng biện pháp khoa học kỹ thuật để lợn con đạt khối lượng cai sữa cao, nuôi thịt sinh trưởng phát triển nhanh, nâng cao năng suất chăn nuôi

Lợn con sinh ra chịu sự thay đổi rất nhiều của điều kiện ngoại cảnh, vì vậy cần tạo điều kiện cho lợn con tránh yếu tố stress và tỷ lệ chết trong giai đoạn sơ sinh cao Chuồng nuôi luôn khô ráo và ấm áp Cho lợn con bú sữa đầu càng sớm càng tốt Tiêm bổ sung sắt cho lợn và cho lợn con tập ăn sớm Thức ăn cho lợn con phải giàu đạm và giàu năng lượng

- Vệ sinh phòng bệnh:

Với quy mô chăn nuôi lợn công nghiệp, công tác phòng bệnh là khâu quan trọng hàng đầu, được thực hiện nghiêm ngặt quyết định phần lớn đến sự sinh tồn của trại Việc phòng bệnh được tập chung ở 2 khâu: Vệ sinh phòng bệnh và phòng bệnh bằng vaccine

Vệ sinh phòng bệnh luôn được chú trọng và thực hiện thường xuyên nhằm ngăn chặn mầm bệnh từ bên ngoài xâm nhập vào chuồng nuôi, nhằm nâng cao sức đề kháng không đặc hiệu cho đàn lợn Thuốc sát trùng được sử dụng ở trại là: FAM - 30, Han - Iodine 10%, vôi bột, sút,… Công tác vệ sinh phòng bệnh luôn được thực hiện định kỳ hàng tuần cụ thể:

Trang 15

Trước cổng chính đi vào trại được xây 1 hố vôi khử trùng, định kỳ 1 tuần 2 lần thay vôi mới, mục đích cho các xe ra vào trại đi qua hố sát trùng Ngoài cổng khu nhà tiếp khách có phòng sát trùng và thay quần áo cho khách tham quan, mua bán lợn,… trước khi vào trại Luôn có một bình thuốc sát trùng để sẵn ở cửa ra vào trại để phun sát trùng cho những xe ra vào trại Trên

đường đi vào các khu chuồng được rắc vôi bột định kỳ 1 tuần 1 lần vào thứ 6

Khu vực đường đi xung quanh chuồng, khu ở của công nhân định kỳ phun thuốc sát trùng mỗi tuần 2 lần bằng dung dịch FAM - 30 với tỷ lệ pha 1:200 Khu vực xung quanh chuồng nuôi luôn được dọn sạch cỏ và phun thuốc sát trùng bằng dung dịch FAM - 30

Trước cửa ra vào mỗi chuồng nuôi có 1 hố sát trùng ủng trước khi vào chuồng Trong chuồng định kỳ mỗi tuần phun sát trùng bằng FAM - 30, phun lên nền chuồng, tường, trần bạt và hệ thống giàn mát Ngoài ra sử dụng dung dịch anolít nồng độ 150mg/1lít (1 tháng 2 lần) phun vào không khí trong chuồng nuôi nhằm giảm mùi Hai ngày một lần dùng vôi bột rắc lên hành lang

và đường đi trong chuồng và dưới nền chuồng đẻ Định kỳ 2 tuần 1 lần phun vôi lên tường chuồng

Khu chuồng đẻ cứ sau mỗi lứa đẻ thì toàn bộ tấm phên sàn, ổ úm, tấm

gỗ được tháo và đưa ra ngâm trong bể có xút, sau đó được xịt sạch bằng máy xịt áp lực, rồi dùng xà phòng đánh lại bằng bàn chải, xịt sạch ngâm với nước vôi bột và thuốc sát trùng Hệ thống khung được đánh sạch bằng bàn chải với

xà phòng, sau đó phun sạch bằng nước rồi phun thuốc sát trùng, để khô lắp phên và đưa lợn nái chờ đẻ vào Hàng ngày dùng thuốc sát trùng hoặc dung dịch anolít lau phên sàn ở các lồng lợn nái đang nuôi con Ở khu chuồng thịt sau khi xuất lợn: Chuồng, máng ăn, bể nước,… được cọ rửa sạch, phun thuốc sát trùng và phun vôi quanh tường, chuẩn bị nuôi lứa mới

Hệ thống chuồng khép kín nên có thể điều chỉnh được chế độ nhiệt trong chuồng thích hợp Chế độ nhiệt rất quan trọng trong quá trình phòng bệnh, ở khu chuồng mang thai nhiệt độ luôn đảm bảo thích hợp từ 26 - 280C, khu chuồng đẻ sử dụng bóng điện và ổ úm để đảm bảo nhiệt độ cho lợn con mới sinh từ 32 - 360C, sau mỗi tuần tuổi giảm 10C Khu cai sữa và khu thịt luôn đảm bảo nhiệt độ 320C, sau mỗi tuần tuổi giảm đi 10C, nhiệt độ thích

Trang 16

hợp của lợn thịt là 26 - 280C Mùa đông dùng bạt che phía giàn mát đầu mỗi dãy chuồng hạn chế tốc độ gió, mùa hè bật hệ thống phun nước trên giàn mát làm giảm nhiệt độ chuồng nuôi

Bên cạnh công tác vệ sinh phòng bệnh ra, kết hợp phòng bệnh bằng vaccine và thuốc định kỳ nhằm nâng cao sức đề kháng đặc hiệu cho đàn lợn ở các lứa tuổi Tiêm phòng bắt buộc các bệnh như: Dịch tả lợn, LMLM, khô thai,… Tiêm sắt phòng bệnh tiêu chảy ở lợn con Nhưng do công tác vệ sinh phòng bệnh của trại tương đối tốt đã hạn chế rất nhiều được mầm bệnh từ bên ngoài vào Số lượng đàn lợn nuôi lớn, vaccine chủ yếu dùng là vaccine nhập ngoại, giá thành 1 liều vaccine cao nên phải tính đến lợi nhuận kinh tế, vì vậy việc sử dụng vaccine được tính toán sao cho phù hợp cho từng lứa tuổi và mùa vụ bệnh hay xảy ra ở trại mà dùng những loại vaccine cho thích hợp

Trong quá trình thực tập tại cơ sở tôi đã tham gia công tác tiêm phòng cho đàn lợn con và lợn nái Đối với lợn con tôi đã tiêm phòng các bệnh như lở mồm long móng, dịch tả, suyễn…

Dưới đây là quy trình tiêm phòng cho đàn lợn nuôi tại trại:

Bảng 1.2 Quy trình tiêm phòng vaccine cho lợn con của trại

Trang 17

Bảng 1.3 Quy trình tiêm phòng vaccine cho đàn lợn nái của trại

Để đạt được hiệu quả tiêm phòng tốt nhất cho đàn lợn thì ngoài hiệu

quả của vaccine, phương pháp sử dụng vaccine, loại vaccine Còn phải phụ

thuộc vào tình trạng sức khoẻ con vật Trên cơ sở đó trại chỉ tiêm phòng

vaccine cho những con khoẻ mạnh, được chăm sóc tốt không mắc bệnh truyền

nhiễm hoặc các bệnh mãn tính khác để tạo được trạng thái miễn dịch tốt nhất

cho đàn lợn Tuy nhiên, lịch tiêm phòng có thể thay đổi tùy theo diễn biến

dịch bệnh ở địa phương

- Công tác điều trị bệnh

Trong thời gian thực tập tại trại chăn nuôi Đạt Thúy, bằng kiến thức đã học, cùng với sự giúp đỡ của cán bộ kỹ thuật trại chúng tôi đã tiến hành chẩn đoán và điều trị một số bệnh xảy ra tại trại Cụ thể như sau:

* Bệnh phân trắng lợn con

Bệnh xảy ra quanh năm nhưng chủ yếu vào vụ đông xuân và xuân hè, những lúc thời tiết thay đổi đột ngột, những ngày ẩm ướt, độ ẩm môi trường cao Bệnh phát sinh chủ yếu ở giai đoạn sơ sinh đến cai sữa

Trang 18

Nguyên nhân: Bệnh do trực khuẩn E coli gây ra, là bệnh truyền nhiễm

cấp tính, đặc trưng tháo chảy, nhiễm trùng và nhiễm độc huyết Bệnh xảy ra chủ yếu ở giai đoạn lợn con theo mẹ

Ngoài nguyên nhân do trực khuẩn E coli thì bệnh còn gây ra bởi

nguyên nhân khác như:

- Sàn chuồng bẩn làm cho bầu vú mẹ bẩn, khi lợn con bú làm cho vi

khuẩn xâm nhập vào đường tiêu hóa

- Do lợn mẹ ít sữa, lợn con bị đói, lợn gặm nhấm nền sàn chuồng tạo

điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể

- Do lợn mẹ bị viêm vú làm cho thành phần, chất lượng sữa thay đổi

dẫn đến lợn con bị rối loạn tiêu hóa

- Do việc chăm sóc nuôi dưỡng lợn mẹ trong thời gian mang thai

không tốt, bào thai phát triển không bình thường, lợn con sinh ra yếu Hoặc thời kỳ nuôi con lợn mẹ ốm không đủ sữa cho con bú, dẫn đến sức đề kháng

của lợn con giảm làm cho lợn dễ mắc bệnh

- Do hệ thần kinh của lợn phát triển chưa hoàn thiện nên kém thích

nghi với sự thay đổi của môi trường Do đó thời tiết thay đổi bất thường thì lợn con dễ bị mắc bệnh

- Do không vệ sinh máng tập ăn, vòi uống nước Lợn con dễ gây bệnh cho nhau

Vi khuẩn E coli sau khi xâm nhập vào cơ thể, bắt đầu phát triển ở

ruột non và sản sinh ra độc tố gây viêm niêm mạc ruột, dẫn tới lợn con ỉa

xù, ủ rũ, đuôi và hậu môn dính bết phân, lợn mắc bênh 2 - 3 ngày phân có mùi

tanh khắm Trong phân có chứa hạt sữa chưa tiêu hóa Lợn con mất nước nếu

ỉa chảy kéo dài, da nhăn nheo, đi đứng xiêu vẹo, gầy dộc đi, bốn chân lạnh, mình co rúm ró

Trang 19

+ Bệnh tích: Phát bệnh chủ yếu ở xoang bụng, ruột non viêm cata kèm theo xuất huyết Niêm mạc ruột và dạ dày phủ một lớp màng nhầy, gan sưng thoái hoái có màu đất sét, chất chứa trong đường ruột lỏng, màu vàng Xác chết gầy, bụng hóp, xác chết để qua đêm phần bụng có màu đen và quá trình hoại tử chậm

Điện giải - Gluco - K - C: Pha nước uống: 5 - 10g/con/ ngày

ADE B - complex: 1 - 2ml/con; tiêm bắp: 1lần/ ngày

Tỷ lệ khỏi: 86,21% (75/87)

* Bệnh viêm tử cung

+ Nguyên nhân: Lợn mẹ đẻ khó phải can thiệp bằng tay hoặc dụng cụ

thú y làm xây xát tổn thương tử cung, tạo điều kiện cho vi khuẩn bên ngoài xâm nhập vào gây viêm

Do kế phát từ một số bệnh truyền nhiễm như xảy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, bệnh lao…

Do quá trình thụ tinh nhân tạo không đúng kỹ thuật làm xây xát niêm mạc tử cung

Do sự chèn ép của nhau thai hoặc nhau thai chưa ra hết làm tổn thương niêm mạc tử cung,…

+ Triệu chứng: Âm hộ sưng đỏ, thân nhiệt tăng, ăn uống giảm, lượng sữa giảm, đi tiểu khó có khi cong lưng rặn tỏ vẻ không yên tĩnh Từ cơ quan sinh dục chảy ra chất dịch màu trắng, mùi hôi tanh, xung quanh hốc đuôi luôn

ẩm và có chất dịch dính xung quanh

+ Điều trị:

* Phác đồ 1: Liệu trình 5 - 6 ngày

+ Cefanew LA (ceftiofur: 10g/100ml): 1ml/25kg TT/ngày (4mg

ceftiofur/kgTT); tiêm bắp: 3 ngày tiêm 1 lần

+ Gluco - K - C - Na min: 1ml/10kg TT/ngày; tiêm bắp: 1 lần/ngày

Trang 20

Kết hợp với chăm sóc hộ lý, vệ sinh chuồng trại tốt

* Phác đồ 2: Liệu trình 5 - 6 ngày

+ Marphamox - LA (amoxicillin: 15g/100ml): 1ml/10kg TT/ngày (15mg amoxicillin/kgTT); tiêm bắp: 2 ngày tiêm 1 lần

+ Gluco - K - C - Na min: 1ml/10kg TT/ngày; tiêm bắp: 1lần/ngày

Kết hợp với chăm sóc, hộ lý và vệ sinh chuồng trại tốt

Tỷ lệ khỏi: 100% (8/8)

* Bệnh viêm vú

+ Nguyên nhân: Do các loài vi khuẩn liên cầu trùng, E coli xâm nhập

vào tuyến vú, qua da bị xây xát hay qua lỗ đầu vú

Do kế phát từ các bệnh sát nhau, viêm tử cung… vi khuẩn theo máu về tuyến vú gây bệnh

+ Triệu chứng: Lợn sốt cao, bỏ ăn, mất sữa, sờ nắn bầu vú thấy cứng + Điều trị: Dùng nước đá chườm vào bầu vú để phong bế vùng viêm, giảm đau, ngày 1 - 2 lần

Liệu trình 5 - 6 ngày

+ Cefanew - LA (ceftiofur: 10g/100ml): 1ml/25kg TT/ngày (4mg

ceftiofur/kgTT); tiêm bắp: 3 ngày tiêm 1 lần

+ Gluco - K - C - Na min: 1ml/10kg TT/ngày; tiêm bắp: 1lần/ngày.tiêm

Kết hợp với chăm sóc hộ lý, vệ sinh chuồng trại tốt

* Phác đồ 2: Liệu trình 5 - 6 ngày

+ Marphamox - LA (amoxicillin: 15g/100ml): 1ml/10kg TT/ngày (15mg amoxicillin/kgTT); tiêm bắp: 2 ngày tiêm 1 lần

+ Gluco - K - C - Na min: 1ml/10kg TT/ngày; tiêm bắp: 1 lần/ngày

Kết hợp với chăm sóc, hộ lý và vệ sinh chuồng trại tốt

- Bấm nanh, cắt đuôi cho lợn mới đẻ

- Tiêm sắt cho đàn lợn con 3 ngày tuổi

Trang 21

- Thiến lợn đực

- Cùng cán bộ kỹ thuật phối tinh nhân tạo cho lợn nái

- Vệ sinh quanh trại

Kết quả công tác phục vụ sản xuất được thể hiện qua bảng 1.4 sau:

Bảng 1.4 Kết quả công tác phục vụ sản xuất

(Con)

Kết quả (An toàn, khỏi)

Tỷ lệ (%)

Quang Tính, tôi đã có điều kiện vận dụng những kiến thức đã học vào trong

thực tế sản xuất Qua đợt thực tập này tôi thấy mình trưởng thành hơn về

Trang 22

nhiều mặt, rút ra được nhiều kinh nghiệm về kiến thức chuyên môn, xã hội và các kỹ năng cần thiết khác

- Biết cách chẩn đoán và điều trị một số bệnh trên lợn

- Đỡ đẻ lợn nái, cắt nanh, thiến lợn con

- Chăm sóc nuôi dưỡng lợn con…

Qua thời gian thực tập tại cơ sở, tôi đã mạnh dạn, tự tin hơn vào khả năng của mình trong công việc, giúp tôi củng cố thêm lòng yêu nghề Từ đó,

nhận thấy còn rất nhiều kiến thức khoa học mà mình chưa biết Vì vậy, bản thân cần phải cố gắng và nỗ lực học hỏi trong thực tế hơn nữa để nâng cao tay

nghề đáp ứng nhu cầu của công việc sau khi ra trường

- Cán bộ kỹ thuật và công nhân của trại làm tốt hơn nữa khâu vệ sinh

chuồng nuôi và cơ thể gia súc

- Trại nên mở rộng thêm quy mô sản xuất, bên cạnh đó tu sửa lại cơ sở

vật chất hiện đang sử dụng

- Đón nhận và tạo điều kiện hơn nữa cho sinh viên về thực tập tại trại

Trang 23

Phần 2 CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Tên chuyên đề: “Tình hình Hội chứng tiêu chảy ở lợn con từ sơ sinh đến 60 ngày tuổi tại trại lợn Đạt Thúy huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang và

thử nghiệm một số phác đồ điều trị”

2.1 Đặt vấn đề

Chăn nuôi ngày càng có vị trí hết sức quan trọng trong cơ cấu của ngành nông nghiệp Sản phẩm của ngành chăn nuôi là nguồn thực phẩm không thể thiếu được đối với nhu cầu đời sống con người Chủ trương hiện nay của nhà nước là phát triển ngành chăn nuôi thành ngành sản xuất hàng hóa thực sự nhằm tạo ra sản phẩm chăn nuôi có chất lượng cao phục vụ cho nhu cầu tiêu thụ trong nước và một phần cho xuất khẩu

Nói đến ngành chăn nuôi phải kể đến chăn nuôi lợn bởi tầm quan trọng

và ý nghĩa thiết thực của nó đối với đời sống kinh tế xã hội của nhân dân Chăn nuôi lợn đã góp phần giải quyết công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo, tăng thu nhập và là cơ hội làm giàu cho nông dân

Theo thống kê của tổ chức lương thực thế giới (FAO), Việt Nam là nước nuôi nhiều lợn, đứng hàng thứ 7 thế giới, hàng thứ 2 châu Á và ở vị trí hàng đầu khu vực Đông Nam Á Hiện nay nước ta đang có gần 23 triệu đầu lợn, bình quân tốc độ tăng trưởng hàng năm là 3,9%, đảm bảo cung cấp 80% sản phẩm thịt cho thị trường nội địa và một phần cho xuất khẩu Kế hoạch đến năm 2010, Việt Nam sẽ có 25 triệu đầu lợn và sẽ đạt sản lượng 2 triệu tấn thịt, chiếm tỷ trọng trên 30% tổng thu nhập của ngành nông nghiệp

Tuy nhiên, để chăn nuôi lợn có hiệu quả, vấn đề vệ sinh phòng bệnh cần được đặc biệt quan tâm Bởi dịch bệnh xảy ra là nguyên nhân chủ yếu làm ảnh hưởng đến chi phí chăn nuôi và giá thành sản phẩm Trong chăn nuôi lợn nái sinh sản, ngoài bệnh của lợn nái thì hội chứng tiêu chảy ở lợn con cũng rất đáng lo ngại, làm ảnh hưởng đáng kể tới tỷ lệ nuôi sống và sức sinh trưởng của lợn con Trong đó hội chứng tiêu chảy ở lợn con là một bệnh thường xuyên xảy ra trong nhiều trại lợn giống và các hộ gia đình nuôi lợn nái ở nước ta

Trang 24

Đã có nhiều công trình nghiên cứu phòng trị bệnh nhưng vì tính chất

phức tạp của nguyên nhân gây bệnh Đã có nhiều loại kháng sinh và hóa dược

được sử dụng để phòng và trị bệnh nhưng các kết quả thu được lại không như

mong muốn, lợn khỏi bệnh thường còi cọc chậm lớn Xuất phát từ yêu cầu

của thực tiễn sản xuất, tôi tiến hành thực hiện chuyên đề trên

Trang 25

Phần 3 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

3.1 Cơ sở khoa học

3.1.1 Hiểu biết về hội chứng tiêu chảy

Tiêu chảy là thuật ngữ để chỉ hiện tượng đại tiện phân lỏng, được mô tả

phân lỏng, nhiều nước hoặc có máu và mủ

Tiêu chảy là biểu hiện lâm sàng của quá trình bệnh lý ở đường tiêu hóa,

là hiện tượng con vật đi ỉa nhanh, nhiều lần trong ngày, phân có nhiều nước

do rối loạn chức năng tiêu hóa, ruột tăng cường co bóp và tiết dịch (Phạm Ngọc Thạch, 1996) [34] Hoặc chỉ phản ánh đơn thuần sự thay đổi tạm thời của phân gia súc bình thường khi gia súc đang thích ứng với những thay đổi trong khẩu phần ăn Tiêu chảy xảy ra ở nhiều bệnh và bản thân nó không phải

là bệnh đặc thù (Arche H, 2000) [2]

Tuỳ theo đặc điểm, tính chất, diễn biến bệnh, hoặc loài gia súc, hoặc nguyên nhân chính gây bệnh mà hội chứng tiêu chảy được gọi bằng tên khác nhau như bệnh xảy ra đối với gia súc non theo mẹ, gọi là bệnh lợn con ỉa phân trắng, hay bê nghé ỉa phân trắng,… còn ở gia súc sau cai sữa là chứng khó tiêu, chứng rối loạn tiêu hoá, hoặc hội chứng rối loạn tiêu hoá Nếu xét về

nguyên nhân chính gây bệnh thì có các tên gọi như bệnh Colibacillosis do vi khuẩn E coli gây ra, bệnh Phó thương hàn lợn do vi khuẩn Samonella cholerae suis gây ra, bệnh viêm dạ dày ruột truyền nhiễm (TGE) do Coronavirus gây ra …

Thực chất tiêu chảy là một phản ứng tự vệ của cơ thể nhưng khi cơ thể

tiêu chảy nhiều lần trong ngày (5 đến 6 lần trở lên) và nước trong phân từ 75% trở lên gọi là hiện tượng tiêu chảy Tiêu chảy do nhiều nguyên nhân gây

ra đồng thời nên gọi là hội chứng tiêu chảy Cho dù do bất cứ nguyên nhân

nào dẫn đến tiêu chảy thì hậu quả nghiêm trọng là mất nước, mất chất điện giải và kiệt sức, những gia súc khỏi thường bị còi cọc, thiếu máu, chậm lớn

Đặc biệt khi gia súc bị tiêu chảy nặng kèm hiện tượng viêm nhiễm, tổn

thương thực thể đường tiêu hóa dẫn đến gia súc có thể chết với tỷ lệ cao, gây thiệt hại lớn về kinh tế

Trang 26

3.1.2 Những nguyên nhân gây tiêu chảy

3.1.2.1 Nhóm nguyên nhân nội tại

Lợn con theo mẹ có 5 điểm yếu chính khiến chúng thích ứng kém với môi trường: Hệ thống enzym tiêu hoá chưa hoàn chỉnh, điều hoà thân nhiệt kém, dự trữ năng lượng của cơ thể ít, thiếu sắt, đặc biệt là hệ thống miễn dịch

và hormone chưa phát triển

a Hệ thống enzym tiêu hoá chưa hoàn chỉnh

Ở gia súc non sau khi sinh ra, chức năng của các cơ quan trong cơ thể

nhất là cơ quan tiêu hóa chưa hoàn chỉnh, nồng độ HCl và các men tiêu hóa chưa đảm nhiệm đầy đủ chức năng tiêu hóa, rất dễ gây rối loạn trao đổi chất, hậu quả dễ nhận biết là rối loạn tiêu hóa, gây tiêu chảy, còi cọc, thiếu máu và chậm lớn Trong dịch vị của gia súc non chưa có đủ acid HCl tự do nên không hoạt hóa được men pepsin vì vậy không tiêu hóa hết sữa mẹ, trong khi đó sữa

mẹ lại là môi trường phát triển tốt của nhiều loại vi khuẩn

Cù Xuân Dần và cs (1996) [5], cho rằng trong dịch vị của lợn con dưới

1 tháng tuổi không có HCl tự do, vì lúc này acid tiết ra ít và nhanh chóng liên kết với dịch nhầy Do vậy, vi sinh vật có điều kiện phát triển và gây bệnh viêm dạ dày, viêm ruột ở lợn con

Ở lợn con có giai đoạn không có HCl trong dạ dày, đây được coi là giai đoạn thích ứng cần thiết tự nhiên Chính nhờ sự thích ứng này, cơ thể lợn con mới có khả năng hấp thu được kháng thể miễn dịch qua sữa đầu Trong giai đoạn này thì dịch vị lại không có hoạt tính phân giải protein mà chỉ có hoạt tính làm vón sữa đầu và sữa nên albumin và globulin được chuyển xuống ruột

và thẩm thấu vào máu, nhưng khi lợn trên 15 ngày tuổi tình trạng thiếu HCl ở

dạ dày không còn là sự cần thiết sinh lý bình thường nữa Việc tập ăn cho lợn con sớm và cai sữa sớm đã rút ngắn được giai đoạn thiếu HCl, hoạt hóa hoạt động tiết dịch, giúp tăng khả năng tạo các đáp ứng miễn dịch của cơ thể

Giai đoạn sau cai sữa sẽ là một giai đoạn khó khăn đối với lợn con khi chuyển từ sữa mẹ sang thức ăn tổng hợp (dạng rắn) Điều đó có thể gây mất cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột tạo điều kiện cho vi khuẩn có hại phát triển và cũng là nguyên nhân gây ra bệnh, dẫn đến kết quả là lợn con chậm lớn và có thể chết

Trang 27

Ngoài ra, lợn con còn chịu nhiều tác động của lợn mẹ, sự thay đổi ngoại cảnh cũng góp phần làm tăng stress của lợn con

b Điều hoà thân nhiệt kém

Lúc mới sinh, thân nhiệt của lợn con là 38,5oC - 39oC, thân nhiệt trung bình là 330C - 35oC Khi ra khỏi cơ thể mẹ, thân nhiệt lợn con tạm thời tụt xuống tuỳ thuộc vào nhiệt độ chuồng nuôi Ở giai đoạn này năng lực điều hoà nhiệt rất kém: Nhiệt độ trực tràng giảm 2oC khi nhiệt độ chuồng nuôi 18oC, nhưng sẽ giảm 5oC khi nhiệt độ chuồng nuôi là 11oC (sau 20 phút) Thân nhiệt trở lại bình thường sau 24h Khả năng điều tiết nhiệt của lợn con còn kém do nhiều nguyên nhân:

- Lớp mỡ dưới da còn mỏng, lượng mỡ và glycogen dự trữ trong cơ thể lợn con thấp, trên thân lợn lông còn thưa nên khả năng giữ nhiệt kém làm giảm khả năng chống rét của lợn con

- Diện tích bề mặt của cơ thể lợn con so với khối lượng chênh lệch tương đối nên lợn con mất nhiệt nhiều khi bị lạnh

Nói chung, khả năng điều tiết nhiệt của lợn con dưới 3 tuần tuổi còn kém, nhất trong tuần tuổi đầu mới đẻ ra Mặt khác phản xạ có điều kiện của lợn con chưa ổn định, thích ứng kém với những thay đổi của ngoại cảnh Do vậy lợn con rất dễ bị cảm lạnh dẫn đến tiêu chảy, đặc biệt vào những tháng mưa, lạnh và độ ẩm cao

c Năng lượng dự trữ trong cơ thể ít

Lúc lợn con mới sinh, cơ thể chứa 80% nước và chỉ có 20% lipid (ở 3 tuần có 65% là nước và 12% lipit), ngoài ra còn có glycogen, với tổng năng lượng dự trữ (lipid + glycogen) vào khoảng 1.000 - 1.200 Kcal, lượng này chỉ tương đương với năng lượng của 1 lít sữa và chỉ đủ cho lợn con sống khoảng

2 ngày Do đó đòi hỏi phải đảm bảo cho lợn con được bú sớm và giữ ấm Nhờ quá trình oxy hoá mỡ mà gia súc non điều chỉnh được thân nhiệt, do đó lượng

mỡ tích lũy khác nhau sẽ làm cho khả năng điều hoà thân nhiệt khác nhau (Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng, 1986) [9]

d Thiếu sắt

Sắt giữ vai trò:

- Tổng hợp Hemoglobin

Trang 28

- Photphorin oxy hoá, truyền điện tử (xitocrom và xitocrom oxidaza), hoạt hoá peroxidaza

Thiếu sắt dẫn đến thiếu máu do thiếu hàm lượng Hb (Hemoglobin) dẫn

đến hạn chế sản xuất kháng thể

Dự trữ sắt lúc mới sinh rất ít (60 - 70 mg ở gan), trong khi đó nhu cầu của cơ thể lợn tới 6 - 7 mg/ngày, mà lượng sắt ở sữa chỉ có 1 mg/con/ngày

Điều đó cho thấy lợn con thiếu sắt, nhất là khi cai sữa Vì vậy việc bổ sung sắt

là việc cần thiết trong chăn nuôi lợn nhằm tăng trọng nhanh, hạn chế được hội chứng tiêu chảy lợn con

e Hệ thống miễn dịch và hormone chưa hoàn chỉnh

Miễn dịch là khả năng của cơ thể đáp ứng lại các kích thích của mầm

bệnh khi xâm nhập vào cơ thể Ở gia súc non, mầm bệnh có nhiều thuận lợi khi xâm nhập vào cơ thể Trong hệ thống tiêu hóa của lợn con lượng enzym tiêu hóa và lượng HCl tiết ra còn ít nên chưa đủ để đáp ứng cho quá trình tiêu hóa, gây rối loạn trao đổi chất, tiêu hóa kém, hấp thu kém Chính vì vậy, ở

giai đoạn này mầm bệnh như Salmonella, E coli… dễ dàng xâm nhập vào cơ

thể qua đường tiêu hóa và gây bệnh cho lợn con

Ngoài ra, ở gia súc non các yếu tố miễn dịch không đặc hiệu như bổ thể, protein liên kết, lysozym được tổng hợp còn ít, phản ứng của đại thực bào rất yếu, vì thế ở gia súc non không những chưa có kháng thể đặc hiệu mà kháng thể không đặc hiệu cũng rất yếu Chính vì vậy lợn con bú sữa đầu là rất cần thiết để tăng sức bảo vệ cơ thể, chống lại mầm bệnh

Do cấu tạo đặc biệt của gia súc non nên tiêu chảy thường xảy ra ở giai đoạn lợn con tập ăn và cai sữa Bên cạnh đó còn một yếu tố quan trọng nữa là

sự phát triển của hệ vi sinh vật trong đường ruột của gia súc non, việc cân bằng hệ vi sinh vật có lợi trong đường ruột như thế nào để khắc phục, hạn chế

sự loạn khuẩn trong quá trình phát triển và trưởng thành của cơ thể gia súc non là rất quan trọng

Để nuôi dưỡng tốt và hạn chế được hội chứng tiêu chảy ở lợn con cần tiêm phòng cho lợn mẹ và tạo cho gia súc non điều kiện sống tốt, tránh các yếu tố bất lợi tác động vào cơ thể như chế độ ăn uống không hợp lý, khẩu phần thức ăn không đảm bảo dinh dưỡng, ăn không đúng giờ, thời tiết thay

Trang 29

đổi đột ngột, chế độ chăm sóc không thích hợp sẽ tạo điều kiện cho mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể gây bệnh

3.1.2.2 Nhóm nguyên nhân do ngoại cảnh

Môi trường ngoại cảnh là một trong 3 yếu tố cơ bản gây bệnh dịch, mối quan hệ giữa Cơ thể - Mầm bệnh - Môi trường là nguyên nhân của sự không

ổn định sức khoẻ, đưa đến phát sinh bệnh (Nguyễn Như Thanh, 2001) [33]

Môi trường ngoại cảnh bao gồm các yếu tố: nhiệt độ, ẩm độ, các điều kiện về chăm sóc nuôi dưỡng, vệ sinh chuồng trại, sự di chuyển, thức ăn, nước uống…

Khi gia súc bị nhiễm lạnh kéo dài sẽ làm giảm phản ứng miễn dịch, giảm tác dụng thực bào, làm cho gia súc dễ bị nhiễm khuẩn gây bệnh (Hồ Văn Nam và cs, 1997) [20]

Khẩu phần ăn cho vật nuôi không thích hợp, trạng thái thức ăn không tốt, thức ăn kém chất lượng như mốc, thối và nhiễm các tạp chất, các vi sinh vật có hại dễ dẫn đến rối loạn tiêu hoá kèm theo viêm ruột, ỉa chảy ở gia súc (Trịnh Văn Thịnh, 1985 [36], Hồ Văn Nam và cs, 1997 [20])

Khi gặp điều kiện ngoại cảnh không thuận lợi, thay đổi đột ngột về thức ăn, vitamin, protein, thời tiết, vận chuyển… làm giảm sức đề kháng của con vật, vi khuẩn thường trực sẽ tăng độ độc và gây bệnh (Bùi Quý Huy, 2003) [13]

Như vậy, nguyên nhân môi trường ngoại cảnh gây bệnh tiêu chảy không mang tính đặc hiệu mà mang tính tổng hợp Lạnh và ẩm gây rối loạn hệ thống điều hoà trao đổi nhiệt của cơ thể lợn, dẫn đến rối loạn quá trình trao

đổi chất, làm giảm sức đề kháng của cơ thể, từ đó các mầm bệnh trong đường

tiêu hoá có thời cơ tăng cường độc lực và gây bệnh

3.1.2.3 Các nguyên nhân gây Hội chứng tiêu chảy là vi khuẩn

Vi khuẩn ở ống tiêu hoá cùng với vật chủ hình thành một hệ thống sinh thái mà sự cân bằng là cần thiết cho sức khoẻ vật chủ Vi khuẩn ở ruột có một vai trò sinh lý rất lớn, chúng tham gia vào quá trình tiêu hoá và chuyển hoá tinh bột, chất xơ, góp phần vào chuyển hoá nước, dị hoá protit, làm giảm bilirubin ở ruột và thuỷ phân ure (Nguyễn Tài Lương, 1982) [19]

Trang 30

Trong điều kiện bình thường, giữa hệ vi khuẩn đường ruột và vật chủ ở trạng thái cân bằng, ổn định, cùng tồn tại có lợi cho cơ thể vật chủ Khi có tác nhân bất lợi hoặc từ ngoại cảnh hoặc ngay trong đường tiêu hoá tác động thì sức đề kháng của lợn giảm xuống, trạng thái cân bằng vi sinh vật đường ruột

bị phá vỡ Nhân cơ hội này một số vi khuẩn có hại nhân lên về số lượng, tăng lên về độc lực và gây bệnh (Trương Quang và cs, 2007) [28]

a Nguyên nhân do E coli

Trong đường tiêu hoá của gia súc có hệ vi khuẩn gọi là hệ vi khuẩn

đường ruột, được chia thành 2 loại, trong đó vi khuẩn có lợi lên men phân giải

các chất dinh dưỡng, giúp cho quá trình tiêu hoá được thuận lợi và vi khuẩn

có hại, khi có điều kiện thì sẽ phát triển nhanh và gây bệnh cho vật chủ

Theo Lê Văn Tạo (1997) [32], cho biết họ vi khuẩn đường ruột gồm những vi khuẩn cộng sinh thường trực trong đường ruột Những vi khuẩn này, muốn từ vi khuẩn cộng sinh trở thành gây bệnh phải có 3 điều kiện:

- Trên cơ thể vật chủ có cấu trúc giúp cho vi khuẩn thực hiện được chức năng bám dính

- Vi khuẩn phải có khả năng sản sinh các yếu tố gây bệnh, đặc biệt là

sản sinh độc tố, trong đó quan trọng nhất là độc tố đường ruột Enterotoxin

- Có khả năng xâm nhập vào lớp tế bào biểu mô của niêm mạc ruột, từ

đó phát triển nhân lên

Một số vi khuẩn thuộc họ vi khuẩn đường ruột là E coli, Salmonella spp, Shigella, Klebsiella, Cl perfringens… là những vi khuẩn quan trọng gây

ra rối loạn tiêu hoá, viêm ruột tiêu chảy ở người và nhiều loại động vật

Theo Đào Trọng Đạt và cs (1996) [11] cho biết, chiếm tỷ lệ cao nhất

trong số các vi khuẩn đường ruột gây tiêu chảy là E coli (45,6%) Cũng theo tác giả, vi khuẩn yếm khí Cl perfringens gây bệnh khi có điều kiện thuận lợi

và khi nó trở thành vai trò chính

Theo Hồ Văn Nam và cs (1997) [20], Archie H (2000) [2], đều cho biết vi khuẩn đường ruột có vai trò không thể thiếu được trong hội chứng tiêu chảy

Theo Nguyễn Như Pho (2003) [26] cho rằng, khả năng gây bệnh của các loại vi khuẩn đối với lứa tuổi lợn khác nhau Đối với lợn sau cai sữa hoặc

Trang 31

giai đoạn đầu nuôi thịt thì tỷ lệ mắc tiêu chảy do Salmonella cao hơn; giai

đoạn từ lúc sơ sinh đến sau khi cai sữa thường do E coli; lứa tuổi 6 - 12 tuần

thì thường do xoắn khuẩn Treponema hyodysenterriae; còn vi khuẩn yếm khí

Cl perfringens thường gây bệnh nặng cho lợn con theo mẹ trong khoảng 1

tuần tuổi đến cai sữa

Theo Phạm Sỹ Lăng (2009) [18] cho biết, bệnh tiêu chảy ở lợn do vi khuẩn chủ yếu có những bệnh sau:

* Tiêu chảy do virus

Theo Phạm Ngọc Thạch (1996) [34], virus cũng là tác nhân gây bệnh tiêu chảy ở gia súc Sự xuất hiện của virus đã làm tổn thương niêm mạc ruột, làm suy giảm sức đề kháng của cơ thể và thường gây ỉa chảy ở dạng cấp tính với tỷ lệ chết cao

Archie H (2000) [2] cho biết, Rotavirus và Coronavirus là những virus

gây tiêu chảy quan trọng ở gia súc non mới sinh như nghé, dê, cừu con, lợn con, ngựa con và đặc biệt là bê do những virus này có khả năng phá huỷ màng ruột và gây tiêu chảy nặng

Các nghiên cứu trong nước của Lê Minh Chí (1995) [4] và Nguyễn

Như Pho (2003) [26], cũng cho thấy Rotavirus và Coronavirus gây bệnh tiêu

chảy chủ yếu cho lợn con trong giai đoạn theo mẹ, với các triệu chứng tiêu chảy cấp tính, nôn mửa, mất nước với tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ chết cao

Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [17] cho rằng, bệnh tiêu chảy ở lợn do

Rotavirus thường chỉ xảy ra ở lợn con bú sữa mẹ lứa tuổi 1 - 3 tuần lễ và lợn con sau cai sữa khoảng 6 tuần lễ Bệnh tiêu chảy ở lợn do Rotavirus sẽ trở nên trầm trọng, nếu lợn con bị nhiễm kế phát các chủng E coli có độc lực và các

loài cầu trùng gây bệnh

Nguyên nhân chính làm tăng độ nhiễm E coli ở lợn con:

Trang 32

* Ở giai đoạn sơ sinh:

- Lợn con không được bú nhiều sữa đầu, sữa của lợn mẹ có chất lượng không tốt

- Lợn con bị lạnh: Do không được úm, hoặc bị gió lùa, độ ẩm cao

- Chăm sóc lợn mẹ không tốt, khâu đỡ đẻ không tốt, thức ăn không tốt, hoặc thay đổi thức ăn liên tục dẫn đến lợn mẹ bị viêm vú

- Chuồng nuôi ô nhiễm, áp lực mầm bệnh cao

* Ở giai đoạn tập ăn:

- Chọn thức ăn không phù hợp, thức ăn không đúng chủng loại dẫn tới rối loạn tiêu hoá

- Cho lợn tập ăn không đúng phương pháp: Không bổ sung men sống hỗ trợ, đổ quá nhiều thức ăn, thức ăn lưu quá lâu dẫn đến ôi thiu, nhiễm khuẩn

b Nguyên nhân do Salmonella

Salmonella thuộc họ trực khuẩn đường ruột Enterobacteriaceae, là một

loại vi khuẩn có hình gậy ngắn, hai đầu tròn, không hình thành nha bào, giáp

mô Đa số Salmonella có khả năng di động, bắt màu Gram âm, vừa hiếu khí

vừa kỵ khí bắt buộc

* Yếu tố gây bệnh của Salmonella:

- Yếu tố bám dính: Giúp Salmonella bám dính được trên lớp tế bào bề

mặt niêm mạc ruột của lợn rồi tiết độc tố và gây tiêu chảy

- Độc tố đường ruột: Đây là yếu tố quyết định khả năng gây bệnh và mức độ tiêu chảy ở lợn khi bị bệnh

c Nguyên nhân do Clostridium perfringens

Có 3 loại Clostridium perfringens A, B, C là mầm gây bệnh đường ruột

quan trọng đối với lợn

- Clostridium perfringens typ B gây bệnh kiết lị, nhiễm độc ruột ở dê,

cừu, ngựa và cả lợn

- Bệnh viêm ruột hoại tử ở lợn con do Clostridium perfringens typ C có

biểu hiện lâm sàng trầm trọng về tiêu chảy ra máu, lợn con yếu ớt, lười vận

động, tỷ lệ tử vong cao (thường biến động từ 5 - 59%, có khi đến 100%)

- Bệnh nhiễm khuẩn Clostridium perfringens typ A thường nổ ra ở lợn

sau khi sinh được vài giờ, vi khuẩn có thể tìm thấy ở ngay phân su Lợn con

Trang 33

bị bệnh ỉa phân nhão như kem bột trong vòng 48h sau khi đẻ, lợn không sốt, bụng chướng hơi Tiêu chảy thường kéo dài 5 ngày, phân lợn có màu mận hồng, lợn bệnh chết ít nhưng sau khi khỏi bệnh lợn thường bị chậm lớn

3.1.2.4 Các nguyên nhân gây Hội chứng tiêu chảy là virus

* Bệnh dịch tả lợn (Pestis suum)

- Bệnh dịch tả do một loại virus thuộc họ Togaviridiae giống Pestisvirus

gây ra Bệnh lây lan với tốc độ nhanh qua tiếp xúc, thức ăn, nước uống, hoặc có thể qua đường hô hấp và bề mặt da bị tổn thương Bệnh xảy ra quanh năm và lợn mọi lứa tuổi đều mắc Những triệu chứng chủ yếu của bệnh là:

- Con vật sốt cao, thường 4 - 5 ngày đầu lợn bệnh bị táo bón, lợn bỏ ăn thích nằm chỗ tối, khát nước, chảy nước mắt nước mũi Khi thiệt độ cơ thể giảm con vật ỉa chảy, phân loãng thối khắm đặc trưng, lợn bị viêm niêm mạc mắt mũi Đồng thời trên vùng da mỏng có những điểm lấm tấm xuất huyết như đầu đinh ghim Về sau những điểm này thường tập hợp thành từng đám

* Bệnh viêm ruột dạ dày truyền nhiễm (TGE)

- Bệnh TGE của lợn do một loại virus cùng tên thuộc nhóm

Coronavirus, họ Coronaviridiae gây ra Virus xuất hiện năm 1935 tại Mỹ và

được mô tả lần đầu tiên vào năm 1946 Tại Châu á bệnh xuất hiện ở Triều

Tiên, 1981; Thái Lan, 1987 (Niconxki, 1986 [22], Đào Trọng Đạt và cs,

1995 [10])

- Lợn ở mọi lứa tuổi đều nhiễm bệnh, thời gian ủ bệnh là 2 - 3 ngày Mức độ trầm trọng của bệnh khác nhau tuỳ thuộc vào lứa tuổi của lợn Lợn lớn chỉ gây ra tiêu chảy nhẹ, kéo dài trong vài ngày, sau đó tự khỏi Ngược lại

ở lợn con bệnh lại xảy ra trầm trọng Lợn con theo mẹ thường nôn ra sữa chưa

tiêu, vón cục lại, phân lỏng gần như nước, mùi thối khắm Tỷ lệ chết có thể lên đến 100%

* Bệnh tiêu chảy truyền nhiễm ở lợn (PED)

- Bệnh PED do một loại Coronavirus có tên CV777 gây ra Bệnh xảy ra

với lợn mọi lứa tuổi Đặc tính kháng nguyên của loại virus này hoàn toàn khác kháng nguyên của virus gây bệnh TGE Thể bệnh PED giống như thể bệnh TGE, nhưng nhẹ hơn vì bệnh PED chỉ gây chết khoảng 60% lợn con dưới 21 ngày tuổi, 15% lợn vỗ béo (Đào Trọng Đạt và cs, 1995) [10]

Trang 34

- Lợn mắc PED thường có triệu chứng nôn mửa, con vật có biểu hiện

đau bụng Virus phá huỷ lông nhung của ruột (đặc biệt là không tràng và hồi

tràng) Lợn bỏ ăn uống nhiều nước, thích nằm chúi đầu vào nhau

- Mổ khám thấy ruột non mỏng, ruột bị căng phồng chứa nhiều nước màu vàng

* Bệnh do Rotavirus

- Bệnh tiêu chảy do Rotavirus thường xảy ra ở lợn đang bú từ 1 tới 6

tuần tuổi và cao nhất ở lợn khoảng 3 tuần tuổi

- Nguyên nhân có thể do lúc 3 tuần tuổi lượng kháng thể ở sữa mẹ giảm, cùng với lợn vừa tập ăn đã tạo điều kiện cho bệnh xảy ra

- Biểu hiện đặc trưng của bệnh là lợn đi ỉa phân màu trắng hoặc vàng, lúc bị bệnh phân lợn lỏng như nước, sau đó vài giờ hoặc 1 ngày phân sẽ đặc hơn và có dạng như kem rồi keo quánh trước khi trở lại bình thường

- Lợn tiêu chảy gầy sút rõ rệt, lông xù Sau khi khỏi bệnh lợn còi cọc, chậm lớn, biếng ăn, còn ở lợn lớn không có biểu hiện lâm sàng (Đào Trọng

Đạt và cs, 1995) [10]

- Bệnh tích: Thành ruột non mỏng, dạ dày chứa cục sữa hơi vàng lổn nhổn, không tiêu mùi chua (Niconxki, 1986) [22]

3.1.2.5 Các nguyên nhân do ký sinh trùng

Có nhiều loại ký sinh trùng gây bệnh tiêu chảy ở lợn như cầu trùng

(Eimeria), Isospora suis, Crytosporidium hoặc một số loài giun tròn lớp Nematoda (Ascaris suum, Trichuris suis, Strongyloides, Haemonchus, Mecistocirrus…)

Bệnh do Isospora, Crytosporidium thường tập trung vào giai đoạn lợn

con từ 5 đến 25 ngày tuổi, còn ở lợn trên 2 tháng tuổi do cơ thể đã tạo được miễn dịch đối với bệnh cầu trùng, nên lợn chỉ mang mầm bệnh mà ít khi xuất hiện triệu chứng tiêu chảy (Nguyễn Như Pho, 2003) [26]

Cầu trùng, một số loại giun tròn (giun đũa, giun tóc, giun lươn) là một trong những nguyên nhân gây tiêu chảy ở lợn sau cai sữa nuôi trong các hộ gia đình tại Thái Nguyên (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 2006) [15]

Giun sán ở đường tiêu hóa có vai trò rõ rệt trong hội chứng tiêu chảy ở lợn từ sau cai sữa Ở lợn bình thường và lợn bị tiêu chảy đều nhiễm các loại

Ngày đăng: 27/04/2016, 22:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Lê Minh Chí (1995), “Bệnh tiêu chảy ở gia súc”, Hội thảo khoa học, Bộ Nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm, Hà Nội, tr. 20 - 22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh tiêu chảy ở gia súc”, Hội thảo khoa học, Bộ Nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm, Hà Nội
Tác giả: Lê Minh Chí
Năm: 1995
5. Cù Xuân Dần, Nguyễn Xuân Tịnh, Tiết Hồng Ngân, Nguyễn Bá Mùi, Lê Mộng Loan (1996), “Sinh lý học gia súc”, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lý học gia súc
Tác giả: Cù Xuân Dần, Nguyễn Xuân Tịnh, Tiết Hồng Ngân, Nguyễn Bá Mùi, Lê Mộng Loan
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1996
6. Đỗ Đức Diện (1999), “Vai trò của E. coli và Salmonella trong hội chứng tiêu chảy lợn con ở huyện Kim Bảng - Hà Nam và thử nghiệm một số giải pháp điều trị”, Luận văn thạc sỹ khoa học nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của E. coli và Salmonella trong hội chứng tiêu chảy lợn con ở huyện Kim Bảng - Hà Nam và thử nghiệm một số giải pháp điều trị
Tác giả: Đỗ Đức Diện
Năm: 1999
7. Thân Thị Đang, Lê Ngọc Mỹ, Tô Long Thành, Nguyễn thị Kim Lan (2010), “Vai trò kí sinh trùng đường tiêu hóa trong hội chứng tiêu chảy ở lợn sau cai sữa và biện pháp phòng trị”, Tạp chí khoa học kĩ thuật thú y, tập XVII (1), tr. 43 - 51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò kí sinh trùng đường tiêu hóa trong hội chứng tiêu chảy ở lợn sau cai sữa và biện pháp phòng trị”
Tác giả: Thân Thị Đang, Lê Ngọc Mỹ, Tô Long Thành, Nguyễn thị Kim Lan
Năm: 2010
8. Đào Trọng Đạt (1966), “Bệnh lợn con ỉa cứt trắng”, Nhà xuât bản nông thôn , tr. 5 - 30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh lợn con ỉa cứt trắng
Tác giả: Đào Trọng Đạt
Năm: 1966
9. Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng (1986), “Bệnh gia súc non”, Nhà xuất bản nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh gia súc non
Tác giả: Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng
Nhà XB: Nhà xuất bản nông nghiệp
Năm: 1986
10. Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng, Lê Ngọc Mỹ (1995), “Bệnh đường tiêu hoá ở lợn”, Nhà xuất bản nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh đường tiêu hoá ở lợn
Tác giả: Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng, Lê Ngọc Mỹ
Nhà XB: Nhà xuất bản nông nghiệp
Năm: 1995
11. Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng, Huỳnh Văn Kháng, Lê Ngọc Mỹ (1996), “Bệnh ở lợn nái và lợn con”, Nhà xuất bản nông nghiệp, tr. 57 - 147 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh ở lợn nái và lợn con
Tác giả: Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng, Huỳnh Văn Kháng, Lê Ngọc Mỹ
Nhà XB: Nhà xuất bản nông nghiệp
Năm: 1996
12. Nguyễn Bá Hiên (2001), “Một số vi khuẩn đường ruột thường gặp và biến động của chúng ở gia súc khoẻ mạnh và bị tiêu chảy nuôi tại vùng ngoại thành Hà Nội”, Luận án tiến sỹ nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vi khuẩn đường ruột thường gặp và biến động của chúng ở gia súc khoẻ mạnh và bị tiêu chảy nuôi tại vùng ngoại thành Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Bá Hiên
Năm: 2001
13. Bùi Quý Huy (2003), “Sổ tay phòng chống bệnh từ động vật lây sang người - Bệnh do E. coli”, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 30 - 34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay phòng chống bệnh từ động vật lây sang người - Bệnh do E. coli
Tác giả: Bùi Quý Huy
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2003
14. Nguyễn Thị Khanh (1994), Chế phẩm vi sinh Biolactyl trong khống chế hội chứng tiêu chảy ở lợn con”. Luận án phó tiến sỹ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế phẩm vi sinh Biolactyl trong khống chế hội chứng tiêu chảy ở lợn con
Tác giả: Nguyễn Thị Khanh
Năm: 1994
15.Nguyễn Thị Kim Lan, Lê Minh, Nguyễn Thị Ngân (2006), “Một số đặc điểm dịch tễ hội chứng tiêu chảy ở lợn tại Thái Nguyên”, Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y, tập XIII (4), tr. 92 - 96 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm dịch tễ hội chứng tiêu chảy ở lợn tại Thái Nguyên
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Lan, Lê Minh, Nguyễn Thị Ngân
Năm: 2006
16. Nguyễn Thị Kim Lan, La Văn Công, Nguyễn Thị Ngân, Lê Minh (2009), “Tình hình bệnh tiêu chảy ở lợn sau cai sữa và tỷ lệ nhiễm giun sán ở lợn tiêu chảy tại Thái Nguyên”, Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y, tập XVI (1), tr 36 - 41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình bệnh tiêu chảy ở lợn sau cai sữa và tỷ lệ nhiễm giun sán ở lợn tiêu chảy tại Thái Nguyên
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Lan, La Văn Công, Nguyễn Thị Ngân, Lê Minh
Năm: 2009
17. Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Văn Quang, Bạch Quốc Thắng (2006), “17 bệnh mới của lợn”, NXB Lao động - Xã hội, tr. 42 - 50 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 17 bệnh mới của lợn
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Văn Quang, Bạch Quốc Thắng
Nhà XB: NXB Lao động - Xã hội
Năm: 2006
18. Phạm Sỹ Lăng (2009), “Bệnh tiêu chảy do vi khuẩn ở lợn và biện pháp phòng tri”, Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y, tập XVI (6), tr. 80 - 85 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh tiêu chảy do vi khuẩn ở lợn và biện pháp phòng tri"”," Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng
Năm: 2009
19. Nguyễn Tài Lương (1982), “Sinh lý và bệnh lý hấp thu”. Nhà xuất bản khoa học kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lý và bệnh lý hấp thu
Tác giả: Nguyễn Tài Lương
Nhà XB: Nhà xuất bản khoa học kỹ thuật
Năm: 1982
20. Hồ Văn Nam, Nguyễn Thị Đào Nguyên, Trương Quang, Phùng Quốc Chướng, Chu Đức Thắng, Phạm Ngọc Thạch (1997). “Hệ vi khuẩn gây bệnh viêm ruột ỉa chảy ở lợn và đặc điểm bệnh lý”. Tạp chí khoa học kỹ thuật Thú y, (1), tr. 15 - 21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ vi khuẩn gây bệnh viêm ruột ỉa chảy ở lợn và đặc điểm bệnh lý
Tác giả: Hồ Văn Nam, Nguyễn Thị Đào Nguyên, Trương Quang, Phùng Quốc Chướng, Chu Đức Thắng, Phạm Ngọc Thạch
Năm: 1997
21. Vũ Văn Ngũ và cs (1975), Loạn khuẩn đường ruột và tác dụng điều trị của Colisubtil, NXB Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Loạn khuẩn đường ruột và tác dụng điều trị của Colisubtil
Tác giả: Vũ Văn Ngũ và cs
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 1975
22. Niconxki V.V (1986), “Bệnh lợn con” (tài liệu dịch, Phạm Quân và Nguyễn Đình Chí). Nhà xuất bản nông nghiệp Hà Nội, tr. 35 - 51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh lợn con
Tác giả: Niconxki V.V
Nhà XB: Nhà xuất bản nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1986
23. Sử An Ninh (1981), “Tìm hiểu hội chứng stress trong bệnh phân trắng lợn con”, Tạp chí nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu hội chứng stress trong bệnh phân trắng lợn con
Tác giả: Sử An Ninh
Năm: 1981

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Cơ cấu đàn lợn của trại 4 năm gần đây - Tình hình hội chứng tiêu chảy ở lợn con từ sơ sinh đến 60 ngày tuổi tại trại lợn đạt thúy huyện hiệp hòa, tỉnh bắc giang và thử nghiệm một số phác đồ điều trị
Bảng 1.1 Cơ cấu đàn lợn của trại 4 năm gần đây (Trang 10)
Bảng 1.2. Quy trình tiêm phòng vaccine cho lợn con của trại - Tình hình hội chứng tiêu chảy ở lợn con từ sơ sinh đến 60 ngày tuổi tại trại lợn đạt thúy huyện hiệp hòa, tỉnh bắc giang và thử nghiệm một số phác đồ điều trị
Bảng 1.2. Quy trình tiêm phòng vaccine cho lợn con của trại (Trang 16)
Bảng 1.3. Quy trình tiêm phòng vaccine cho đàn lợn nái của trại - Tình hình hội chứng tiêu chảy ở lợn con từ sơ sinh đến 60 ngày tuổi tại trại lợn đạt thúy huyện hiệp hòa, tỉnh bắc giang và thử nghiệm một số phác đồ điều trị
Bảng 1.3. Quy trình tiêm phòng vaccine cho đàn lợn nái của trại (Trang 17)
Bảng 1.4. Kết quả công tác phục vụ sản xuất - Tình hình hội chứng tiêu chảy ở lợn con từ sơ sinh đến 60 ngày tuổi tại trại lợn đạt thúy huyện hiệp hòa, tỉnh bắc giang và thử nghiệm một số phác đồ điều trị
Bảng 1.4. Kết quả công tác phục vụ sản xuất (Trang 21)
Bảng 5.1: Tình hình mắc bệnh chung ở lợn con theo mẹ - Tình hình hội chứng tiêu chảy ở lợn con từ sơ sinh đến 60 ngày tuổi tại trại lợn đạt thúy huyện hiệp hòa, tỉnh bắc giang và thử nghiệm một số phác đồ điều trị
Bảng 5.1 Tình hình mắc bệnh chung ở lợn con theo mẹ (Trang 50)
Bảng 5.2. Tình hình mắc hội chứng tiêu chảy trên đàn lợn con theo mẹ - Tình hình hội chứng tiêu chảy ở lợn con từ sơ sinh đến 60 ngày tuổi tại trại lợn đạt thúy huyện hiệp hòa, tỉnh bắc giang và thử nghiệm một số phác đồ điều trị
Bảng 5.2. Tình hình mắc hội chứng tiêu chảy trên đàn lợn con theo mẹ (Trang 51)
Hình 5.1. Biểu đồ tỷ lệ mắc và chết do tiêu chảy trên đàn lợn con theo mẹ - Tình hình hội chứng tiêu chảy ở lợn con từ sơ sinh đến 60 ngày tuổi tại trại lợn đạt thúy huyện hiệp hòa, tỉnh bắc giang và thử nghiệm một số phác đồ điều trị
Hình 5.1. Biểu đồ tỷ lệ mắc và chết do tiêu chảy trên đàn lợn con theo mẹ (Trang 52)
Bảng 5.3. Tỷ lệ lợn con mắc tiêu chảy và chết do tiêu chảy theo lứa tuổi - Tình hình hội chứng tiêu chảy ở lợn con từ sơ sinh đến 60 ngày tuổi tại trại lợn đạt thúy huyện hiệp hòa, tỉnh bắc giang và thử nghiệm một số phác đồ điều trị
Bảng 5.3. Tỷ lệ lợn con mắc tiêu chảy và chết do tiêu chảy theo lứa tuổi (Trang 54)
Bảng 5.4. Tỷ lệ lợn con mắc Hội chứng tiêu chảy theo tính biệt - Tình hình hội chứng tiêu chảy ở lợn con từ sơ sinh đến 60 ngày tuổi tại trại lợn đạt thúy huyện hiệp hòa, tỉnh bắc giang và thử nghiệm một số phác đồ điều trị
Bảng 5.4. Tỷ lệ lợn con mắc Hội chứng tiêu chảy theo tính biệt (Trang 57)
Bảng 5.5. Ảnh hưởng của số lứa đẻ của lợn mẹ đến tình hình mắc hội - Tình hình hội chứng tiêu chảy ở lợn con từ sơ sinh đến 60 ngày tuổi tại trại lợn đạt thúy huyện hiệp hòa, tỉnh bắc giang và thử nghiệm một số phác đồ điều trị
Bảng 5.5. Ảnh hưởng của số lứa đẻ của lợn mẹ đến tình hình mắc hội (Trang 59)
Bảng 5.6. Các triệu chứng lâm sàng của lợn con theo mẹ mắc hội chứng - Tình hình hội chứng tiêu chảy ở lợn con từ sơ sinh đến 60 ngày tuổi tại trại lợn đạt thúy huyện hiệp hòa, tỉnh bắc giang và thử nghiệm một số phác đồ điều trị
Bảng 5.6. Các triệu chứng lâm sàng của lợn con theo mẹ mắc hội chứng (Trang 59)
Bảng 5.7. Kết quả điều trị thực nghiệm phác đồ điều trị - Tình hình hội chứng tiêu chảy ở lợn con từ sơ sinh đến 60 ngày tuổi tại trại lợn đạt thúy huyện hiệp hòa, tỉnh bắc giang và thử nghiệm một số phác đồ điều trị
Bảng 5.7. Kết quả điều trị thực nghiệm phác đồ điều trị (Trang 62)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w