1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

“TẠO HỨNG THÚ TRONG GIỜ dạy học NGỮ văn BẰNG CÁCH tổ CHỨC THẢO LUẬN NHÓM và TRÒ CHƠI”

20 314 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 161 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phòng Giáo dục và đào tạo huyện Giao Thuỷ Trờng THCS giao châu Báo cáo sáng kiến TẠO HỨNG THÚ TRONG GIỜ DẠY HỌC NGỮ VĂN BẰNG CÁCH TỔ CHỨC THẢO LUẬN NHểM VÀ TRề CHƠI Tác giả: ĐOàN THị N

Trang 1

Phòng Giáo dục và đào tạo huyện Giao Thuỷ

Trờng THCS giao châu

Báo cáo sáng kiến

TẠO HỨNG THÚ TRONG GIỜ DẠY HỌC NGỮ VĂN BẰNG CÁCH TỔ CHỨC THẢO LUẬN NHểM VÀ TRề CHƠI

Tác giả: ĐOàN THị NHàI

Trình độ chuyên môn: ĐạI HọC VĂN

Chức vụ:PHó HIệU TRƯởNG

Nơi công tác:trờng THCS giao châu

Giao Thủy, ngày 8 thỏng 01 năm 2016

Trang 2

THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN

1 Tên sáng kiến:

“TẠO HỨNG THÚ TRONG GIỜ DẠY HỌC NGỮ VĂN BẰNG CÁCH

TỔ CHỨC THẢO LUẬN NHÓM VÀ TRÒ CHƠI”

2 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Áp dụng cho giáo viên và học sinh trong quá trình giảng dạy môn Ngữ văn

3 Thời gian áp dụng sáng kiến: Từ tháng 9 năm 2010 đến tháng 5 năm 2015

4 Tên tác giả:

Họ và tên: Đoàn Thị Nhài

Năm sinh: 17/3/1977

Nơi thường trú: Giao Tiến - Giao Thủy - Nam Định

Trình độ chuyên môn: Đại học Văn

Chức vụ công tác: Phó hiệu trưởng

Nơi làm việc: Trường THCS Giao Châu

Điện thoại: 0976198898

Tỉ lệ đóng góp tạo ra sáng kiến: 100%

5 Đơn vị áp dụng sáng kiến:

Tên đơn vị: Trường THCS Giao Châu

Địa chỉ: Giao Châu - Giao Thủy - Nam Định

Điện thoại: 03503 895852

Trang 3

BÁO CÁO SÁNG KIẾN

“TẠO HỨNG THÚ TRONG GIỜ DẠY HỌC NGỮ VĂN BẰNG CÁCH TỔ

CHỨC THẢO LUẬN NHểM VÀ TRề CHƠI”

I/ điều kiện hoàn cảnh tạo ra sáng kiến

Nh chúng ta đều biết nghị quyết TWII, khóa 8 đã nhấn mạnh vai trò, tầm quan trọng của giáo dục trong thời đại ngày nay Giáo dục đào tạo đã đợc khẳng

định là “Quốc sách hàng đầu” bởi muốn biết một đất nớc bớc vào thời kì công nghiệp hóa-hiện đại hóa thì con ngời phải có đủ các yếu tố: Đức-Trí-Thể-Mĩ Làm

đợc việc đó không ngành nào khác là ngành Giáo dục - Đào tạo

Là giáo viên đợc đứng trên bục giảng đã hơn mời năm Thực tế giảng dạy tôi nhận thấy vấn đề đổi mới phương phỏp dạy học luụn là vấn đề được ngành giỏo dục quan tõm bàn luận một cỏch sụi nổi Với bộ mụn Ngữ văn, việc đổi mới phương phỏp dạy học, tạo hứng thỳ cho học sinh (HS) học tập bộ mụn cũng là một vấn đề quan tõm nhiều nhất đối với tất cả cỏc giỏo viờn (GV) dạy văn Thế nhưng phần lớn

HS chưa thực sự say mờ, yờu thớch học bộ mụn này, chưa thực sự thấy hứng thỳ trong những tiết học văn Từ sự trăn trở “làm thế nào để HS hứng thỳ học mụn Ngữ văn ?”, tụi nghiệm ra rằng cần phải tổ chức cho HS thảo luận, cho HS tham gia những trũ chơi phự hợp ngay trong những giờ học hoặc giờ ngoại khoỏ mụn văn sẽ tạo hứng thỳ, bồi dưỡng lũng say mờ học tập và ý chớ vươn lờn của cỏc em Do đú

tụi chọn đề tài “Tạo hứng thỳ trong giờ dạy học Ngữ văn bằng cỏch tổ chức thảo

luận nhúm và trũ chơi”.

2) Mục đớch nghiờn cứu:

Gúp phần nõng cao chất lượng học tập, tạo hứng thỳ học tập cỏc bộ mụn cho HS trong nhà trường núi chung Giỳp HS nắm được những kiến thức chuẩn mụn học một cỏch nhẹ nhàng thụng qua những giờ thảo luận và những trũ chơi phự hợp Gúp phần giải quyết tỡnh trạng lười học, chỏn học và khụng biết cỏch học mụn Ngữ văn của HS trong nhà trường hiện nay Từ đú tạo điều kiện cho GV hứng khởi hơn trong những giờ dạy văn

3) Đối tượng và phạm vi nghiờn cứu:

Trang 4

Học sinh bậc THCS - khối lớp 9 trường THCS Giao Châu Chương trình Ngữ văn lớp 9

4) Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Nghiên cứu về phương pháp giảng dạy của các GV bộ môn khác và GV dạy Ngữ văn trong nhà trường

- Nghiên cứu về tình hình học tập của HS đối với các môn học nói chung và môn Ngữ văn nói riêng về khả năng nắm bắt kiến thức, hứng thú trong học tập bộ môn

- Nghiên cứu về tâm tư, nguyện vọng và thái độ, sự ham thích của HS trong việc học môn Ngữ văn

- Nghiên cứu về chương trình nội dung kiến thức SGK môn Ngữ văn về các phương pháp giảng dạy HS phù hợp với lứa tuổi

5) Phương pháp nghiên cứu:

- Tham khảo tài liệu tham khảo và SGK để tìm ra những kiến thức cơ bản phục vụ cho việc viết đề tài và áp dụng đề tài vào trong quá trình giảng dạy

- Điều tra khả năng và hứng thú học tập của HS, tìm hiểu kỹ về đối tượng HS

- Dùng phương pháp quan sát thực nghiệm và phân tích nội dung; phương pháp trắc nghiệm khách quan; phương pháp phân tích sản phẩm hoạt động

II MÔ TẢ GIẢI PHÁP

1/ MÔ TẢ GIẢI PHÁP TRƯỚC KHI TẠO RA SÁNG KIẾN

*) Cơ sở lý luận:

Nghị quyết hội nghị lần II BCH TW Đảng khoá VIII nêu rõ: Đổi mới phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học; phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của người học, bồi dưỡng lòng say mê học tập và ý chí vươn lên Do đó tạo hứng thú cho HS trong học tập là góp phần thực hiện thành công nhiệm vụ trọng tâm này trong giáo dục

- Sử dụng những phương pháp mới, phương pháp đặc trưng trong hoạt động tự chủ của HS, tạo cho các em sự tự chủ, tích cực, tự giác trong học tập

Trang 5

- Dựa trờn cơ sở cỏc tài liệu, SGK, cỏc văn bản của BGD về việc truyền thụ chuẩn kiến thức kĩ năng cho HS

- Chỳng ta đều biết, mụn văn là mụn cơ bản gúp phần hỡnh thành nhõn cỏch HS, đặc biệt đối tượng của mụn văn là những tỏc phẩm văn thơ, là những kiến thức về ngụn ngữ Chớnh vỡ vậy, để thực hiện một giờ học cú hiệu quả, người GV cần phải

sử dụng nhiều phương phỏp như: phõn tớch, diễn giảng, vấn đỏp, nờu vấn đề, gợi ý,

… và đặc biệt, để tạo một giờ học phong phỳ, sinh động, thỡ việc sử dụng hỡnh thức thảo luận nhúm sẽ giỳp HS trao đổi ý kiến với nhau, bổ sung cho nhau cỏc kiến thức cũn thiếu sút, HS sẽ sụi nổi hơn trong học tập Việc lồng ghộp một số trũ chơi trong quỏ trỡnh giảng dạy sẽ giỳp HS cảm thấy hứng thỳ, tớch cực, sụi nổi hơn, khụng gõy sự nhàm chỏn trong một tiết học mụn Ngữ văn

- Trong nhiều năm làm cụng tỏc giảng dạy, tụi nghiệm thấy rằng cỏi ước muốn dạy văn sao cho hay, học văn sao cho giỏi, viết văn sao cho tốt là ước muốn của rất nhiều GV và HS Muốn vậy, người GV chỳng ta phải biết làm mới bài giảng của mỡnh để kớch thớch sự hứng thỳ của HS trong học tập Với cỏch tổ chức cho HS thảo luận nhúm và tham gia cỏc trũ chơi trong dạy học văn sẽ gúp phần tạo hứng thỳ cho HS trong học tập, nõng cao chất lượng học tập bộ mụn Ngữ văn trong trường THCS

*) Cơ sở thực tiễn:

Việc dạy học bộ môn Ngữ văn trong trờng THCS hiện nay vô cùng quan trọng bởi qua thực tế giảng dạy tôi kiểm nghiệm thấy rằng học sinh ngày càng không còn yêu thích môn học này với nhiều lý do nh sau: đây là môn học trừu tợng, kiến thức dài, khó nhớ, khó làm đợc bài văn hay

- Thực tế những năm gần đõy cho thấy HS núi chung và HS ở trường Giao Chõu núi riờng rất yếu mụn Ngữ văn, ớt ham thớch học văn

- Hiện nay, HS từ bậc Tiểu học lờn bậc THCS cũn cú rất nhiều em chưa đọc thụng viết thạo Đõy là một trở ngại quỏ lớn khi cỏc em lại phải tiếp tục tỡm hiểu, khỏm phỏ những kiến thức cao hơn, rộng lớn hơn, trừu tượng hơn Từ đú dẫn đến việc mất dần kiến thức và kỹ năng cơ bản, dẫn đến chỏn học, khụng hứng thỳ học văn

Trang 6

- Hiện nay chương trình vẫn còn những bài dạy dung lượng kiến thức lớn so với thời lượng từ 45 – 90 phút nghiên cứu trên lớp nên HS lại càng khó tiếp thu kiến thức Chính điều này mà HS bị hạn chế rất nhiều trong việc tiếp thu và cảm thụ kiến thức Ngữ văn

- HS lười học, không chịu đầu tư suy nghĩ, phát biểu xây dựng bài trong giờ học, khâu chuẩn bị bài còn hời hợt, tiếp thu bài chậm

- Theo điều tra ban đầu số lượng HS ham thích học môn Ngữ văn còn rất ít, khoảng 30% - 35% số học sinh yêu thích môn học Ngữ văn

- Một số GV còn lúng túng trong phương pháp giảng dạy, không biết làm thế nào

để tạo sự hứng thú cho HS trong học tập và nắm bắt được những kiến thức trọng tâm của bài học một cách nhẹ nhàng và sinh động nhất

- Trên cơ sở đó, việc giúp HS ham thích học môn Ngữ văn, nắm bắt được những kiến thức cơ bản của bài học, là một yêu cầu cấp thiết mà mỗi GV trong tổ Ngữ văn chúng tôi cần phải nghiên cứu, tìm tòi sáng tạo trong giảng dạy để đạt được hiệu quả cao Một trong những đề xuất của bản thân tôi để thực hiện tốt yêu cầu đó là tổ chức cho HS thảo luận nhóm và tham gia các trò chơi trong quá trình học văn 2/ MÔ TẢ GIẢI PHÁP SAU KHI TẠO RA SÁNG KIẾN

1) Mục tiêu:

- Giảm tỉ lệ HS yếu kém bộ môn Ngữ văn trong nhà trường

- Nâng cao chất lượng bộ môn Ngữ văn nói riêng và chất lượng văn hoá của nhà trường nói chung, góp phần nâng cao ý thức học tập của HS trong nhà trường

- Giúp HS có hứng thú, ham thích học môn Ngữ văn

- Tạo cho HS tâm lí thoải mái khi học, mạnh dạn trao đổi ý kiến với bạn bè, thầy

cô, hoà đồng với bạn bè, thầy cô; tạo môi trường thân thiện trong nhà trường

- Giúp HS khắc phục được lối học thụ động, không hứng thú trong học tập môn văn, từ đó dần dần củng cố được những kiến thức cũ và tiếp thu kiến thức mới một cách tự giác

2) Các giải pháp chủ yếu:

Trang 7

- Phân loại đối tượng HS, khả năng tiếp thu kiến thức cũng như trình độ kiến thức của HS

- Gần gũi, quan tâm động viên, khích lệ HS trong học tập

- Nghiên cứu kỹ nội dung bài học để đề ra những tình huống thảo luận, những trò chơi phù hợp với từng bài học

- Dự giờ thăm lớp để nắm kỹ về đối tượng HS và học hỏi những kinh nghiệm về cách tạo hứng thú cho HS trong phương pháp giảng dạy

- Có kế hoạch trao đổi với tổ, với đồng nghiệp để tổ chức những giờ dạy thực nghiệm áp dụng những hình thức thảo luận nhóm và trò chơi trong giờ học hoặc giờ ngoại khoá

3) Tổ chức triển khai thực hiện:

3.1) Hình thức tổ chức thảo luận nhóm:

3.1.1 Cách thức tổ chức:

- Để thực hiện một tiết dạy học Ngữ văn có sử dụng hình thức hoạt động nhóm, chúng ta hãy bắt đầu bằng cách chia lớp học thành các nhóm nhỏ ( 2,4,6em) Chúng ta cần phải biết cách chia nhóm, chọn kiểu nhóm nào để phù hợp với điều kiện lớp bạn Nhóm: Gồm 2 đến 6 em, tuỳ mục đích và yêu cầu của vấn đề học tập, các nhóm được phân chia ngẫu nhiên hoặc lựa chọn chủ định, được duy trì ổn định hoặc thay đổi theo từng phần của tiết học, được giao nhiệm vụ cụ thể Các nhóm lớn (6 em, tạo điều kiện cho các thành viên trong nhóm niềm tin lớn nhất về kết quả làm việc vì có nhiều khả năng tìm câu hỏi đúng) Vớí loại nhóm này, thu hút được nhiều ý kiến, nhiều kinh nghiệm và có khả năng hiểu đúng, hiểu nhanh chóng nhiệm vụ Tuy nhiên nhóm lớn cũng có hạn chế là khó đi đến quyết định thống nhất

và giáo viên khó quản lí Các nhóm nhỏ ( 2-4 em) các em có nhiều cơ hội để thể hiện ý kiến của mình, thống nhất ý kiến nhanh hơn và dễ quản lí hơn

*Cơ cấu nhóm:

Để nhóm hoạt động có hiệu quả, các thành viên phải biết rõ nhiệm vụ của mình, vì vậy phải phân công nhiệm vụ cho các em:

+ Trưởng nhóm: điều khiển hoạt động nhóm

Trang 8

+ Thư kí: ghi chép kết quả hoạt động của nhóm sau khi đã thống nhất

+ Báo cáo viên: Báo cáo kết quả làm việc của nhóm

+ Báo cáo viên: Báo cáo kết quả làm việc của nhóm

+ Thành viên khác: có nhiệm vụ tham gia tích cực vào các hoạt động của nhóm Trong nhóm có học sinh phải thay nhau đóng vai của các thành viên trên hoặc kiêm nhiệm Khi hoạt động nhóm các thành viên trên cần:

+ Hướng vào nhau ( ngồi thành vòng tròn hoặc xung quanh bàn )

+ Chăm chú lắng nghe người khác phát biểu

+ Từng thành viên sẵn sàng đưa ra ý kiến của mình

+ Trao đổi, thảo luận để có ý kiến thống nhất

+ Tuân theo sự điều khiển của từng nhóm trưởng

+ Đảm bảo thời gian

* Cách chia nhóm

Trong giờ lên lớp, tuỳ theo mục tiêu của từng hoạt động GVcó thể chia nhóm nhỏ

có từ hai HS trở lên Việc chia nhóm nhiều hay ít HS là do GV yêu cầu và quyết định Sau đây là một số cách chia nhóm đang được giáo viên áp dụng:

- Gọi ngẫu nhiên: tuỳ theo mục đích chia nhóm giáo viên có thể chia nhóm thích hợp( từ số 1 đến số 6…rồi quay trở lại)

- Chỉ định: Giáo viên lần lượt đọc tên học sinh vào từng nhóm

- Chia nhóm biểu tượng: GV có thể dùng các biểu tượng: hình tam giác,hoa hồng, các loại qủa, tên các anh hùng …để chia nhóm Các em có cùng biểu tượng vào một nhóm để tạo ra sự ngẫu nhiên và thoải mái cho học sinh

- Chia từng cặp: Giáo viên chỉ định hai học sinh ngồi gần nhau làm việc.Cách này thường diễn ra ngay sau khi học sinh làm việc cá nhân

- Với hình thức thảo luận nhóm thì chúng ta có thể sử dụng trong tất cảc các tiết dạy, trong tất cả các bài học Còn hình thức tổ chức trò chơi thì chỉ có thể áp dụng

ở một số bài cho phù hợp, tuy nhiên để sử dụng trò chơi trong một tiết dạy thì bắt buộc trong đó sẽ có hình thức thảo luận nhóm

Khi cho HS thảo luận nhóm thì có rất nhiều cách để chúng ta thực hiện:

Trang 9

+ Viết sẵn câu hỏi ra giấy rồi phát cho mỗi nhóm một tờ

+ Treo bảng phụ có ghi nội dung câu hỏi thảo luận

+ Chỉ cho HS câu hỏi trong sách GK và HS nhìn vào đó để thảo luận

+ Từ một ý kiến thắc mắc của HS về bài học, tổ chức cho các em thảo

luận

3.1.2 Chuẩn bị của giáo viên:

+ Phiếu học tập, bảng phụ,…chuẩn bị nội dung câu hỏi thảo luận

+ Câu hỏi thảo luận nên chia nhỏ, câu hỏi khó phải có câu hỏi gợi mở

+ Nội dung câu hỏi phải rõ ràng, phù hợp với đối tượng HS

+ Câu hỏi phải phát huy khả năng tư duy, kích thích khả năng sáng tạo cho HS + Các câu hỏi chỉ nên xoay quanh nội dung chính của bài học

+ Thời gian thảo luận không quá ngắn HS không kịp định hình, cũng không quá dài ảnh hưởng tới thời gian tiết học

+ Phân nhóm cho HS thảo luận không nên quá ít mà cũng không quá đông

+ HS thảo luận xong, GV gọi ít nhất hai nhóm trả lời, còn lại thu bài về nhà chấm

và sửa hôm sau phát lại (tránh mất nhiều thời gian của tiết học)

+ Phân công một HS nhanh nhẹn làm trưởng nhóm, một HS ghi nhanh

làm thư ký

+ Việc sử dụng hình thức thảo luận nhóm thì có thể sắp xếp bất kì khoảng

thời gian nào trong tiết dạy

3.1.3 Chuẩn bị của học sinh:

+ Đọc kĩ các câu hỏi trong phần bài học

+ Đọc kĩ các câu hỏi trong phần bài học

+ Ghi ý kiến của bản thân về các câu hỏi cho là khó

+ Mạnh dạn trình bày ý kiến trước lớp

3.1.4 Một số ví dụ minh hoạ:

* Khi dạy văn bản Chuyện người con gái Nam Xương, có thể dùng một số câu hỏi thảo luận như sau:

- Lời trăn trối của bà mẹ chồng giúp ta hiểu thêm điều gì về nàng Vũ Nương ?

Trang 10

- Theo em, nguyên nhân dẫn đến nỗi oan của Vũ Nương là gì? Em hãy chỉ rõ và phân tích những nguyên nhân đó ?

- Theo em, có cách nào để kết cục cuộc đời của những con người như Vũ Nương, Thị Kính không rơi vào bi kịch mà không cần đến sức mạnh thần bí ?

* Khi dạy văn bản Đồng chí của Chính Hữu, để thấy rõ nghệ thuật của bài thơ cũng như sự chuyển ý thơ, ta có thể đặt câu hỏi:

- Câu thơ thứ 7 trong bài thơ có gì đặc biệt ?

Đối với bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt, có thể đặt câu hỏi:

- Tại sao tác giả lại viết “Một bếp lửa ấp iu nồng đượm” ? , sau đó dùng câu hỏi gợi mở: Từ “ấp iu” thể hiện hành động như thế nào? Bếp lửa luôn gắn với hình ảnh nào trong bài thơ ? Bếp lửa có thể hiện được sự ấp iu không ?

* Khi dạy bài Các phương châm hội thoại, sau khi HS đọc xong truyện cười “Quả

bí khổng lồ”, GV đưa ra những câu hỏi sau đây cho HS thảo luận nhóm 4 em:

- Trả lời quả bí to bằng cái nhà có đúng không? Nếu nói cho đúng về quả bí to thì nên nói như thế nào?

- Trả lời cái nồi đồng to bằng cả cái đình có đúng không? Nếu nói cho đúng về cái nồi to thì nên nói như thế nào?

- Những câu trả lời trên đã có bằng chứng xác thực đưa ra chưa ?

- Như vậy, trong giao tiếp có điều gì cần tránh ?

* Trong đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích :

- Tại sao tác giả để Thuý Kiều nhớ Kim Trọng trước rồi mới nhớ đến cha mẹ? Điều đó có hợp lí không? Vì sao ?

* Trong đoạn trích Mã Giám Sinh mua Kiều :

- Nếu đặt tên cho văn bản này, em sẽ đặt như thế nào ?

* Trong đoạn trích Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga :

- Có ý kiến cho rằng “Lục Vân Tiên” gần như là tự truyện của Nguyễn Đình Chiểu Qua so sánh cuộc đời nhân vật Lục Vân Tiên và cuộc đời tác giả, ý kiến của

em như thế nào ?

* Trong bài Nghị luận trong văn bản tự sự , GV cho 2 nhóm tìm hiểu đoạn

Ngày đăng: 27/04/2016, 21:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w