1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

báo cáo kết quả bồi dưỡng thường xuyên năm học 2014 2015

25 1,4K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 206,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở một phương diện nào đó, khi sử dụng phương pháp này thì các em học sinh - một chủ thể của giờ dạy - đã “bị bỏ rơi” giáo viên là người sốt sắng và nỗ lực đi tìm chiếc chìa khoá mở cửa c

Trang 1

PHÒNG GD&ĐT HẢI HẬU

TRƯỜNG THCS HẢI LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập -Tự do - Hạnh phúc

BÁO CÁO KẾT QUẢ BỒI DƯỠNG THƯỜNG XUYÊN

NĂM HỌC 2014 - 2015

Họ và tên giáo viên : Vũ văn Lục

Tổ chuyên môn : Khoa học Xã hội

Trường THCS Hải Long – Hải Hậu – Nam Định

Căn cứ vào Thông tư số 31/2011/TT-BGDĐT ngày 08/8/21011 của Bộ Giáo dục và

Đào tạo về việc ban hành chương trình BDTX giáo viên THCS và hướng dẫn củaPhòng GD&ĐT huyện Hải Hậu cũng như của trường THCS Hải Long Tôi chọn thực

hiện bồi dưỡng thường xuyên: 04 mođunle: THCS18, THCS 20, THCS 23, THCS 32.

- Modunle 18: Phương pháp dạy học

- Modunle 20: sử dụng thiết bị dạy học;

- Modunle23: Kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh

- Modunle 32 Hoạt động của giáo viên chủ nhiệm

Hình thức bồi dưỡng thường xuyên

- Tự học dựa vào các tài liệu, sách và trao đổi với đồng nghiệp.

Tài liệu học tập để giáo viên thực hiện chương trình

- Chương trình bồi dưỡng thường xuyên giáo viên THCS của BGD;

- Quy chế bồi dưỡng thường xuyên giáo viên THCS của BGD;

- Các tài liệu phục vụ đổi mới PPDH;

- Các tài liệu tập huấn về chuyên môn;

Tổ chức thực hiện

- Xây dựng và hoàn thành kế hoạch BDTX đã được phê duyệt, nghiêm chỉnh

thực hiện các quy định về BDTX của tổ CM và nhà trường

- Báo cáo tổ CM và nhà trường kết quả thực hiện kế hoạch BDTX về việc vận

dụng kiến thức đã học tập BDTX vào quá trình thực hiện nhiệm vụ

Trang 2

I Nội dung bồi dưỡng

1 Phương pháp dạy học : Thời lượng : 30 tiết

Phương pháp dạy học là những hình thức, cách thức hành động của giáo viên vàhọc sinh nhằm thực hiện mục tiêu dạy học, phù hợp với nội dung và điều kiện dạy học

cụ thể

Đặc điểm của phương pháp dạy học

- Phương pháp dạy học định hướng chất lượng dạy học

- Phương pháp dạy học là sự thống nhất của PP dạy và PP học

- Phương pháp dạy học là sự thống nhất của cách thức hành động và phươngtiện dạy học (PTDH)

Các yếu tố liên quan đến PPDH

- Mục tiêu (định hướng kết quả đầu ra)

- Nội dung (liên quan đến đặc thù môn học, bài học)

- Điều kiện cụ thể (thời lượng, trình độ HS, phương tiện)

- Người dạy

Các phương pháp dạy học

Thuyết trình; Mô phỏng; Đàm thoại; Thực nghiệm; Thảo luận; Đóng vai; Đặc trưng của sử dụng các PPDH tích cực

- Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động của HS

- Dạy và học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học của HS

- Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác

- Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò

- Giáo viên thiết kế, tổ chức, hướng dẫn, gợi mở, xúc tác, động viên, cố vấn

- Hiểu được bản chất của việc đổi mới PPDH trong hoàn cảnh cụ thể

- Sáng tạo trong việc phối hợp các PPDH, có kỹ năng vận dụng các kỹ thuật họctập tích cực hiệu quả, phù hợp với đối tượng học sinh và điều kiện hiện tại

- Kết hợp đổi mới PPDH và đổi mới kiểm tra đánh giá

Yêu cầu về sử dụng TBDH trong đổi mới hoạt động dạy học

- Đảm bảo đủ thiết bị dạy học

Trang 3

- GV biết cách sử dụng và khai thác thiết bị phục vụ dạy học hiệu quả, tăngcường cho học sinh thực hành.

2 Phương pháp dạy học là một vấn đề có tính lịch sử, phải đổi mới trước hết ở ý thức:

Trong một thời gian dài, người thầy được trang bị phương pháp để truyền thụ trithức cho học sinh theo quan hệ một chiều: Thầy truyền đạt, trò tiếp nhận Ở một phương diện nào đó, khi sử dụng phương pháp này thì các em học sinh - một chủ thể của giờ dạy - đã “bị bỏ rơi” giáo viên là người sốt sắng và nỗ lực đi tìm chiếc chìa khoá mở cửa cái kho đựng kiến thức là cái đầu của học sinh, và ông ta đem bất kỳ mộtđiều tốt đẹp nào của khoa học để chất đầy cái kho này theo phạm vi và khả năng của mình Còn người học sinh là kẻ thụ động, ngoan ngoãn, cố gắng và thiếu tính độc lập Ngoan ngoãn, bị động, nhớ được nhiều điều thầy đã truyền đạt Để chiếm được vị trí

số một trong lớp, người học sinh phải có được không phải một tính ham hiểu biết khôn cùng của một trí tuệ sắc sảo mà phải có một trí nhớ tốt, phải thật cố gắng để đạt được điểm số cao trong tất cả các môn học Ngoài ra, phải chăm lo sao cho quan điểm của chính mình phù hợp với quan điểm của thầy cô giáo nữa

Nếu quan niệm nghệ thuật dạy học và nghệ thuật thức tỉnh trong tâm hồn các

em thanh thiếu niên tính ham hiểu biết, dạy các em biết suy nghĩ và hành động tích cực, mà tính ham hiểu biết đúng đắn và sinh động chỉ có được trong đầu óc sảng khoái Nếu nhồi nhét kiến thức một cách cưỡng bức thì hiệu quả giáo dục khó có thể như mong muốn, bởi để “Tiêu hoá” được kiến thức thì cần phải “Thưởng thức chung” một cách ngon lành

Để học sinh chủ động, tích cực, sáng tạo trong học tập thì tất yếu phải đổi mới phương pháp giảng dạy

Nếu phương pháp dạy học cũ có một ưu điểm lớn là phát huy trí nhớ, tập cho học sinh làm theo một điều nào đó, thì phương pháp mới vẫn cần những ưu điểm trên Song cái khác căn bản ở đây là phương pháp giảng dạy cũ đã phần nhiều “bỏ quên họcsinh” Nên bình thường, học sinh bị động trong tiếp nhận Còn phương pháp giảng dạymới phải phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh

Phát huy tính tích cực của học sinh thông qua hàng loạt các tác động của giáo viên là bản chất của phương pháp giảng dạy mới Khi nói đến tính tích cực, chúng ta

Trang 4

quan niệm là lòng mong muốn hành động được nảy sinh từ phía học sinh, được biểu hiện ra bên ngoài hay bên trong của sự hoạt động Nhờ phát huy được tính tích cực màhọc sinh không còn bị thụ động Học sinh trở thành các cá nhân trong một tập thể mang khát vọng được khám phá, hiểu biết Muốn vậy, điều khó khăn nhất với người giáo viên là: Trong một giờ lên lớp, phải làm sao cho những học sinh tốt nhất cũng được thoả mãn nhu cầu tri thức, thấy tri thức là một chân trời mới Còn những học sinh học yếu nhất cũng không thấy bị bỏ rơi, họ cũng tham gia được vào quá trình khám phá cái mới Điều này là đặc biệt cần thiết, vì học sinh sẽ hào hứng để đi tìm tri thức chứ không còn bị động, bị nhồi nhét nữa Như vậy, nguyện vọng hành động thế này hay thế khác là kết quả của sự mong muốn của chúng ta.

a Đặc trưng của các phương pháp dạy học tích cực

- Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh

Trong phương pháp tổ chức, người học - đối tượng của hoạt động “dạy”, đồngthời là chủ thể của hoạt động “học” - được cuốn hút vào các hoạt động học tập do giáoviên tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó tự lực khám phá những điều mình chưa rõ chứkhông phải thụ động tiếp thu những tri thức đã được giáo viên sắp đặt Được đặt vàonhững tình huống của đời sống thực tế, người học trực tiếp quan sát, thảo luận, làm thínghiệm, giải quyết vấn đề đặt ra theo cách suy nghĩ của mình, từ đó nắm được kiếnthức kĩ năng mới, vừa nắm được phương pháp “làm ra” kiến thức, kĩ năng đó, khôngrập theo những khuôn mẫu sẵn có, được bộc lộ và phát huy tiềm năng sáng tạo

Dạy theo cách này, giáo viên không chỉ giản đơn truyền đạt tri thức mà còn hướngdẫn hành động Nội dung và phương pháp dạy học phải giúp cho từng học sinh biết hànhđộng và tích cực tham gia các chương trình hành động của cộng đồng

- Dạy và học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học

Phương pháp tích cực xem việc rèn luyện phương pháp học tập cho học sinh không chỉ

là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu dạy học

Trong xã hội hiện đại đang biến đổi nhanh - với sự bùng nổ thông tin, khoa học, kĩ thuật, công nghệ phát triển như vũ bão - thì không thể nhồi nhét vào đầu óc trẻ khối lượng kiến thức ngày nhiều Phải quan tâm dạy cho trẻ phương pháp học ngay từ cấpTiểu học và càng lên cấp học cao hơn càng phải được chú trọng

Trang 5

Trong các phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học Nếu rèn luyện chongười học có được phương pháp, kĩ năng, thói quen, ý chí tự học thì sẽ tạo cho họ lòngham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi con người, kết quả học tập sẽ được nhânlên gấp bội Vì vậy, ngày nay người ta nhấn mạnh mặt hoạt động học trong quá trình

dạy học, nỗ lực tạo ra sự chuyển biến từ học tập thụ động sang tự học chủ động, đặt

vấn đề phát triển tự học ngay trong trường phổ thông, không chỉ tự học ở nhà sau bàilên lớp mà tự học cả trong tiết học có sự hướng dẫn của giáo viên

- Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác

Trong một lớp học mà trình độ kiến thức, tư duy của học sinh không thể đồngđều tuyệt đối thì khi áp dụng phương pháp tích cực buộc phải chấp nhận sự phân hoá

về cường độ, tiến độ hoàn thành nhiệm vụ học tập, nhất là khi bài học được thiết kếthành một chuỗi công tác độc lập

Áp dụng phương pháp tích cực ở trình độ càng cao thì sự phân hoá này cànglớn Việc sử dụng các phương tiện công nghệ thông tin trong nhà trường sẽ đáp ứngyêu cầu cá thể hoá hoạt động học tập theo nhu cầu và khả năng của mỗi học sinh

Tuy nhiên, trong học tập, không phải mọi tri thức, kĩ năng, thái độ đều được hìnhthành bằng những hoạt động độc lập cá nhân Lớp học là môi trường giao tiếp thầy -trò, trò - trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trên con đường chiếm lĩnhnội dung học tập Thông qua thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến mỗi cá nhânđược bộc lộ, khẳng định hay bác bỏ, qua đó người học nâng mình lên một trình độmới Bài học vận dụng được vốn hiểu biết và kinh nghiệm sống của thầy giáo

Trong nhà trường, phương pháp học tập hợp tác được tổ chức ở cấp nhóm, tổ,lớp hoặc trường Được sử dụng phổ biến trong dạy học là hoạt động hợp tác trongnhóm nhỏ 4 đến 6 người Học tập hợp tác làm tăng hiệu quả học tập, nhất là lúc phảigiải quyết những vấn đề gay cấn, lúc xuất hiện thực sự nhu cầu phối hợp giữa các cánhân để hoàn thành nhiệm vụ chung Trong hoạt động theo nhóm nhỏ sẽ không thể cóhiện tượng ỷ lại; tính cách năng lực của mỗi thành viên được bộc lộ, uốn nắn, pháttriển tình bạn, ý thức tổ chức, tinh thần tương trợ Mô hình hợp tác trong xã hội đưavào đời sống học đường sẽ làm cho các thành viên quen dần với sự phân công hợp táctrong lao động xã hội

Trang 6

Trong nền kinh tế thị trường đã xuất hiện nhu cầu hợp tác xuyên quốc gia, liênquốc gia; năng lực hợp tác phải trở thành một mục tiêu giáo dục mà nhà trường phảichuẩn bị cho học sinh.

- Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò

Trong dạy học, việc đánh giá học sinh không chỉ nhằm mục đích nhận địnhthực trạng và điều chỉnh hoạt động học của trò mà còn đồng thời tạo điều kiện nhậnđịnh thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy

Trước đây giáo viên giữ độc quyền đánh giá học sinh Trong phương pháp tíchcực, giáo viên phải hướng dẫn học sinh phát triển kĩ năng tự đánh giá để tự điều chỉnhcách học Liên quan với điều này, giáo viên cần tạo điều kiện thuận lợi để học sinhđược tham gia đánh giá lẫn nhau Tự đánh giá đúng và điều chỉnh hoạt động kịp thời

là năng lực rất cần cho sự thành đạt trong cuộc sống mà nhà trường phải trang bị chohọc sinh

Theo hướng phát triển các phương pháp tích cực để đào tạo những con ngườinăng động, sớm thích nghi với đời sống xã hội, thì việc kiểm tra, đánh giá không thểdừng lại ở yêu cầu tái hiện các kiến thức, lặp lại các kĩ năng đã học mà phải khuyếnkhích trí thông minh, óc sáng tạo trong việc giải quyết những tình huống thực tế

Với sự trợ giúp của các thiết bị kĩ thuật, kiểm tra đánh giá sẽ không còn là mộtcông việc nặng nhọc đối với giáo viên, mà lại cho nhiều thông tin kịp thời hơn để linhhoạt điều chỉnh hoạt động dạy, chỉ đạo hoạt động học

Từ dạy và học thụ động sang dạy và học tích cực, giáo viên không còn đóng vaitrò đơn thuần là người truyền đạt kiến thức, giáo viên trở thành người thiết kế, tổ

chức, hướng dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm nhỏ để học sinh tự lực chiếm

lĩnh nội dung học tập, chủ động đạt các mục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ theo yêucầu của chương trình Trên lớp, học sinh hoạt động là chính, giáo viên có vẻ nhàn nhãhơn nhưng trước đó, khi soạn giáo án, giáo viên đã phải đầu tư công sức, thời gian rấtnhiều so với kiểu dạy và học thụ động mới có thể thực hiện bài lên lớp với vai trò làngười gợi mở, xúc tác, động viên, cố vấn, trọng tài trong các hoạt động tìm tòi hàohứng, tranh luận sôi nổi của học sinh Giáo viên phải có trình độ chuyên môn sâurộng, có trình độ sư phạm lành nghề mới có thể tổ chức, hướng dẫn các hoạt động củahọc sinh mà nhiều khi diễn biến ngoài tầm dự kiến của giáo viên

Trang 7

b Một số phương pháp dạy học tích cực thường áp dụng

Thực hiện dạy và học tích cực không có nghĩa là gạt bỏ các phương phápdạy học truyền thống Trong hệ thống các phương pháp dạy học quen thuộc đượcđào tạo trong các trường sư phạm nước ta từ mấy thập kỉ gần đây cũng đã có nhiềuphương pháp tích cực Các sách lí luận dạy học đã chỉ rõ, về mặt hoạt động nhậnthức, thì các phương pháp thực hành là “tích cực” hơn các phương pháp trực quan,các phương pháp trực quan thì “tích cực” hơn các phương pháp dùng lời

Muốn thực hiện dạy và học tích cực thì cần phát triển các phương pháp thựchành, các phương pháp trực quan theo kiểu tìm tòi từng phần hoặc nghiên cứu pháthiện, nhất là khi dạy các môn khoa học thực nghiệm

Đổi mới phương pháp dạy học cần kế thừa, phát triển những mặt tích cực của

hệ thống phương pháp dạy học đã quen thuộc, đồng thời cần học hỏi, vận dụng một sốphương pháp dạy học mới, phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện dạy và học ở nước ta đểgiáo dục từng bước tiến lên vững chắc Theo hướng nói trên, nên quan tâm phát triểnmột số phương pháp dưới đây:

- Vấn đáp tìm tòi

Vấn đáp (đàm thoại) là phương pháp trong đó giáo viên đặt ra những câu hỏi đểhọc sinh trả lời, hoặc có thể tranh luận với nhau và với cả giáo viên, qua đó học sinhlĩnh hội được nội dung bài học

Có ba phương pháp (mức độ) vấn đáp: vấn đáp tái hiện, vấn đáp giải thích minh họa và vấn đáp tìm tòi

Dạy và học phát hiện và giải quyết vấn đề

Trong một xã hội đang phát triển nhanh theo cơ chế thị trường, cạnh tranh gaygắt, thì phát hiện sớm và giải quyết hợp lí những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn làmột năng lực bảo đảm sự thành đạt trong cuộc sống Vì vậy, tập dượt cho học sinhbiết phát hiện, đặt ra và giải quyết những vấn đề gặp phải trong học tập, trong cuộcsống của cá nhân, gia đình và cộng đồng không chỉ có ý nghĩa ở tầm phương pháp dạyhọc mà phải được đặt như một mục tiêu giáo dục và đào tạo Trong dạy học phát hiện

và giải quyết vấn đề, học sinh vừa nắm được tri thức mới, vừa nắm được phương phápchiếm lĩnh tri thức đó, phát triển tư duy tích cực sáng tạo, được chuẩn bị một năng lực

Trang 8

thích ứng với đời sống xã hội: phát hiện kịp thời và giải quyết hợp lí các vấn đề nảysinh Dạy và học phát hiện, giải quyết vấn đề không chỉ giới hạn ở phạm trù phươngpháp dạy học, nó đòi hỏi cải tạo nội dung, đổi mới cách tổ chức quá trình dạy họctrong mối quan hệ thống nhất với phương pháp dạy học.

ra những điều đang nghĩ, mỗi người có thể nhận rõ trình độ hiểu biết của mình về chủ

đề nêu ra, thấy mình cần học hỏi thêm những gì Bài học trở thành quá trình học hỏilẫn nhau chứ không phải chỉ là sự tiếp nhận thụ động từ giáo viên

Thành công của bài học phụ thuộc vào sự nhiệt tình tham gia của mọi thànhviên, vì vậy phương pháp này còn được gọi là phương pháp cùng tham gia, nó nhưmột phương pháp trung gian giữa sự làm việc độc lập của từng học sinh với sự việcchung của cả lớp Trong hoạt động nhóm, tư duy tích cực của học sinh phải được pháthuy và ý quan trọng của phương pháp này là rèn luyện năng lực hợp tác giữa cácthành viên trong tổ chức lao động Cần tránh khuynh hướng hình thức và đề phònglạm dụng, cho rằng tổ chức hoạt động nhóm, là dấu hiệu tiêu biểu nhất của đổi mớiphương pháp dạy học, hoạt động nhóm càng nhiều thì chứng tỏ phương pháp dạy họccàng đổi mới

- Dạy học theo phương pháp bàn tay nặn bột

Là dạy học theo phương pháp nêu một tình huống có tính vấn đề từ đó để học sinh tự mình đưa ra các thí nghiệm để giải quyết vấn đề đó; Giáo viên chỉ hướng dẫn

và điều khiển để từng nhóm học sinh dần rút ra được kiến thức cần học và ghi nhớ Phần 2 Việc vận dụng kiến thức, kỹ năng đã được bồi dưỡng vào hoạt động

nghề nghiệp thông qua các hoạt động dạy học và giáo dục học:

II Nội dung 2: sử dụng thiết bị dạy học Thời lượng : 30 tiết

Nghị quyết 40/2000/ ĐBQH nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đổi mới chương trình giáo dục nêu rõ: “Đổi mới nội dung chương trình, SGK, phương pháp

Trang 9

dạy và học phải đồng bộ với nâng cấp và đổi mới trang TBDH” Kết quả:

1 Tìm hiểu vai trò của thiết bị dạy học trong đổi mới phương pháp dạy học môn

học

- Sau khi tự học tôi nhận thức sâu sắc hơn về tầm quan trọng của THDH và khẳng định rõ vai trò của THDH trong đổi mới PP dạy học môn học nắm được hệ thống TBDH môn học hiện có ở trường

2, Nghiên cứu sử dụng TBDH theo môn học:

- Sau khi học xong thì tôi có thể sử dụng tốt các TBDH hiện có ở trường mình

3,Phối hợp sử dụng các TBDH hiện đại với các TBDH truyền thống trong môn –

Học xong thì tôi có thể thành thạo trong việc phối hợp các TBDH hiện đại với

TBDH truyền thồng làm tăng hiểu quả dạy học môn học

- Có ý thức sử dùng TBDH truyền thống kết hợp với TBDH hiện đại trong quá trình dạy học và nâng cao chất lượng dạy học

4,Tự làm một số đồ dùng dạy học-Sau khi kết thúc hoạt động học này tôi nhận

thức được tầm quan trọng của việc tự làm đồ dùng dạy học, có kĩ năng xây dựng kế hoạch làm đồ dùng dạy học và có khả năng làm đồ dùng dạy học

III Nội dung 3 kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh

I Nhận thức việc tiếp thu chuẩn kiến thức, kỹ năng

Chuẩn kiến thức, kỹ năng và yêu cầu về thái độ của Chương trình Giáo dục phổ thông(CTGDPT) được thể hiện cụ thể trong các chương trình môn học, hoạt động giáo dục(gọi chung là môn học) và các chương trình cấp học

Chuẩn kiến thức, kỹ năng của Chương trình môn học là các yêu cầu cơ bản, tốithiểu về kiến thức, kỹ năng của môn học mà học sinh cần phải và có thể đạt được saumỗi đơn vị kiến thức (mỗi bài, chủ đề, chủ điểm, mô đun)

Chuẩn kiến thức, kỹ năng của một đơn vị kiến thức là các yêu cầu cơ bản, tối thiểu về

kiến thức, kỹ năng của đơn vị kiến thức mà học sinh cần phải và có thể đạt được Yêu cầu về kiến thức, kỹ năng thể hiện mức độ cần đạt về kiến thức, kỹ năng

Mỗi yêu cầu về kiến thức, kỹ năng có thể được chi tiết hoá hơn bằng những yêu cầu

về kiến thức, kỹ năng cụ thể, tường minh hơn ; được minh chứng bằng những ví dụthể hiện được cả nội dung kiến thức, kỹ năng và mức độ cần đạt về kiến thức,

kỹ năng

Trang 10

Chuẩn kiến thức, kỹ năng của Chương trình cấp học là các yêu cầu cơ bản, tốithiểu về kiến thức, kỹ năng của các môn học mà học sinh cần phải và có thể đạt đượcsau từng giai đoạn học tập trong cấp học.

Chuẩn kiến thức, kỹ năng ở chương trình các cấp học đề cập tới những yêu cầutối thiểu về kiến thức, kỹ năng mà học sinh (HS) cần và có thể đạt được sau khi hoànthành chương trình giáo dục của từng lớp học và cấp học Các chuẩn này cho thấy ýnghĩa quan trọng của việc gắn kết, phối hợp giữa các môn học nhằm đạt được mụctiêu giáo dục của cấp học

Việc thể hiện Chuẩn kiến thức, kỹ năng ở cuối chương trình cấp học biểu hiệnhình mẫu mong đợi về người học sau mỗi cấp học và cần thiết cho công tác quản lí,chỉ đạo, đào tạo, bồi dưỡng giáo viên (GV)

Chương trình cấp học thể hiện chuẩn kiến thức, kỹ năng không phải đối vớitừng môn học mà đối với từng lĩnh vực học tập Trong văn bản về chương trình củacác cấp học, các chuẩn kiến thức, kỹ năng được biên soạn theo tinh thần :

a) Các chuẩn kiến thức, kỹ năng không những được đưa vào cho từng môn họcriêng biệt mà còn cho từng lĩnh vực học tập nhằm thể hiện sự gắn kết giữa các mônhọc và hoạt động giáo dục trong nhiệm vụ thực hiện mục tiêu của cấp học

b) Chuẩn kiến thức, kỹ năng và yêu cầu về thái độ được thể hiện trong chươngtrình cấp học là các chuẩn của cấp học, tức là những yêu cầu cụ thể mà HS cần đạtđược ở cuối cấp học Cách thể hiện này tạo một tầm nhìn về sự phát triển của ngườihọc sau mỗi cấp học, đối chiếu với những gì mà mục tiêu của cấp học đã đề ra

Các mức độ về kiến thức, kỹ năng

Các mức độ về kiến thức, kỹ năng được thể hiện cụ thể trong Chuẩn kiến thức, kỹnăng của CTGDPT

* Về kiến thức : Yêu cầu HS phải hiểu rõ và nắm vững các kiến thức cơ bản trong

chương trình, sách giáo khoa để từ đó có thể phát triển năng lực nhận thức ở cấp caohơn

* Về kỹ năng : Yêu cầu HS phải biết vận dụng các kiến thức đã học để trả lời câu

hỏi, giải bài tập, làm thực hành ; có kỹ năng tính toán, vẽ hình, dựng biểu đồ,

* Kiến thức, kỹ năng phải dựa trên cơ sở phát triển năng lực, trí tuệ HS ở các

mức độ, từ đơn giản đến phức tạp, bao hàm các mức độ khác nhau của nhận thức

Trang 11

* Mức độ cần đạt được về kiến thức được xác định theo các mức độ : nhận biết,

thông hiểu, vận dụng (bậc thấp và bậc cao)

Hiện nay Bộ GD&ĐT đang chỉ đạo dạy học bám sát chuẩn kiến thức, kỹ năngtheo các mức độ: Nhận biết, Thông hiểu và Vận dụng (mức độ thấp và mức độ cao)

1.Nhận biết: Là sự nhớ lại các dữ liệu, thông tin đã có trước đây; nghĩa là có

thể nhận biết thông tin, ghi nhớ, tái hiện thông tin, nhắc lại một loạt dữ liệu, từ các sựkiện đơn giản đến các lí thuyết phức tạp Đây là mức độ, yêu cầu thấp nhất của trình

độ nhận thức, thể hiện ở chỗ HS có thể và chỉ cần nhớ hoặc nhận ra khi được đưa rahoặc dựa trên những thông tin có tính đặc thù của một khái niệm, một sự vật, một hiệntượng

HS phát biểu đúng một định nghĩa, định lí nhưng chưa giải thích và vận dụngđược chúng

Có thể cụ thể hoá mức độ nhận biết bằng các yêu cầu:

Nhận ra, nhớ lại các khái niệm, định lí, định luật, tính chất

Nhận dạng được (không cần giải thích) các khái niệm, hình thể, vị trí tươngđối giữa các đối tượng trong các tình huống đơn giản

Liệt kê, xác định các vị trí tương đối, các mối quan hệ đã biết giữa các yếu tố,các hiện tượng

2 Thông hiểu: Là khả năng nắm được, hiểu được ý nghĩa của các khái niệm,

sự vật, hiện tượng ; giải thích, chứng minh được ý nghĩa của các khái niệm, sự vật,hiện tượng ; là mức độ cao hơn nhận biết nhưng là mức độ thấp nhất của việc thấuhiểu sự vật, hiện tượng, liên quan đến ý nghĩa của các mối quan hệ giữa các kháiniệm, thông tin mà HS đã học hoặc đã biết Điều đó có thể được thể hiện bằng việcchuyển thông tin từ dạng này sang dạng khác, bằng cách giải thích thông tin (giảithích hoặc tóm tắt) và bằng cách ước lượng xu hướng tương lai (dự báo các hệ quảhoặc ảnh hưởng)

Có thể cụ thể hoá mức độ thông hiểu bằng các yêu cầu:

Diễn tả bằng ngôn ngữ cá nhân các khái niệm, định lí, định luật, tính chất,chuyển đổi được từ hình thức ngôn ngữ này sang hình thức ngôn ngữ khác (ví dụ: từlời sang công thức, kí hiệu, số liệu và ngược lại)

Trang 12

Biểu thị, minh hoạ, giải thích được ý nghĩa của các khái niệm, hiện tượng,định nghĩa, định lí, định luật.

Lựa chọn, bổ sung, sắp xếp lại những thông tin cần thiết để giải quyết mộtvấn đề nào đó

Sắp xếp lại các ý trả lời câu hỏi hoặc lời giải bài toán theo cấu trúc lôgic

3 Vận dụng ở mức thấp: Là khả năng sử dụng các kiến thức đã học vào một

hoàn cảnh cụ thể mới: vận dụng nhận biết, hiểu biết thông tin để giải quyết vấn đề đặtra; là khả năng đòi hỏi HS phải biết vận dụng kiến thức, biết sử dụng phương pháp,nguyên lí hay ý tưởng để giải quyết một vấn đề nào đó

Đây là mức độ vận dụng cao hơn mức độ thông hiểu trên, yêu cầu áp dụng đượccác quy tắc, phương pháp, khái niệm, nguyên lí, định lí, công thức để giải quyết mộtvấn đề trong học tập hoặc của thực tiễn

Có thể cụ thể hoá mức độ vận dụng bằng các yêu cầu:

So sánh các phương án giải quyết vấn đề

Phát hiện lời giải có mâu thuẫn, sai lầm và chỉnh sửa được

Giải quyết được những tình huống mới bằng cách vận dụng các khái niệm,định lí, định luật, tính chất đã biết

Khái quát hoá, trừu tượng hoá từ tình huống đơn giản, đơn lẻ quen thuộc sangtình huống mới, phức tạp hơn

4 Vận dụng ở mức cao: Là khả năng phân tích, đánh giá, tổng hợp, sắp xếp,

thiết kế lại thông tin; khai thác, bổ sung thông tin từ các nguồn tư liệu khác để sánglập một hình mẫu mới

Mức độ sáng tạo yêu cầu tạo ra được một hình mẫu mới, một mạng lưới các quan hệtrừu tượng (sơ đồ phân lớp thông tin) Kết quả học tập trong lĩnh vực này nhấn mạnhvào các hành vi, năng lực sáng tạo, đặc biệt là trong việc hình thành các cấu trúc và

mô hình mới

Có thể cụ thể hoá mức độ sáng tạo bằng các yêu cầu:

Mở rộng một mô hình ban đầu thành mô hình mới

Khái quát hoá những vấn đề riêng lẻ, cụ thể thành vấn đề tổng quát mới

Kết hợp nhiều yếu tố riêng thành một tổng thể hoàn chỉnh mới

Ngày đăng: 27/04/2016, 22:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w