1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu tình hình nhiễm, đặc điểm bệnh lý, lâm sàng bệnh do đơn bào leucocytozoo ngây ra ở gà tại huyện phú bình – tỉnh thái nguyên và thử nghiệm quy trình phòng trị bệnh cho gà

76 334 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 5,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Leucocytozoon thuộc nhóm nguyên sinh động vật, thuộc bộ huyết bào tử trùng Heamosporidia ký sinh trong máu và cơ quan nội tạng của nhiều loài gia cầm, trong đó gà là loài mẫn cảm nhất,

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

TRẦN VĂN SƠN

Tên đề tài :

“NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH NHIỄM, ĐẶC ĐIỂM BỆNH LÝ, LÂM SÀNG

BỆNH DO ĐƠN BÀO LEUCOCYTOZOON GÂY RA Ở GÀ

TẠI HUYỆN PHÚ BÌNH – TỈNH THÁI NGUYÊN VÀ THỬ NGHIỆM

Thái Nguyên, 2013

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

TRẦN VĂN SƠN

Tên đề tài :

“NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH NHIỄM, ĐẶC ĐIỂM BỆNH LÝ, LÂM SÀNG

BỆNH DO ĐƠN BÀO LEUCOCYTOZOON GÂY RA Ở GÀ

TẠI HUYỆN PHÚ BÌNH – TỈNH THÁI NGUYÊN VÀ THỬ NGHIỆM

Bộ môn : Bệnh động vật, Khoa CNTY

trường ĐHNL Thái Nguyên

Khóa học : 2009 - 2014 Giảng viên hướng dẫn : Th.S Đỗ Thị Lan Phương

Thái Nguyên, 2013

Trang 3

Sau 4 năm học tập tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và 6 tháng thực tập, với nỗ lực của bản thân, em đã nhận được sự giúp đỡ và hướng dẫn tận tình của nhiều cá nhân và tập thể Đến nay khóa luận của em

đã hoàn thành

Nhân dịp này, cho phép em được bày tỏ lòng biết ơn và cảm ơn chân

thành tới cô giáo hướng dẫn ThS Đỗ Thị Lan Phương, cô giáo GSTS

Nguyễn Thị Kim Lan, ThS Dương Thị Hồng Duyên và các thầy cô trong

khoa Chăn nuôi Thú y đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này

Em xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới Ban giám hiệu, ban chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã giúp đỡ tạo điều kiện cho em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường

Em xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ to lớn về cở sở vật chất của khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Em xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của cán bộ trạm thú y huyện Phú Bình, cán bộ các xã: Điềm Thụy, Thượng Đình, Xuân Phương, Nhã Lộng và nhân dân huyện Phú Bình - tỉnh Thái Nguyên đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Trong suốt quá trình thực hiện đề tài em cũng nhận được sự quan tâm động viên sâu sắc của gia đình và bạn bè

Em xin chân thành cảm ơn mọi sự giúp đỡ quý báu đó

Thái Nguyên, tháng 11 năm 2013

Sinh viên thực hiện

Trần Văn Sơn

Trang 4

thực tiễn sản xuất", thực tập tốt nghiệp là giai đoạn cuối cùng của chương trình đào tạo ở các trường Đại học nói chung và trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên nói riêng Giai đoạn thực tập đóng vai trò rất quan trọng đối với mỗi sinh viên trước khi ra trường Đây là khoảng thời gian để sinh viên củng

cố và hệ thống hóa những kiến thức đã học, đồng thời làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học và tiếp cận thực tiễn sản xuất Qua đó, giúp sinh viên nâng cao lý luận chuyên môn và kinh nghiệm cho bản thân

Được sự nhất trí của Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban Chủ nhiệm khoa Chăn nuôi - Thú y, sự hướng dẫn tận tình của

cô giáo ThS Đỗ Thị Lan Phương và sự tiếp nhận của Trạm thú y huyện Phú

Bình, tôi đã tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu tình hình nhiễm, đặc

điểm bệnh lý, lâm sàng bệnh do đơn bào Leucocytozoon gây ra ở gà tại

huyện Phú Bình – tỉnh Thái Nguyên và thử nghiệm quy trình phòng trị

bệnh cho gà”

Do bước đầu làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học nên bản khóa luận này không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Tôi kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp để khóa luận của tôi hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn

Trang 5

Phần 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu đề tài 3

1.3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3

1.3.1 Ý nghĩa khoa học 3

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4

2.1.1 Đặc điểm của đơn bào Leucocytozoon ký sinh ở gà 4

2.1.2 Bệnh đơn bào Leucocytozoon ở gà 12

2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 22

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 22

2.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 23

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25

3.1 Đối tượng nghiên cứu 25

3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 25

3.3 Vật liệu nghiên cứu 25

3.4 Nội dung nghiên cứu 26

3.4.1 Tình hình nhiễm, đặc điểm bệnh lý, lâm sàng bệnh Leucocytozoon ở gà tại huyện Phú Bình – tỉnh Thái Nguyên 26

3.4.2 Nghiên cứu thử nghiệm quy trình phòng bệnh Leucocytozoon cho gà 26

3.5 Bố trí thí nghiệm và phương pháp nghiên cứu 27

Trang 6

3.5.2 Bố trí lấy mẫu và phương pháp xác định tỷ lệ, cường độ nhiễm

Leucocytozoon ở gà tại các địa phương 27

3.5.10 Thử nghiệm quy trình phòng bệnh Leucocytozon cho gà 29

3.6 Phương pháp xử lý số liệu 30

Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 31

4.1 Đặc điểm dịch tễ bệnh đơn bào Leucocytozoon ở gà tại huyện Phú Bình – tỉnh Thái Nguyên 31

4.1.1 Thực trạng công tác phòng chống bệnh đơn bào Leucocytozoon cho gà ở huyện Phú Bình – tỉnh Thái Nguyên 31

4.1.2 Tình hình nhiễm đơn bào đường máu Leucocytozoon ở gà 33

4.1.3 Triệu chứng lâm sàng bệnh Leucocytozoon ở gà tại huyện Phú Bình – tỉnh Thái Nguyên 38

4.1.4 Bệnh tích đại thể của gà bị bệnh đơn bào Leucocytozoon 40

4.1.5 Một số chỉ số máu của gà mắc bệnh Leucocytozoon 41

4.2 Nghiên cứu thử nghiệm và đề xuất quy trình phòng trừ tổng hợp bệnh Leucocytozoon cho gà 42

4.2.1 Nghiên cứu thử nghiệm quy trình phòng trừ tổng hợp bệnh Leucocytozoon cho gà 42

4.2.2 Đề xuất biện pháp phòng trừ tổng hợp bệnh Leucocytozoon cho gà 47

Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 49

5.1 Kết luận 49

5.2 Đề nghị 50

TÀI LIỆU THAM KHẢO 51

Trang 8

Bảng 4.1: Thực trạng công tác phòng chống bệnh Leucocytozoon cho gà

ở huyện Phú Bình - tỉnh Thái Nguyên 31

Bảng 4.2: Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon ở gà theo địa phương 34

Bảng 4.3: Tỷ lệ và các triệu chứng lâm sàng của gà mắc bệnh Leucocytozoon 38

Bảng 4.4: Bệnh tích đại thể của gà bị bệnh đơn bào Leucocytozoon 40

Bảng 4.5: Sự thay đổi một số chỉ số máu của gà bệnh so với gà khỏe 41

Bảng 4.6: So sánh công thức bạch cầu của gà khỏe và gà bệnh 41

Bảng 4.7 Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon của gà ở lô thí nghiệm và đối chứng sau 1 tháng thử nghiệm 42

Bảng 4.8 Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon của gà ở lô thí nghiệm và đối chứng sau 2 tháng thử nghiệm 43

Bảng 4.9 Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon của gà ở lô thí nghiệm và đối chứng sau 3 tháng thử nghiệm 45

Bảng 4.10 Khối lượng gà ở lô thí nghiệm và lô đối chứng trước và sau thử nghiệm 46

Trang 9

Hình 4.1 Tỷ lệ nhiễm đơn bào Leucocytozoon ở gà tại 4 xã thuộc

huyện Phú Bình 36 Hình 4.2 Cường độ nhiễm đơn bào Leucocytozoon ở gà tại 4 xã thuộc

huyện Phú Bình 37

Trang 10

Phần 1 MỞ ĐẦU

1.1 Đặt vấn đề

Ngành chăn nuôi nước ta ngày càng được mở rộng và nâng cao chiếm

một vị trí quan trọng hàng đầu trong nền kinh tế quốc dân

Hiện nay, ở hầu khắp các tỉnh thành trong cả nước đều có những trang trại chăn nuôi với quy mô lớn và áp dụng những kỹ thuật chăn nuôi tiên tiến hiện đại

Nghành chăn nuôi đã và đang ngày càng phát triển mạnh mẽ do mang lại lợi nhuận lớn Hàng năm cung cấp ra thị trường những sản phẩm có giá trị dinh dưỡng cao như thịt, trứng, sữa… Các sản phẩm này dễ chế biến, dễ ăn, ngon miệng, phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng ở mọi lứa tuổi

Đặc biệt, trong chăn nuôi gia cầm, hàng năm tạo ra một số lượng lớn nguồn thực phẩm, phục vụ cho bữa ăn hàng ngày của mỗi chúng ta, đáp ứng được đủ cho nhu cầu của người tiêu dùng và là mặt hàng xuất khẩu mang lại nguồn doanh thu lớn Chính vì vậy, chăn nuôi gia cầm ngày càng có những bước tiến vượt bậc về cả số lượng và chất lượng, đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của đất nước, góp phần xóa đói giảm nghèo cho người nông dân ở các địa phương

Tuy nhiên, dịch bệnh ngày càng phát sinh nhiều gây ra những hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế của người chăn nuôi nếu không có những biện pháp phòng và điều trị bệnh kịp thời Trong chăn nuôi gà hiện nay bệnh dịch xảy ra rất nhiều gây ảnh hưởng lớn tới sức khỏe của vật nuôi và thiệt hại về mặt kinh tế cho người chăn nuôi như bệnh Cúm gia cầm, bệnh Marek, bệnh Newcastle, Gumboro… Và đặc biệt trong những năm gần đây bệnh do ký sinh trùng cũng khá phổ biến, gây ra những hậu quả vô cùng đáng tiếc Chúng làm cho gà gầy yếu, chậm lớn, giảm sức sản xuất thịt, trứng

Trang 11

Cùng với đó Việt Nam là một nước nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới, có thảm thực vật và hệ động vật phong phú, đa dạng, thích hợp cho nhiều loài ký sinh trùng phát triển và gây bệnh Trong các bệnh ký sinh trùng ở gà,

có những bệnh do nhóm đơn bào ký sinh gây ra, chúng chiếm đoạt chất dinh dưỡng, tiết độc tố, gây ra những biến đổi bệnh lý làm cho gà gầy yếu, chậm lớn, giảm mạnh sức sản xuất thịt, trứng Đặc biệt, một số bệnh đơn bào cũng gây ra các “ổ dịch cấp tính”, làm cho gà chết nhanh với tỷ lệ cao không kém

các bệnh truyền nhiễm, trong đó có bệnh đơn bào đường máu Leucocytozoon

Leucocytozoon thuộc nhóm nguyên sinh động vật, thuộc bộ huyết bào

tử trùng (Heamosporidia) ký sinh trong máu và cơ quan nội tạng của nhiều

loài gia cầm, trong đó gà là loài mẫn cảm nhất, đặc biệt là gà được nuôi theo phương thức chuồng hở

Bệnh do các loài đơn bào Leucocytozoon ký sinh trong hồng cầu (đôi khi

thấy trong bạch cầu), gây ra xuất huyết, tan vỡ hồng cầu, dẫn đến thiếu máu và ỉa chảy phân xanh màu lá cây, làm gà chết với tỷ lệ cao tới 30 - 50%

Trên địa bàn huyện Phú Bình – tỉnh Thái Nguyên gần đây, đàn gà tại một

số hộ chăn nuôi xuất hiện các triệu chứng như ỉa phân xanh, mặt tái, gà thiếu máu, gầy yếu, chậm lớn Khi mổ khám thấy chất chứa trong diều, dạ dày, ruột

có màu xanh, gan sưng to, lách sưng và xuất huyết, cơ đùi xuất huyết Câu hỏi

được đặt ra là đàn gà đó mắc bệnh có phải là do đơn bào Leucocytozoon gây

ra hay không?

Vì vậy, việc nghiên cứu xác định sự tồn tại và gây bệnh của đơn bào

Leucocytozoon trên đàn gà để có những biện pháp phòng trị có hiệu quả là vô

cùng cần thiết Xuất phát từ nhu cầu cấp bách đó chúng tôi tiến hành thực

hiện đề tài: “Nghiên cứu tình hình nhiễm, đặc điểm bệnh lý, lâm sàng

bệnh do đơn bào Leucocytozoon gây ra ở gà tại huyện Phú Bình – tỉnh

Thái Nguyên và thử nghiệm quy trình phòng trị bệnh cho gà”

Trang 12

1.2 Mục tiêu đề tài

- Xác định được đặc điểm dịch tễ bệnh do Leucocytozoon gây ra ở đàn

gà của một số địa phương thuộc huyện Phú Bình – tỉnh Thái Nguyên

- Xác định được đặc điểm bệnh lý, lâm sàng bệnh do đơn bào

Leucocytozoon gây ra trên gà ở huyện Phú Bình – tỉnh Thái Nguyên

- Xây dựng quy trình phòng, trị, góp phần hạn chế những thiệt hại do

bệnh Leucocytozoon gây ra cho đàn gà ở huyện Phú Bình – tỉnh Thái Nguyên

nói riêng và các tỉnh Trung du miền núi phía Bắc nói chung

1.3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

1.3.1 Ý nghĩa khoa học

Nghiên cứu đề tài để có những thông tin khoa học về đặc điểm dịch tễ,

bệnh lý, lâm sàng của bệnh do đơn bào Leucocytozoon gây ra ở gà tại huyện

Phú Bình – tỉnh Thái Nguyên, đồng thời có cơ sở khoa học để xây dựng quy

trình phòng trị bệnh đơn bào Leucocytozoon cho gà đạt hiệu quả cao nhất

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả đề tài là cơ sở để người chăn nuôi gà biết áp dụng những quy

trình phòng trị bệnh đơn bào Leucocytozoon vào trong chăn nuôi gà Nhằm mục đích hạn chế tỷ lệ nhiễm Leucocytozoon cho gà, cách nhận biết bệnh để

có những biện pháp điều trị kịp thời, hạn chế thiệt hại do bệnh gây ra, đồng thời thúc đẩy nghành chăn nuôi gà ngày càng phát triển mạnh hơn nữa

Trang 13

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài

Ký sinh trùng là những sinh vật sinh trưởng và phát triển trong hoặc trên cơ thể một sinh vật khác - gọi là ký chủ, chiếm đoạt chất dinh dưỡng của

ký chủ mà nó ký sinh Trong phân loại học, dựa theo cấu trúc cơ thể của ký sinh trùng mà người ta chia những ký sinh trùng động vật ra làm 3 ngành: nguyên trùng, giun sán và tiết túc Trong đó, nguyên trùng là ký sinh trùng

đơn bào (protozoa), cơ thể chỉ gồm một tế bào, thường ký sinh trong máu (Trypanosoma, Histomonas, Leucocytozoon…) hoặc trong ruột ký chủ (cầu

trùng) (Dương Công Thuận, 1995) [27]

Bệnh do đơn bào Leucocytozoon gây ra có ở nhiều nước trên thế giới

Tỷ lệ lưu hành Leucocytozoon trên đàn gà ở một số nước Châu Á khá cao: ở

Trung Quốc (7,1%), Thái Lan (13 - 18%), Malaysia (15 - 31%)

Leucocytozoon ký sinh trong hồng cầu gà, đôi khi ký sinh trong bạch cầu (tùy

theo loài), làm tan vỡ hồng cầu, gây bần huyết và gây chết gà với tỷ lệ cao, ảnh hưởng đến thu nhập của người chăn nuôi gà Bệnh cũng được phát hiện ở nhiều loài chim hoang dã

2.1.1 Đặc điểm của đơn bào Leucocytozoon ký sinh ở gà

2.1.1.1 Vị trí của đơn bào Leucocytozoon trong hệ thống phân loại động vật

Đơn bào nói chung là những nguyên sinh động vật không có khí quan di động, thân thể khi thì trần và có thể biến dạng được, khi thì có màng bọc và có hình dạng nhất định Đơn bào sống ký sinh ở các tế bào, các mô hay dịch thể, có thể suốt đời hoặc những giai đoạn đầu của nó Chúng tự nuôi dưỡng bằng cách thẩm thấu dinh dưỡng chiếm đoạt của ký chủ qua bề mặt cơ thể

Trang 14

Các loài đơn bào thuộc giống Leucocytozoon ký sinh trong máu của

nhiều loài gia cầm, thủy cầm, chim và nhiều loài chim hoang dã Gà là vật

chủ cảm thụ đơn bào Leucocytozoon mạnh nhất Bệnh được Ziemann phát

hiện lần đầu tiên vào năm 1898 Từ đó đến nay, trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về bệnh

Theo Levine N D (1985) [34], Leucocytozoon gây bệnh cho gà có vị

trí trong hệ thống phân loại như sau:

Loài Leucocytozoon caullergyi (Mathis et Leger, 1909)

Leucocytozoon sabrazeis (Mathis et Leger, 1910) Leucocytozoon simondi (Mathis et Leger, 1910) Leucocytozoon smithi (Laveran et Lucet, 1905) Leucocytozoon andrewsi (Atchley, 1951) Leucocytozoon schufneri (Prowazek, 1912) Leucocytozoon schoutedeni (Rodham Pons et Bequaert, 1913) Đến nay, các nhà khoa học đã phát hiện được 107 loài Leucocytozoon spp

ký sinh và gây bệnh cho gà, gà tây, vịt, ngỗng và nhiều loài chim hoang dã

2.1.1.2 Đặc điểm hình thái các loài Leucocytozoon ở gà

Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [9]; Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [12], cơ thể đơn bào thường do một tế bào rất nhỏ cấu thành, tổ chức của đơn bào gồm màng tế bào, chất nguyên sinh, hạt hoặc nhân tế bào

Đơn bào Leucocytozoon ký sinh ở hồng cầu, bạch cầu, các nội tạng của

gà và các loài chim ở hai dạng: dạng tiểu thể hình dùi trống, hoặc hình thoi

Trang 15

nhọn hai đầu với kích thước từ 15 - 20 µm; dạng bào tử hình trứng với kích thước từ 20 - 25 µm

Phạm Sỹ Lăng và cs (2005) [14] cho rằng: trong quá trình phát triển ở

ký chủ cũng như ở véc tơ trung gian truyền bệnh, các loài Leucocytozoon có

nhiều hình dạng khác nhau Kích thước của chúng thay đổi tuỳ thuộc dạng và

loài đơn bào Leucocytozoon

- Dạng bào tử (Sporozoite): hình thuẫn, hình elíp nhọn 2 đầu, kích

thước 10 - 15 µm Thể này thấy ở tuyến nước bọt của dĩn (vector trung gian truyền bệnh)

- Dạng tiểu thể (Merozoite): hình tròn hoặc hình trứng, kích thước

15 - 20 µ m

- Dạng giao tử (Schizont): hình elíp, thon nhỏ 2 đầu, kích thước 20 - 45 µm

- Dạng đại giao tử (Macrogametocyte): hình đa giác hoặc gần tròn, kích

thước 350 - 400 µm

- Dạng tiểu phối tử (Microgametocyte): hình thuẫn hoặc hình trứng,

kích thước 20 - 25 µm

Theo Phạm Sỹ Lăng và Tô Long Thành (2006) [15]; Phạm Sỹ Lăng và

cs (2008) [15], hai loài L caullergyi và L sabrazeis có hình dạng gần giống

nhau, chỉ khác về tính chất gây bệnh Chúng có dạng hình cầu, hình bầu dục, hình lưỡi liềm; kích thước 20 x 5 µm, không có sắc tố khi nhuộm Giemsa, ký sinh ở hồng cầu của gà, gà rừng

2.1.1.3 Vòng đời của Leucocytozoon ở gà

Phạm Sỹ Lăng và cs (2005) [14] cho biết: các loài Leucocytozoon có

vòng đời rất phức tạp, cần vector trung gian truyền bệnh là các loài dĩn thuộc

giống Simulium spp và Culicoides spp Tùy đặc điểm thời tiết, khí hậu của

từng vùng sinh thái khác nhau mà thành phần loài dĩn cũng thay đổi

Sau khi mầm bệnh xâm nhập vào dĩn do dĩn hút máu gà bệnh, các tiểu

thể (Merozoite) phát triển qua một số giai đoạn ở vách dạ dày của dĩn thành

Trang 16

noãn nang và cuối cùng thành thể bào tử (Sporozoite) Thể bào tử chuyển lên

tuyến nước bọt của dĩn sau thời gian phát triển khoảng 25 ngày Khi dĩn hút máu các loài vật chủ (gà, các loài gia cầm khác và chim hoang dã) sẽ truyền mầm bệnh vào máu của vật chủ

Các bào tử từ máu xâm nhập vào các tế bào nội quan như: gan, lách,

phổi, thận, tổ chức cơ để trở thành giao tử (Schizont) Các giao tử vào hồng cầu phát triển thành tiểu thể (Merozoite), giao tử thể (Gametocyte), đại giao tử (Marcrogametocyte) và tiểu giao tử (Mircrogametocyte)

Khi dĩn hút máu gia cầm bệnh, vào cơ thể dĩn, các tiểu thể lại phát triển

thành noãn nang (Oocyste), rồi bào tử (Sporozoite) trong vách dạ dày dĩn và

vòng đời lại được lặp lại

Tác giả Lê Đức Quyết [23] cho biết, vòng đời của Leucocytozoon bao

gồm các giai đoạn như sau:

* Giai đoạn ở tế bào chủ:

Gia cầm bị dĩn - ký chủ trung gian truyền bệnh đốt và truyền mầm bệnh

(các bào tử Sporozoite) vào cơ thể Khi vào cơ thể gia cầm, mầm bệnh theo

máu tới gan, lách, thận, não… Tại đây, chúng xâm nhập vào các tế bào của ký chủ và bắt đầu sinh sản vô tính bằng hình thức liệt phân, kết quả từ 1

Sporozoit đã tạo ra một lượng lớn Merozoite Chính những Merozoite e này

mới có khả năng xâm nhập vào máu và ký sinh ở hồng cầu (quá trình này mất

4 - 6 ngày hoặc kéo dài hơn tùy loài)

Quá trình sinh sản của đơn bào ở trong tế bào gan của vật chủ không có

chu kỳ nhất định Sau khi phát triển ở gan, tất cả các Merozoite đều vào máu

* Giai đoạn ở trong hồng cầu:

Giai đoạn này tạo thể tự dưỡng và thể phân liệt trong đó có thể mang giới tính (giao tử đực và giao tử cái) Giai đoạn ở trong hồng cầu bắt đầu từ

Trang 17

khi các Merozoite từ gan vào máu, tiếp cận với bề mặt hồng cầu có những thụ thể Receptor tương ứng và xâm nhập vào hồng cầu qua 5 giai đoạn:

- Nhận diện và gắn bám

- Hình thành điểm tiếp giáp

- Tạo nên màng không bào liên tiếp màng hồng cầu

- Lọt vào màng không bào qua điểm tiếp nối chuyển động

- Hồng cầu hàn kín sau khi Merozoite lọt vào

Sau khi lọt vào trong hồng cầu, Merozoite hình thành không bào và

phát triển trong hồng cầu theo kiểu có chu kỳ, qua các thể:

Thể tự dưỡng (Trophozoite): gồm thể Trophozoite non (thể nhẫn), thể Trophozoite phát triển (thể amip) và thể Trophozoite già

Thể phân liệt (Schizont) gồm: Schizont non và Schizont già

Sau khi kết thúc một chu kỳ phát triển, các Merozoite trong Schizont

phá vỡ hồng cầu vào máu, một số bị thực bào hoặc chết, một số xâm nhiễm vào hồng cầu khác và tiếp tục phát triển theo chu kỳ tương tự

Sau một số chu kỳ, có những Merozoite tiếp tục xâm nhập vào hồng cầu, nhưng không tạo thành các thể Merozoite nữa mà phát triển thành thể có giới tính: Gametocyte (Macrogametocyte - giao tử cái và Microgametocyte -

giao tử đực) Sau đó giao tử đực và giao tử cái kết hợp với nhau tạo thành hợp

tử (Zygote), gây phá vỡ hồng cầu và di chuyển trong máu

Khi ký chủ trung gian là dĩn hút máu gia cầm, mầm bệnh sẽ vào ký chủ trung gian và tiếp tục vòng đời

Trong ký chủ trung gian, hợp tử nở ra và phát triển thành dạng trưởng thành (thoi trùng) Chúng di chuyển lên tuyến nước bọt của dĩn và cư trú ở đó

Khi dĩn hút máu gia cầm, các thoi trùng theo tuyến nước bọt vào máu của gia cầm và bắt đầu vòng đời mới

Trang 18

Sơ đồ minh họa vòng đời Leucocytozoon ở gà

Sơ đồ chu kỳ phát triển sinh học của Leucocytozoon

Tuy nhiên, Lê Văn Năm (2011) [21] lại cho rằng: chu kỳ phát triển sinh

học của Leucocytozoon gồm 2 giai đoạn chính Giai đoạn thứ nhất là giai

đoạn phát triển trong cơ thể ký chủ trung gian truyền bệnh và giai đoạn hai là giai đoạn phát triển trong cơ thể vật chủ:

* Giai đoạn phát triển trong cơ thể ký chủ trung gian truyền bệnh (dĩn)

Đây là giai đoạn hình thành bào tử nang (Sporogony), giai đoạn này kết thúc

Trang 19

trong vòng 3 - 4 ngày Vì trong máu của gia cầm bệnh đã có sẵn giao tử đực

và giao tử cái, hoặc hợp tử của Leucocytozoon, nên ngay sau khi hút máu gia

cầm bệnh, các tế bào máu chứa mầm bệnh bị dịch tiêu hóa của ký chủ trung gian (dĩn) làm tan vỡ và giải phóng ra các giao tử và các hợp tử Chúng nhanh chóng bám vào thành dạ dày và chui vào các tế bào niêm mạc dạ dày, ruột của

dĩn Ở đó chúng bắt đầu phát triển thành bào tử nang (Oocyst) Toàn bộ quá

trình này chỉ diễn ra trong vòng 12 giờ kể từ thời điểm dĩn hút máu gia cầm bệnh lần cuối

Trong mỗi bào tử nang bắt đầu có quá trình sinh trưởng và phát triển

thành 4 thoi trùng (Sporozoite) Các thoi trùng này nhanh chóng lớn lên và di

hành đến cư trú trong tuyến nước bọt của ký chủ trung gian truyền bệnh Chỉ

có các thoi trùng này mới có khả năng truyền bệnh Ký chủ trung gian truyền bệnh cho gia cầm thụ cảm thông qua việc hút máu của gia cầm bệnh, sau đó hút máu của gia cầm khỏe và truyền nước bọt kèm theo thoi trùng gây bệnh vào cơ thể gia cầm khỏe Như vậy, kể từ khi dĩn hút máu gia cầm bệnh lần cuối đến lúc có khả năng truyền bệnh phải mất 18 ngày

* Giai đoạn phát triển của Leucocytozoon trong cơ thể gia cầm thụ cảm

Ngay sau khi thoi trùng theo nước bọt của ký chủ trung gian truyền bệnh xâm nhập vào cơ thể gia cầm, chúng lột xác và hình thành nên các thể phân lập

trung gian (Merozoite), các thể phân lập trung gian này bám ngay vào các tế

bào máu và theo máu đi khắp cơ thể Từ đây, chúng phát triển theo hai hướng:

Hướng thứ nhất: Chúng chui vào và ký sinh trong các tế bào máu, sinh

trưởng và phát triển theo phương thức tự nhân đôi để tạo ra các thể phân lập

thế hệ 1 (Schizont - 1) Các Schizont thế hệ 1 này lớn lên nhanh chóng và tiết

ra một chất làm tan hồng cầu, chất đó được gọi là chất kháng hồng cầu (anti - erythrocyte) Dưới tác động cơ học của nhiều thể phân lập đã sinh ra trong mỗi hồng cầu, và dưới tác động của chất kháng hồng cầu, một số lượng lớn

Trang 20

hồng cầu bị phá vỡ và giải phóng ra nhiều thể phân lập thế hệ 1, đây là nguyên nhân chính dẫn đến thiếu máu, tăng Hemobilirubin, máu trở nên loãng, nhớt và khó đông Các thể phân lập thế hệ 1 lập tức tấn công và ký sinh tiếp vào các tế bào hồng cầu mới, chúng lớn lên và lại nhân đôi để hình thành

thể phân lập thế hệ 2 (Schizont - 2), cứ tiếp tục như vậy chúng hình thành thể phân lập thế hệ 3 (Schizont - 3) thì dừng lại và bắt đầu hình thành các giao tử (Gametocyte) Giao tử đực có kích thước nhỏ gọi là Microgametocyte và giao

tử cái có kích thước lớn hơn gọi là Macrogametocyte Kết thúc giai đoạn sinh

sản vô tính và bắt đầu giai đoạn sinh sản hữu tính

Giai đoạn sinh sản hữu tính xảy ra trong các tế bào hồng cầu Giao tử đực chui vào giao tử cái để thụ tinh và hình thành nên hợp tử Hợp tử được bọc bởi một màng và được gọi là bào tử, có kích thước trung bình 14,5 - 5,5

µm Sau đó, chúng phát triển thành các bào tử hình thoi, có kích thước lên đến

45 µm Chỉ có các thoi trùng này mới có khả năng lây truyền thông qua côn trùng hút máu gia cầm bệnh và truyền thoi trùng gây bệnh cho gia cầm khỏe

Hướng thứ hai: Sau khi các thoi trùng theo máu di hành khắp các nơi

trong cơ thể, một phần chúng cư trú tại các cơ quan như lách, thận, phổi, gan,

dạ dày tuyến, dạ dày cơ, ruột non, buồng trứng, ống dẫn trứng và não Tại đây, chúng lột xác và chui vào ký sinh trong các tế bào nội mô, tế bào lưới và đại thực bào của các cơ quan kể trên của gia cầm thụ cảm Trong các tế bào

đó chúng bắt đầu sinh trưởng, lớn lên và sinh sản theo phương thức tự nhân đôi, làm vỡ nát các tế bào của các cơ quan nội tạng ký chủ Sau đó chúng phát

triển và tạo nên thể phân lập cực đại gọi là Megaloschizont với kích thước lên

đến 400 µm và làm tắc nhiều mao mạch của các cơ quan ký chủ Để tiếp tục

phát triển, trong mỗi Megaloschizont hình thành nên 2 thể phân lập trung gian Merozoite, chúng lớn lên và rời khỏi Megaloschizont, rời khỏi tế bào của cơ

quan ký chủ, chui vào các tế bào máu để ký sinh và quá trình phát triển được

Trang 21

tiếp tục lặp lại như hướng thứ nhất - kết thúc giai đoạn sinh sản vô tính trong các tế bào nội mô ở các cơ quan nội tạng của gia cầm thụ cảm

2.1.2 Bệnh đơn bào Leucocytozoon ở gà

2.1.2.1 Những thiệt hại kinh tế do bệnh Leucocytozoon gây ra

Bệnh đơn bào Leucocytozoon ở gà không gây thành ổ dịch lớn nguy

hiểm, ít làm cho gà chết đột ngột và chết hàng loạt (trừ trường hợp đặc biệt) Song, đơn bào này đã gây tác hại nghiêm trọng, làm cho sự sinh trưởng và phát triển của gà bị ngừng trệ, cơ thể gầy còm, thiếu máu, khả năng tăng trọng giảm, số lượng và chất lượng của thịt, trứng giảm, dẫn đến năng suất chăn nuôi giảm thấp

Phạm Sỹ Lăng và cs (2005) [14] cho rằng: gà bị bệnh đơn bào

đường máu Leucocytozoon ở thể cấp tính có thể chết đột ngột do xuất

huyết các nội quan và thiếu máu cấp Gà mái giảm đẻ hoặc ngừng đẻ, kém

ăn, giảm tăng trọng và gầy yếu nhanh Gà mắc bệnh sẽ chết sau 3 - 6 ngày với tỷ lệ tới trên 50% số gà bị bệnh

Lê Văn Năm (2011) [21] cho biết: tại một số địa phương như Bắc Giang, Thái Nguyên, Bắc Ninh, Hải Dương, Vĩnh Phúc, bệnh đơn bào

Leucocytozoon xuất hiện ở hầu hết các đàn gà nuôi thả vườn với tỷ lệ dao

động từ 40 - 70%, gây thiệt hại vô cùng to lớn cho người chăn nuôi

2.1.2.2 Dịch tễ học bệnh Leucocytozoon ở gà

Lê Đức Quyết và cs (2009) [23] cho biết: tỷ lệ nhiễm Leucocytozoon

phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố như: tuổi gia cầm, giống, địa hình, vùng sinh thái, phương thức chăn nuôi…

Theo Lê Văn Năm (2011) [21], bệnh do Leucocytozoon gây ra có tính

chu kỳ rõ rệt, phụ thuộc vào mùa sinh sản và phát triển của côn trùng hút máu truyền bệnh

Trang 22

Loài gây bệnh và động vật mắc bệnh

Trong tự nhiên, gà, gà rừng, chim trĩ và các loài chim thuộc bộ gà

(Galliformes) đều có thể bị bệnh Bệnh từ gà nhà có thể truyền lây sang gà

rừng qua ký chủ trung gian và ngược lại

Phạm Sỹ Lăng và cs (2005) [14]; (2010) [18] cho rằng: có 4 loài đơn

bào giống Leucocytozoon chủ yếu ký sinh và gây bệnh cho gà:

* Leucocytozoon caulleryi (Mathis et Leger, 1909)

Loài này ký sinh và gây bệnh cho gà nhà, gà rừng ở các nước thuộc Đông và Đông Á: Nhật Bản, Malaysia, Thái Lan, Việt Nam, các bang thuộc khu vực Bắc Mỹ

Véc tơ truyền Leucocytozoon caulleryi cho gà là các loài dĩn thuộc giống Culicoides như: C arakava, C circumscriptus, C odibilis

* Leucocytozoon sabrazeis (Mathis et Leger, 1910)

Loài này ký sinh và gây bệnh cho gà và chim hoang dã ở các nước Đông Nam Á: Philippine, Thái Lan, Malaysia, Việt Nam

Véc tơ truyền Leucocytozoon sabrazeisc cho gà: các loài dĩn thuộc giống Culicoides spp và Simulium spp

* Leucocytozoon simondi (Mathis et Leger, 1910)

Leucocytozoon simondi ký sinh và gây bệnh cho vịt nhà và vịt trời,

ngỗng nhà và ngỗng trời, các loài thuỷ cầm nuôi và hoang dã ở Mỹ, Canada, các nước vùng Balkan và Việt Nam

Véc tơ truyền bệnh là: các loài dĩn Simulium spp

* Leucocytozoon smithi (Laveran et Lucet, 1905)

Loài này ký sinh ở gà tây tại các bang thuộc vùng Đông Mỹ (Bắc Dakota, Nebraska), CHLB Đức, các nước vùng Balkan

Véc tơ truyền Leucocytozoon smithi cho gà là các loài dĩn Simulium spp

Lương Văn Huấn và Lê Hữu Khương (1997) [5] cho biết loài

Leucocytozoon caullergyi có đặc điểm như sau: cơ thể đơn bào hơi tròn, kích

Trang 23

thước 15,0 - 15,5 µm Tế bào vật chủ cũng tròn, kích thước 20 µm Ở trong cơ

thể dĩn - véc tơ truyền Leucocytozoon, Zygote có dạng tròn đường kính 14µm,

sau đó kéo dài, kích thước 21µm, chúng xuyên qua vách ruột tạo thành

Oocyst hình gần tròn kích thước 4 - 14 x 5 - 14 µm Oocyst phát triển thành thoi trùng (Sporozoite) Các thoi trùng đến tuyến nước bọt của dĩn có kích

thước 7 - 11 x 1 - 2 µm

Tuổi mắc bệnh: Gà ở các lứa tuổi đều bị bệnh Tuổi gà càng cao tỷ lệ

và cường độ nhiễm bệnh càng tăng

Mùa vụ: Gà mắc bệnh ở tất cả các mùa trong năm, nhưng nhiễm nhiều

và nặng ở mùa Hè và mùa Xuân

Điều kiện vệ sinh thú y: điều kiện vệ sinh thú y đối với chuồng trại và

khu vực xung quanh chuồng trại, dụng cụ và môi trường chăn nuôi là một

trong những yếu tố có ảnh hưởng lớn tới khả năng nhiễm bệnh Leucocytozoon

của gà Điều này có liên quan mật thiết với sự tồn tại và phát triển của các loài dĩn hút máu - Véc tơ truyền bệnh

Yếu tố stress: các yếu tố strees như chuồng trại chật chội, khí hậu ẩm,

thấp, thức ăn kém dinh dưỡng đóng vai trò thúc đẩy mức độ và tốc độ lây

lan bệnh Leucocytozoon ở gà

2.1.2.3 Cơ chế sinh bệnh của bệnh Leucocytozoon

Bệnh lây truyền từ gà bệnh sang gà khoẻ qua đường máu nhờ vật chủ

trung gian là các loài dĩn thuộc họ Culicoides spp và Simulium spp Dĩn hút

máu của gà bệnh có đơn bào ký sinh trong máu Vào cơ thể dĩn, đơn bào phát triển qua 3 giai đoạn, cuối cùng thành bào tử nằm ở tuyến nước bọt của dĩn Khi dĩn mang mầm bệnh hút máu gà khoẻ, bào tử sẽ được truyền cho gà khoẻ

và gây bệnh cho gà

Các bào tử xâm nhập vào các tế bào nội quan như: gan, lách, phổi,

thận, tổ chức cơ để trở thành bào tử (Schizont); các bào tử vào hồng cầu phát

Trang 24

triển thành tiểu thể (Merozoite), giao tử thể (Gametocyte), đại giao tử (Marcrogametocyte) và tiểu giao tử (Mircrogametocyte) Chúng phát triển,

phá huỷ tế bào hồng cầu và gây hoại tử các cơ quan tổ chức, đặc biệt là lách

và gan Đồng thời chúng tiết ra chất antierythrocyte làm tan hồng cầu

2.1.2.4 Triệu chứng và bệnh tích bệnh Leucocytozoon

* Triệu chứng bệnh Leucocytozoon

Theo Viện Thú y Quốc gia (2001) [30]; (2002) [31], triệu chứng chủ

yếu của gà mắc bệnh do đơn bào Leucocytozoon gây ra là:

- Ho ra máu và chết đột ngột

- Thiếu máu, đặc biệt mào và tích do thiếu máu nên có màu tím tái

- Nhịp thở nhanh

- Phân có màu xanh lá cây

- Giảm sản lượng trứng và trứng có vỏ mỏng (với gà mái đẻ)

- Xuất huyết da chân

Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2009) [11] cho biết: Bệnh thường xảy ra thành dịch tại một số khu vực vùng núi và trung du thuộc các nước Đông Nam Á, nhất là vào mùa hè và mùa xuân, khi mà các loài dĩn - ký chủ trung gian phát triển và hoạt động mạnh

Thời gian ủ bệnh từ 4 - 7 ngày

Gà bệnh thể hiện các triệu chứng đặc trưng sau:

Thể cấp tính: gà ở lứa tuổi từ 1 - 3 tháng chết đột ngột do xuất huyết các nội tạng, hồng cầu tan vỡ hàng loạt, gây bần huyết cấp tính; ỉa chảy nặng, phân có màu xanh lá cây, thường có lẫn máu Gà mái đang đẻ

bị bệnh sẽ giảm đẻ hoặc ngừng đẻ do đơn bào tác động vào cơ quan sinh sản Gà trưởng thành mắc bệnh sẽ giảm tăng trọng, gầy yếu nhanh, nhưng chết ít hơn gà con Gà ở lứa tuổi từ 1 - 3 tháng bị bệnh sẽ chết sau 3 - 6 ngày với tỷ lệ cao

Trang 25

Theo Lê Văn Năm (2011) [21] triệu chứng của bệnh Leucocytozoon

gồm các thể như sau:

- Thể quá cấp:

Trong suốt thời gian ủ bệnh, gà bị sốt cao nhưng có thể vẫn ăn uống bình thường nên người chăn nuôi hầu như không để ý, hoặc không quan sát thấy những biểu hiện bất thường của đàn gà Bệnh bỗng dưng bùng phát lẻ tẻ khi gặp các yếu tố strees bất lợi, với các triệu chứng điển hình như: đột nhiên

ho hoặc hắt hơi, mào, tích tái nhợt, ộc máu ra miệng, mũi, đôi khi ở cả hậu môn rồi chết Một số khác lại có triệu chứng lừ đừ hoặc có triệu chứng thần kinh, nhảy sốc lên rồi rơi xuống nền dãy dụa và chết Cả hai trường hợp trên đều do dập vỡ gan, hoặc xuất huyết não bởi sự phát triển quá mạnh của các

Leucocytozoon trong các cơ quan đó

Số gà chết như mô tả trên không xảy ra ồ ạt, nhưng tăng dần qua mỗi ngày Nếu không được chẩn đoán đúng và điều trị kịp thời, tỷ lệ chết sẽ rất cao

- Thể cấp tính:

Đây là thể bệnh phổ biến nhất và gắn liền với thời tiết ẩm ướt do mưa phùn kéo dài Khí hậu ẩm thấp tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển, sinh sôi, nảy nở của véc tơ truyền bệnh

Trong những đàn gà mắc bệnh ở thể này, lúc đầu chỉ thấy một số ít gà

có biểu hiện sốt cao, mào thâm tái, sau vài ngày trở nên trắng bệch Khi cắt tiết gà thấy máu rất loãng, khó đông

Gà bị bệnh giảm ăn, ít vận động, đi lại không vững Gà bị tiêu chảy, phân có màu xanh đậm

Gà bệnh gầy sút nhanh, yếu dần và rất khó thở, thở khò khè, phải vươn

cổ ra để thở Nếu độ ẩm không khí cao, chuồng nuôi ẩm thấp thì gà bệnh càng khó thở và rất dễ chết Tuy nhiên, gà chết không ồ ạt, nhưng tỷ lệ chết tăng dần qua mỗi ngày Lúc đầu gà chỉ chết vào ban đêm, về sau chết bất kỳ lúc

Trang 26

nào, tỷ lệ chết có thể lên đến 70% Bệnh nặng hơn nếu gà bị bệnh ghép với CRD, Newcastle

Ở gà mái: triệu chứng thường thấy là giảm sản lượng trứng, đồng thời khối lượng trứng của gà bệnh cũng giảm rõ rệt, vỏ trứng mềm, dễ vỡ, hoặc ngược lại vỏ rất dầy Khi cho ấp trứng của những đàn gà đẻ bị mắc bệnh

Leucocytozoon thì tỷ lệ ấp nở giảm, gà mới nở bị chết yểu trong 3 - 5 ngày

đầu chiếm tỷ lệ rất cao

- Thể mãn tính:

Đây là thể bệnh thường gặp ở gà bị nhiễm số lượng Leucocytozoon ít

Ngoài ra, các loài chim hoang dã, gia cầm sống sót sau khi mắc bệnh hoặc những gia cầm, thủy cầm được chăn nuôi quảng canh cũng có thể bị bệnh ở thể mạn tính

Bệnh có những biểu hiện không rõ ràng, gà vẫn ăn uống bình thường, đôi khi giảm ăn tức thời Các triệu chứng như ủ rũ, động kinh hoặc đi lại không vững đều ngắt quãng, không xuất hiện liên tục Gà bệnh thiếu máu, lờ

đờ, tỷ lệ chết không đáng kể nhưng chúng mang mầm bệnh trong nhiều năm

và trở thành nguồn bệnh tiềm tàng nguy hiểm

* Bệnh tích bệnh Leucocytozoon

Mổ khám gà bệnh thấy: xuất huyết đỏ sẫm ở tất cả các phủ tạng (tim, lách, phổi, thận) và tổ chức cơ Đôi khi cũng có các điểm hoại tử trắng trên mặt

Trang 27

gan giống như bệnh tụ huyết trùng gia cầm Ngoài ra, có thể thấy bệnh tích ở đường tiêu hóa như: niêm mạc đường tiêu hoá bị tổn thương và xuất huyết

Theo Lâm Thị Thu Hương (2005) [7], khi mổ khám và quan sát bằng mắt thường, thấy trên cơ thể gà có những nốt mầu trắng đục hay vàng, đỏ hoặc chuyển sang đen, có kích thước từ 0,2 - 0,5 mm, đôi khi lên đến 1mm Những nốt này là bệnh tích do một giai đoạn phát triển của đơn bào

Leucocytozoon caulleryi gây ra Đơn bào Leucocytozoon được phát hiện ở nhiều vị trí trên cơ thể gà Một gà có thể nhiễm Leucocytozoon cùng lúc trên 6

cơ quan phủ tạng Sự nhiễm Leucocytozoon thường gặp nhiều nhất ở các cơ

quan như phổi, gan, thận, mô cơ

Lê Văn Năm (2011) [21] cho biết: bệnh tích đại thể của bệnh do đơn

bào Leucocytozoon gây ra ở gà rất điển hình, được quan sát thấy trong nhiều

cơ quan nội tạng như: gan, lách, thận, tim, phổi, ruột non, não, buồng trứng và ống dẫn trứng Những biến đổi đại thể ở các cơ quan nội tạng như sau:

Gan: sưng to, mềm nhũn và dễ vỡ, trên bề mặt gan thấy nhiều điểm trắng Đây là kết quả của các thể phân lập của Leucocytozoon ở gan tạo nên,

làm ròn, xốp và tắc nghẽn các mao mạch, dẫn đến xuất huyết tràn lan, thậm chí vỡ mao mạch, dẫn đến vỡ gan, chảy máu vào xoang bụng

Lách: sưng to, ròn, dễ vỡ, trên bề mặt lách có nhiều điểm xuất huyết

hoặc hoại tử

Thận: sưng to, xuất huyết

Buồng trứng và ống dẫn trứng: buồng trứng bị viêm, thoái hóa; ống

dẫn trứng sưng, dầy lên và có nhiều điểm xuất huyết

Tim: tim to, cơ tim dầy lên nhưng trương lực cơ bị giảm, cơ trở nên

mềm nhão

Phổi: sung huyết nặng

Ruột non, dạ dày tuyến, dạ dày cơ: viêm tăng sinh, dầy lên, đôi khi thấy

các điểm hoại tử hoặc nốt loét

Trang 28

Não: các đại hợp bào phát triển ở não gây tắc nghẽn các mao mạch, dẫn

đến bị phù nề, sung huyết và xuất huyết não

2.1.2.5 Chẩn đoán bệnh Leucocytozoon

* Với gà còn sống

Nguyễn Xuân Bình và cs (2002) [1] cho biết: hiện nay, có nhiều bệnh mới ở gia cầm có triệu chứng lâm sàng và bệnh tích giống nhau, nhưng nguyên nhân gây bệnh lại khác nhau, làm cho việc chẩn đoán lâm sàng và điều trị bệnh dễ bị sai lầm, gây nên những tổn thất đáng kể cho chăn nuôi

Do vậy, để chẩn đoán một cách chính xác bệnh có phải do ký sinh

trùng đường máu Leucocytozoon gây ra hay không, người ta thường sử dụng

kết hợp các phương pháp chẩn đoán để mang lại hiệu quả cao hơn

+ Chẩn đoán lâm sàng: Gà lứa tuổi 1 - 3 tháng chết đột ngột, các phủ tạng đều bị xuất huyết; ỉa chảy, phân xanh có lẫn máu làm cho gà chết với tỷ lệ cao

+ Chẩn đoán xét nghiệm: Lấy mẫu máu và phủ tạng, dàn tiêu bản, nhuộm Giemsa và soi kính để tìm đơn bào gây bệnh

Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [17] cho rằng: có thể sử dụng phương pháp làm tiêu bản máu, dàn mỏng, nhuộm Giemsa, kiểm tra dưới kính hiển vi tìm

ký sinh trùng, và sử dụng phương pháp ngưng kết trên gel thạch để phát hiện

kháng thể kháng Leucocytozoon spp

Lê Đức Quyết và cs (2009) [23] cho biết: gần đây, các phương pháp huyết thanh học cũng đã được áp dụng để chẩn đoán bệnh như phương pháp Latex - agglutination, phương pháp khuếch tán trên thạch

+ Chẩn đoán phân biệt:

Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2009) [11] cho biết: cần chẩn đoán phân biệt với bệnh tụ huyết trùng gia cầm Triệu chứng và bệnh tích của bệnh đơn bào đường máu ở gia cầm cũng giống như bệnh tụ huyết trùng gia cầm Nhưng bệnh đơn bào đường máu chỉ làm chết gà ở lứa tuổi 1 - 3 tháng Tuy

Trang 29

nhiên, bệnh tụ huyết trùng làm gà chết ở tất cả các lứa tuổi Bệnh tụ huyết trùng gia cầm điều trị bằng Streptomycin có hiệu quả nhưng bệnh do đơn bào đường máu điều trị bằng Streptomycin lại không có hiệu quả

Theo Lê Văn Năm (2011) [21], cần chẩn đoán phân biệt bệnh do đơn

bào Leucocytozoon gây ra với các bệnh sau:

Bệnh Marek: không có các biến đổi ở gan, lách, thận phổi ở gà dưới 45 ngày tuổi và trên 1 năm tuổi Bệnh Marek không có ở thủy cầm và ít gặp ở hoang cầm

Bệnh bạch huyết (Leucosis): Bệnh ít gặp ở gia cầm dưới 6 tháng tuổi Bệnh có rất nhiều thể khác nhau như Leucosis dạng võng mô, Leucosis hồng cầu, Leucosis tủy xương, Leucosis limfo Mỗi thể bệnh khác nhau chúng lại

có những đặc điểm riêng khác biệt

Bệnh sốt rét gà: Các biểu hiện về dịch tễ và lâm sàng của bệnh sốt rét

gà rất giống với bệnh do Leucocytozoon gây ra Tuy nhiên, khi mổ khám thì bệnh sốt rét gà không có những biểu hiện giống như bệnh Leucocytozoon

Gan của gà bị sốt rét có màu xanh đen hoặc đen, kích thước nhỏ hơn bình

thường,túi mật căng chứa đầy mật

* Với gia cầm chết:

Phương pháp chẩn đoán sau khi gia cầm chết là phương pháp chính xác nhất Việc chẩn đoán được tiến hành qua phương pháp mổ khám, kiểm tra bệnh tích kết hợp với việc lấy các cơ quan nội tạng như gan, lách, phổi, thận

để tìm đơn bào Leucocytozoon ký sinh

2.1.2.6 Phòng trị bệnh Leucocytozoon cho gà

* Phòng bệnh

- Phát hiện sớm gà mắc bệnh và gà mang trùng để điều trị kịp thời, tránh lây lan bệnh trong đàn gà

Trang 30

- Gà chết không được mổ thịt mà phải xử lý như gà ốm chết do các bệnh truyền nhiễm, sử dụng thuốc sát trùng khi xử lý

- Định kỳ phun thuốc diệt côn trùng để diệt dĩn hút máu và truyền bệnh cho gà Có thể dùng Hantox-spray hoặc Iodin 1%, 2 - 3 tuần/ lần, đặc biệt là vào mùa hè và mùa thu khi dĩn hoạt động mạnh để không làm ảnh hưởng đến sức khỏe của đàn gà

- Không nên xây chuồng ở những vùng gần đồng ruộng, vùng có ao hồ hay vùng có diện tích mặt nước lớn, vì đây là môi trường thích hợp cho ký chủ trung gian phát triển

Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm (1993), [2] đưa ra những tiêu chuẩn đối với việc chuẩn bị chuồng trại nuôi gia cầm như sau:

- Phải chuẩn bị đầy đủ chuồng nuôi, rèm che, kho đựng thức ăn, bể chứa nước, dụng cụ chăn nuôi, thuốc thú y, các phương tiện sưởi ấm, làm mát đảm bảo cho số lượng gà định nuôi

- Chuồng nuôi, hệ thống cống rãnh, khu vực kho chứa thức ăn, dụng cụ chăn nuôi phải được vệ sinh đảm bảo, sát trùng triệt để

- Cây xanh, cỏ dại cách chuồng 10 - 15 mét phải được phát quang Các động vật cư trú truyền bệnh cho đàn gà như chuột, cáo, chồn, côn trùng, chim

tự nhiên phải được tiêu diệt

- Có phòng mổ khám, chẩn đoán bệnh và thiêu xác hoặc hố tự hoại cách xa khu vực chăn nuôi và cuối hướng gió

* Trị bệnh

Có thể sử dụng một trong các loại Sulfonamide sau để điều trị gà bệnh:

- Pyrimethamin: dùng liều 0,5 - 1 ppm/ kg thức ăn, cho gà ăn 2 tuần liên tục

- Sulfadimethoxin: dùng liều 50 – 75 mg/ kg thức ăn, cho gà ăn liên tục

1 - 2 tuần

Trang 31

- Sulfaquinoxalin: dùng liều 50 mg/ kg thức ăn, cho gà ăn liên tục

trị tốt bệnh do Leucocytozoon gây ra Tác giả cho biết thêm, hiện nay bệnh ký

sinh trùng đường máu thường bị bội nhiễm và ghép với nhiều bệnh khác Do

đó chúng ta cần phải phối hợp các phác đồ khi điều trị thì mới có hiệu quả điều trị cao

2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Theo Hoàng Thạch (2004) [24], các cơ quan nội tạng nếu nhiễm

Leucocytozoon Ở cường độ nhẹ thì chưa thấy biến đổi gì, nhưng nếu nhiễm ở

cường độ vừa và nặng (3 - 6 ký sinh trùng trên một vi trường) thì sẽ xuất hiện

sự thoái hóa, biến màu, thậm chí hoại tử từng đám nhỏ, nếu kéo dài thì tăng sinh, làm giảm chức năng hoạt động hoặc bị phá hoại rõ nhất là gan và lách Lâm Thị Thu Hương và cs (2005) [7] cho biết: tần suất xuất hiện các

nang Leucocytozoon trên một số cơ quan phủ tạng của gà tương ứng: cơ là

96,22%, phổi là 92,45%, thận là 86,80%, gan là 81,13%

Lê Đức Quyết và cs (2009) [23] cho biết: tỷ lệ nhiễm Leucocytozoon

phụ thuộc vào nhiều yếu như: tuổi gia cầm, giống, địa hình, vùng sinh thái,

phương thức chăn nuôi… Kết quả nghiên cứu của tác giả về Leucocytozoon ở

gà tại một số tỉnh Nam Trung Bộ như sau:

Tỷ lệ nhiễm Leucocytozoon chung là 13,29%, cụ thể ở Phú Yên tỷ lệ

nhiễm là 20%, Bình Định 9,54%, Khánh Hoà 12,04%

Tỷ lệ nhiễm Leucocytozoon cao ở vùng núi (27,34%) và thấp ở vùng

đồng bằng (12,46%)

Trang 32

Tỷ lệ lưu hành Leucocytozoon ở gà địa phương là 12,46%, cao hơn

nhiều so với gà ngoại (7,61%)

Tỷ lệ nhiễm Leucocytozoon cao nhất là ở gà giai đoạn > 6 tuần tuổi

(15,6%), kế đến là ở độ tuổi 4 – 6 tuần (13,5%) và thấp nhất là ở độ tuổi dưới

4 tuần (7,6%)

Bằng phương pháp nhuộm Giemsa và định loài đơn bào Leucocytozoon

ký sinh trên đàn gà ở một số tỉnh Nam Trung Bộ (căn cứ vào hình thái, vị trí, mầu sắc, kích thước của giao tử gametocyte ký sinh trong máu gà), tác giả

cũng xác định có 2 loài ký sinh trên đàn gà là L.caullergyi và L.sabrazesi

Khi khảo sát tình hình nhiễm ký sinh trùng đường máu trên gà thịt tại hai tỉnh Vĩnh Long và Sóc Trăng, Nguyễn Hữu Hưng (2011) [6] cho biết: đàn gà thịt nhiễm ký sinh trùng đường máu với tỷ lệ khá cao (30,47%) Trong đó tỷ lệ nhiễm

ở Vĩnh Long là 32,38% và ở Sóc Trăng là 28,22% Tác giả cũng cho biết gà Tam Hoàng có tỷ lệ nhiễm cao hơn hai giống Newlohman và Brown AAA Gà nuôi theo kiểu chuồng hở có tỷ nhiễm cao hơn so với kiểu chuồng kín

2.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Ở Liên Xô, Nikitin N K và Artemenko M N (1927) trong khi kiểm

tra máu chim trời ở Ucrain đã tìm thấy Leucocytozoon ở 7% số chim (trích

Orlov F M.1975,[22])

Huchzermeyer F W và Sutherland B (1978) [33] lần đầu tiên đã

phát hiện được Leucocytozoon smithi ở phía bắc Châu Phi và tác giả cho rằng Simulium nigritarse là ký chủ trung gian của ký sinh trùng này

Morii T và cs (1984) [35] đã thử nghiệm lây nhiễm những thoi trùng

Leucocytozoon được chiết từ tuyến nước bọt của dĩn, kết quả nhận thấy: các

thoi trùng được phân lập vào ngày thứ 2 sau khi dĩn hút máu gia cầm bệnh thì không lây nhiễm được cho gà Các thoi trùng được phân lập vào ngày thứ 3 thì có khả năng gây nhiễm cho gà

Morii T và cs (1986) [36] đã phân lập các thoi trùng từ tuyến nước

Trang 33

bọt của Culicoides arakawa và gây bệnh cho gà Kết quả thấy thoi trùng

xuất hiện trong ngoại vi máu gia cầm vào ngày thứ 15 và biến mất vào ngày thứ 26 sau khi gây nhiễm Kháng nguyên hòa tan được tìm thấy trong huyết thanh của gà gây nhiễm trong khoảng 10 – 17 ngày và kháng thể tương đồng xuất hiện ở ngày thứ 17 sau gây nhiễm

Nakamura K và cs (2001) [38] nghiên cứu ảnh hưởng của Leucocytozoon trên đàn gà đẻ thấy: Leucocytozoon ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng sản

xuất trứng của gà, thậm chí có thể ngừng đẻ Tìm thấy một số lượng lớn thể phân liệt thế hệ 2 trong buồng trứng và ống dẫn trứng Gây phù và làm giảm áp lực của các mô lân cận với các mô có đơn bào ký sinh

Steele E J và cs (2001) [42] cho biết: sự phát triển của

Leucocytozoon smithi có những nét tương đồng với sự phát triển của các loài Plasmodium và Haemoproteus trong ký chủ trung gian

Shane S M (2005) [41] cho biết: việc kết hợp Clopidol anticoccidial trong thức ăn chăn nuôi với các hàm lượng khác nhau từ 125 - 150 ppm đã

ngăn chặn được Leucocytozoon ở gà tây tại Hoa Kỳ

Omori S và cs (2008) [39] đã phân tích bộ gen của Leucocytozoon caulleryi Kết quả đã mô tả được bộ gen nhiễm sắc thể của Leucocytozoon caulleryi với chiều dài 5,959 bp

Omori S và cs (2010) [40] đã sử dụng phương pháp phân tích đếm tế

bào dòng chảy, tách giao bào Leucocytozoon để xác định sự có mặt của đơn

bào trong máu Phương pháp này có thế xác định được những mẫu máu bị nhiễm ký sinh trùng đường máu mà các phương pháp thông thường khác không tìm thấy được

Hill A G và cs (2010) [32] sử dụng phương pháp PCR để kiểm tra

107 mẫu máu chim cánh cụt mắt vàng từ 4 khu vực riêng biệt trên khu vực phía nam đảo Oamaru Kết quả kiểm tra thấy 83% số mẫu kiểm tra là

dương tính với Leucocytozoon

Trang 34

Phần 3

ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Gà nuôi tại 4 xã của huyện Phú Bình - tỉnh Thái Nguyên

- Bệnh đơn bào Leucocytozoon ở gà

3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

* Địa điểm nghiên cứu

- Đề tài được thực hiện ở các nông hộ, các trại chăn nuôi gà gia đình và tập thể với các quy mô khác nhau tại huyện Phú Bình - tỉnh Thái Nguyên

- Địa điểm xét nghiệm mẫu:

+ Phòng thí nghiệm Khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

* Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 6 đến tháng 11 năm 2013

3.3 Vật liệu nghiên cứu

* Vật liệu nghiên cứu

- Mẫu máu gà (để xét nghiệm tìm đơn bào Leucocytozoon)

- 15 gà khỏe và 15 gà bệnh Leucocytozoon (để xác định chỉ số máu)

- Gà bị bệnh đơn bào Leucocytozoon (mổ khám bệnh tích)

- Gà khỏe và gà bệnh để thử nghiệm quy trình phòng trị bệnh Leucocytozoon cho gà

* Dụng cụ và hoá chất

- Kính hiển vi quang học, kính lúp

- Bộ kim lấy máu

- Tube tráng chất chống đông máu (dung dịch EDTA 1%)

Trang 35

- Thuốc điều trị bệnh Leucocytozoon ở gà, thuốc phun diệt dĩn – véc tơ truyền bệnh Leucocytozoon cho gà

- Lam kính và lamen

- Thuốc nhuộm giemsa

- Dầu Bạch dương, cồn 960, cồn methanol

- Hoá chất và các dụng cụ thí nghiệm khác

3.4 Nội dung nghiên cứu

3.4.1 Tình hình nhiễm, đặc điểm bệnh lý, lâm sàng bệnh Leucocytozoon ở

gà tại huyện Phú Bình – tỉnh Thái Nguyên

3.4.1.1 Thực trạng công tác phòng bệnh Leucocytozoon cho gà ở các địa phương thuộc huyện Phú Bình – tỉnh Thái Nguyên

3.4.1.2 Tình hình nhiễm đơn bào Leucocytozoon ở gà tại huyện Phú Bình – tỉnh Thái Nguyên

- Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon ở gà tại các địa phương thuộc

huyện Phú Bình – tỉnh Thái Nguyên

3.4.1.3 Triệu chứng lâm sàng bệnh Leucocytozoon ở gà tại huyện Phú Bình – tỉnh Thái Nguyên

- Tỷ lệ và các triệu chứng lâm sàng của gà mắc bệnh Leucocytozoon 3.4.1.4 Bệnh tích đại thể của gà bị bệnh đơn bào Leucocytozoon

3.4.1.5 Một số chỉ số máu của gà mắc bệnh Leucocytozoon

- Sự thay đổi một số chỉ số hồng cầu, tiểu cầu, bạch cầu và chỉ số máu của gà bệnh so với gà khỏe

- So sánh công thức bạch cầu của gà khỏe và gà bệnh

3.4.2 Nghiên cứu thử nghiệm quy trình phòng bệnh Leucocytozoon cho gà

- Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon ở gà lô thí nghiệm và lô đối

chứng sau 1 tháng thử nghiệm

Trang 36

- Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon ở gà lô thí nghiệm và lô đối

chứng sau 2 tháng thử nghiệm

- Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon ở gà lô thí nghiệm và lô đối

chứng sau 3 tháng thử nghiệm

- Khối lượng gà ở lô thí nghiệm và đối chứng trước và sau thử nghiệm

3.5 Bố trí thí nghiệm và phương pháp nghiên cứu

3.5.1 Phương pháp xác định tình trạng áp dụng các biện pháp phòng bệnh Leucocytozoon cho gà ở các địa phương nghiên cứu

- Trực tiếp quan sát

- Phỏng vấn chủ hộ

Chúng tôi đã tiến hành điều tra 160 hộ chăn nuôi trên địa bàn 4 xã: Thượng Đình, Điềm Thụy, Nhã Lộng, Xuân Phương

3.5.2 Bố trí lấy mẫu và phương pháp xác định tỷ lệ, cường độ nhiễm

Leucocytozoon ở gà tại các địa phương

3.5.2.1 Bố trí thu thập mẫu

Chúng tôi đã thu thập được 450 mẫu máu tại 4 xã huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên theo phương pháp phân tầng mỗi gà là 1 mẫu, mỗi mẫu làm 3 tiêu bản Số mẫu lấy được tại các xã như sau:

- Thượng Đình : 100 mẫu

- Điềm Thụy : 150 mẫu

- Nhã Lộng : 100 mẫu

- Xuân Phương : 100 mẫu

3.5.2.2 Phương pháp xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon ở gà tại các địa phương

* Phương pháp thu thập mẫu

Mẫu máu được thu thập ngẫu nhiên từ gà nuôi tại các nông hộ, các trại chăn nuôi gà ở các địa phương của 4 xã thuộc huyện Phú Bình – tỉnh Thái Nguyên

Trang 37

* Phương pháp phiết kính máu

Chuẩn bị những phiến kính mới đã được tẩy mỡ bằng cách ngâm và rửa xà phòng, sau đó ngâm trong cồn 960 trong 3 giờ rồi lau khô bằng khăn mềm không có xơ Đồng thời, chọn những lamen kích thước 2 x 2 cm, rìa thật phẳng và nhẵn

Trước khi lấy mẫu máu xét nghiệm, quan sát kỹ các biểu hiện lâm sàng của gà Dùng kim lấy 1 giọt máu tươi của gà tại tĩnh mạch cánh, đặt lên phiến kính, cách bờ phiến kính khoảng 1 cm Đặt cạnh của một lamen lên giọt máu, nghiêng 450 với phiến kính Khi giọt máu đã tràn ra khắp cạnh của lamen thì đẩy lamen về phía trước, làm cho máu được dàn thành một lớp mỏng và đều trên phiến kính Cố định tiêu bản bằng cồn methanol Làm 3 tiêu bản máu/ gà Tiêu bản được ghi số thứ tự bằng bút chì mỡ Ghi nhật ký thí nghiệm các thông tin: chủ hộ, địa chỉ, ngày lấy mẫu, giống gà, tuổi gà, phương thức chăn nuôi, tính biệt, trạng thái và màu sắc phân, điều

kiện vệ sinh thú y, các biểu hiện lâm sàng (nếu có)

* Chuẩn bị thuốc nhuộm giemsa cơ bản

Dung dịch giemsa cơ bản bao gồm:

* Phương pháp nhuộm giemsa

Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2008) [10] cho biết: nhuộm tiêu bản máu bằng thuốc nhuộm giemsa gồm 3 bước như sau:

Trang 38

- Bước 1: pha thuốc nhuộm giemsa

+ Giemsa cơ bản: 1 phần

+ Nước cất trung tính (pH = 7,2): 9 phần

Nước cất để sẵn trong 1 cốc nhỏ có mỏ (100 ml), lấy dung dịch giemsa

cơ bản bằng 1 pipet, nhỏ chậm giemsa vào cốc nước, không được lắc cốc

- Bước 2: đổ chậm dung dịch nhuộm vào hộp nhuộm cho ngập các tiêu bản, đậy nắp hộp nhuộm để tránh bụi

Thời gian nhuộm 45 - 50 phút

- Bước 3: lấy tiêu bản

Dùng 1 pince kẹp, cặp lần lượt từng tiêu bản và để nghiêng dưới vòi nước cất chảy nhẹ (pH = 7,2) cho trôi hết thuốc nhuộm dư thừa Sau đó dựng nghiêng tiêu bản vào cạnh 1 cái hộp, để khô tự nhiên

* Phương pháp kiểm tra tìm Leucocytozoon trên tiêu bản máu nhuộm giemsa

Nhỏ 1 giọt dầu bạch dương lên tiêu bản, kiểm tra tiêu bản dưới kính hiển

vi vật kính dầu, độ phóng đại 10 x 90 hoặc 10 x 100 để tìm Leucocytozoon

Những mẫu máu tìm thấy đơn bào Leucocytozoon được xác định là có

nhiễm, ngược lại là không nhiễm

Cường độ nhiễm được xác định bằng tỷ lệ % số hồng cầu có đơn bào

ký sinh và quy định các mức cường độ nhiễm: nhẹ, trung bình và nặng

≤ 5% hồng cầu có đơn bào ký sinh: nhiễm nhẹ (+)

> 5% - 10% hồng cầu có đơn bào ký sinh: nhiễm trung bình (++)

> 10% hồng cầu có đơn bào ký sinh: nhiễm nặng (+++)

3.5.10 Thử nghiệm quy trình phòng bệnh Leucocytozon cho gà

* Bố trí thí nghiệm

Thí nghiệm được bố trí trên 2 đàn gà nuôi bán chăn thả bằng phương pháp phân lô so sánh, tương đối đồng đều về các yếu tố: tuổi, khối lượng,

điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng, không bị bệnh Leucocytozoon và các bệnh

ký sinh trùng, bệnh truyền nhiễm khác trước thí nghiệm

Ngày đăng: 27/04/2016, 22:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Xuân Bình, Trần Xuân Hạnh, Tô Thị Phấn (2002), 66 bệnh gia cầm và cách phòng trị, Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội, tr. 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 66 bệnh gia cầm và cách phòng trị
Tác giả: Nguyễn Xuân Bình, Trần Xuân Hạnh, Tô Thị Phấn
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 2002
2. Bộ Nông Nghiệp và Công Nghiệp thực phẩm (1993), Quy trình kỹ thuật chăn nuôi gà công nghiệp, Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội, tr. 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy trình kỹ thuật chăn nuôi gà công nghiệp
Tác giả: Bộ Nông Nghiệp và Công Nghiệp thực phẩm
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 1993
3. Nguyễn Duy Hoan, Bùi Đức Lũng, Nguyễn Thanh Sơn, Đoàn Xuân Trúc (1999), Chăn nuôi gia cầm (giáo trình dùng cho Cao học và NCS ngành chăn nuôi), Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội, tr. 3 – 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăn nuôi gia cầm (giáo trình dùng cho Cao học và NCS ngành chăn nuôi)
Tác giả: Nguyễn Duy Hoan, Bùi Đức Lũng, Nguyễn Thanh Sơn, Đoàn Xuân Trúc
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 1999
4. Nguyễn Xuân Hoạt, Phạm Đức Lộ (1980), Tổ chức phôi thai học, Nxb Đại học và trung học chuyên nghiệp Hà Nội, tr. 162, 172, 184 – 185 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức phôi thai học
Tác giả: Nguyễn Xuân Hoạt, Phạm Đức Lộ
Nhà XB: Nxb Đại học và trung học chuyên nghiệp Hà Nội
Năm: 1980
5. Lương Văn Huấn, Lê Hữu Khương (1997), Ký sinh và bệnh ký sinh ở gia súc gia cầm (tập II, phần động vật chân đốt và nguyên bào), Nxb Viện Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh, tr. 413 – 414 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ký sinh và bệnh ký sinh ở gia súc gia cầm (tập II, phần động vật chân đốt và nguyên bào)
Tác giả: Lương Văn Huấn, Lê Hữu Khương
Nhà XB: Nxb Viện Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh
Năm: 1997
6. Nguyễn Hữu Hưng (2011), “Khảo sát tình hình nhiễm ký sinh trùng đường máu trên gà thịt tại hai tỉnh Vĩnh Long và Sóc Trăng”, Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y, tập XVIII, số 4, tr. 44 – 48 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát tình hình nhiễm ký sinh trùng đường máu trên gà thịt tại hai tỉnh Vĩnh Long và Sóc Trăng”, "Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y, tập XVIII, số 4
Tác giả: Nguyễn Hữu Hưng
Năm: 2011
7. Lâm Thu Hương (2005), "Khảo sát bệnh tích đại thể và vi thể trên gà nhiễm Leucocytozoon", Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y, tập XII, số 5, tr. 39 - 44 8. Phạm Văn Khuê, Phan Lục (1996), Ký sinh trùng thú y, NxbNông Nghiệp, Hà Nội, tr. 287 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát bệnh tích đại thể và vi thể trên gà nhiễm Leucocytozoon
Tác giả: Lâm Thu Hương (2005), "Khảo sát bệnh tích đại thể và vi thể trên gà nhiễm Leucocytozoon", Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y, tập XII, số 5, tr. 39 - 44 8. Phạm Văn Khuê, Phan Lục
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 1996
9. Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Văn Quang, Nguyễn Quang Tuyên (1999), Giáo trình ký sinh trùng thú y, Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội, tr. 181 - 183 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình ký sinh trùng thú y
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Văn Quang, Nguyễn Quang Tuyên
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 1999
10. Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Thị Lê, Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Văn Quang (2008), Ký sinh trùng học thú y (giáo trình dùng cho bậc cao học), Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội, tr. 118 - 119 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ký sinh trùng học thú y (giáo trình dùng cho bậc cao học)
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Thị Lê, Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Văn Quang
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 2008
11. Nguyễn Thị Kim Lan, Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Văn Quang, Lê Minh (2009), Các bệnh phổ biến gây hại cho gia cầm và biện pháp phòng trị, Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội, tr. 118 – 120 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các bệnh phổ biến gây hại cho gia cầm và biện pháp phòng trị
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Lan, Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Văn Quang, Lê Minh
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 2009
12. Nguyễn Thị Kim Lan (2012), Ký sinh trùng và bệnh ký sinh trùng thú y (giáo trình dành cho bậc đào tạo Đại học), Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ký sinh trùng và bệnh ký sinh trùng thú y
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Lan
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2012
13. Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân (2002), Bệnh ký sinh trùng ở gia cầm và biện pháp phòng trị, Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội, tr. 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh ký sinh trùng ở gia cầm và biện pháp phòng trị
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 2002
14. Phạm Sỹ Lăng, Tô Long Thành, Cù Hữu Phú, Nguyễn Hoài Nam (2005), Bệnh mới ở gia cầm và kỹ thuật phòng trị, Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội, tr. 149 - 154 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh mới ở gia cầm và kỹ thuật phòng trị
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Tô Long Thành, Cù Hữu Phú, Nguyễn Hoài Nam
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 2005
15. Phạm Sỹ Lăng, Tô Long Thành (2006), Bệnh đơn bào ký sinh ở vật nuôi, Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội, tr. 111 - 114 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh đơn bào ký sinh ở vật nuôi
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Tô Long Thành
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 2006
16. Phạm Sỹ Lăng, Hoàng Văn Năm, Bạch Quốc Thắng (2008), Sổ tay thầy thuốc thú y (tập II), Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội, tr. 105 - 108 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay thầy thuốc thú y (tập II)
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Hoàng Văn Năm, Bạch Quốc Thắng
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 2008
17. Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Thị Kim Lan, Lê Ngọc Mỹ , Nguyễn Thị Kim Thành, Nguyễn Văn Thọ, Chu Đình Tới (2009), Ký sinh trùng và bệnh ký sinh trùng ở vật nuôi, Nxb Giáo dục Hà Nội, tr. 18 - 19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ký sinh trùng và bệnh ký sinh trùng ở vật nuôi
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Thị Kim Lan, Lê Ngọc Mỹ , Nguyễn Thị Kim Thành, Nguyễn Văn Thọ, Chu Đình Tới
Nhà XB: Nxb Giáo dục Hà Nội
Năm: 2009
19. Phan Lục (2006), Giáo trình bệnh ký sinh trùng thú y, Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội, tr. 26 - 27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình bệnh ký sinh trùng thú y
Tác giả: Phan Lục
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 2006
20. Lê Hồng Mận, Nguyễn Thanh Sơn (2001), Kỹ thuật nuôi gà Ri và gà Ri pha, Nxb Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật nuôi gà Ri và gà Ri pha
Tác giả: Lê Hồng Mận, Nguyễn Thanh Sơn
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2001
21. Lê Văn Năm (2001), “Bệnh do ký sinh trùng Leucocytozoon”, Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y, tập XVIII, số 4, tr. 77 – 84 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh do ký sinh trùng "Leucocytozoon"”, "Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y, tập XVIII, số 4
Tác giả: Lê Văn Năm
Năm: 2001
22. Orlov F. M (1975), Bệnh gia cầm (tập 1) (Nguyên Phát dịch), Nxb Khoa học kỹ thuật, tr. 368 – 375 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh gia cầm (tập 1) (Nguyên Phát dịch
Tác giả: Orlov F. M
Nhà XB: Nxb Khoa học kỹ thuật
Năm: 1975

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ minh họa vòng đời Leucocytozoon ở gà - Nghiên cứu tình hình nhiễm, đặc điểm bệnh lý, lâm sàng bệnh do đơn bào leucocytozoo ngây ra ở gà tại huyện phú bình – tỉnh thái nguyên và thử nghiệm quy trình phòng trị bệnh cho gà
Sơ đồ minh họa vòng đời Leucocytozoon ở gà (Trang 18)
Sơ đồ bố  trí thí nghiệm: - Nghiên cứu tình hình nhiễm, đặc điểm bệnh lý, lâm sàng bệnh do đơn bào leucocytozoo ngây ra ở gà tại huyện phú bình – tỉnh thái nguyên và thử nghiệm quy trình phòng trị bệnh cho gà
Sơ đồ b ố trí thí nghiệm: (Trang 39)
Bảng 4.2: Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon ở gà theo địa phương - Nghiên cứu tình hình nhiễm, đặc điểm bệnh lý, lâm sàng bệnh do đơn bào leucocytozoo ngây ra ở gà tại huyện phú bình – tỉnh thái nguyên và thử nghiệm quy trình phòng trị bệnh cho gà
Bảng 4.2 Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon ở gà theo địa phương (Trang 43)
Hình  4.1  và  4.2  minh  họa  thêm  cho  những  kết  quả  mà  chúng  tôi  đã  trình bày ở bảng 4.2 - Nghiên cứu tình hình nhiễm, đặc điểm bệnh lý, lâm sàng bệnh do đơn bào leucocytozoo ngây ra ở gà tại huyện phú bình – tỉnh thái nguyên và thử nghiệm quy trình phòng trị bệnh cho gà
nh 4.1 và 4.2 minh họa thêm cho những kết quả mà chúng tôi đã trình bày ở bảng 4.2 (Trang 45)
Hình 4.1 cho thấy các cột biểu thị tỷ lệ nhiễm đơn bào Leucocytozoon  cao thấp  khác nhau, cao nhất  là  cột biểu thị tỷ  lệ  nhiễm  ở  xã Thượng  Đình,  thấp nhất là cột biểu thị tỷ lệ nhiễm ở Xuân Phương - Nghiên cứu tình hình nhiễm, đặc điểm bệnh lý, lâm sàng bệnh do đơn bào leucocytozoo ngây ra ở gà tại huyện phú bình – tỉnh thái nguyên và thử nghiệm quy trình phòng trị bệnh cho gà
Hình 4.1 cho thấy các cột biểu thị tỷ lệ nhiễm đơn bào Leucocytozoon cao thấp khác nhau, cao nhất là cột biểu thị tỷ lệ nhiễm ở xã Thượng Đình, thấp nhất là cột biểu thị tỷ lệ nhiễm ở Xuân Phương (Trang 46)
Bảng 4.3: Tỷ lệ và các triệu chứng lâm sàng của gà mắc bệnh - Nghiên cứu tình hình nhiễm, đặc điểm bệnh lý, lâm sàng bệnh do đơn bào leucocytozoo ngây ra ở gà tại huyện phú bình – tỉnh thái nguyên và thử nghiệm quy trình phòng trị bệnh cho gà
Bảng 4.3 Tỷ lệ và các triệu chứng lâm sàng của gà mắc bệnh (Trang 47)
Bảng 4.4: Bệnh tích đại thể của gà bị bệnh đơn bào Leucocytozoon - Nghiên cứu tình hình nhiễm, đặc điểm bệnh lý, lâm sàng bệnh do đơn bào leucocytozoo ngây ra ở gà tại huyện phú bình – tỉnh thái nguyên và thử nghiệm quy trình phòng trị bệnh cho gà
Bảng 4.4 Bệnh tích đại thể của gà bị bệnh đơn bào Leucocytozoon (Trang 49)
Bảng 4.8. Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon của gà - Nghiên cứu tình hình nhiễm, đặc điểm bệnh lý, lâm sàng bệnh do đơn bào leucocytozoo ngây ra ở gà tại huyện phú bình – tỉnh thái nguyên và thử nghiệm quy trình phòng trị bệnh cho gà
Bảng 4.8. Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon của gà (Trang 52)
Bảng 4.9. Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon của gà - Nghiên cứu tình hình nhiễm, đặc điểm bệnh lý, lâm sàng bệnh do đơn bào leucocytozoo ngây ra ở gà tại huyện phú bình – tỉnh thái nguyên và thử nghiệm quy trình phòng trị bệnh cho gà
Bảng 4.9. Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon của gà (Trang 54)
Bảng 4.10. Khối lượng gà ở lô thí nghiệm và lô đối chứng trước - Nghiên cứu tình hình nhiễm, đặc điểm bệnh lý, lâm sàng bệnh do đơn bào leucocytozoo ngây ra ở gà tại huyện phú bình – tỉnh thái nguyên và thử nghiệm quy trình phòng trị bệnh cho gà
Bảng 4.10. Khối lượng gà ở lô thí nghiệm và lô đối chứng trước (Trang 55)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w