Khái niệm về thuế hàng hóa nhập khẩu Trong cấu trúc hệ thống thuế của một quốc gia thì thuế hàng hóa nhập khẩu có vai trò quan trọng và có ý nghĩa thiết thực, không chỉ tạo nguồn thu ch
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
ĐỖ VÂN TRUNG
HOÀN THIỆN QUẢN LÝ THU THUẾ HÀNG HOÁ NHẬP KHẨU TẠI CỤC HẢI QUAN
TỈNH QUẢNG NINH Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60.34.04.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lê Hữu Ảnh
THÁI NGUYÊN - 2014
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là trung thực và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Thái nguyên, ngày tháng 7 năm 2014
Tác giả luận văn
Đỗ Vân Trung
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
giáo - PGS.TS Lê Hữu Ảnh người trực tiếp hướng dẫn giúp đỡ tôi trong suốt thời
gian nghiên cứu và học tập
Tôi xin chân thành cám ơn các ban ngành nơi tôi công tác và nghiên cứu luận văn, cùng toàn thể các đồng nghiệp học viên lớp cao học quản lý kinh tế khóa
9, gia đình bạn bè đã tạo điều kiện, cung cấp tài liệu cho tôi hoàn thành chương trình học của mình và góp phần thực hiện tốt hơn cho công tác thực tế sau này
Thái nguyên, ngày tháng 7 năm 2014
Tác giả luận văn
Đỗ Vân Trung
Trang 4Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC ĐỒ THỊ, SƠ ĐỒ ix
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Bố cục luận văn 3
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THUẾ NHẬP KHẨU, QUẢN LÝ THU THUẾ HÀNG HÓA NHẬP KHẨU 4
1.1 Cơ sở lý luận về thuế, thuế hàng hóa nhập khẩu và vai trò của nó trong nền kinh tế quốc dân 4
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản 4
1.1.2 Đặc điểm của thuế và thuế hàng hóa nhập khẩu 6
1.1.3 Vai trò của thuế và thuế hàng hóa nhập khẩu 8
1.2 Cơ sở lý luận về quản lý thu thuế hàng hóa nhập khẩu 13
1.2.1 Khái niệm quản lý thu thuế hàng hóa nhập khẩu 13
1.2.2 Mục tiêu của quản lý thu thuế hàng hóa nhập khẩu 14
1.2.3 Nội dung của cơ bản của công tác quản lý thuế hàng hóa nhập khẩu 15
1.2.4 Quy trình quản lý thu thuế hàng hóa nhập khẩu 18
1.3 Nội dung quản lý của Hải quan đối với thuế hàng hóa nhập khẩu trong giai đoạn hiện nay 23
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
1.3.1 Khuôn khổ pháp lý điều chỉnh hoạt động quản lý thuế hàng hóa
nhập khẩu của cơ quan Hải Quan 23
1.3.2 Nội dung quản lý thuế 25
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thuế hàng hóa nhập khẩu 28 1.4.1 Các nhân tố chủ quan 28
1.4.2 Các nhân tố khách quan 31
1.5 Kinh nghiệm thực tiễn về quản lý thuế hàng hóa nhập khẩu ở một số nước trên thế giới và bài học rút ra cho địa phương 37
1.5.1 Kinh nghiệm của Đài Loan 37
1.5.2 Kinh nghiệm của Thái Lan 37
1.5.2 Kinh nghiệm của Philipin 38
1.5.3 Bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn 38
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 40
2.1 Câu hỏi nghiên cứu 40
2.2 Phương pháp nghiên cứu của đề tài 40
2.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 40
2.2.2 Phương pháp thu thập thông tin 40
2.2.3 Phương pháp tổng hợp thông tin 41
2.2.4 Phương pháp thống kê mô tả 41
2.2.5 Phương pháp phân tích thông tin 41
2.2.6 Phương pháp đối chiếu, so sánh 42
2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 42
Chương 3 THỰC TRẠNG VỀ QUẢN LÝ THU THUẾ HÀNG HÓA NHẬP KHẨU TẠI CỤC HẢI QUAN TỈNH QUẢNG NINH 44
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 44
3.1.1 Vị trí địa lý 44
3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ninh 44
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
3.2 Khái quát chung về Cục Hải quan tỉnh Quảng Ninh và công tác quản lý
thu thuế hàng hóa nhập khẩu qua các thời kỳ 46
3.2.1 Giới thiệu sơ lược lịch sử hình thành và phát triển 46
3.2.2 Sơ đồ bộ máy tổ chức Cục Hải quan tỉnh Quảng Ninh 48
3.2.3 Khái quát vai trò, nhiệm vụ của Cục Hải quan tỉnh Quảng Ninh 50
3.3 Thực trạng quản lý thu thuế hàng hóa nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Ninh những năm qua 52
3.3.1 Tình hình, công tác thu thuế 52
3.3.2 Thực trạng công tác quản lý thu thuế hàng hóa nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Ninh 63
3.3.3 Thực trạng quản lý thuế hàng hóa tạm nhập tái xuất 74
3.3.4 Thực trạng quản lý thuế hàng hóa mua bán, trao đổi của cư dân biên giới 75
3.4 Đánh giá chung về hoạt động quản lý thu thuế hàng hóa nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Ninh 77
3.4.1 Những thành tựu 77
3.4.2 Những hạn chế 80
3.4.3 Nguyên nhân của những hạn chế 81
Chương 4 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VIỆC QUẢN LÝ THU THUẾ HÀNG HÓA NHẬP KHẨU TẠI CỤC HẢI QUAN TỈNH QUẢNG NINH 82
4.1 Định hướng và mục tiêu phát triển của Cục Hải quan tỉnh Quảng Ninh 82 4.1.1 Định hướng phát triển của Cục Hải quan tỉnh Quảng Ninh 82
4.1.2 Mục tiêu chiến lược nhằm hoàn thiện công tác quản lý thu thuế hàng hóa nhập khẩu 83
4.2 Các giải pháp hoàn thiện quản lý thu thuế hàng hóa nhập khẩu tại Cục Hải quan Quảng Ninh 85
4.2.1 Hoàn thiện bộ máy tổ chức và cơ chế quản lý 85
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
4.2.2 Sửa đổi, hoàn thiện hệ thống chính sách thuế 91
4.2.3 Đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, trước hết là cán bộ cơ sở 95
4.2.4 Giải pháp xây dựng hệ thống thu thập thông tin 96
4.2.5 Giải pháp hiện đại hóa quản lý Hải quan 97
4.3 Một số kiến nghị 97
4.3.1 Kiến nghị với Bộ Tài chính 97
4.3.2 Kiến nghị với Tổng cục Hải quan 99
4.3.3 Kiến nghị với lãnh đạo cục Hải quan tỉnh Quảng Ninh 100
4.3.4 Kiến nghị đối với các Doanh nghiệp 100
KẾT LUẬN 102
TÀI LIỆU THAM KHẢO 105
Trang 8Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
CBCC : Cán bộ công chức
DN : Doanh nghiệp ĐTNT : Đối tượng nộp thuế GTGT : Giá trị gia tăng KCN : Khu công nghiệp NSNN : Ngân sách nhà nước SXXK : Sản xuất xuất khẩu TTĐB : Tiểu thụ đặc biệt XNC : Xuất nhập cảnh XNK : Xuất nhập khẩu
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Khối lượng hàng hoá được làm thủ tục Hải quan tại Cục Hải quan
tỉnh Quảng Ninh trong các năm 2009 - 2013 53 Bảng 3.2: Kết quả kiểm tra, giám sát Hải quan của Cục Hải quan tỉnh Quảng
Ninh trong giai đoạn 2009 - 2013 54 Bảng 3.3: Bảng kết quả lượng ngoại tệ xuất nhập khẩu thu được tại Cục Hải
quan tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn 2009 - 2013 54 Bảng 3.4: Kết quả thu thuế của Cục Hải quan tỉnh Quảng Ninh trong giai
đoạn 2009 - 2013 55 Bảng 3.5: Báo cáo số thu thuế tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Ninh giai đoạn
2009 -2013 57 Bảng 3.6: Bảng Kết quả thu thuế của các Chi cục thuộc Cục Hải quan tỉnh
Quảng Ninh giai đoạn 2010 - 2013 60 Bảng 3.7: Kết quả Công tác Trị giá tính thuế Tại Cục Hải quan tỉnh Quảng
Ninh trong giai đoạn 2010 - 2013 62 Bảng 3.8: Bảng thống kê một số hành vi vi phạm về số lượng hàng hoá nhập
khẩu giai đoạn 2009 - 2013 65 Bảng 3.9: Bảng thống kê một số vụ vi phạm về tính chất hàng hoá tại Cục
Hải quan tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2009 - 2013 67 Bảng 3.10: Số lượt tờ khai hàng hoá mậu dịch và phi mậu dịch tại Cục Hải
quan Quảng Ninh trong 2 năm 2012 - 2013 79 Bảng 3.11: Kết quả công tác kiểm tra sau thông quan tại Cục Hải quan tỉnh
Quảng Ninh giai đoạn 2009 - 2013 79
Trang 10Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Sơ đồ 3.1 Bộ máy tổ chức của cục Hải quan Quảng Ninh 49
Sơ đồ 3.2 Quy trình thủ tục hải quan tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Ninh 64
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất nước ta đang đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá với yêu cầu hội nhập khu vực và thế giới, các thành phần kinh tế đang phát triển nhanh chóng và đa dạng
Với vị trí là người “gác cửa” nền kinh tế đất nước, ngành Hải quan đã góp phần quan trọng trong việc tạo điều kiện cho các hoạt động xuất nhập khẩu, đầu tư,
du lịch phát triển Ngành hải quan là cơ quan được Nhà nước giao trọng trách quản lý về lĩnh vực ngoại thương nói chung, quản lý và tập trung các khoản thu liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh Quản lý Nhà nước về mặt hải quan là một mặt của công tác quản lý Nhà nước về kinh tế với vai trò nòng cốt trong thực thi chính sách kinh tế của Nhà nước, đặc biệt là với hoạt động nhập khẩu
Đất nước ta hiện nay, với chính sách đa phương hoá, đa dạng hoá, ngành thuế nói chung và thuế hàng hóa nhập khẩu nói riêng tương đối nhạy cảm với tình hình phát triển của các nước trong khu vực cũng như của thế giới Tuy nhiên, trong thực tế tình trạng thất thu thuế đang trong chiều hướng gia tăng trên tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là trong lĩnh vực nhập khẩu hàng hoá
Trong thời gian qua, tuy đã đạt được những kết quả khả quan trong công tác quản lý thu thuế hàng hóa nhập khẩu, nhưng do lưu lượng hàng hoá nhập khẩu qua cửa khẩu ngày càng gia tăng, các thủ đoạn trốn lậu thuế và gian lận thương mại ngày càng tinh vi và phức tạp nên tình trạng thất thu thuế là không thể tránh khỏi
Quảng Ninh là cửa ngõ của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ với 3 khu kinh
tế cửa khẩu (Móng Cái, Bắc Phong Sinh, Hoành Mô - Đồng Văn) và hệ thống nhiều cửa khẩu quốc tế, cửa khẩu chính, điểm thông quan quan trọng Trong những năm qua, tỉnh Quảng Ninh đã phát huy hiệu quả lợi thế tự nhiên, đưa thương mại biên giới trở thành “đòn bẩy” quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, đóng góp gần 50% GDP của tỉnh hàng năm Với những lợi thế về cảng biển, cửa khẩu; Quảng Ninh đang đẩy mạnh hoạt động kinh doanh theo phương thức tạm nhập tái xuất và hoạt động thương mại qua các cảng biển, cửa khẩu, biên giới Số liệu từ Cục Hải
Trang 12Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
quan Quảng Ninh cho thấy hoạt động nhập khẩu tại Quảng Ninh luôn trong xu hướng tăng qua các năm Nhưng bên cạnh đó, việc quản lý thuế hàng hóa nhập khẩu cũng đã bộc lộ nhiều hạn chế, việc quản lý quy trình thu thuế hàng hóa nhập khẩu tại hải quan Quảng Ninh còn chưa chặt chẽ, để lộ nhiều kẽ hở Đặc biệt là việc lợi dụng quy định về tạm nhập tái xuất, buôn bán trao tay của cư dân biên giới để buôn bán hàng cấm, gian lận thương mại, trốn thuế, thẩm lậu hàng hóa, kể cả hàng hóa không bảo đảm vệ sinh, an toàn vào thị trường nội địa Thực trạng này đòi hỏi cần đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thuế hàng hóa nhập khẩu tại Hải quan Quảng Ninh trong thời gian tới
Xuất phát từ ý nghĩa quan trọng của công tác quản lý thu thuế hàng hóa nhập khẩu tại hải quan Quảng Ninh, tác giả cho rằng, việc lựa chọn đề tài
“Hoàn thiện quản lý thu thuế hàng hóa nhập khẩu tại cục Hải quan tỉnh Quảng Ninh”
vừa có ý nghĩa về mặt lý luận, vừa có ý nghĩa thời sự trong giai đoạn phát triển kinh
tế của Quảng Ninh hiện nay
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận về thuế xuất nhập khẩu và quản lý thuế hàng hóa nhập khẩu
- Phân tích và đánh giá thực trạng công tác quản lý thu thuế hàng hóa nhập khẩu của Cục Hải quan Quảng Ninh Qua đó chỉ ra những kết quả và những khó khăn, hạn chế của công tác quản lý thu thuế hàng hóa nhập khẩu ở Cục Hải quan Quảng Ninh
- Đóng góp những giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện công tác quản lý thu thuế hàng hóa nhập khẩu ở Cục Hải quan Quảng Ninh
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các vấn đề liên quan đến hoạt động quản lý thu thuế hàng hóa nhập khẩu tại cục Hải quan tỉnh Quảng Ninh
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Cục hải quan Quảng Ninh
Trang 13Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn 2009- 2013
4 Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 4 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về thuế hàng hóa nhập khẩu, quản lý
thu thuế hàng hóa nhập khẩu và Hải quan
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu đề tài
Chương 3: Thực trạng về quản lý thu thuế hàng hóa nhập khẩu tại cục Hải
quan tỉnh Quảng Ninh
Chương 4: Giải pháp hoàn thiện việc quản lý thu thuế hàng hóa nhập khẩu
tại cục Hải quan tỉnh Quảng Ninh
Trang 14Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THUẾ NHẬP KHẨU,
QUẢN LÝ THU THUẾ HÀNG HÓA NHẬP KHẨU
1.1 Cơ sở lý luận về thuế, thuế hàng hóa nhập khẩu và vai trò của nó trong nền kinh tế quốc dân
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1.1 Khái niệm về thuế
Ra đời và tồn tại cùng Nhà nước, từ khi hành thành đến nay thuế đã trải qua quá trình phát triển và hoàn thiện lâu dài, đồng thời người ta đã đưa ra rất nhiều các khái niệm về thuế trên các góc độ khác nhau:
Các nhà kinh điển cho rằng: “Thuế là cái mà Nhà nước thu của dân nhưng
không bù lại” và “thuế cấu thành phần thu của Chính phủ, nó được lấy ra từ sản phẩm của đất đai và lao động trong nước, xét cho cùng thì thuế được lấy ra từ tư bản hay thu nhập của người chịu thuế” [7]
Trên góc độ phân phối thu nhập, người ta đưa ra khái niệm thuế như sau: Thuế là hình thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của Nhà nước (quỹ ngân sách Nhà nước) để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng của Nhà nước
Trên góc độ quản lý thuế, người ta đưa ra khái niệm về thuế như sau: Thuế là hình thức huy động nguồn tài chính cho Nhà nước nhằm đáp ứng các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước Nguồn từ thuế là một phần thu nhập của các chủ thể trong xã hội Để có nguồn thu đó, Nhà nước dung quyền lực chính trị của mình bắt buộc các thể nhân và pháp nhân đóng góp thông qua việc ban hành các luật thuế
Dựa vào sự khái quát kể trên cho thấy bản chất của thuế thể hiện trên ba khía cạnh sau:
Thứ nhất, xét về hình thức biểu hiện, thuế là khoản nộp, là sự chuyển giao
thu nhập, là sự vận động của nguồn tài chính từ các thể nhân và pháp nhân vào trong tay Nhà nước
Trang 15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Thứ hai, xét về nội dung kinh tế, thuế là sự thể hiện, phản ánh quan hệ kinh
tế giữa Nhà nước với các chủ thể khác khi Nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính
Thứ ba, xét về tính chất, thuế là hình thức động viên gắn liền với quyền lực
chính trị của Nhà nước, là khoản nộp có tính chất bắt buộc được pháp luật quy định (về mức thu và thời hạn)
Tóm lại, có thể đưa ra khái niệm về thuế như sau: Thuế là sự chuyển giao thu
nhập có tính chất bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nước theo mức độ
và thời hạn được pháp luật quy định, nó phản ánh quan hệ kinh tế giữa Nhà nước với các chủ thể khác khi Nhà nước tham gia phân phối nguồn tài chính
1.1.1.2 Khái niệm về thuế hàng hóa nhập khẩu
Trong cấu trúc hệ thống thuế của một quốc gia thì thuế hàng hóa nhập khẩu có vai trò quan trọng và có ý nghĩa thiết thực, không chỉ tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước hàng năm mà quan trọng hơn, nó là công cụ hữu hiệu
để nhà nước kiểm soát hoạt động nhập khẩu hàng hóa với nước ngoài, bảo hộ sản xuất trong nước và thực hiện các mục tiêu đối ngoại trong từng thời kỳ Mặc dù xuất hiện muộn hơn so với một số sắc thuế nội địa nhưng thuế hàng hóa nhập khẩu đã nhanh chóng khẳng định được vai trò, tác dụng to lớn của mình đối với nền kinh tế quốc gia, đặc biệt là vai trò kiểm soát hàng hoá nhập khẩu bên ngoài
và bảo bộ sản xuất trong nước Ngày nay, cho dù xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế đang từng bước ảnh hưởng đến thuế hàng hóa nhập khẩu theo hướng hạn chế vai trò của loại thuế này ở mỗi quốc gia song về cơ bản, thuế hàng hóa nhập khẩu vẫn là giải pháp quản lý vĩ mô có hiệu quả đối với nền kinh tế trong nước
Có nhiều cách hiểu khác nhau về thuế hàng hóa nhập khẩu, tuỳ thuộc vào từng góc độ tiếp cận
Xét về phương diện kinh tế, thuế hàng hóa nhập khẩu được quan niệm là
khoản đóng góp bằng tiền của các tổ chức, cá nhân vào ngân sách nhà nước theo qui định của pháp luật, khi họ có hành vi nhập khẩu hàng hóa qua biên giới của một nước Với cách tiếp cận này, thuế hàng hóa nhập khẩu được quan niệm như là một quan hệ phân phối các nguồn lực tài chính phát sinh giữa các chủ thể
là các tổ chức, cá nhân nộp thuế với người thu thuế là nhà nước Mặt khác, thuế
Trang 16Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
hàng hóa nhập khẩu còn là đòn bẩy kinh tế hay là biện pháp kinh tế để nhà nước điều tiết trực tiếp đối với quá trình sản xuất, tiêu dùng trong phạm vi của mỗi quốc gia và chi phối một cách gián tiếp đối với hoạt động kinh tế trên phạm vi toàn cầu
Xét về phương diện pháp lý, thuế hàng hóa nhập khẩu có thể hình dung như
là quan hệ pháp luật phát sinh giữa nhà nước (người thu thuế) với tổ chức cá nhân (người nộp thuế), về việc tạo lập và thực hiện các quyền, nghĩa vụ pháp lý cho các bên trong quá trình hình thành thu thuế hàng hóa nhập khẩu Quan hệ pháp luật này phát sinh từ cơ sở pháp lý là đạo luật thuế hàng hóa nhập khẩu do Quốc hội ban hành mà hậu quả pháp lý chủ yếu của việc áp dụng đạo luật đó trong thực tiễn là làm phát sinh quyền thu thuế cho nhà nước và nghĩa vụ đóng thuế cho các tổ chức, cá nhân người nộp thuế Việc tiếp cận thuế hàng hóa nhập khẩu ở góc độ pháp lý có nhiều ý nghĩa thiết thực, trước hết là giúp chúng ta nhận rõ hơn bản chất của thuế nói chung và thuế hàng hóa nhập khẩu nói riêng, thực chất là một quyết định hành chính đơn phương của một quốc gia đối với người đóng thuế.Trên cơ sở lý thuyết đó, giúp nhà nước hoạch định và thực thi chính sách thuế hàng hóa nhập khẩu phù hợp với quyền lợi của quốc gia và người đóng thuế, xét trong mối quan hệ lợi ích với các quốc gia khác trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
Từ những góc nhìn khác nhau về thuế hàng hóa nhập khẩu, ta có thể đưa
ra một kết luận về thuế hàng hóa nhập khẩu như sau:
“Thuế hàng hóa nhập khẩu là loại thuế thu vào hàng hoá được phép giao thương qua biên giới các quốc gia, nhóm quốc gia, hình thành và gắn liền với hoạt động thương mại quốc tế
Thuế hàng hóa nhập khẩu áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu qua cửa khẩu, biên giới; hàng hóa mua bán, trao đổi của cư dân biên giới và hàng hóa mua bán, trao đổi khác được coi là hàng hóa nhập khẩu; hàng hóa từ thị trường trong nước bán vào các khu phi thuế quan và ngược lại”
1.1.2 Đặc điểm của thuế và thuế hàng hóa nhập khẩu
1.1.2.1 Đặc điểm của thuế
Trang 17Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Từ khái niệm trên ta thấy thuế là một công cụ tài chính của Nhà nước, được
sử dụng để hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung nhằm sử dụng cho mục đích công cộng Thuế có các đặc điểm cơ bản sau:
- Tính cố định của thuế
Nhà nước ban hành sắc thuế để làm công cụ, bắt buộc các thành phần kinh tế trong xã hội phải đóng góp nghĩa vụ thuế Luật thuế ban hành một mức thu cố định cho các hàng hóa dịch vụ Do có các mức cố định này mà Nhà nước có thể tính trước được nguồn thu của mình, người nộp thuế cũng có thể tính trước được mức sẽ phải nộp là bao nhiêu trong thu nhập của mình cho Nhà nước Thuế là nguồn thu lớn và thu một cách thường xuyên của Nhà nước, chỉ cần có hoạt động sản xuất kinh doanh là phải nộp thuế cho Nhà nước Do đó nhà nước có nguồn tài chính để chi trả thường xuyên ổn định cho các nhu cầu của mình
- Tính bắt buộc
Nhà nước sử dụng quyền lực của mình bắt buộc các thành phần kinh tế có sản xuất kinh doanh đều phải đóng một phần thu nhập của mình dưới hình thức nộp thuế cho ngân sách Nhà nước Do vậy Nhà nước đã ban hành các sắc thuế trực thu, gián thu để buộc người sản xuất kinh doanh, người tiêu dùng dịch vụ, người có thu nhập cao phải nộp thuế theo quy định của các luật thuế do Nhà nước ban hành
- Tính không hoàn trả trực tiếp
Tính không hoàn trả trực tiếp thể hiện trên khía cạnh: người nộp thuế vào ngân sách Nhà nước không có quyền đòi hỏi nhà nước phải cung cấp hàng hóa, dịch
vụ công cộng trực tiếp cho mình (điểm này thuế khác với phí, lệ phí là phí, lệ phí mang tính chất hoàn trả trực tiếp cho người hưởng thụ) Người nộp thuế sẽ nhận được một phần dịch vụ công cộng Nhà nước cung cấp chung cho cả cộng đồng, giá trị phần dịch vụ đó không nhất thiết phải trùng với khoản thuế mà họ phải nộp cho Nhà nước
1.1.2.2 Đặc điểm của thuế hàng hóa nhập khẩu
Một là, thuế hàng hóa nhập khẩu là loại thuế gián thu nhằm động viên
một phần giá trị mới nằm trong giá cả hàng hoá trao đổi qua biên giới một nước, người nộp thuế là các tổ chức, cá nhân có hàng hoá nhập khẩu, còn người chịu thuế là người tiêu dùng các hàng hoá đó, họ mua hàng hoá với giá cả trong
đó có cả thuế Với cơ chế này, người kinh doanh hàng hoá nhập khẩu khi bán
Trang 18Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
hàng hoá cũng là lúc họ thu hộ thuế hàng hóa nhập khẩu cho Nhà nước (qua giá bán hàng hoá) và nộp khoản thuế hàng hóa nhập khẩu này cho Nhà nước, tức là nộp hộ người tiêu dùng hàng hoá Do đó, thuế hàng hóa nhập khẩu cũng là một loại thuế điều tiết vào thu nhập của người tiêu dùng hàng hoá nhập khẩu, thông qua cơ chế giá hàng hoá và dịch vụ Thuế hàng hóa nhập khẩu “được che đậy” trong giá bán hàng hoá nên người chịu thuế (người tiêu dùng hàng hoá nhập khẩu) ít có cảm giác mình bị Nhà nước đánh thuế
Hai là, thuế hàng hóa nhập khẩu là loại thuế gắn liền với hoạt động ngoại
thương Thuế hàng hóa nhập khẩu là một công cụ quan trọng của nhà nước nhằm kiểm soát hoạt động ngoại thương thông qua việc kê khai, kiểm tra, tính thuế đối với các hàng hoá nhập khẩu Việc đánh thuế thường căn cứ vào giá trị và chủng loại hàng hoá nhập khẩu Giá trị của hàng hoá được xác định làm căn cứ tính thuế hàng hóa nhập khẩu giá trị của hàng hoá tại cửa khẩu nhập đầu tiên (đối với thuế hàng hóa nhập khẩu) Thuế hàng hóa nhập khẩu thu vào các nhóm hàng, mặt hàng nhập khẩu Đối với các loại hàng hoá nhập khẩu khác nhau thì có các mức thuế khác nhau, có biểu thuế khác nhau và có suất thuế khác nhau và những điều này đã được quy định rõ trong Luật thuế xuất khẩu, thuế hàng hóa nhập khẩu Các hàng hoá nhập khẩu qua cửa khẩu, biên giới Việt Nam; hàng hoá trao đổi được đưa từ khu phi thuế quan vào thị trường trong nước, thì được áp dụng Luật thuế hàng hóa
nhập khẩu
Ba là, thuế hàng hóa nhập khẩu là một khoản thu nhập của ngân sách Nhà
nước chịu sự tác động của các yếu tố về chính trị và xã hội, kinh tế trong những thời kỳ nhất định
Các yếu tố về chính trị, xã hội tác động đến thuế hàng hóa nhập khẩu như là: thể chế chính trị của Nhà nước, tập quán tiêu dùng của các lớp dân cư, truyền thống văn hoá, xã hội của dân tộc
Các yếu tố về kinh tế tác động đến thuế hàng hóa nhập khẩu là: tốc độ tăng trưởng kinh tế quốc dân, thu nhập bình quân đầu người, giá cả, thị trường, sự biến động của các dòng vốn đầu tư nước ngoài
1.1.3 Vai trò của thuế và thuế hàng hóa nhập khẩu
1.1.3.1 Vai trò của thuế
a Thuế là công cụ chủ yếu huy động nguồn lực vật chất cho Nhà nước
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Thuế là công cụ quan trọng của Nhà nước trong quá trình quản lý kinh tế Để huy động được nguồn lực vật chất cho ngân quỹ Nhà nước thì Thuế là công cụ chủ yếu chiếm số lớn trong nguồn thu, để đảm bảo cho nhu cầu chi tiêu của Nhà nước trong quá trình thực hiện các chức năng xã hội nói chung
Sử dụng công cụ thuế để huy động tiền thuế cho Nhà nước có ưu điểm: + Phạm vi thu thuế rộng; đối tượng nộp thuế gồm toàn bộ thể nhân và pháp nhân hoạt động kinh tế
+ Nguồn huy động tập trung thông qua thuế là tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân trong nước tạo ra Nhờ đó một bộ phận đáng kể thu nhập xã hội tập trung trong tay Nhà nước để đảm bảo các nhu cầu chi tiêu và các biện pháp kinh tế
xã hội Mặt khác nguồn thu từ thuế được đảm bảo tập trung một cách nhanh chóng, thường xuyên và ổn định
+ Đây cũng là biện pháp hữu ích của công cụ tài chính
Vì lợi ích xã hội, Nhà nước có thể tăng thuế hay giảm thuế đối với các đối tượng nộp thuế, để kích thích hay hạn chế sự phát triển của các ngành, lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế nhằm giữ vững cân bằng ổn định thị trường để thúc đẩy phát triển kinh tế Trong thời kỳ phát triển quá mức, có nguy cơ dẫn đến mất cân đối, bằng cách tăng thuế, thu hẹp đầu tư, Nhà nước có thể giữ vững nhịp độ tăng trưởng theo mục tiêu đã đề ra Việc điều chỉnh chính sách thuế cần góp phần hình thành cơ cấu ngành hợp lý theo yêu cầu phát triển nền kinh tế trong từng giai đoạn Trong khi áp dụng các chính sách thuế cho từng ngành, từng loại hàng hóa, dịch vụ khác nhau Nhà nước có thể thúc đẩy sự phát triển các ngành quan trọng nhất, giữ vững vị trí then chốt trong nền kinh tế hoặc san bằng tốc độ tăng trưởng giữa các ngành nghề
Với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân, Nhà nước cần phải khuyến khích tích luỹ trong các doanh nghiệp để tạo ra nguồn vốn đầu tư Việc thay đổi chính sách thuế có thể ảnh hưởng đến quy mô, tốc độ tích luỹ tiền tệ do đó tác động đến quá trình đầu tư phát triển kinh tế
Thuế được sử dụng như một công cụ có hiệu quả để góp phần thực hiện chính sách đối ngoại và bảo hộ nền sản xuất trong nước và thúc đẩy hòa hợp kinh tế khu vực và trên thế giới
Thông qua việc điều chỉnh thuế xuất nhập khẩu, kịp thời qua từng thời kỳ đã tạo nên điều kiện hạn chế hàng nhập khẩu để bảo hộ những mặt hàng trong nước sản xuất
Trang 20Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
b Thuế thực hiện vai trò phân phối của nguồn tài chính, góp phần đảm bảo công bằng xã hội
Sử dụng công cụ thuế nhà nước có thể điều tiết thu nhập một cách hợp lý, giảm bớt sự bất công bằng trong xã hội
Nếu sử dụng tốt công cụ này thì chính nó sẽ trở thành động lực khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển
Ngày nay trong nền kinh tế thị trường, thuế ngày càng có vị trí quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội và mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế Hoạch định các chính sách thuế phải đảm bảo phát huy vai trò là công cụ của Nhà nước điều tiết nền kinh tế bằng các sắc thuế
Thông qua các phương pháp quản lý thu thuế cùng với các biện pháp tài chính khác của Nhà nước tác động hình thành nên thị trường, bình ổn giá cả tạo mọi điều kiện cho các thành phần kinh tế kinh doanh và cạnh tranh lành mạnh, nhằm
mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và tăng thu ngân sách
c Thuế là công cụ quản lý điều tiết vĩ mô nền kinh tế
Trong nền kinh tế thị trường, Nhà nước có khả năng sử dụng chính sách thuế
để điều tiết vĩ mô nền kinh tế Điều đó xuất phát từ Khái niệm và mục tiêu quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp
Quản lý thu thuế của nhà nước là một nội dung của quản lý thuế - một lĩnh vực quản lý hành chính công của Nhà nước Quản lý thu thuế của Nhà nước được một số tác giả khái niệm hoá như sau:
“Quản lý thu thuế là quản lý việc thực thi và đảm bảo thực thi các chính sách thuế hay là việc thực hiện quyền hành pháp và tư pháp của nhà nước trong lĩnh vực thuế” [5, tr.18]
“Quản lý thu thuế là quá trình tổ chức thực thi các luật thuế là việc định ra một
hệ thống các tổ chức, phân công các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm cho các tổ chức này, xác lập mối quan hệ hữu hiệu trong việc thực thi luật thuế nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra trong điều kiện môi trường luôn biến động” [4, tr.11]
Theo luật quản lý thuế ở Việt Nam, “quản lý thu thuế là quá trình thực thi các chức năng quản lý từ quản lý đăng ký thuế, kê khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế; quản lý hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế; quản lý xoá nợ tiền thuế, tiền
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
phạt; quản lý thông tin về người nộp thuế; kiểm tra, thanh tra thuế; cưỡng chế thi hành các quyết định hành chính thuế; xử lý vi phạm pháp luật thuế và giải quyết khiếu nại tố cáo về thuế” [10, tr.10]
Từ các khái niệm trên có thể định nghĩa quản lý thu thuế là một quá trình tổ chức thực thi chính sách thuế, thông qua quá trình tác động của các cơ quan thuế lên các tổ chức và công dân nhằm đảm bảo và tăng cường sự tuân thủ nghĩa vụ thuế một cách đầy đủ, tự nguyện và đúng thời gian trong điều kiện môi trường quản lý thu thuế luôn biến động Quá trình tác động của cơ quan thuế lên ĐTNT là quá trình thực thi các chức năng của quản lý thu thuế
- Quản lý thu thuế đối với DN gắn liền với cơ quan thuế - một tổ chức Nhà nước có tư cách pháp nhân công quyền Chủ thể quản lý thu thuế trực tiếp là các cơ quan quản lý thuế các cấp được Nhà nước giao trách nhiệm và quyền hạn trực tiếp thu thuế Đối tượng quản lý là các DN có nghĩa vụ phải nộp thuế vào NSNN theo quy định của luật thuế
1.1.3.2 Vai trò của thuế hàng hóa nhập khẩu
a Thuế hàng hóa nhập khẩu góp phần thực hiện bảo hộ nền sản xuất trong nước
Thuế hàng hóa nhập khẩu có chức năng bảo hộ nền sản xuất trong nước Bảo
hộ là bảo vệ và trợ giúp các doanh nghiệp trong điều kiện cần thiết, là việc Nhà nước thông qua các chính sách tạo ra môi trường, hành lang pháp lý thuận lợi giúp các doanh nghiệp có điều kiện phát triển hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu
Trên thực tế, thuế hàng hóa nhập khẩu là một khoản chi phí nằm trong giá gốc của hàng hoá, ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của các doanh nghiệp Giá cả
là phương tiện thực hiện cạnh tranh có hiệu quả cao Giá hàng nhập khẩu cao hay thấp phụ thuộc nhiều vào chính sách thuế hàng hóa nhập khẩu Vì vậy, việc đánh thuế hàng hóa nhập khẩu là cần thiết để bảo hộ sản xuất trong nước
b Thuế hàng hóa nhập khẩu là nguồn thu lớn trong tổng thu ngân sách Nhà nước
Tại điều 11, Luật Hải quan quy định về nhiệm vụ của ngành Hải quan như sau: “Hải quan Việt Nam có nhiệm vụ thực hiện kiểm tra, giám sát hàng hoá, phương tiện vận tải; phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua
Trang 22Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
biên giới; tổ chức thực hiện pháp luật về thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu; kiến nghị chủ trương, biện pháp quản lý nhà nước về hải quan đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh và chính sách thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu”
Nhà nước sử dụng công cụ quản lý bằng Hải quan, định ra các chính sách, luật pháp nhằm điều chỉnh hoạt động nhập khẩu, nhập cảnh, đảm bảo cho việc phát triển các mối quan hệ quốc tế về kinh tế, văn hoá, góp phần tăng cường sự giao lưu
và hợp tác quốc tế, bảo vệ chủ quyền an ninh quốc gia
Quản lý Nhà nước về Hải quan là tổ chức thực hiện, kiểm tra giám sát Hải quan tại biên giới, cửa khẩu và bất cứ nơi nào có hàng hoá nhập khẩu, phương tiện vận tải nhập cảnh, bao gồm nhiều mặt hoạt động trong đó hai mặt hoạt động chủ yếu là thu thuế hàng hóa nhập khẩu và chống buôn lậu, gian lận thương mại
Do vậy, quản lý Nhà nước bằng công cụ Hải quan đối với hàng hoá nhập khẩu là yêu cầu tất yếu Chức năng quản lý đó ở hai mặt: Quản lý bằng chính sách, luật pháp và bằng hoạt động kiểm tra, giám sát thông qua thực hiện khai báo thủ tục Hải quan Ở Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới, thuế hàng hóa nhập khẩu chiếm trên 70% tổng số thu thuế xuất nhập khẩu Riêng Việt Nam hiện nay, thuế xuất nhập khẩu chiếm khoảng 1/3 tổng thu của ngân sách Nhà nước Việt Nam là một nước có nền kinh tế dang phát triển, hoạt động nhập khẩu hàng hoá diễn ra rất sôi động Có rất nhiều mặt hàng, công nghệ, máy móc thiết bị mà Việt Nam chưa sản xuất được, phải nhập khẩu từ nước ngoài về, đây là một nguồn thu lớn cho ngân sách Nhà nước
c Thuế hàng hóa nhập khẩu là công cụ góp phần thực hiện nhiệm vụ quản
lý Nhà nước về Hải quan
Khi thực hiện nhiệm vụ thu thuế hàng hóa nhập khẩu, Hải quan đã kiểm tra các hoạt động nhập khẩu và điều tiết vĩ mô hoạt động nhập khẩu, vừa kích thích nhập khẩu, vừa hướng dẫn tiêu dùng trong nước
Trong số các công cụ kinh tế mà Nhà nước sử dụng thì thuế hàng hóa nhập khẩu là một công cụ linh hoạt và hiệu quả nhất để Nhà nước thực hiện chức năng quản lý của mình Thuế hàng hóa nhập khẩu có tác dụng khuyến khích hay hạn chế tiêu dùng thông qua việc điều chỉnh thuế suất Với biểu thuế hàng hóa nhập khẩu và chính sách miễn giảm thuế hàng hóa nhập khẩu, Nhà nước có thể thực hiện kiểm
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
soát và hướng dẫn hoạt động nhập khẩu cho phù hợp với đường lối phát triển trong từng giai đoạn nhằm thu hút vốn đầu tư nước ngoài, thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá
d Thuế hàng hóa nhập khẩu góp phần thực hiện chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước trong quan hệ quốc tế, góp phần đảm bảo bình đẳng và công bằng
xã hội
Thuế hàng hóa nhập khẩu của Nhà nước là công cụ cần thiết khi Nhà nước tham gia ký kết các điều ước, điều khoản với các nước thành viên cũng như các nước có quan hệ ngoại giao với Việt Nam Đồng thời, khi dùng thuế hàng hóa nhập khẩu có thể loại bỏ các hạn chế định lượng cũng như hàng rào phi thuế quan khác khi Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới - WTO Các cam kết của Việt Nam với một số nước đem lại những lợi thế cho các doanh nghiệp kinh doanh hàng hoá nhập khẩu và mang lại lợi ích cho người tiêu dùng Nhà nước quy định các mức thuế suất tùy theo mức độ quan hệ của Việt Nam với các quốc gia đó Các mức thuế mà Nhà nước áp dụng trong điều tiết quan hệ với các đối tác là: thuế suất thông thường, thuế suất ưu đãi, thuế suất
ưu đãi đặc biệt Việt Nam đã tham gia rất nhiều tổ chức kinh tế khu vực và quốc tê như: ASEAM, ASEM, APEC, WTO, Khi tham gia các tổ chức này thì Việt Nam đều phải
có những cam kết về thu thuế hàng hóa nhập khẩu từ các quốc gia thành viên Vì vậy, thuế hàng hóa nhập khẩu là một công cụ tốt để Đảng và Nhà nước thực hiện chính sách đối ngoại với các quốc gia khác
Thuế hàng hóa nhập khẩu là loại thuế đánh vào các hàng hoá, dịch vụ được nhập khẩu từ các quốc gia hay vùng lãnh thổ, dựa vào lợi thế về mặt hàng nhập khẩu có sức cạnh tranh cao Do đó, thuế hàng hóa nhập khẩu đã đem lại lợi thế cho các hàng hoá, dịch vụ sản xuất trong nước, mang lại công bằng trong kinh doanh Bên cạnh đó, thuế hàng hóa nhập khẩu còn góp phần bình ổn an ninh trật tự và công
bằng trong xã hội
1.2 Cơ sở lý luận về quản lý thu thuế hàng hóa nhập khẩu
1.2.1 Khái niệm quản lý thu thuế hàng hóa nhập khẩu
Xét trên quan điểm vĩ mô, quản lý thu thuế hàng hóa nhập khẩu là một phần của quản lý thu thuế hàng hóa nhập khẩu - thuộc một trong ba lĩnh vực là lập pháp, hành pháp, và tư pháp về thuế xuất nhập khẩu của công tác quản lý thu thuế
Quản lý thu thuế có thể được tiếp cận theo hai cách:
Trang 24Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Thứ nhất, theo cách tiếp cận chiến lược, quản lý thu thuế hàng hóa nhập khẩu
là quá trình hoạch định chính sách, triển khai chính sách và kiểm soát sự thực hiện thu thuế hàng hóa nhập khẩu
Thứ hai, theo cách tiếp cận tác nghiệp, quản lý thu thuế hàng hóa nhập khẩu
là quá trình tổ chức thực hiện pháp luật về thuế hàng hóa nhập khẩu, chính sách thuế hàng hóa nhập khẩu và các văn bản qui phạm pháp luật có liên quan Là phương thức tác động của cơ quan thuế lên đối tượng nộp thuế theo cơ chế tự khai,
tự nộp thuế
Tự khai, tự nộp thuế là một phương thức quản lý thuế được xây dựng trên nền tảng sự tự giác tuân thủ của đối tượng nộp thuế, được cụ thể bằng việc đối tượng nộp thuế tự tính thuế, tự xác định số thuế phải nộp và nộp đúng hạn qui định
Cơ quan thuế được tổ chức và thực hiện các biện pháp quản lý thuế phù hợp với nguyên tắc đó
* Người nộp thuế hàng hóa nhập khẩu: Tổ chức, cá nhân có hàng hóa nhập
khẩu thuộc đối tượng chịu thuế hoặc tổ chức, cá nhân làm thủ tục về thuế thay người nộp thuế (gọi chung là doanh nghiệp)
Trong nội dung luận văn, tác giả đề cập đến quản lý thu thuế hàng hóa nhập khẩu theo cách tiếp cận tác nghiệp, được định hướng bởi Luật quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2006
1.2.2 Mục tiêu của quản lý thu thuế hàng hóa nhập khẩu
Quản lý thuế hàng hóa nhập khẩu là một trong những nội dung quan trọng của công tác quản lý tài chính Nhà nước, quản lý thuế hàng hóa nhập khẩu không thể tách rời quản lý thuế nói riêng và quản lý Nhà nước nói chung
Công tác quản lý thuế hàng hóa nhập khẩu nhằm đạt được các mục tiêu cơ bản như sau:
Một là, Tập trung, huy động đầy đủ, kịp thời số thu cho ngân sách Nhà nước
trên cơ sở không ngừng nuôi dưỡng và phát triển nguồn thu
Ở Việt Nam hiện nay, số thu bằng thuế hàng hóa nhập khẩu hàng năm chiếm
tỷ trọng lớn trong tổng số thu thuế cùng như tổng số thu của ngân sách Nhà nước
Vì vậy, làm tốt công tác quản lý thuế hàng hóa nhập khẩu sẻ có tác dụng lớn trong việc tập trung, huy động đầy đủ, kịp thời số thu cho ngân sách Nhà nước
Mặt khác, các chính sách về thuế hàng hóa nhập khẩu có tác động lớn đến thu nhập của các tổ chức kinh tế và cá nhân, qua đó tác động đến quá trình
Trang 25Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
phát triển kinh tế - cơ sở tạo ra nguồn thu thuế hàng hóa nhập khẩu trong tương lại Để tăng cường và ổn định số thu của ngân sách Nhà nước, trong công tác quản lý thuế hàng hóa nhập khẩu cũng cần phải chú ý duy trì và phát triển các
cơ sở tạo ra nguồn thu
Hai là, phát huy tốt nhất vai trò của thuế hàng hóa nhập khẩu trong nền kinh tế
Vai trò của thuế hàng hóa nhập khẩu là rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Nhưng vai trò đó không mang tính khách quan, mà nó là kết quả của những tác động từ phía con người Những tác động đó được thực hiện thông qua những nội dung, những công việc cụ thể của công tác quản lý thuế hàng hóa nhập khẩu Các công việc cụ thể là:
- Hướng dẫn các doanh nghiệp để thực hiện đúng các văn bản chính sách mới (Luật thuế xuất khẩu, nhập khẩu; Luật Hải quan; Luật quản lý thu thuế), nâng cao ý thức chấp hành nghĩa vụ nộp thuế của các doanh nghiệp, triển khai thực hiện chế độ kế toán mới trong đó đã chủ động xây dựng và áp dụng có kết quả các phần mềm tin học,
vì vậy chất lượng công tác kế toán thuế hàng hóa nhập khẩu được nâng cao một bước, hạn chế được nhiều sai sót, nhầm lẩn trong việc theo dõi nợ đọng và cưỡng chế thuế
- Tổ chức tập huấn để triển khai Hiệp định GATT/WTO cùng với việc rà soát để sắp xếp bố trí cán bộ làm công tác thuế cho phù hợp
Ba là, tăng cường ý thức chấp hành pháp luật cho các tổ chức kinh tế và dân cư
Trong cơ chế kinh tế thị trường, Nhà nước thông qua công cụ luật pháp để thực hiện sự tác động vào nền kinh tế ở tầm vĩ mô Ý thức chấp hành luật pháp của các tổ chức kinh tế và dân cư sẽ có ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện những tác động của Nhà nước đến nền kinh tế Qua công tác tổ chức thực hiện và kiểm tra, thanh tra việc chấp hành luật thuế hàng hóa nhập khẩu cùng với việc tăng cường tính pháp chế của luật thuế hàng hóa nhập khẩu, ý thức chấp hành của các luật thuế được nâng cao, từ đó tạo thói quen chấp hành pháp luật trong mọi tầng lớp dân cư
Như vậy, trên đây là ba mục tiêu cơ bản của công tác quản lý thuế hàng hóa nhập khẩu
1.2.3 Nội dung của cơ bản của công tác quản lý thuế hàng hóa nhập khẩu
1.2.3.1 Đối tượng chịu thuế và nộp thuế hàng hóa nhập khẩu
Trang 26Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Thứ nhất, Tất cả hàng hoá và dịch vụ được phép nhập khẩu qua cửa khẩu
biên giới Việt Nam, kể cả hàng hoá từ khu chế xuất và từ khu chế xuất đưa vào thị trường trong nước đều đối tượng chịu thuế hàng hóa nhập khẩu
Thứ hai, đối tượng không chịu thuế hàng hóa nhập khẩu là hàng hoá
nhập khẩu không thuộc diện chịu thuế hàng hóa nhập khẩu sau khi làm thủ tục Hải quan gồm:
- Hàng quá cảnh và mườn đường qua lãnh thổ Việt Nam
- Hàng kinh doanh theo phương thức chuyển khẩu, bao gồm các hình thức: + Hàng được vận chuyển từ nước xuất khẩu sang nước nhập khẩu không qua cửa khẩu Việt Nam
+ Hàng hoá vận chuyển từ nước xuất khẩu đến nước nhập khẩu qua cửa khẩu Việt Nam, nhưng không làm thủ tục nhập khẩu mà xuất khẩu ra khỏi Việt Nam
+ Hàng hoá vận chuyển từ nước xuất khẩu đến nước nhập khẩu qua cửa khẩu Việt Nam, đưa vào kho ngoại quan, nhưng không làm thủ tục nhập khẩu và xuất khẩu ở Việt Nam
- Hàng hoá từ nước ngoài nhập vào khu chế xuất và hàng hoá từ khu chế xuất xuất khẩu ra nước ngoài (trực tiếp hoặc qua cửa khẩu Việt Nam) hoặc hàng hoá đưa
từ khu chế xuất này đến khu chế xuất khác trong lãnh thổ Việt Nam
Thứ ba, Đối tượng nộp thuế hàng hóa nhập khẩu Tất cả các tổ chức, cá nhân
có hàng hoá nhập khẩu thuộc đối tượng chịu thuê nhập khẩu đều là đối tượng nộp thuế hàng hóa nhập khẩu Trường hợp nhập khẩu uỷ thác thì tổ chức nhận uỷ thác chịu trách nhiệm nộp thuế hàng hóa nhập khẩu cho cơ quan Hải quan thay cho người uỷ thác
1.2.3.2 Miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế hàng hóa nhập khẩu
a Miễn thuế hàng hóa nhập khẩu
* Hàng hoá, dịch vụ nhập khẩu được quy định miễn thuế trong các trường hợp sau đây:
- Hàng viện trợ không hoàn lại theo dự án viện trợ
- Hàng tạm nhập - tái xuất, tạm xuất - tái nhập để tham gia hội chợ triển lãm
- Hàng hoá là tài sản di chuyển được miễn thuế hoặc trong tiêu chuẩn hàng lý miễn thuế của khách nhập cảnh tại cửa khẩu Việt Nam
Trang 27Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
- Hàng của các tổ chức, cá nhân nước ngoài được hưởng quyền miễn thuế trừ theo quy định của pháp luật Việt Nam và phù hợp với các công ước quốc tế mà Việt Nam ký kết
- Hàng hoá là vật tư, nguyên liệu nhập khẩu để phục vụ gia công cho phía nước ngoài, rồi xuất khẩu theo hợp đồng đã ký
* Xét miễn thuế hàng hóa nhập khẩu
Hàng hoá, dịch vụ nhập khẩu được xét miễn thuế hàng hóa nhập khẩu là các trường hợp sau đây:
- Hàng nhập khẩu chuyên dùng phục vụ trực tiếp cho an ninh quốc phòng, nghiên cứu khoa học và giáo dục, đào tạo
- Hàng nhập khẩu của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và của bên nước ngoài hợp tác kinh doanh theo luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
- Hàng nhập khẩu của các nhà đầu tư theo luật khuyến khích đầu tư trong nước
- Hàng là quà biếu, quà tặng được xét miễn thuế theo mức quy định
- Hàng nhập khẩu để bán miễn thuế tại các cửa hàng miễn thuế
Đối với các chương trình, dự án sử dụng nguồn vốn ODA:
- Đối với sử dụng dự án ODA không hoàn lại, được miễn thuế hàng hóa nhập khẩu, kể cả thu chênh lệch giá (hoặc phụ thu) đối với một số hàng nhập khẩu (nếu có)
- Đối với dự án sử dụng vốn ODA vay ưu đãi đầu tư vào lĩnh vực, ngành nghề địa điểm thuộc đối tượng khuyến khích đầu tư trong nước, được miễn thuế hàng hóa nhập khẩu đối với loại hàng hoá trong nước chưa sản xuất được hoặc sản xuất được nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu chất lượng theo quy định
b Giảm thuế hàng hóa nhập khẩu
Hàng hoá nhập khẩu đang trong quá trình giám sát của cơ quan hải quan nếu
bị hư hỏng, mất mát được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giám định chứng nhận thì được xét giảm thuế hàng hóa nhập khẩu tương ứng với tỷ lệ tổn thất thực tế của hàng hoá
Thẩm quyền xét giảm thuế:
Cục Hải quan địa phương căn cứ vào số lượng hàng hóa bị mất mát và tỷ lệ tổn thất thực tế của hàng hóa đã được giám định chứng nhận để xem xét và ra quyết định giảm thuế hàng hóa nhập khẩu
Trang 28Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
c Hoàn thuế hàng hóa nhập khẩu
Hàng hoá, dịch vụ được xét hoàn thuế trong các trường hợp sau:
- Hàng hoá, dịch vụ nhập khẩu đã nộp thuế, còn lưu kho, bãi ở cửa khẩu, được tái xuất
- Hàng đã nộp thuế hàng hóa nhập khẩu theo tờ khai, nhưng thực tế nhập khẩu ít hơn
- Hàng nhập khẩu chưa phù hợp về chất lượng, quy cách, phẩm cấp so với hợp đồng thương mại đã ký với phía nước ngoài, do phía nước ngoài gửi sai thì sẽ được hoàn lại số thuế nhập đã nộp thừa, nếu thiếu thì phải nộp bổ sung
- Đối với trường hợp nộp thuế nhầm lẫn trong kê khai, được hoàn trả tiền thuế nộp quá trong thời hạn 1 năm trở về trước (kể từ ngày kiểm tra phát hiện)
- Hàng là vật tư, nguyên vật liệu nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu được hoàn thuế tương ứng với tỷ lệ xuất khẩu thành phẩm
- Hàng được phép tạm nhập - tái xuất hoặc tạm xuất - tái nhập
- Hàng hoá từ doanh nghiệp chế xuất được thực hiện như quy định hoàn thuế đối với các trường hợp nhập khẩu nguyên vật liệu để sản xuất hàng xuất khẩu, tạm nhập - tái xuất nêu trên
- Hàng nhập khẩu nhưng vì lý do nào đó buộc phải tái xuất ra nước ngoài, được hoàn thuế hàng hóa nhập khẩu đã nộp
- Đối với số máy móc, thiết bị, dụng cụ, phương tiện vận chuyển của các tổ chức, cá nhân được phép tạm nhập - tái xuất hoặc mượn tái xuất để thực hiện các dư án đầu tư, thi công, lắp đặt công trình khi nhập khẩu phải được kê khai nộp thuế hàng hóa nhập khẩu theo quy định, khi tái xuất ra khỏi Việt Nam sẽ được hoàn thuế hàng hóa nhập khẩu
Số thuế hàng hóa nhập khẩu được hoàn lại xác định trên cơ sơ giá trị sử dụng còn lại của máy móc, thiết bị đó tính theo thời gian sử dụng và lưu tại Việt Nam
1.2.4 Quy trình quản lý thu thuế hàng hóa nhập khẩu
1.2.4.1 Kê khai hải quan hàng hoá, dịch vụ nhập khẩu
Tổ chức, cá nhân có hàng hoá nhập khẩu phải kê khai đầy đủ, chính xác các nội dung theo quy định của pháp luật, nộp Tờ khai hàng hoá nhập khẩu và nộp/xuất trình các hồ sơ liên quan cho cơ quan Hải quan nơi làm thủ tục nhập khẩu hàng hoá
1.2.4.2 Thời điểm tính thuế và thời hạn thông báo thuế
a Thời điểm tính thuế hàng hóa nhập khẩu
Trang 29Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Thời điểm tính thuế hàng hóa nhập khẩu là ngày đối tượng nộp thuế đăng ký
Tờ khai hàng hoá nhập khẩu với cơ quan Hải quan theo quy định của Luật Hải quan Trường hợp nộp thuế khai báo điện tử thì thời điểm tính thuế là ngày cơ quan Hải quan cấp số Tờ khai tự động từ hệ thống (dưới đây gọi là tắt là ngày đăng ký Tờ khai hàng hoá nhập khẩu)
Thuế hàng hóa nhập khẩu được tính theo thuế suất, giá tính thuế, tỷ giá tính thuế tại ngày đăng ký Tờ khai hàng hoá nhập khẩu Quá 15 ngày kể từ ngày đăng ký tờ khai hàng hoá nhập khẩu nhưng chưa có hàng hoá thực nhập khẩu thì Tờ khai hàng hoá nhập khẩu đã đăng ký không có giá trị làm thủ tục Hải quan hàng hoá nhập khẩu Khi
có hàng hoá thực tế nhập khẩu đối tượng nộp thuế phải làm lại thủ tục kê khai và đăng
ký tờ khai hàng hoá nhập khẩu, thời điểm tính thuế là ngày đăng ký Tờ khai lần sau
Trường hợp đối tượng nộp thuế kê khai trước ngày đăng ký tờ khai hàng hoá nhập khẩu thì tỷ giá tính thuế được áp dụng theo tỷ giá tại ngày đối tượng nộp thuế đã kê khai, nhưng không qua ba ngày liền kề trước ngày đăng ký tờ khai hàng hoá nhập khẩu
b Thời hạn thông báo thuế
Trong thời hạn tám giờ làm việc kể từ khi đối tượng nộp thuế đăng ký Tờ khai hàng hoá nhập khẩu, cơ quan Hải quan phải thông báo cho đối tượng nộp thuế
và số thuế phải nộp
Đối với những trường hợp phải có giám định về tiêu chuẩn kỹ thuật, chất lượng, số lượng, chủng loại để đảm bảo chính xác cho việc tính thuế (như xác định tên mặt hàng, mã số hàng hoá theo danh mục Biểu thuế, chất lượng, số lượng, tiêu chuẩn kỹ thuật, tình trạng cũ, mới, của hàng hoá nhập khẩu ) thì cơ quan Hải quan vẫn ra thông báo số thuế phải nộp theo khai báo của đối tượng nộp thuế trong thời hạn tám giờ làm việc kể từ khi đối tượng nộp thuế đăng ký Tờ khai hàng hoá nhập khẩu; đồng thời phải thông báo cho đối tượng nộp thuế biết lý do phải giám định và nếu có kết quả giám định khác so với khai báo của đối tượng nộp thuế thì đối tượng nộp thuế phải nộp thuế theo kết quả giám định
Sau khi có kết quả giám định, nếu có thay đổi về số thuế phải nộp, cơ quan Hải quan ra thông báo điều chỉnh lại thông báo ban đầu trong thời hạn tám giờ làm việc kể từ khi nhận được kết quả giám định Các chi phí liên quan đến việc giám định sẻ do cơ quan Hải quan chi trả trong trường hợp cơ quan Hải quan đề nghị giám định hoặc sẻ do đối tượng nộp thuế chi trả trong trường hợp đối tượng nộp thuế đề nghị giám định
Trang 30Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
c Thời hạn nộp thuế hàng hóa nhập khẩu
Thứ nhất, đối với hàng hoá là vật tư, nguyên liệu nhập khẩu để trực tiếp sản
xuất hàng hoá xuất khẩu là chín tháng (được tính tròn là 275 ngày) kể từ ngày đối tượng nộp thuế nhận được thông báo thuế của cơ quan Hải quan về số thuế phải nộp
Điều kiện để được áp dụng thời hạn nộp thuế chín tháng đối với vật tư, nguyên liệu nhập khẩu để trực tiếp sản xuất hàng hoá xuất khẩu, phải có:
- Bản đăng ký vật tư, nguyên liệu nhập khẩu để trực tiếp sản xuất hàng hoá xuất khẩu
- Đối tượng nộp thuế không nợ đọng thuế quá thời hạn (tại thời điểm nhập khẩu) theo quy định của Luật thuế hàng hóa nhập khẩu; trừ trường hợp nợ thuế hàng hóa nhập khẩu quá hạn của các lô vật tư, nguyên liệu nhập khẩu để trực tiếp sản xuất hàng hoá xuất khẩu, sản phẩm đã được thực xuất khẩu và đối tượng nộp thuế đã đủ hồ sơ yêu cầu hoàn thuế trong thời hạn quy định (bao gồm cả trường hợp
cơ quan Hải quan chưa làm thủ tục thanh quyết toán)
Căn cứ vào hồ sơ quy định, cơ quan Hải quan nơi làm thủ tục nhập khẩu ra thông báo thời hạn nộp thuế cho đối tượng nộp thuế là chín tháng, đồng thời theo dõi việc nợ thuế của đối tượng nộp thuế để quyết toán số nợ thuế khi thực tế xuất khẩu sản phẩm
Một số trường hợp đặc biệt do chu kỳ sản xuất, dự trữ vật tư, nguyên liệu của doanh nghiệp dài hơn chín tháng như đóng tàu, thuyền, chế tạo máy móc, thiết bị cơ khí thì thời hạn nộp thuế có thể được hơn chín tháng Đối tượng nộp thuế có văn bản giải trình để Cục Hải quan địa phương xem xét quyết định từng trường hợp cụ thể
Chậm nhất đến khi đối tượng nộp thuế được áp dụng là chín tháng hoặc hơn chín tháng, đối tượng nộp thuế phải làm thủ tục quyết toán số nợ thuế với cơ quan Hải quan Nếu quá thời hạn nộp thuế mà đối tượng nộp thuế mới xuất khẩu hoặc không xuất khẩu sản phẩm theo hợp đồng xuất khẩu hàng hoá đã đăng ký với
cơ quan Hải quan thì bị xử lý phạt chậm nộp thuế cụ thể như sau:
- Đối với phần nguyên liệu, vật liệu nhập khẩu để sử dụng vào sản xuất sản phẩm theo hợp đồng xuất khẩu hàng hoá đã đăng ký với cơ quan Hải quan, nhưng sản phẩm không xuất khẩu thì tính phạt chậm nộp thuế kể từ ngày thứ 31 tính từ ngày nhận được thông báo thuế của cơ quan Hải quan đến ngày thực nộp thuế
Trang 31Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
- Đối với phần nguyên liệu, vật tư nhập khẩu đã sử dụng vào sản xuất sản phẩm
và đã thực xuất khẩu ngoài thời hạn nộp thuế thì tính phạt chậm nộp thuế kể từ ngày quá thời hạn nộp thuế theo thông báo của cơ quan Hải quan đến ngày thực nộp thuế
- Đối với trường hợp đối tượng nộp thuế được áp dụng thời hạn nộp thuế chín tháng hoặc hơn chín tháng nhưng không xuất khẩu sản phẩm hoặc xuất khẩu ngoài thời hạn nộp thuế, thì đối tượng nộp thuế phải nộp thuế (trường hợp xuất khẩu sản phẩm ngoài thời hạn nộp thuế thì phải nộp thuế khi hết thời hạn nộp thuế được
áp dụng và được hoàn lại số thuế đã nộp thuế khi sản phẩm thực tế xuất khẩu) và bị
xử phạt như nêu trên, ngoài ra còn bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế theo quy định hiện hành
- Đối tượng nộp thuế không được tiếp tục áp dụng thời hạn nộp thuế chín tháng (hoặc hơn chín tháng) của các lô hàng sau nếu còn nợ thuế, nợ phạt chậm nộp
và nợ phạt vi phạm hành chính; khi nộp xong tiền thuế, tiền phạt chậm nộp và tiền phạt vi phạm hành chính theo thông báo của cơ quan thu thuế thì tiếp tục cho hưởng thời hạn chín tháng (hoặc hơn chín tháng) đối với lô hàng nguyên liệu, vật liệu nhập khẩu để trực tiếp sản xuất hàng hoá xuất khẩu tiếp theo
Thứ hai, trường hợp hàng hoá kinh doanh theo phương thức tạm nhập - tái xuất
hoặc tạm xuất - tái nhập thì thời hạn nộp thuế là 15 ngày kể từ ngày hết thời hạn của cơ quan có thẩm quyền cho phép tạm nhập - tái xuất hoặc tạm xuất - tái nhập (áp dụng cho
cả trường hợp được phép gia hạn) theo quy định của Bộ Công thương
Thứ ba, đối với hàng hoá tiêu dùng phải nộp xong thuế hàng hóa nhập khẩu
trước khi nhận hàng hoá tiêu dùng thực hiện theo qui định của Bộ Công thương) Trừ các trường hợp sau:
- Trường hợp đối tượng nộp thuế có sự bảo lãnh về số tiền thuế phải nộp thuế là 30 ngày, kể từ ngày đối tượng nộp thuế nhận được thông báo thuế của cơ quan Hải quan về số thuế phải nộp, với điều kiện sau:
+ Đối tượng đứng ra bảo lãnh phải là tổ chức tín dụng hoặc các tổ chức khác được phép thực hiện một số hoạt động Ngân hàng theo qui định của Luật các tổ chức tín dụng và Luật sữa đổi, bổ sung một số Điều của Luật các tổ chức tín dụng
+ Nội dung bảo lãnh phải ghi rõ tên tổ chức đứng ra bảo lãnh, tên doanh nghiệp được bảo lãnh, số tiền thuế được bảo lãnh, thời hạn bảo lãnh và cam kết của đối tượng đứng ra bảo lãnh
Trang 32Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Căn cứ vào giấy bảo lãnh của tổ chức đứng ra bảo lãnh, cơ quan Hải quan nơi làm thủ tục nhập khẩu ra thông báo thời hạn nộp thuế là 30 ngày cho đối tượng nộp thuế tương ứng với số tiền thuế được bảo lãnh
Quá thời hạn nộp thuế theo thông báo thuế của cơ quan Hải quan mà đối tượng nộp thuế chưa nộp thuế theo qui định, cơ quan Hải quan đề nghị tổ chức đứng
ra bảo lãnh nộp số tiền thuế vào ngân sách Nhà nước thay cho đối tượng được bảo lãnh theo đúng qui định của Luật các tổ chức tín dụng, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các tổ chức tín dụng và các văn bản hướng dẫn thực hiện
- Trường hợp hàng hoá tiêu dùng nhập khẩu phục vụ trực tiếp cho an ninh, quốc phòng, nghiên cứu khoa học và giáo dục đào tạo thuộc diện được xét miễn thuế hàng hóa nhập khẩu thì thời hạn nộp thuế là 30 ngày kể từ ngày đối tượng nộp thuế nhận được thông báo thuế của cơ quan Hải quan về số thuế phải nộp
- Trường hợp hàng hoá nằm trong Danh mục hàng hoá tiêu dùng theo qui định của Bộ Công thương nhưng là vật tư, nguyên liệu nhập khẩu trực tiếp dùng cho sản xuất thì được áp dụng thời hạn thuế là 30 ngày hoặc 275 ngày (đối với hàng hoá
là vật tư, nguyên liệu nhập khẩu để trực tiếp sản xuất hàng hoá xuất khẩu) kể từ ngày đối tượng nộp thuế nhận được thông báo thuế của cơ quan Hải quan về số thuế phải nộp Trên cơ sở bộ hồ sơ, kết quả kiểm tra lô hàng thực tế nhập khẩu và văn bản cam kết của đối tượng nộp thuế về việc sử dụng vật tư, nguyên liệu nhập khẩu trực tiếp cho sản xuất Cục Hải quan địa phương ra thông báo thuế theo qui định Trường hợp phát hiện có sự gian lận thì ngoài việc tính phạt chậm nộp thuế theo thời hạn phải nộp thuế của hàng hoá tiêu dùng nhập khẩu, đối tượng nộp thuế còn bị
xử lý theo qui định của pháp luật
Thứ tư, Đối với hàng hoá nhập khẩu phi mậu dịch, hàng hoá nhập khẩu của
cư dân biên giới thì đối tượng nộp thuế phải nộp xong thuế trước khi nhập khẩu hàng hoá vào Việt Nam
Thứ năm, Đối với hàng hoá nhập khẩu có thời hạn nộp thuế khác nhau thì
phải mở Tờ khai hàng hoá nhập khẩu riêng theo từng thời hạn nộp thuế
Thứ sáu, Trường hợp hàng hoá nhập khẩu còn trong sự giám sát của cơ quan
Hải quan, nhưng bị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tạm giữ để điều tra chờ xử lý thì thời hạn nộp thuế đối với từng loại hàng hoá thực hiện theo quy định của Luật thuế hàng hóa nhập khẩu và tính từ ngày cơ quan Nhà nước có thẩm quyền có văn bản cho phép giải tỏa hàng hoá đã tạm giữ
Trang 33Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
1.2.5 Nguyên tắc quản lý thu thuế hàng hóa nhập khẩu
- Thuế là nguồn thu chủ yếu của NSNN Nộp thuế theo qui định của pháp
luật là nghĩa vụ và quyền lợi của mọi tổ chức, cá nhân Cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm tham gia quản lý thuế
- Việc quản lý thu thuế được thực hiện theo quy định của Luật quản lý thuế
và các qui định khác của pháp luật có liên quan
- Việc quản lý thu thuế phải đảm bảo công khai, minh bạch, bình đẳng; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người nộp thuế
1.3 Nội dung quản lý của Hải quan đối với thuế hàng hóa nhập khẩu trong giai đoạn hiện nay
Một trong những nhiệm vụ chủ yếu của ngành Hải quan đó là tổ chức thực hiện pháp luật về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Trong khuôn khổ của bản luận văn tác giả tập trung nghiên cứu sâu về việc tổ chức quản lý thuế hàng hóa nhập khẩu đối với hàng hoá và doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu
Quản lý của Hải quan đối với thuế hàng hóa nhập khẩu là các phương pháp, hình thức quản lý thuế (khai thuế, nộp thuế, thủ tục hoàn miễn giảm thuế, xem xét khiếu nại thuế và kiểm tra thanh tra thuế …), các công cụ quản lý (các qui định, qui trình, biện pháp nghiệp vụ, phương tiện quản lý), cơ cấu tổ chức bộ máy (các bộ phận, các đơn vị thuộc cơ quan hải quan, đội ngũ cán bộ công chức hải quan) đối với hàng hóa nhập khẩu qua của khẩu, biên giới lãnh thổ Việt Nam, hàng hóa được đưa vào từ thị trường trong nước vào khu phi thuế quan và từ khu phi thuế quan vào thị trường trong nước, hàng hóa từ khu chế xuất vào thị trường trong nước, ra nước ngoài và ngược lại
1.3.1 Khuôn khổ pháp lý điều chỉnh hoạt động quản lý thuế hàng hóa nhập khẩu của cơ quan Hải Quan
Thuế hàng hóa nhập khẩu là loại thuế chiếm tỉ trọng lớn trong các sắc thuế
mà cơ quan Hải quan quản lý và thu thuế Việc quản lý sắc thuế này chịu sự chi phối bởi rất nhiều nguồn luật trong nước và quốc tế, các cam kết trong hội nhập Đối với luật trong nước, hiện nay sắc thuế này chịu sự tác động của thuế Luật thuế xuất nhập khẩu; Luật Hải quan; Luật quản lý thuế và các văn bản qui phạm pháp luật có liên quan như sau:
+ Luật Hải quan số 29/2001/QH10 ngày 29/6/2001; Luật sửa đổi bổ sung
Trang 34Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
một số điều của Luật Hải quan số 42/2011/QH ngày 29/11/2012;
+ Nghị định số 154/2011/NĐ-CP ngày 15/12/2011 của Chính phủ qui định chi tiết một số điều của Luật Hải quan về thủ tục Hải quan, kiểm tra giám sát HQ;
+ Thông tư 112/2011/TT-BTC ngày 15/12/2011 của Bộ Tài Chính hướng dẫn về thủ tục Hải quan, kiểm tra giám sát Hải quan;
+ Luật thuế xuất khẩu, thuế hàng hóa nhập khẩu số 45/2011/QH11 ngày 14/6/2011;
+ Nghị định 149/2011/NĐ-CP ngày 08/12/2011 của Chính phủ qui định chi tiết thi hành Luật thuế xuất khẩu, thuế hàng hóa nhập khẩu;
+ Thông tư 113/2011/TT-BTC ngày 15/12/2011 của Bộ Tài Chính hướng dẫn thi hành thuế xuất khẩu, thuế hàng hóa nhập khẩu;
+ Luật Quản lý thuế số 78/2012/QH11 ngày 29/11/2012;
+ Nghị định số 85/2013/NĐ-CP ngày 25/5/2013 của Chính phủ qui định chi tiết thi hành Luật Quản lý thuế;
+ Thông tư 59/2013/TT-BTC ngày 14/6/2013 của Bộ Tài Chính hướng dẫn thi hành thuế xuất khẩu, thuế hàng hóa nhập khẩu, quản lý thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu;
+ Thông tư 60/2013/TT-BTC ngày 14/6/2013 của Bộ Tài Chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế và hướng dẫn thi hành Nghị định số 85/2013/NĐ-
CP ngày 25/5/2013 của Chính phủ qui định chi tiết thi hành Luật Quản lý thuế;
+ Nghị định số 97/2013/NĐ-CP ngày 07/6/2013 của Chính phủ qui định về việc xử lý vi phạm hành chính và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính trong lĩnh vực Hải quan;
+ Thông tư 62/2013/TT-BTC ngày 14/6/2013 của Bộ Tài Chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 97/2013/NĐ-CP ngày 07/6/2013 của Chính phủ qui định việc xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực Hải quan;
+ Nghị định số 98/2013/NĐ-CP ngày 07/6/2013 của Chính phủ qui định về việc
xử lý vi phạm pháp luật về thuế và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế
+ Quyết định 2422/QĐ-TCHQ ngày 27/11/2008 về việc ban hành Quy trình kiểm tra thuế, ấn định thuế đối với hàng hóa xuất nhập khẩu khi làm thủ tục Hải quan
+ Quyết định 2424/QĐ-TCHQ ngày 27/11/2008 về việc ban hành Quy trình miễn thuế, xét miễn thuế, xét giảm thuế, hoàn thuế không thu thuế xuất khẩu, thuế
Trang 35Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
hàng hóa nhập khẩu
Theo mô hình tự khai tự nộp, việc quản lý thuế gồm 4 nhóm công việc như sau: quản lý khai thuế, quản lý nộp thuế, xét miễn giảm hoàn thuế, xem xét khiếu nại về thuế và thanh tra thuế
- Quản lý khai thuế: Quản lý khai thuế là khâu đầu tiên và đặc biệt quan trọng trong qui trình quản lý thuế Quản lý khai thuế tại cơ quan Hải quan là quá trình công chức Hải quan tiếp nhận khai báo; kiểm tra các tiêu chí khai báo về thuế của DN; kiểm tra sự phù hợp giữa các loại chứng từ trong bộ hồ sơ Hải quan và việc khai báo của Doanh nghiệp; ra quyết định ấn định thuế nếu thấy sự khai báo của DN chưa chính xác hoặc không trung thực; thực hiện công tác kế toán theo dõi thu nộp tiền thuế của các tổ chức, cá nhân nộp thuế
- Quản lý nộp thuế: thực hiện quản lý và đôn đốc thu nợ thuế, cưỡng chế
nợ thuế đảm bảo thu đủ và kịp thời tiền thuế vào NSNN và thực hiện giải quyết các thủ tục về xóa nợ theo qui định
- Xét miễn giảm, hoàn thuế: căn cứ chế độ chính sách hiện hành để giải quyết miễn giảm, hoàn thuế cho Doanh nghiệp
- Xem xét khiếu nại thuế và thanh tra thuế: thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra tổ chức và cá nhân nộp thuế trong việc chấp hành pháp luật về thuế; giải quyết các khiếu nại, tố cáo về thuế của các tổ chức và cá nhân nộp thuế
b Quản lý nộp thuế: Đối tượng nộp thuế ở đây là các tổ chức cá nhân có hàng
hóa nhập khẩu thuộc diện chịu thuế hàng hóa nhập khẩu, các cá nhân có hàng hóa khi nhập cảnh, các tổ chức nhận uỷ thác, các DN cung cấp dịch vụ bưu chính viễn thông, dịch vụ chuyển phát nhanh quốc tế, các tổ chức nhận bảo lãnh cho đối tượng nộp thuế
Mục tiêu: Kịp thời phát hiện và xử lý các ĐTNT cố tình chây ỳ, nợ thuế và
chiếm đoạt tiền thuế và các khoản tiền phạt liên quan đến thuế, để đảm bảo thu đúng, thu đủ, kịp thời các khoản thu vào NSNN, phù hợp với pháp luật về thuế
Xây dựng và thực hiện các phương pháp, biện pháp theo dõi, đánh giá nợ thuế và thu nợ thuế phù hợp nhằm thu đủ số nợ thuế nợ đọng vào NSNN, không
để thất thu và bảo đảm công bằng xã hội
Công tác thu nợ thuế phải bảo đảm xác định kịp thời, chính xác các khoản
nợ của từng ĐTNT Xác định nguyên nhân, tình trạng nợ của ĐTNT Từ đó có
Trang 36Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
biện pháp thu nợ phù hợp, hiệu quả; sử dụng một cách có hiệu quả các biện pháp thu nợ thuế với nguồn lực ít nhất thu được số nợ nhiều nhất cho NSNN
Quá trình quản lý nộp thuế diễn ra theo trình tự như sau:
- Tiến hành theo dõi quá trình chấp hành nghĩa vụ nộp thuế của DN;
- Tiếp nhận chứng từ nộp thuế của DN và tiến hành xóa nợ thuế cho DN trên hệ thống mạng quản lý nợ thuế;
- Tiến hành tính phạt chậm nộp thuế nếu DN nộp trể hạn so với thời hạn đã qui định trong các văn bản luật;
- Nếu DN cố tình chây ỳ không nộp thuế đúng thời hạn được qui định trong luật thì tiến hành cưỡng chế thuế của DN;
- Sử dụng các biện pháp đốc thu thu hồi nợ đọng thuế như phối hợp với các
cơ quan ban ngành Công an, Tòa án, các sở ban ngành…
Tại Việt Nam, có rất nhiều loại hình kinh doanh xuất nhập khẩu Mỗi loại hình nhập khẩu đều có những đặc thù riêng cho nên việc quản lý nộp thuế, theo dõi nợ thuế và cưỡng chế thuế đã có những chính sách quản lý thuế riêng Ví dụ như đối với loại hình nhập nguyên liệu để sản xuất hàng xuất khẩu thì để khuyến khích và thu hút đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực này, chính sách thuế đã có những
ưu đãi đặc biệt như thời gian được phép nộp thuế là 275 ngày, DN tạm nộp thuế hàng hóa nhập khẩu phần nguyên liệu vào tài khoản của Hải quan, sau đó DN sẽ được hoàn thuế hàng hóa nhập khẩu nếu DN có sản phẩm được xuất ra
Tùy theo đặc điểm của từng loại hình hàng hoá mà có cách thức quản lý riêng:
- Hàng kinh doanh theo hợp đồng mua bán: là loại hàng hoá được nhập khẩu
theo hợp đồng thương mại ký kết giữa người mua và người bán, theo đó người mua phải làm nghĩa vụ nộp thuế hàng hóa nhập khẩu cho lô hàng đó Do đó, đối tượng kinh doanh loại hàng hóa này phải chịu toàn bộ thuế hàng hóa nhập khẩu, thuế GTGT, thuế TTĐB( nếu có) Để ĐTNT chủ động trong hoạt động kinh doanh của mình, chính sách thuế cho phép loại hình này được ân hạn thuế trong vòng 30 ngày
kể từ ngày
ĐTNT kê khai tính thuế với điều kiện ĐTNT có quá trình chấp hành tốt pháp luật Hải quan, thường là 365 ngày trước đó Nếu hàng hoá là hàng tiêu dùng thì phải nộp thuế ngay trước khi giải phóng hàng Sau thời gian trên nếu DN chưa đóng thuế thì cơ quan Hải quan sẽ tiến hành tính phạt chậm nộp thuế với
Trang 37Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
mức phạt là 0.05%/ngày/tổng số thuế phải nộp Nếu quá 90 ngày tính từ ngày hết hạn nộp thuế nhưng DN vẫn cố tình chây ỳ không nộp thuế thì cơ quan HQ tiến hành cưỡng chế không cho làm thủ tục các lô hàng tiếp theo của DN này và tiến hành đưa DN này vào tiêu chí theo dõi, đôn đốc nợ thuế thường xuyên Nếu xét thấy cần thiết cơ quan Hải quan sẽ phối hợp với các ban ngành chức năng như Công an… để thu hồi nợ
- Hàng hoá tạm nhập, tái xuất: là loại hàng hóa tạm nhập vào lãnh thổ Việt
Nam trong một thời gian nhất định nào đó sau đó sẽ được tái xuất Vì loại hàng chỉ tạm nhập vào lãnh thổ Việt Nam nên cơ quan Hải quan không tiến hành thu thuế, tuy nhiên thời gian được phép lưu lại Việt Nam tối đa chỉ có 90 ngày, quá thời hạn 90 ngày cơ quan Hải quan sẽ tiến hành thu thuế Thời hạn ân hạn thuế là 15 ngày kể từ ngày hết hạn tạm nhập tái xuất hoặc tạm xuất tái nhập theo qui định của cơ quan có thẫm quyền Nếu quá thời hạn nêu trên thì cơ quan HQ sẽ áp dụng các biện pháp tính phạt, cưỡng chế và thu hồi nợ đọng như đối với hàng kinh doanh theo hợp đồng mua bán
- Hàng là nguyên liệu nhập để sản xuất hàng xuất khẩu: là loại hình nhập
khẩu nguyên liệu về để sản xuất ra sản phẩm xuất khẩu Trong phương thức này người mua và người bán hoàn toàn độc lập nhau Chủ trương của Đảng và nhà nước đối với loại hình NSXXK là khuyến khích xuất khẩu, thực hiện chính sách
ưu đãi thuế đối với nguyên vật liệu nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu nhằm tạo công ăn việc làm, khai thác nguồn lực trong nước, tranh thủ vốn, khoa học nước ngoài… nên thời gian ân hạn thuế của loại hình này là 275 ngày Số thuế này sẽ không thu khi nguyên vật liệu được đưa vào sản xuất sản phẩm và sản phẩm
đã thực xuất khẩu trong thời gian ân hạn thuế hoặc được hoàn thuế khi sản phẩm thực xuất khẩu ngoài thời gian ân hạn thuế Tuy nhiên nếu DN không xuất khẩu được sản phẩm trong thời gian ân hạn thuế thì vẫn phải chịu tính phạt, cưỡng chế
và thu hồi nợ đọng như đối với hàng kinh doanh theo hợp đồng mua bán
c Hoàn, miễn, giảm thuế
Nhằm khuyến khích, thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào các lĩnh vực, ngành nghề nước ta còn yếu kém so với các nước trong khu vực đồng thời nhằm bảo đảm an sinh xã hội nên nhà nước ta đã chủ trương miễn, giảm, hoàn rất nhiều đối tượng tham gia hoạt động xuất nhập khẩu Đây là một chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước trong điều kiện các Doanh nghiệp trong nước chưa thật sự đủ mạnh để cạnh tranh với
Trang 38Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
các DN nước ngoài Tuy thật sự không phải là bảo hộ nhưng đây là bước chuẩn bị lực cho các DN trong nước khi bước vào Tổ chức thương mại thế giới WTO
d Thanh tra thuế, giải quyết khiếu nại về thuế
Mục tiêu: Ngoài việc khuyến khích ĐTNT tuân thủ tự nguyện và hỗ trợ ĐTNT trong việc kê khai thuế, cơ quan Hải quan phải nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra nhằm ngăn ngừa, phát hiện và xử lý kịp thời các trường hợp vi phạm pháp luật thuế
Trên cơ sở phân tích thông tin, dữ liệu liên quan đến người nộp thuế, đánh giá việc chấp hành pháp luật của người nộp thuế, xác minh và thu thập chứng cứ
để xác định hành vi vi phạm pháp luật về thuế Căn cứ vào kết quả kiểm tra, thanh tra thuế, thủ trưởng cơ quan Hải quan ra quyết định xử lý về thuế, xử phạt vi phạm hành chính theo thẫm quyền hoặc đề nghị người có thẫm quyền ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế
Trường hợp kiểm tra, thanh tra thuế mà phát hiện hành vi trốn thuế có dấu hiệu tội phạm thì trong mười ngày làm việc, kể từ ngày phát hiện cơ quan Hải quan chuyển hồ sơ cho cơ quan có thẫm quyền để điều tra theo qui định của pháp luật tố tụng hình sự Cơ quan Hải quan có trách nhiệm phối hợp với cơ quan điều tra trong việc thực hiện điều tra tội phạm về thuế theo qui định của pháp luật
Các qui định xử lý với ĐTNT phải phù hợp với thông lệ quốc tế và bảo đảm các nguyên tắc tôn trọng sự tuân thủ tự nguyện ĐTNT và xử lý một cách công bằng
Trong trường hợp ĐTNT không đồng ý với các quyết định của cơ quan Hải quan thì có quyền khiếu nại Thẩm quyền, thủ tục, thời hạn giải quyết khiếu nại, tố cáo được thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thuế hàng hóa nhập khẩu
1.4.1 Các nhân tố chủ quan
1.4.1.1 Các yếu tố thuộc về năng lực con người
Con người luôn là yếu tố quan trọng trong tất cả các lĩnh vực Con người phát minh ra máy móc, đồng thời chỉ có con người mới điều hành được máy móc
đó Nếu không có con người tác động thì không có máy móc nào có thể hoạt động được Trong quản lý thuế hàng hóa nhập khẩu, con người đóng vai trò quan trọng quyết định đến thành công hay thất bại của các hoạt động quản lý thuế Các cán bộ thực hiện công tác quản lý thu thuế hàng hóa nhập khẩu là những người có trình độ
Trang 39Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
chuyên môn cao, có trình độ nghiệp vụ, thành thạo các kỷ thuật Bên cạnh đó, các cán bộ quản lý thu thuế nắm bắt nhanh các quy định mới và có trình độ ngoại ngữ tốt nên thực hiện nhanh gọn các nghiệp vụ thu thuế hàng hóa nhập khẩu, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp khi kê khai và nộp thuế hàng hóa nhập khẩu Hàng năm, các lớp tập huấn về các quy định mới trong công tác quản lý thu thuế được triển khai, giúp cán bộ nhân viên nâng cao nghiệp vụ kỹ thuật
Cơ chế thị trường tồn tại với những quy luật rất khắt khe Con người ngày càng tìm kiếm, phát minh ra những máy móc, trang thiết bị hiện đại giúp con người trong những hoạt động hàng ngày Mặt khác, con người cũng không ngừng nâng cao kiến thức của mình để có thể bắt kịp với những yêu cầu mới trong thời kinh tế thị trường Trong lĩnh vực quản lý thu thuế hàng hóa nhập khẩu, cán bộ công nhân viên luôn phải tìm tòi những cách thức mới để triển khai nhanh các thủ tục hành chính, đồng thời phải luôn coi trọng việc tìm kiếm những công cụ mới nhằm phát hiện và ngăn chặn hiện tượng gian lận thuế hàng hóa nhập khẩu
Như vậy, trong lĩnh vực nào thì yếu tố con người đóng vai trò cực kỳ quan trọng Con người quyết định đến sự thành công hay thất bại của các hoạt động Đế công tác quản lý thu thuế hàng hóa nhập khẩu được diễn ra nhanh gọn, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp kinh doanh hàng hoá nhập khẩu thì phải kể đến những đóng góp to lớn của cán bộ công nhân viên ngày đêm tận tuỵ với nghề, đồng thời đảm bảo cho hoạt động thu thuế hàng hóa nhập khẩu được hoàn thành chỉ tiêu đề ra
1.4.1.2 Các yếu tố thuộc về mục tiêu hoạt động
Mục tiêu là cái đích mà doanh nghiệp hay tổ chức mong muốn và cố gắng thực hiện được Dựa vào mục tiêu mà mọi thành viên trong doanh nghiệp, cơ quan,
tổ chức nổ lực lao động để làm việc và đạt được mục tiêu đề ra
Mục tiêu đề ra của công tác quản lý thu thuế hàng hóa nhập khẩu là hoàn thành chỉ tiêu thu thuế do cơ quan cấp trên giao và phấn đấu vượt chỉ tiêu đề ra Trong giai đoạn 2012 - 2010, các mục tiêu cụ thể mà công tác quản lý thu thuế cần đạt được như sau
Một là, cải cách hiện đại hoá và hội nhập, tập trung khai thác hệ thống tin học,
thực hiện khai báo điện tử, khai báo từ xa qua Internet Thực hiện các quy trình thủ tục hải quan được sửa đổi theo các chuẩn mực cam kết WTO, đặc biệt qui trình thủ
Trang 40Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
tục quản lý hàng hoá, hành khách xuất nhập cảnh, chuyển phát nhanh Trong giai đoạn này, tập trung phấn đấu áp dụng công nghệ thông tin trong chỉ đạo điều hành và thông quan điện tử, phấn đấu 100% hàng hoá xuất nhập khẩu sẻ được áp dụng thông quan khai báo điện tử hoặc khai báo từ xa qua Internet
Hai là, tập trung thực hiện hoàn thành và vượt chỉ tiêu thu thuế Thực hiện
quyết liệt các giải pháp trong công tác thu đòi nợ đọng thuế để hoàn thành chỉ tiêu thu nộp ngân sách được giao, tập trung phân tích, xử lý tình hình thu đòi nợ đọng Nâng cao chất lượng công tác Kiểm tra sau thông quan, tăng cường hơn nữa công tác theo dõi, cập nhật thông tin và phân loại doanh nghiệp để cung cấp thông tin cho các đơn vị thành viên
Ba là, triển khai thực hiện chủ trương chấn chỉnh kỷ cương, kỷ luật hành
chính Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, triển khai thực hiện nghiêm túc các quy định của lãnh đạo, kiên quyết xử lý các trường hợp gây phiền ha, sách nhiễu tiêu cực nhằng tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, đầu
tư, du lịch Xây dựng Qui chế trách nhiệm của người đứng đầu gắn với toàn bộ hoạt động của đơn vị, trên cơ sở phân định rõ chức trách công việc cụ thể của lãnh đạo các cấp đến từng công chức thực thi nhiệm vụ Triển khai thực hiện việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001 - 2000 tại một số đơn vị Chủ động phối hợp nắm bắt tình hình với các cơ quan chức năng và doanh nghiệp trên địa bàn quản lý, tuyên truyền, giới thiệu các văn bản pháp luật, trao đổi, đào tạo hướng dẫn doanh nghiệp cùng tuân thủ các văn bản pháp luật hải quan
Bốn là, nâng cao hiệu quả, tăng cường công tác tự kiểm tra Tổ chức và triển
khai thực hiện Đề án đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả công tác tự kiểm tra, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, tăng cường thực hiện kiểm tra công vụ tại các đơn vị
Năm là, công tác đào tạo cán bộ theo hướng chuyên nghiệp, chuyên sâu, đáp
ứng yêu cầu hội nhập và hiện đại hoá Xây dựng tiêu chí chuẩn mực tạo môi trường làm việc văn hoá Đổi mới phương pháp đào tạo theo hướng chuyên thiết thực, khả thi, chú trọng bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức trẻ có trình độ chuyên môn sâu trong một số lĩnh vực quản lý hải quan, nâng cao kiến thức và kỹ năng quản lý điều hành của đội ngũ lãnh đạo, xây dựng và sử dụng tốt đội ngũ giáo viên kiêm chức phục vụ công tác đào tạo tại chỗ của đơn vị trên từng lĩnh vực chuyên môn
1.4.1.3 Yếu tố cơ sở vật chất