Việc giao rừng có sự tham gia của người dân đóng vai trò rất quan trọng trong việc đảm bảo quyền sử dụng đất lâm nghiệp và sử dụng tài nguyên rừng của người dân nhằm nâng cao điều kiện s
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
HOÀNG XUÂN VINH
ĐÁNH GIÁ PHƯƠNG PHÁP GIAO RỪNG THÍ ĐIỂM TRÊN ĐẤT LÂM NGHIỆP ĐƯỢC GIAO CỦA DỰ ÁN 3PAD TẠI
XÃ QUANG PHONG, HUYỆN NA RÌ, TỈNH BẮC KẠN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
¬
Hệ đào tao : Chính quy Chuyên ngành : Lâm nghiệp Lớp : K42- Lâm nghiêp Khoa : Lâm nghiệp Khóa học : 2010-2014
Thái Nguyên, 2014
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Thực tập tốt nghiệp có ý nghĩa rất quan trọng đối với mỗi sinh viên sau
quá trình học tập Đây là khoảng thời gian để cho sinh viên làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, đồng thời giúp cho sinh viên củng cố và hệ thống lại những kiến thức đã học để áp dụng vào thực tiễn nghiên cứu cũng như công việc ngoài thực tế, từ đó nâng cao năng lực tri thức sáng tạo của bản thân nhằm phục vụ tốt hơn cho công việc
Sau một thời gian tiến hành thực tập để hoàn thành khóa luận này Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Lâm nghiệp, xin cảm ơn các Thầy giáo,
Cô giáo đã tận tình dạy tôi trong suốt bốn năm qua
Xin gửi lời cảm ơn sâu sắc và chân thành tới giáo viên hưỡng dẫn TS Trần Thị Thu Hà, người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Xin gửi lời cảm ơn tới Ủy ban nhân dân xã Quang Phong, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian thực tập
Xin gửi lời cảm ơn tới bạn bè và gia đình tôi những người luôn ủng hộ, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp của mình
Mặc dù đã cố gắng, nhưng do thời gian có hạn cộng với vốn kiến thức bản thân còn nhiều hạn chế nên khóa luận không tránh khỏi những sai sót Vì vậy tôi rất mong được sự chỉ bảo và góp ý của các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp để khóa luận của tôi được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 30 tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Hoàng Xuân Vinh
Trang 3DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
TNMT : Tài nguyên môi trường
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu Error! Bookmark not defined 1.3 Mục đích nghiên cứu 2
1.4 Ý nghĩa của đề tài 2
1.4.1 Trong học tập và khoa học nghiên cứu 2
1.4.2 Trong thực tiễn sản xuất 2
PHẦN 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
2.1 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 4
2.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 4
2.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 6
2.1.3 Cơ sở pháp lý của vấn đề nghiên cứu 10
2.2 Tổng quan khu vực nghiên cứu 11
2.2.1 Điều kiện tự nhiên 11
2.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 14
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 21
3.1 Đối tượng và phạn vi nghiên cứu 21
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 21
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 21
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 21
3.3 Nội dung nghiên cứu 21
3.4 Phương pháp tiến hành 21
3.4.1 Phương pháp tiếp cận 21
3.4.2 Phương pháp ngoại nghiệp 22
3.4.2.1 Tham khảo, kế thừa các tài liệu có liên quan 22
3.4.2.2 Điều tra ngoại nghiệp cùng với tổ công tác và người dân trực tiếp tham gia vào tiến trình giao rừng 22
3.4.2.3 Điều tra ô tiêu chuẩn 23
3.4.4 Phương pháp nội nghiệp 26
PHẦN 4 KẾT QỦA VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ 27
Trang 54.1 Đánh giá tình hình quản lý, sử dụng rừng và đất lâm nghiệp của xã Quang
Phong 27
4.1.1 Thực trạng sử dụng rừng và đất lâm nghiệp của xã Quang Phong 27
4.1.2 Phân tích thực trạng tình hình sử dụng rừng của xã 28
4.2 Đánh giá tiến trình và của phương pháp giao rừng thí điểm có sự tham gia của người dân trên đất lâm nghiệp được giao 29
4.3 Đánh giá kết quả của giao rừng có sự tham gia tại thôn nà Đán và Nà Buốc xã Quang phong 36
4.3.1 Kết quả đo giao thực địa ở các thôn điểm 36
4.3.1.1 Kết quả giao rừng có sự tham gia của người dân tại thôn Nà Buố 36
Rì năm 2014 thuộc dự án 3PAD Bắc Kạn 36
4.3.1.2 Kết quả giao rừng có sự tham gia của người dân tại thôn Nà Đán 38
4.3.2 Tác động của kết quả giao rừng có sự tham gia của người dân 40
4.4 Đánh giá về thuận lợi và khó khăn còn gặp phải trong tiến trình giao rừng 42
4.4.1 Thuận lợi 42
4.4.2 Khó khăn 43
4.5 Đề xuất một số giải pháp thực hiện việc giao rừng có sự tham gia của người dân 43
PHẦN 5 KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 46
5.1 Kết luận 46
5.2 Tồn tại 47
5.3 Kiến nghị 47
Trang 7DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1: Sơ đồ bố trí ô tiêu chuẩn……… 23 Hình 3.2: Sơ đồ ô tiêu chuẩn rừng trồng……….… 24
Trang 8PHẦN 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Rừng là thảm thực vật của những cây thân gỗ trên bề mặt trái đất, giữ vai trò to lớn đối với con người của chúng ta như: cung cấp nguồn gỗ củi, điều hoà khí hậu, tạo ra oxy, điều hoà nước, nơi cư trú của động vật và lưu trữ các nguồn gen quí hiếm Ngoài ra, rừng còn là nơi du lịch, nghỉ ngơi, cung cấp dược liệu cho con người Cùng với sự tiến bộ và phát triển của xã hội vai trò của rừng cũng ngày càng được nâng cao đòi hỏi phải được quản lý sử dụng một cách bền vững Nhận thức được sự quan trọng của rừng, kể từ năm
1994, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản luật hướng dẫn thực hiện chính sách giao đất giao rừng và quyền hưởng lợi của người nhận đất nhận rừng Giao đất khoán rừng và thực hiện cơ chế hưởng lợi là những vấn đề quan trọng đang được xã hội quan tâm Đây là những vấn đề vừa mang ý nghĩa kinh tế, ý nghĩa xã hội và có tính lâu dài Việc thực hiện chính sách giao đất giao rừng và quyền hưởng lợi đã có những tác động lớn trực tiếp đến đời sống của người dân, chủ yếu là người dân vùng trung du, miền núi
Năm qua nhà nước đã có chủ trương về giao đất, giao rừng cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân để và quản lý bảo vệ và sản xuất, nhưng thực tế triển khai còn chậm Việc giao rừng có sự tham gia của người dân đóng vai trò rất quan trọng trong việc đảm bảo quyền sử dụng đất lâm nghiệp và sử dụng tài nguyên rừng của người dân nhằm nâng cao điều kiện sống và cải thiện công tác bảo vệ và quản lý tài nguyên thiên nhiên của họ Tuy nhiên việc giao rừng chưa gắn liền với giao đất lâm nghiệp, nhiều khu rừng chưa có chủ quản lý thực sự trong khi ở nhiều nơi người dân miền núi vẫn thiếu đất sản xuất không có điều kiện tham gia vào sản xuất nghề rừng phát triển kinh
tế, dẫn đến tình trạng tranh chấp đất đai, xâm lấn đất rừng, gây nhiều khó
Trang 9khăn phức tạp trong công tác quản lý đất đai và tài nguyên rừng Để góp phần thực hiện tốt công tác giao rừng nhằm phát huy sức mạnh của ngành Lâm nghiệp miền núi, tăng thu nhập cho người dân đặc biệt là dân tộc vùng sâu vùng xa có đời sống khó khăn, góp phần thực hiện tốt công tác quản lý, bảo
vệ và phát triển rừng thì việc đi tìm hiểu sâu các giải pháp hữu hiệu thúc đẩy nhanh tiến trình thực hiện công tác giao rừng là hết sức cần thiết Xuất phát từ
những vấn đề trên, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá phương pháp giao rừng thí điểm trên đất lâm nghiệp được giao của dự án 3PAD tại xã Quang Phong, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn”
1.2 Mục đích nghiên cứu
- Đánh giá phương pháp giao rừng có sự tham gia của người dân và tác động, hiệu quả của chính sách giao rừng có sự tham gia của người dân tại xã Quang Phong, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng
và tăng thu nhập từ rừng
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
- Nhằm đưa ra một phương phương pháp giao rừng hoàn thiện nhất cho
công tác giao rừng
1.4 Ý nghĩa của đề tài
1.4.1 Trong học tập và khoa học nghiên cứu
- Nghiên cứu đề tài giúp cho sinh viên phần nào củng cố và hệ thống lại những kiến thức đã học, nâng cao năng lực cho bản thân, tạo cho mình tác phong làm việc nghiêm túc, có khả năng giải quyết tốt các vấn đề, tình huống nhất là khi tiếp cận với các đối tượng nghiên cứu
- Tạo tiền đề vững chắc cho công việc của sinh viên sau khi ra trường Tạo cơ hội cho sinh viên vận dụng tính sáng tạo của bản thân vào cuộc sống sau này
1.4.2 Trong thực tiễn sản xuất
- Giao rừng đóng vai trò rất quan trọng trong đảm bảo quyền sử dụng đất lâm nghiệp và sử dụng tài nguyên rừng, góp phần làm tăng thu nhập và
Trang 10đem lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân tại địa bàn, góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế chung cho khu vực
- Giao rừng có sự tham gia tạo sự ổn định về mặt pháp lý cho việc quản
lý của nhà nước đối với tài nguyên rừng là công cụ hữu hiệu giúp cho Nhà nước nắm chắc quỹ rừng và xây dựng chính sách sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên rừng có hiệu quả
- Làm cơ sở cho việc giao rừng, cho thuê rừng đầu tư cho phát triển kinh tế - xã hội và môi trường
- Nâng cao ý thức trách nhiệm của các tổ chức, các nhân, hộ gia đình trong việc sử dụng và quản lý rừng có hiệu quả
- Thông qua việc xác định trữ lượng và tài nguyên đa dạng sinh học trên diện tích rừng được giao (tài sản trên đất lâm nghiệp) làm cơ sở cho việc thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng
Trang 11PHẦN 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Nghiên cứu về chính sách giao đất giao rừng, đối tượng hưởng lợi của các chính sách liên quan trong quản lý và sử dụng tài nguyên rừng trên thế giới được đặc biệt quan tâm, nhất là đối với các nước đang phát triển
Ở Phần Lan, sở hữu tư nhân về rừng và đất rừng mang tính truyền thống,
có tới 2/3 diện tích rừng và đất rừng thuộc sở hữu của tư nhân và có khoảng 430.000 chủ rừng, bình quân mỗi chủ rừng sở hữu 33 ha (FAO, 1976) [4]
Ở Philippin, chính sách lâm nghiệp xã hội “Institutional Social Forestry Program” (ISFP) năm 1980 của chính phủ nhằm dân chủ hóa việc sử dụng đất rừng công cộng và khuyến khích việc phân chia một cách hợp lý các lợi ích từ rừng, chương trình này nhằm tạo điều kiện phát triển kinh tế xã hội cho cộng đồng người dân sống phụ thuộc vào đất rừng thông qua đó bảo vệ và phát triển tốt tài nguyên rừng
Ở Nhật Bản, có 2 hình thức sở hữu đất lâm nghiệp đó là sở hữu nhà nước và sở hữu công cộng và tư nhân gồm:
- Nhà nước sở hữu 7,84 triệu ha chiếm 31,2% rừng và đất rừng của cả nước, những diện tích rừng và đất rừng này chủ yếu ở những nơi xa xôi hẻo lánh, địa hình hiểm trở,… thuộc quyền quản lý của Cục Lâm nghiệp - Bộ Nông lâm thủy sản
- Các tổ chức chính quyền địa phương sở hữu trên 2,7 triệu ha chiếm 10,74% Các công ty tư nhân và các hộ gia đình sở hữu 14,6 triệu ha, chiếm 58,1% Có tới 88% chủ rừng là các hộ tư nhân, trong đó phần lớn các chủ rừng
sở hữu dưới 5 ha đất lâm nghiệp nên các chủ rừng này liên kết với nhau thành các hội Hiện nay, ở Nhật Bản có khoảng 1.430 Hội các chủ rừng với 1.718.000 thành viên
- Chính phủ có chương trình trợ cấp nhằm hỗ trợ cho các hoạt động lâm sinh, xây dựng đường lâm nghiệp thông qua Hội các chủ rừng, ngoài ra các chủ rừng còn được ưu tiên vay vốn để sản xuất kinh doanh với lãi xuất thấp, đồng thời còn được giảm thuế đất lâm nghiệp (FAO, 1997) [12]
Trang 12Những kinh nghiệm của một số nước khác như: Nam Triều Tiên, Thái Lan đều có một xu hướng chung là cho phép một nhóm người ở địa phương
có nhiều rừng quyền sử dụng các lợi ích từ rừng và quy định rõ trách nhiệm của họ tương xứng với lợi ích được hưởng, thông thường các nước thường chú ý tăng cường quyền sử dụng gỗ, củi, thức ăn gia súc cần thiết để người dân tự cung tự cấp cho nhu cầu hằng ngày của họ, tạo điều kiện cho họ có thêm thu nhập từ rừng và điều kiện thuê nhân công địa phương đảm bảo quyền sử dụng đất canh tác, tăng cường sự hỗ trợ của chính phủ
Trong thế kỷ 20, nhất là những thập kỷ của cuối thế kỷ này, việc quản
lý rừng và xây dựng chiến lược phát triển lâm nghiệp trên thế giới đã có nhiều chuyển biến, có thể tóm tắt những xu hướng chủ yếu trong quản lý rừng trong thời gian gần đây như sau:
- Chuyển mục tiêu quản lý từ sử dụng rừng sản xuất gỗ chủ yếu sang thực hiện mục tiêu sử dụng rừng kết hợp cả ba lợi ích: kinh tế, sinh thái và xã hội Nhiều nước đã tuyên bố thực hiện, hoặc đã áp dụng nhiều biện pháp quản
lý rừng theo hướng tăng cường bảo vệ rừng như: đình chỉ khai thác gỗ tự nhiên, nâng cao diện tích rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, các khu bảo tồn thiên nhiên, phát triển du lịch sinh thái, chú trọng nhiều hơn đến mục tiêu phát huy tác dụng sinh thái của rừng
- Phân cấp quản lý nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp (phi tập trung hóa), xu hướng là chuyển giao dần trách nhiệm và quyền lực quản lý rừng từ các cấp trung ương xuống các cấp địa phương và cơ sở
- Xúc tiến giao đất giao rừng cho nhân dân và cộng đồng, giảm bớt can thiệp của nhà nước, thực hiện tư nhân hóa đất đai và các cơ sở kinh doanh lâm nghiệp, tạo điều kiên cho quản lý rừng năng động hơn đem lại nhiêu lợi nhuận hơn
- Thu hút sự tham gia của các nhóm dân cư được hưởng lợi trong quá trình xây dựng kế hoạch quản lý rừng, khuynh hướng chung là khi xây dựng
kế hoạch quản lý rừng, chủ rừng cần quan tâm thu hút sự tham gia của các bên liên quan đến quyền lợi từ rừng
- Khuyến khích sự tham gia của công đồng địa phương và công tác quản
lý rừng, xu hướng là phát triển các hình thức tổ chức để thu hút công đồng địa phương và quản lý rừng như: liên kết quản lý rừng, phát tiển các chương trình lâm nghiệp cộng đồng, các công trình bảo tồn thiên nhiên theo làng
Trang 13Ở Thái Lan, đang thí điểm giao rừng cho cộng đồng, đã giao được khoảng 200.000 ha ở gần các điểm dân cư, nhà nước trợ cấp tối đa cho mỗi hộ
50 rai và tối thiểu là 5 rai (1 rai = 1.600 m2) Thái Lan dự kiến áp dụng một chính sách nông lâm nghiệp toàn diện, chú trọng tới các vấn đề xã hội, môi trường và người nghèo, lấy cộng đồng làm đơn vị cơ sở (FAO, 1976) [4]
Ở Ấn Độ, vào những năm 70 của thế kỷ 20, Ấn Độ đã phát triển lâm nghiệp xã hội (LNXH) Năm 1986, nước này đã hoàn thành mục tiêu phát triển LNXH tại các bang khác nhau Ấn Độ đã coi cộng đồng như một đối tác quản
lý những vùng đất rừng của chính phủ Chính phủ cho phép các cộng đồng được sử dụng tất cả các sản phẩm không phải là gỗ, còn việc phân chia quyền lợi cây gỗ lại có sự thay đổi nhiều giữa các bang, gỗ được sử dụng làm chất đốt
ở Bi Har và được phép sử dụng ở Orissa thì ở Rajas than có đến 60% nguồn thu nhập của cộng đồng là từ buôn bán gỗ Tại Ấn Độ, liên kết quản lý rừng đã đem lại những lợi ích nhất định cho cả 2 bên: Chính phủ (cơ quan lâm nghiệp)
và cộng đồng địa phương Chính sách lâm nghiệp quốc gia 1988 khẳng định sự tham gia của người dân vào sự phát triển và bảo vệ rừng và khẳng định một trong những điểm thiết yếu của quản lý rừng chính là các cộng đồng tại rừng phải được khuyến khích để tự nhận biết vai trò của bản thân họ trong phát triển
và bảo vệ rừng mà họ được hưởng lợi từ đó ( Hobley, M, 1996) [11]
2.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
- Giao đất giao rừng đã được coi là một trong những hình thức có tính hiệu quả, bền vững trong quản lý tài nguyên rừng tại Việt Nam, trong khi các nước trong vùng và thế giới có những hình thức đặc thù như rừng cộng quản, nhóm sử dụng, rừng làng bản Giao rừng và đất lâm nghiệp ở Việt Nam được phản ánh rõ nét trong 3 giai đoạn chủ yếu, phù hợp với những thay đổi
cơ bản về đường lối và chủ trương của Đảng và Nhà nước về quản lý đất đai
* Giai đoạn năm 1968 – 1986
+ Ở cấp Trung ương: giai đoạn này tuy vẫn duy trì cơ chế quản lý tập
trung bao cấp nhưng đã bắt đầu hình thành khung pháp lý về giao đất lâm nghiệp Đặc điểm của cơ chế này được tóm tắt như sau:
Chỉ có 2 thành phần kinh tế là quốc doanh và tập thể Cụ thể trong ngành lâm nghiệp và lâm trường quốc doanh (LTQD) và hợp tác xã (HTX) có hoạt động nghề rừng
Trang 14- Kế hoạch hóa tập trung ở mức độ cao, theo kiểu “ cấp phát - giao nộp”
- Gỗ và lâm sản là vật tư do Nhà nước thống nhất quản lý
- Về khung pháp lý quản lý đất đai và giao đất lâm nghiệp, trong giai đoạn này, Chính phủ ban hành nhiều chính sách liên quan đến quản lý đất đai: Quyết định số 184/HĐBT ngày 6/11/1982 của Hội đồng Bộ trưởng về đẩy mạnh giao đất giao rừng cho tập thể và nhân dân trồng cây gây rừng
Nội dung cơ bản được tóm tắt như sau:
- Đối tượng giao đất giao rừng được mở rộng hơn trước, bao gồm: HTX, tập đoàn sản xuất, hộ gia đình, cơ quan, xí nghiệp, trường học và quân đội
- Trong giai đoạn đầu chủ yếu giao đất trồng và đồi trọc, rừng nghèo và các rừng chưa giao
Không ấn định diện tích rừng và đất rừng giao cho các đơn vị tập thể Mỗi hộ ở các tỉnh miền núi, trung du được nhận 2000 m2/lao động Các hộ gia đình có thể ký hợp đồng với một đơn vị Nhà nước để trồng cây trên đất đồi trọc Có trợ cấp nhất định cho các đơn vị tập thể và cá nhân nhận đất và rừng
để trồng và cải tạo rừng
+ Ở cấp địa phương: Trong giai đoạn này tại các cấp địa phương
chuyển biến đầu tiên là các HTX bắt đầu tham gia vào hoạt động lâm nghiệp nhờ chính sách của Nhà nước về giao đất giao rừng cho HTX Hoạt động của HTX vào nghề rừng có 3 loại hình:
* Hợp tác xã quản lý rừng: Tại các vùng trung du và miền núi phía Bắc, đối với những tỉnh có tiềm năng sản xuất tốt, có thị trường tiêu thụ sản phẩm
và có thể đảm bảo tự cung cấp lương thực thì các HTX trực tiếp sản xuất, quản lý và sử dụng rừng Ví dụ như: Quảng Ninh chuyển sản xuất gỗ trụ mỏ, Thanh Hoá chuyên sản xuất Tre, Luồng Tuy nhiên chủ trương giao đất giao rừng cho các đơn vị ngoài quốc doanh (như HTX) vẫn còn mới mẻ, chưa thực
sự đi vào cuộc sống nên số lượng các HTX tham gia nhóm này không nhiều
Ví dụ: tỉnh Quảng Ninh chỉ có 28 trong số 93 HTX; Lạng Sơn có 29 trong số
200 HTX tham gia nhận đất nhận rừng
* Hợp tác xã làm việc theo hợp đồng: Các HTX này mặc dù được giao đất giao rừng nhưng chưa đảm bảo tự kinh doanh nên phải hợp đồng khoán trồng rừng hoặc khai thác lâm sản cho LTQD trên diện tích đất và rừng được giao Ví dụ như: huyện Bạch Thông (Bắc Thái cũ), một số huyện ở tỉnh
Trang 15Quảng Ninh và Nghệ Tĩnh, LTQD chịu trách nhiệm cung cấp giống cây, tiền công, đầu tư sản xuất sau khi trồng, các HTX chịu trách nhiệm bảo vệ và quản lý rừng trồng Nhìn chung, rừng được bảo vệ tốt hơn trước
* Các HTX tham gia khai thác rừng tự nhiên: các HTX thuộc loại này thường đã nhận đất rừng nhưng chỉ đơn thuần để giữ rừng, khai thác gỗ, củi
và các lâm sản khác, đặc biệt vào những năm thiếu lương thực
Tóm lại: trong thời kỳ này, nghành lâm nghiệp đã quy hoạch lại đất lâm nghiệp thành 3 loại rừng: rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng sản xuất Hệ thống các LTQD đã được tổ chức lại vào năm 1985 và diện tích họ trực tiếp quản lý rừng cũng đã giảm xuống Các lâm trường tiến hành rà soát lại quỹ đất và bàn giao lại cho chính quyền xã để giao cho các hộ gia đình Tổng diện tích đất lâm nghiệp đã giao trong thời kỳ 1968 - 1986 là 4,4 triệu ha, trong đó
có 1,8 triệu đất có rừng và 2,7 triệu ha đất trống đồi trọc Các đối tượng nhận đất lâm nghiệp là 5.722 hợp tác xã và các tổ sản xuất tại 2.271 xã, 610 đơn vị khác và trường học, 349.750 hộ gia đình (Cẩm nang ngành lâm nghiệp, 2004) [3]
* Giai đoạn từ 1986 -1994
+ Ở Trung ương Thời kỳ đổi mới của Việt Nam bắt đầu từ Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ VI, năm 1986 chuyển đổi từ hệ thống kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường nhiều thành phần do Nhà nước lãnh đạo theo định hướng xã hội chủ nghĩa Từ đó các chính sách dần được điều chỉnh Tuy nhiên, trên thực tế quá trình đổi mới bắt đầu sớm hơn nhiều Năm 1986, Ban chấp hành TW Đảng đã ban hành Chỉ thị 100/CT-TW mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động, mà thực chất là khoán đến hộ gia đình sản xuất nông nghiệp Tiếp theo đó, để tăng vai trò kinh tế của hộ gia đình nông dân, Bộ Chính trị đã đề ra Nghị quyết 10 về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp với nội dung cơ bản là giải phóng triệt để sức sản xuất nhằm khai thác hợp lý tiềm năng lao động, đất đai, lấy hộ gia đình làm đơn vị kinh tế tự chủ Quốc hội và Chính phủ đã ban hành các luật và các chính sách về lâm nghiệp gồm:
Luật Bảo vệ và Phát triển Rừng được ban hành năm 1991 đã đưa ra khuôn khổ ban đầu về các chính sách liên quan đến vấn đề giao đất lâm
Trang 16nghiệp cho các đối tượng để sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích phát triển lâm nghiệp
- Các quyết định, nghị định liên quan giao khoán đất cho tổ chức, hộ gia đình cá nhân sử dụng vào mục đích nông, lâm nghiệp [8]
- Nhà nước cũng đã ban hành một số chính sách nhằm khuyến khích sử dụng đất trồng rừng và bảo vệ rừng như Quyết định số 264/CT ngày 22/7/1992 của HĐBT Bộ trưởng và Quyết định 3267/CT ngày 15/9/1992 về một số chủ trương chính sách sử dụng đất trống đồi trọc, rừng, bãi, bồi ven biển và mặt nước
+ Ở cấp địa phương: Trong giai đoạn từ 1986 - 1994 đã có chuyển biến
mạnh mẽ và đạt kết quả khả quan về công tác giao đất giao rừng Chương trình 327 đã dành phần lớn ngân sách cho việc giao đất lâm nghiệp cho các hộ gia đình ở nhiều vùng trong cả nước Trong giai đoạn này đã có một số hướng dẫn cho công tác giao đất lâm nghiệp Qua 4 năm thực hiện, đến cuối năm
1996 chương trình 327 đã đạt được kết quả đáng kể sau: Giao khoán bảo vệ rừng đến hộ: 1,6 triệu ha (466.768 hộ) Trong thời gian này khoảng 55% trên tổng số diện tích đất lâm nghiệp đã được giao hoặc khoán cho các hộ gia đình hoặc các đơn vị kinh tế khác, trong đó 40% diện tích này thuộc về các hộ gia đình nghĩa là khoảng 22% trong tổng số diện tích đất lâm nghiệp của các tỉnh trên đã được giao hoặc khoán cho các hộ, có khoảng 19% số hộ của các tỉnh
đã nhận đất có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (nhiều trường hợp có sổ lâm bạ) hoặc hợp đồng bảo vệ
* Giai đoạn từ năm 1994 - 2000 và giai đoạn từ năm 2000 đến nay
Từ 1994 - 2000: Việc giao đất lâm nghiệp được thực hiện theo Nghị
định số 02/CP, ngày 15/01/1994 của Chính phủ Chỉ đạo và chịu trách nhiệm chính việc giao đất lâm nghiệp là Chi cục kiểm lâm tại cấp tỉnh và Hạt kiểm lâm tại cấp huyện Sản phẩm của quá trình này là giao nhận trên thực địa, bản
đồ giao đất và cấp sổ lâm bạ, chưa làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ (sổ đỏ)
Từ năm 2000 đến nay
Sau khi Chính phủ ban hành Nghị định 163/1999/NĐ-CP về giao đất lâm nghiệp thay thế cho Nghị định 02 nêu trên, các tỉnh căn cứ vào Nghị định
Trang 17này, đã giao cho ngành địa chính chủ trì tổ chức thực hiện việc đo đạc, giao đất lâm nghiệp và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
2.1.3 Cơ sở pháp lý của vấn đề nghiên cứu
- Luật Đất đai ngày 10/12/2003
- Luật Đất đai số 45/2013/QH13
- Luật bảo vệ và phát triển rừng số 29/2004/QH11 ngày 03/12/2004
- Nghị định số 01/CP ngày 01/01/1995 của Chính Phủ quy định về việc giao khoán đất sử dụng vào mục đính sử dụng đất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản trong các doanh nghiệp Nhà nước
- Nghị định số 02/CP ngày 15/01/1994 của Thủ tướng Chính phủ ban hành quy định về việc giao đất lâm nghiệp cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp
- Nghị định 163/1999/NĐ-CP về giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp
- Nghị định 23/2006/NĐ-CP ngày 03/3/2006 của Chính phủ về việc hướng dẫn thi hành Luật bảo vệ và Phát triển rừng
- Quyết định 178/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao, được thuê, được khoán rừng và đất lâm nghiệp
- Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg ngày 14/8/2006 của Thủ tướng Chính Phủ về việc ban hành Quy chế quản lý rừng
- Thông tư số 38/2007/TT-BNN ngày 25 tháng 4 năm 2007 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn trình tự, thủ tục giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư thôn
- Thông tư liên tịch số 80/2003/TTLT/BNN-BTC ngày 03/9/2003 của
Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Tài chính về hướng dẫn thực hiện Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao, được thuê, được khoán rừng và đất lâm nghiệp
- Các báo cáo, Nghị quyết của Đảng ủy, HĐND, UBND xã Quang Phong năm 2013-2014;
- Sổ tay hướng dẫn giao rừng có sự tham gia ở tỉnh Bắc Kạn (10/2013)
Trang 18- Số liệu thống kê, kiểm kê đất đai các năm của xã Quang Phong;
- Các loại bản đồ: Địa hình, bản đồ giải thửa, bản đồ địa giới hành chính
364, bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2010 tỷ lệ 1:10.000, bản đồ giao đất lâm nghiệp của xã Quang Phong
2.2 Tổng quan khu vực nghiên cứu
2.2.1 Điều kiện tự nhiên
2.2.1.1 Vị trí địa lý
- Quang Phong là xã miền núi nằm phía nam huyện Na Rì tỉnh Bắc Kạn, cách trung tâm thị trấn Yến Lạc gần 30 km Xã có tổng diện tích tự
nhiên là 4.550,39 ha được chia ra 16 thôn, bản
Xã có ranh giới hành chính như sau:
+ Phía Đông giáp xã Hảo Nghĩa;
+ Phía Tây giáp huyện Chợ Mới;
+ Phía Nam giáp xã Đổng Xá và xã Dương Sơn;
+ Phía Bắc giáp xã Hữu Thác và xã Côn Minh
Giao thông xã còn nhiều khó khăn, ngoài tuyến quốc lộ 3B chạy dọc xã
đã được nhựa hóa và đang được mở rộng, tất cả các tuyến đường liên thôn còn lại trong xã đều là đường đất, đường nhỏ hẹp Trong kỳ quy hoạch tới cần nâng cấp, mở rộng nhằm phục vụ nhu cầu đi lại cho nhân dân trong xã
2.2.1.2 Địa hình, địa mạo
Xã Quang Phong có địa hình đồi núi cao, giữa là những cánh đồng nhỏ hẹp chạy dọc theo các con suối và các khe núi độ dốc lớn, độ cao trung bình
từ 300 m đến 800m
Xã Quang Phong có địa hình mang những nét đặc trưng của một xã miền núi phía Bắc Địa hình, địa mạo tương đối phức tạp đa dạng, đồi núi chiếm trên 90% tổng diện tích tự nhiên với độ cao thấp khác nhau Địa hình nghiêng dần từ phía Tây - Bắc sang phía Đông - Nam Trên địa bàn xã xen kẽ giữa dãy đồi núi cao là các dãy thung lũng tạo thành những khu cánh đồng nhỏ hẹp đã gây
ra những khó khăn nhất định cho sản xuất nông nghiệp và giao thương với các vùng miền lân cận Do ảnh hưởng của địa hình và cấu tạo địa chất đã chi phối mạng lưới sông suối khá phức tạp trên địa bàn xã Phần lớn đồi núi sát thềm sông, thềm suối đã khống chế quá trình bồi tụ phù sa, chính vì vậy trong xã
Trang 19không có những cánh đồng rộng lớn mà chỉ có những dải đất bồi tụ phù sa nhỏ, hẹp dọc theo các triền sông, triền suối
và suối ngắn, tốc độ dòng chảy lớn nên vật liệu bồi tích thường thô, rất ít phần
tử mịn, các vật liệu thô như mảnh đá, viên cuội là những sản phẩm đồi núi hay thềm cao xô xuống
- Nhóm đất thung lũng ( D): Đất hình thành ở các thung lũng hẹp giữa
núi hoặc thung lũng kín vùng đồi, hình thành trên các sản phẩm sườn tích hoặc dốc tụ do sản phẩm phong hóa từ các khu vực lân cận có địa hình cao hơn xô xuống với các vật liệu kém đồng nhất từ sét, vật liệu hữu cơ đến các
mảnh đá kích thước khác nhau, sắc cạnh
- Nhóm đất đỏ vàng: gồm 4 đơn vị đất
- Đất đỏ nâu trên đá vôi (Fv): Hình thành trên sản phẩm phong hóa của
đá vôi, phân bố ở độ cao < 900 m, có màu đỏ nâu thẫm, kết cấu viên, tơi xốp Đất thường có phản ứng chua đến kiềm yếu, hàm lượng chất hữu cơ và lân tổng số nghèo đến giàu, đạm tổng số từ trung bình đến giàu, lân dễ tiêu nghèo đến giàu, kali dễ tiêu nghèo đến trung bìnhĐơn vị đất này có ưu thế về tính tơi xốp, kết cấu viên, thoáng khí, khả năng giữ nước, giữ dinh dưỡng tốt Tuy nhiên trong đất thường có lẫn đá nhiều khu vực có đá lộ đầu, độ dày tầng đất
bị hạn chế
- Đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa nước (Fl): Đất được hình thành do san ủi, tạo thành ruộng bậc thang để canh tác lúa nước vẫn còn mang một số đặc trưng của nhóm đất đỏ vàng nhưng do canh tác lúa nước đất bị biến đổi sâu sắc cả về tính chất vật lý và hóa học Đất có đặc trưng bị glay, kết cấu đất
bị phá hủy Nhiều nơi ở chân đồi lẫn kết von và đá ong
- Đất nâu vàng phát triển trên nền phù sa cổ (Fp): Đất hình thành trên phù sa cổ, có đặc trưng của nhóm đất đỏ vàng và màu chủ đạo là màu nâu vàng Đất chịu sự tác động của quá trình xói mòn, rửa trôi mạnh và thường
Trang 20phân bố ở vùng tiếp giáp giữa đồng bằng và trung du, cá bậc thềm cao ven sông Nhìn chung đất có phản ứng rất chua đến chua, hàm lượng chất hữu cơ
và các dinh dưỡng tổng số từ nghèo đến giàu
- Đất vàng nhạt trên đá cát (Fq): Dạng địa hình phân bố chủ yếu là đồi núi thấp thoải, các sườn núi ít rãnh lõm sâu và đỉnh núi ít nhọn, đôi khi có dạng địa hình bát úp Đá mẹ hình thành thường giàu thạch anh như sa thạch, quăczit, dăm cuội kết Đây là loại đất có độ phì tự nhiên thấp, thành phần cơ giới nhẹ, tỉ lệ cát cao, độ dày tầng đất mịn mỏng
2.2.1.4 Khí hậu thủy văn
* Khí hậu
- Xã Quang Phong mang đặc điểm chung của khí hậu miền núi vùng cao phía Bắc, nhiệt đới gió mùa, chia thành 2 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô: Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10 Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Nhiệt độ trung bình năm 21,50c, nhiệt độ cao nhất lên đến 370c, nhiệt độ thấp nhất xuống tới 50c
- Lượng mưa trung bình năm 1.084 mm, lượng mưa cao nhất vào tháng
5, 6,7, trung bình khoảng từ 186,2 mm/tháng đến 242 mm/tháng, lượng mưa thấp nhất vào tháng 11 - 12
Tổng số giờ nắng trung bình năm là 1.483 giờ, tháng có số giờ nắng cao nhất là tháng 7,8,9 trung bình khoảng 185 giờ, tháng có số giờ nắng thấp nhất là tháng 1, trung bình khoảng 61giờ
- Độ ẩm không khí trung bình khoảng 82%, thấp nhất là 78% vào tháng
Nhìn chung khí hậu thời tiết của xã tương đối thuận lợi cho sản xuất nông - lâm nghiệp Tuy nhiên là xã vùng cao, ảnh hưởng của núi đá nên vào mùa đông có sương mù, mưa phùn Thời tiết hanh khô có khi phải chịu hạn hán, vào mùa mưa do địa hình cao, độ dốc lớn, có mưa nhiều dễ gây ra lũ cuốn, lũ quét làm xói mòn, lở đất
Trang 21* Thuỷ văn
Hệ thống thủy văn của xã Quang phong có hệ thống sông suối cùng với
hệ thống ao hồ, đập là nguồn nước quý phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất Trên địa bàn xã có 2 con suối lớn là suối Tham Không rộng 2,5 m và suối Nà Tha rộng từ 2 đến 4 m chạy dọc xã nối với các con suối nhỏ khác rồi đổ vào sông Quang Phong, cung cấp nước tưới cho hầu hết diện tích đất sản xuất nông nghiệp và phục vụ sinh hoạt trong toàn xã Địa hình dốc bị chia cắt nên việc tưới tiêu gặp nhiều khó khăn Nguồn nước cung cấp cho sản xuất nông nghiệp cũng còn nhiều khó khăn nhất là trong mùa khô
Đặc điểm chung của các sông suối trong xã là độ dốc lớn, lắm thác nhiều ghềnh Lưu lượng dòng chảy phân bố không đều trong năm, chủ yếu tập trung vào mùa lũ (chiếm khoảng 60 - 80% tổng lượng dòng chảy trong năm), nên việc khai thác sử dụng gặp khó khăn, đòi hỏi đầu tư lớn
2.2.1.5 Đánh giá về điều kiện tự nhiên
- Khó khăn:
+ Quỹ đất để phát triển xây dựng khá khó khăn do địa hình đồi núi chiếm tỷ lệ lớn, giao thông đi lại khó khăn Diện tích đất nông nghiệp bằng phẳng đưa vào sử dụng còn ít, diện tích đất chưa sử dụng tương đối lớn
2.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
2.2.2.1 Điều kiện xã hội
a, Dân số, lao động và cơ sở hạ tầng
Trang 22Lao động phi nông nghiệp là 67 người chiếm 5,7%, chủ yếu là lao động chưa qua đào tạo
* Nhận xét :
- Dân số xã Quang Phong trong những năm qua nhìn chung không có biến động lớn Vì là xã thuần nông nên lượng dân di cư cơ học đến cũng như
đi không lớn, gần như không có dân nơi khác đến địa phương ngụ cư
- Là xã miền núi, các lĩnh vực kinh tế, xã hội chưa có gì đột phá nên dân cư, lao động của xã không có biến động nhiều
- Đặc điểm dân tộc: Xã Quang Phong có 4 dân tộc chính là: Dân tộc Tày, Nùng, Dao, Kinh Mỗi dân tộc giữ nét đặc trưng riêng trong đời sống văn hoá, hoà nhập làm phong phú đa dạng bản sắc văn hoá dân tộc với những truyền thống lịch sử, văn hoá nghệ thuật, tôn giáo tín ngưỡng
* Mức sống và thu nhập
- Mức thu nhập bình quân đầu người/năm còn tương đối thấp: 8 triệu đồng người/năm (số liệu năm 2011)
- Tỷ lệ hộ nghèo toàn xã năm 2011 là 63,8 %
- Tập quán sinh hoạt, sản xuất liên quan tới sử dụng rừng
- Tình hình quản lý khai thác rừng được giao khoán cơ bản tốt, khai thác đạt chỉ tiêu kế hoạch huyện giao Tuy nhiên một số hộ vẫn khai thác bừa bãi vi phạm luật bảo vệ rừng
Công tác chăm sóc rừng trồng trong 5 năm qua đạt 85%, tỷ lệ độ che phủ rừng đạt 68% chủ yếu là tăng diện tích rừng trồng và rừng sinh thái
* Thực trạng phát triển đô thị và các khu dân cư nông thôn
- Về nhà ở: Toàn xã có 379 ngôi nhà Bao gồm:
Trang 23+ Nhà ở dạng một nhà chính và một nhà ngang có khuôn viên sân phơi, vườn, ao chuồng Diện tích đất từ 500m2 – 1000m2
- Trên địa bàn toàn xã không có công trình tôn giáo, tín ngưỡng, di tích lịch sử nào
b, Giáo dục - đào tạo
- Thực trạng cơ sở vật chất của nhà trường hiện nay như sau:
+ Trường trung học cơ sở: Cơ sở vật chất nhà cấp IV gồm 5 lớp học còn thiếu nhà hiệu bộ các phòng chức năng Trường có 13 giáo viên đều đã đạt chuẩn và vượt chuẩn, với tổng số học sinh 53 em Sân chơi, bãi tập thể dục thể thao diện tích 1500m2
+ Trường tiểu học: Cơ sở vật chất là nhà cấp IV có 8 phòng học còn thiếu nhà hiệu bộ, nhà đa năng Tổng số 15 giáo viên đều đã đạt chuẩn và vượt chuẩn có 111 em học sinh Diện tích sân chơi, tập thể dục thể thao là 1300m2
+ Trường mầm non: Trường đang xây dựng chưa có các phòng chức năng, nhà hiệu bộ hiện nay mới chỉ có nhà công vụ giáo viên Trường có tổng
số 11 giáo viên và học sinh là 89 cháu
Đánh giá: Cơ sở vật chất chưa đáp ứng tiêu chí, cần xây mới 5 phòng chức năng, nâng cấp, mở rộng sân chơi bãi tập nhằm đáp ứng tiêu chí nông thôn mới
+ Cả 3 cấp trường đã tiến hành tổ chức hội nghị công nhân viên chức năm 2013 – 2014 để triển khai kế hoạch, nội quy, quy chế và bầu ban thanh tra nhân dân năm học 2013 – 2014
c, Y tế,dân số kế hoạch hóa gia đình
Xã có trạm y tế tại trung tâm xã có 2 nhà cấp IV, 4 phòng, diện tích sàn 100m2 5 y, bác sỹ cơ bản đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh ở tuyến xã Mạng lưới y tế xã đến thôn bản vẫn được duy trì 16/16 thôn, bản có y tá Cơ bản đã đảm bảo khá tốt công tác khám chữa bệnh tại cơ sở Tỷ lệ tiêm phòng các loại vác xin cho trẻ em dưới 1 tuổi đạt 100%
d, Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng
+ Giao thông
- Hệ thống đường Quốc lộ
Trang 24Xã có đường quốc lộ 3b đi qua xã với chiều dài 2,5 km bắt đầu từ cua Gương cầu đến kéo Cạm Peo, hiện đang được thi công nâng cấp cải tạo
- Hệ thống đường giao thông liên xã : Đường liên xã từ quốc lộ 3b đi xã Dương Sơn chiều dài 6,5 km bắt đầu từ cầu Quang Phong đến Kéo Lịa đã được dải nhựa
- Đường liên thôn:
+ Đường từ thôn quốc lộ 3 đến Nà Thẳm dài 5 km mặt đường rộng 2,5
- Hệ thống đường lâm nghiệp: chưa có
- Nhìn chung hệ thống đường giao thông còn yếu và thiếu, chưa đáp ứng được yêu cầu của sản xuất và đời sống dân sinh Ngoại trừ tuyến đường liên xã từ
Nà Buốc đi Kéo Lịa đã được trải nhựa thì các tuyến đường còn lại, đặc biệt là
Trang 25đường liên thôn và ngõ xóm chủ yếu là đường đất nên mùa mưa đường bị lầy lội
và không thể thông xe
Hệ thống đường nội đồng của xã toàn bộ là đường đất nhỏ yếu, đường lâm nghiệp chưa có, do đó rất khó khăn trong việc cơ giới hoá và đưa tiến bộ khoa học
kỹ thuật vào trong nông nghiệp, dẫn đến năng suất lao động trong nông nghiệp còn thấp
+ Thuỷ lợi
- Hiện trạng các công trình đầu mối: Hiện tại toàn xã có 13 đập dâng Trong đó đã được xây kiên cố đạt yêu cầu 09 đập, còn 04 Phai đập là phai tạm
chưa được xây dựng
+ Trạm bơm: Hiện xã có 01 trạm bơm tại thôn Nà Đán đã xuống cấp cần được sửa chữa bảo dưỡng
- Kênh mương nội đồng: Toàn xã có 20.900 m kênh mương, hiện nay
đã cứng hóa được 13.500 m; còn lại 7.400 m là mương đất
* Đánh giá chung: Nhìn chung hệ thống thuỷ lợi của xã đã được đầu tư xây dựng, tuy nhiên vẫn cần được đầu tư xây dựng mới hệ thống kênh mương tưới tiêu nhằm đáp ứng tốt hơn nữa cho sản xuất và sinh hoạt
+ Hệ thống cấp nước sinh hoạt
Hiện nay toàn xã có 150 hộ được sử dụng nước sạch từ các công trình nước sinh hoạt tập trung, số hộ còn lại sử dụng các nguồn nước tự nhiên chưa qua xử lý
+ Hệ thống cấp điện
- Xã có 334/379 hộ dùng điện lưới quốc gia chiếm 88,12% hộ gia đình và các công trình công cộng trên địa bàn vào xã đã được dùng điện lưới quốc gia với 15/16 thôn có đường điện lưới Hiện tại xã còn có 80 hộ sử dụng điện chưa an toàn gồm thôn Nà chiêng 1 hộ, thôn Nà rầy 1 hộ, Khuổi Căng 12 hộ,
Nà Đán 7 hộ, Khuổi Can 7 hộ, Nà Vả 8 hộ , Nà Cà 20, Tham Không 13 hộ, Phiêng Quân11 hộ
- Nguồn điện: Hiện tại xã đang được cấp điện từ lưới điện quốc gia
- Trạm hạ thế: Có 4 trạm biến áp tại các thôn Khuổi Can, Nà Lay, Quan Làng, Ka Đoóng với khoảng 16 km đường dây hạ thế là dây bọc đạt yêu cầu
- Chưa có hệ thống điện chiếu sáng công cộng
2.2.2.1 Điều kiện kinh tế
Trang 26- Ngành trồng trọt
Nhân dân trong xã chủ yếu sống dựa vào sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và mang tính tự cung, tự cấp, nông sản hàng hóa cũng ít, chất lượng chưa cao song người dân đã có nhiều nỗ lực vượt qua khó khăn do thiên tai, dịch bệnh gây ra, tiếp tục duy trì sự phát triển ổn định Tổng diện tích gieo
ủy giao là 890kg /người/năm) đạt 97,19%
- Ngành chăn nuôi
Thường xuyên chỉ đạo theo dõi tình hình dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm, tổ chức phun thuốc tiêu độc khử trùng được 03 đợt/78 lít hóa chất
Tổng đàn gia súc, gia cầm hiện có:
+ Đàn trâu: 606 con, giảm 27 con so với cùng kỳ năm 2012 ( nguyên nhân giảm do bán đi)
+ Đàn bò: 12 con
+ Đàn ngựa: 19 con, tăng 05 con so với cùng kỳ năm 2012
+ Đàn dê 48 con, tăng 20 con so với cùng kỳ năm 2012
+ Đàn lợn: 706 con, giảm 534 con so với cùng kỳ năm 2012 (nguyên nhân giảm do nhân dân bán đi và bị chết do dịch bệnh)
+ Đàn chó 400 con
+ Đàn gia cầm: 9.636 con, giảm 3.564 con so với cùng kỳ năm 2012 + Tình hình dịch bệnh: Thường xuyên chủ động, theo dõi tình hình dịch bệnh đàn gia súc, gia cầm trên toàn xã Xây dựng kế hoạch tiêm phòng gia súc đảm bảo đúng định kỳ, đảm bảo số lượng nhu cầu vác xin tiêm phòng đầy đủ
- Ngành lâm nghiệp
Thường xuyên quan tâm chỉ đạo công tác quản lý bảo vệ rừng được tốt,
không có cháy rừng xảy ra Công tác trồng rừng 147 năm 2013: Tổng diện
tích thiết kế là 74,52 ha, trong đó diện tích thực hiện là 71,02 ha, diện tích không thực hiện là 3,50 ha Chỉ đạo nghiệm thu rừng trồng năm 2013, tổng
Trang 27diện tích đạt tiêu chuẩn nghiệm thu là 65,32 ha/71,02 ha Trong năm 2013,
UBND xã đã xác nhân khai thác 22 giấy phép khai thác gỗ vườn nhà và cây trồng phân tán với tổng khối lượng cấp là 207.054 m3 và 3,5 tấn lâm sản phụ
loại đất, gây áp lực đối với sử dụng đất đai, tập trung vào các vấn đề:
Cần giải quyết nhu cầu đất ở do tăng dân số tự nhiên, giải quyết số hộ thiếu đất ở, đất sản xuất đã tồn tại nhiều năm chưa được giải quyết trong các khu dân cư
Cần mở rộng và xây mới một số cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất và phúc lợi công cộng như: Giao thông, thủy lợi, điện, cơ sở chế biến nông - lâm sản, nước sinh hoạt, y tế, trường học, nhà văn hóa, sân thể thao, chợ v.v…sẽ gây ra biến động tới nhiều loại đất trên diện rộng nhất là sản xuất nông nghiệp
Mở rộng diện tích sản xuất đất nông - lâm nghiệp, thực hiện chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi cần tăng thêm diện tích trồng trọt, nhằm đáp ứng an ninh lương thực và tăng trưởng kinh tế Chủ yếu đầu tư khai hoang trên diện tích đất trống đồi núi trọc, tuy loại đất này còn nhiều so với các xã trong huyện nhưng do địa hình đồi núi cao, độ dốc lớn, diện tích sản xuất cây hàng năm nhỏ, phân tán nên đòi hỏi phải có sự đầu tư lớn về thủy lợi và cải tạo, xây dựng đồng ruộng
Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội thời gian qua, nhất là một số năm gần đây cho thấy đi đôi với phát triển kinh tế sẽ tạo ra nhiều áp lực đối với đất đai trong sản xuất cũng như xây dựng công trình phúc lợi công cộng Do vậy phải thực hiện đúng và đầy đủ những nội dung về quản lý, sử dụng đất trong Luật Đất đai đã ban hành và luôn đảm bảo nguyên tắc sử dụng đất đai một cách khoa học, hợp lý, đạt hiệu quả cao
Trang 28PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH
3.1 Đối tượng và phạn vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Các bước thực hiện phương pháp giao rừng thí điểm tại xã Quang Phong, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn
- Tính hiệu quả của chính sách giao rừng đến kinh tế- xã hội, môi trường tại xã Quang Phong, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài chỉ nghiên cứu giao rừng thí điểm thuộc dự án 3PAD tại xã Quang Phong, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành
- Địa điểm tiến hành nghiên cứu: Tại xã Quang Phong, huyện Na Rì,
tỉnh Bắc Kạn
- Thời gian tiến hành nghiên cứu: Từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2014 3.3 Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá tình hình quản lý và sử dụng đất lâm nghiệp
- Đánh giá tiến trình của phương pháp giao rừng thí điểm có sự tham gia của người dân trên đất lâm nghiệp được giao
- Đánh giá về thuận lợi và khó khăn còn gặp phải trong tiến trình giao rừng
- Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện quy trình giao rừng hợp lý có sự tham gia của người dân
3.4 Phương pháp tiến hành
3.4.1 Phương pháp tiếp cận
- Tổ chức các buổi họp thôn, thảo luận và thu thập ý kiến của người dân Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA) được sử dụng trong việc tiếp cận, điều tra, lập kế hoạch - phương án sẽ giúp cho việc đảm bảo sự tham gia của người dân trong quá trình giao rừng, giảm thiểu xung đột
Trang 29và xác định các tiềm năng, cơ hội phát triển của đất lâm nghiệp giúp cho các cấp chính quyền quản lý đất đai có hiệu quả hơn
- Sử dụng một số công cụ của phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có
sự tham gia của người dân (PRA) gồm:
+ Phỏng vấn hộ, thảo luận nhóm, họp thôn
+ Sử dụng sơ đồ VENN để phân tích tầm quan trọng và sự ảnh hưởng của các cấp chính quyền, các tổ chức xã hội đối với công tác quy hoạch sử dụng đất và giao đất lâm nghiệp có sự tham gia của người dân
Tổ chức một cuộc họp tại xã để triển khai các hoạt động về giao rừng Cuộc họp này bao gồm sự tham gia của các bên liên quan: tổ công tác giao rừng, đại diện nông dân (già làng, chủ trang trại, ) đại diện cá nhân, tổ chức được tỉnh giao rừng, cho thuê rừng trên địa bàn của xã
3.4.2 Phương pháp ngoại nghiệp
3.4.2.1 Tham khảo, kế thừa các tài liệu có liên quan
- Thu thập về điều kiên tự nhiên
- Thu thập về điều kiện kinh tế - xã hội: dân số, lao động , y tế, giáo dục, cơ
sở hạ tầng, tình hình chính trị, an ninh quốc phòng
- Thu thập các tài liệu liên quan:
+ Các kết quả giao đất, giao rừng và các bản đồ có liên quan
+ Các báo cáo sơ kết, tổng kết về giao đất, giao rừng trên địa bàn nghiên cứu + Các kết quả nghiên cứu, đánh giá tổng kết việc thực hiện chính sách giao đất, giao rừng từ trung ương đến địa phương
+ Các văn bản pháp luật có liên quan tới giao đất, giao rừng của nhà nước và của tỉnh đã và đang được áp dụng
+ Các tài liệu dự án và các kết quả thực hiện QHSD đất và giao đất lâm nghiệp tại khu vực nghiên cứu
3.4.2.2 Điều tra ngoại nghiệp cùng với tổ công tác và người dân trực tiếp tham gia
vào tiến trình giao rừng
Quá trình tổ chức thực hiện giao rừng cấp xã tuân thủ theo các bước trong “Sổ tay hướng dẫn Quy hoạch sử dụng đất và giao đất lâm nghiệp có sự
Trang 30tham gia áp dụng cho xã Quang Phong vùng dự án 3 PAD tỉnh Bắc Kạn” Bao gồm 7 bước:
+ Bước 1: Công tác chuẩn bị
+ Bước 2: Thống nhất triển khai giao rừng ở thôn – họp dân lần 1
+ Bước 3: Đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA) theo chủ đề quản lý rừng
+ Bước 4: Điều tra tài nguyên rừng có sự tham gia của người dân
+ Bước 5: Thống nhất giải pháp giao rừng và tiến hành giao rừng tại thực địa
+ Bước 6: Hoàn thiện hồ sơ giao rừng
+ Bước 7: Thẩm định hồ sơ giao rừng, phê duyệt và cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng rừng
3.4.2.3 Điều tra ô tiêu chuẩn
Đây là phần ngoại nghiệp giao rừng của Bước 4 Tiến hành đi ngoại nghiệp cùng với tổ công tác về điều tra ÔTC: Kiểm Lâm địa bàn, tổ tư vấn thuộc
dự án 3PAD và cùng với người dân địa phương để tiến hành các bước gồm:
* Lập ô tiêu chuẩn ( ÔTC )
+ Đối với rừng tự nhiên, tiến hành lập ô tiêu chuẩn có diện tích 500 m2(25m x 20m) tại những vị trí đặc trưng cho trạng thái Số lượng ô tiêu chuẩn được lập tùy thuộc vào số lượng các loại trạng thái rừng có trên thửa Trong mỗi ô tiêu chuẩn lập 5 ô dạng bản được bố trí tại 4 góc của ô tiêu chuẩn và một ô ở giữa ô, kích thước 4 ô dạng bản ở 4 góc là 5mx5m và ô dạng bản ở giữa là 4mx4m:
Hình 3.1: Sơ đồ bố trí ô tiêu chuẩn
Trang 31Trên ô tiêu chuẩn đã thiết lập, tiến hành đo đếm tầng cây gỗ, cây bụi, thảm tươi, đo đếm cây tái sinh, tre nứa
Đếm toàn bộ số cây trong ô đo
đếm, đo chiều cao trung bình và
đường kính cổ rễ trung bình
Hình 3.2: sơ đồ ô tiêu chuẩn rừng trồng
* Đo đường kính 1.3
- Cấu tạo: thước dây làm bằng nhựa mỏng, mặt thước có ghi đơn vị là
m, dm, cm Thước dây để đo đường kính gồm các loại 2m, 3m, 5m
- Phương pháp đo:
Đo vòng quanh thân cây (chu vi) tại vị trí 1,3m; lấy trị số đo được chia cho π (π = 3,14) ta được kết quả đường kính thân cây Phương pháp này đo nhanh, thuận tiện và cho kết quả tương đối chính xác
- Đo đường kính bình quân: có thể mục trắc (nhìn để ước lượng) hoặc
đo trực tiếp đường kính 10 - 20 cây có kính cỡ phổ biến rồi lấy trị số bình quân cây