1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng quan hệ thương mại Việt Nam – Singapore trong những năm gần đây

37 452 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 107,99 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 1 1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM SINGAPORE 2 1.1. Cơ sở lý luận 2 1.1.1. Những vấn đề cơ bản về thương mại quốc tế 2 1.1.2. Vai trò của thương mại quốc tế đối với nền kinh tế của mỗi quốc gia 6 1.2. Cơ sở thực tiễn của quan hệ thương mại Việt Nam – Singapore 6 1.2.1. Nhân tố bên ngoài 6 1.2.2. Nhân tố bên trong 7 2. THỰC TRẠNG QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM SINGAPORE 11 2.1. Quan hệ thương mại Việt NamSingapore 12 2.1.1. Hiện trạng xuất khẩu của Việt Nam sang Singapore 12 2.1.2. Hiện trạng nhập khẩu của Việt Nam sang Singapore 17 2.2. Đánh giá chung về quan hệ thương mại Việt Nam – Singapore 22 2.2.1. Về xuất khẩu 24 2.2.2. Về nhập khẩu 25 3. TRIỂN VỌNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY MỖI QUAN HỆ THƯƠNG MẠI GIỮA VIỆT NAM VÀ SINGAPORE 26 3.1. Triển vọng mỗi quan hệ kinh tế thương mại giữa Việt Nam và Singapore 26 3.1.1. Phương hướng phát triển quan hệ thương mại Việt NamSingapore 26 3.1.2. Phương hướng phát triển xuất khẩu 28 3.1.3. Phương hướng phát triển nhập khẩu 29 3.2. Kiến nghị một số giải pháp thúc đẩy mối quan hệ kinh tế thương mại giữa Việt NamSingapore 29 KẾT LUẬN 33 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO. LỜI MỞ ĐẦU Ngày nay, quốc tế hóa – toàn cầu hóa đang là một xu thế chung trên thế giới. Trong đó, thương mại quốc tế là một lĩnh vực quan trọng đóng vai trò mũi nhọn thúc đẩy nền kinh tế trong nước, tạo dựng mối quan hệ ngoại giao với các nước trên thế giới, phát huy được lợi thế so sánh của đất nước, tận dụng được tiềm năng về vốn, khoa học kỹ thuật và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Hiện nay, Việt Nam đang tiến hành mở rộng quan hệ hợp tác với hầu hết các nước trên thế giới. Đó là con đường duy nhất để Việt Nam có thể thu hút đầu tư, phát triển kinh tế và tạo ra được tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất. Song cái gì cũng có tính hai mặt của nó, hoạt động thương mại càng mở rộng và tự do hóa thì càng gây áp lực cho các nước có nền kinh tế vẫn còn lạc hâu, chưa phát triển. Việc lựa chọn một thị trường kinh tế thích hợp để mở rộng quan hệ mua bán, trao đổi hàng hóa dịch vụ và thu hút được nguồn vốn đầu tư là vô cùng nan giải. Chính vì vậy, phân tích thực trạng quan hệ thương mại giữa Việt Nam với các nước trên thế giới là vô cùng cần thiết, qua đó có thể đề ra các giải pháp hữu hiệu để phát triển hơn nữa quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và các nước cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, phục vụ cho công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước. Do vậy, nhóm em mạnh dạn lựa chọn chủ đề:“Quan hệ thương mại Việt Nam – Singapore” qua đó tập trung phân tích thực trạng quan hệ thương mại Việt Nam – Singapoe, đánh giá những tác động của mối quan hệ này từ đó xác định triển vọng của mối quan hệ ngoại giao giữa hai nước, xác định rõ hơn quan điểm và đưa ra những giải pháp hữu hiệu thúc đẩy mối quan hệ này trong tương lai.   NỘI DUNG CHÍNH 1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM SINGAPORE 1.1. Cơ sở lý luận 1.1.1. Những vấn đề cơ bản về thương mại quốc tế Định nghĩa Thương mại quốc tế là quá trình trao đổi hàng hoá giữa các nước thông qua buôn bán nhằm mục đích kinh tế tối đa. Thương mại quốc tế là một lĩnh vực quan trọng nhằm tạo điều kiện cho các nước tham gia vào phân công lao động quốc tế, phát triển kinh tế và làm giàu cho đất nước. Ngày nay, thương mại quốc tế không chỉ mang ý nghĩa đơn thuần là buôn bán mà là sự phụ thuộc tất yếu giữa các quốc gia vào phân công lao động quốc tế. Vì vậy, phải coi thương mại quốc tế như một tiền đề một nhân tố phát triển kinh tế trong nước trên cơ sở lựa chọn một cách tối ưu sự phân công lao động và chuyên môn hoá quốc tế. Thương mại quốc tế một mặt phải khai thác được mọi lợi thế tuyệt đối của đất nước phù hợp với xu thế phát triển và quan hệ kinh tế quốc tế. Mặt khác, phải tính đến lợi thế tương đối có thể được theo quy luật chi phí cơ hội. Phải luôn luôn tính toán cái có thể thu được so với cái giá phải trả khi tham gia vào buôn bán và phân công lao động quốc tế để có đối sách thích hợp. Điều kiện để thương mại quốc tế tồn tại và phát triển là: Có sự tồn tại và phát triển của kinh tế hàng hóa – tiền tệ, kèm theo đó là sự xuất hiện của tư bản thương nghiệp. Có sự ra đời của nhà nước và sự phân công lao động quốc tế. Các lý thuyết thương mại quốc tế • Chủ nghĩa trọng thương Chủ nghĩa trọng thương ở Châu Âu đã phát triển từ giữa thế kỷ XV đến giữa thế kỷ XVIII, với nhiều đại biểu khác nhau: Jean Bodin, Melon, Jully, Colbert (Pháp),… Nội dung chính của thuyết này là: Vàng, bạc là tiền tệ, là biểu hiện của sự giàu có. Mỗi quốc gia muốn đạt được sự thịnh vượng trong phát triển kinh tế thì phải gia tăng khối lượng tiền tệ bằng phát triển ngoại thương và mỗi quốc gia chỉ có thể thu được lợi ích từ ngoại thương nếu cán cân thương mại mang dấu dương (hay giá trị xuất khẩu lớn hơn giá trị nhập khẩu). Đây đã là những tư tưởng đầu tiên của các nhà kinh tế học tư sản cổ điển nghiên cứu về hiện tượng và lợi ích của ngoại thương. Ngoài ra, những người trọng thương cũng sớm nhận thức được vai trò qua trọng của nhà nước trong quản lý, điều hành trực tiếp các hoạt động kinh tế xã hội thông qua các công cụ thuế quan, bảo hộ mậu dịch trong nước... để bảo hộ các ngành sản xuất non trẻ, kiểm soát nhập khẩu, thúc đẩy xuất khẩu. • Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith. Trong cuốn sách “Nghiên cứu về bản chất và nguồn gốc giàu có của các quốc gia”, Adam Smith đã đề cao vai trò của thương mại, song khác với sự phiến diện của trọng thương đã tuyệt đối hoá quá mức vai trò ngoại thương, ông cho rằng ngoại thương có vai trò rất to lớn nhưng không phải nguồn gốc duy nhất của sự giàu có. Sự giàu có không phải do ngoại thương mà là do công nghiệp, tức là do hoạt động sản xuất đem lại chứ không phải do hoạt động lưu thông. Theo ông, hoạt động kinh tế (bao gồm cả hoạt động sản xuất và lưu thông) phải được tiến hành một cách tự do, do quan hệ cung cầu và biến động giá cả thị trường quy định. Theo Adam Smith, sức mạnh làm cho nền kinh tế tăng trưởng là do sự tự do trao đổi giữa các quốc gia, do đó mỗi quốc gia cần chuyên môn vào những ngành sản xuất có lợi thế tuyệt đối, nghĩa là phải biết dựa vào những ngành sản xuất có thể sản xuất ra những sản phẩm có chi phí sản xuất nhỏ hơn so với quốc gia khác, nhưng lại thu được lượng sản phẩm nhiều nhất, sau đó đem cân đối với mức cầu ở mức giá lớn hơn giá cân bằng. Chính sự chênh lệch giá nhờ mức cầu tăng lên ở quốc gia khác làm cho nền kinh tế tăng trưởng. Quan điểm trên thể hiện nội dung cơ bản của lý thuyết lợi thế tuyệt đối trong thương mại quốc tế. Một nước được coi là có lợi thế tuyệt đối so với một nước khác trong việc chuyên môn hoá sản xuất hàng hoá A khi cùng một nguồn lực có thể sản xuất được nhiều sản phẩm A hơn là nước thứ 2. • Lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo. Nếu chỉ dựa vào lợi thế tuyệt đối thì khó có thể giải thích được vì sao một nước có lợi thế tuyệt đối hơn hẳn so với nước khác, hoặc một nước không có lợi thế nào vẫn có thể tích cực tham gia vào quá trình hợp tác và phân công lao động quốc tế để phát triển mạnh các hoạt động thương mại quốc tế. Khắc phục những hạn chế của lợi thế tuyệt đối của Adam Smith, năm 1817, trong tác phẩm nổi tiếng của mình “Những nguyên lý của kinh tế chính trị” nhà kinh tế học cổ điển người Anh David Ricardo đã đưa ra lý thuyết lợi thế so sánh, nhằm giải thích tổng quát chính xác hơn về cơ chế xuất hiện lợi ích trong thương mại quốc tế. Nội dung của lý thuyết này bao gồm: Mọi nước đều có lợi khi tham gia vào phân công lao động quốc tế, bởi vì: phát triển ngoại thương cho phép mở rộng khả năng tiêu dùng của một nước. Nguyên nhân chính là do chuyên môn hoá sản xuất một số sản phẩm nhất định của mình để đổi lấy hàng nhập khẩu từ các nước khác thông qua con đường thương mại quốc tế. Những nước có lợi thế tuyệt đối hoàn toàn hơn hẳn các nước khác, hoặc bị kém lợi thế tuyệt đối hơn so với các nước khác, vẫn có thể có lợi khi tham gia vào phân công lao động và quốc tế, vì mỗi nước đều có những lợi thế so sánh nhất định về một số mặt hàng và một số kém lợi thế so sánh nhất định về một số mặt hàng khác. Lý thuyết nguồn lực và Thương mại Hecksher - Ohlin. Chúng ta đã thấy rằng lợi thế so sánh là nguồn gốc những lợi ích của thương mại quốc tế, nhưng lợi thế so sánh do đâu mà có? Vì sao các nước khác nhau lại có chi phí cơ hội khác nhau?... Lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo đã không giải thích được những vấn đề trên đây. Để khắc phục những hạn chế này, hai nhà kinh tế học Thuỵ điển, Eli Hecksher và B.Ohlin trong tác phẩm “Thương mại liên khu vực và quốc tế” xuất bản 1933, đã phát triển lợi thế so sánh của David Ricardo thêm một bước bằng việc đưa ra mô hình H-O để trình bày lý thuyết ưu đãi về nguồn lực sản xuất vốn có. Lý thuyết này đã giải thích hiện tượng thương mại quốc tế là do trong một nền kinh tế mở cửa, mỗi quốc gia đều hướng đến chuyên môn hoá các ngành sản xuất mà cho phép sử dụng nhiều yếu tố sản xuất đối với nước đó là thuận lợi nhất. Nói cách khác, theo lý thuyết H-O, một số nước này có lợi thế so sánh hơn trong việc sản xuất và xuất khẩu một số sản phẩm hàng hoá của mình là do việc sản xuất những sản phẩm đó đã sử dụng nhiều yếu tố sản xuất mà một trong số nước đó đã được ưu đãi hơn so với một số nước khác. Chính sự ưu đãi về các lợi thế tự nhiên của các yếu tố sản xuất này (bao gồm vốn, lao động, tài nguyên, đất đai, khí hậu...) đã khiến một số nước đó có chi phí cơ hội thấp hơn (so với việc sản xuất các sản phẩm hàng hoá khác) khi sản xuất những sản phẩm hàng hoá đó. Sau này, nó còn được các nhà kinh tế học nổi tiếng khác như Paul Samuelson, james William... tiếp tục mở rộng và nghiên cứu tỷ mỉ hơn để khẳng định tư tưởng khoa học của định lý H-O hay còn gọi là quy luật H-O về tỷ lệ cân đối các yếu tố sản xuất, trước đó đã được Hecksher-Ohlin đưa ra với nội dung: một nước sẽ sản xuất loại hàng hoá mà việc sản xuất nó cần sử dụng nhiều yếu tố rẻ và tương đối sẵn có của nước đó và nhập khẩu hàng hoá mà việc sản xuất nó cần nhiều yếu tố đắt và tương đối khan hiếm hơn của nước đó.

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM - SINGAPORE 2

1.1 Cơ sở lý luận 2

1.1.1 Những vấn đề cơ bản về thương mại quốc tế 2

1.1.2 Vai trò của thương mại quốc tế đối với nền kinh tế của mỗi quốc gia 6

1.2 Cơ sở thực tiễn của quan hệ thương mại Việt Nam – Singapore 6

1.2.1 Nhân tố bên ngoài 6

1.2.2 Nhân tố bên trong 7

2 THỰC TRẠNG QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM - SINGAPORE 11

2.1 Quan hệ thương mại Việt Nam-Singapore 12

2.1.1 Hiện trạng xuất khẩu của Việt Nam sang Singapore 12

2.1.2 Hiện trạng nhập khẩu của Việt Nam sang Singapore 17

2.2 Đánh giá chung về quan hệ thương mại Việt Nam – Singapore 22

2.2.1 Về xuất khẩu 24

2.2.2 Về nhập khẩu 25

3 TRIỂN VỌNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY MỖI QUAN HỆ THƯƠNG MẠI GIỮA VIỆT NAM VÀ SINGAPORE 26

3.1 Triển vọng mỗi quan hệ kinh tế thương mại giữa Việt Nam và Singapore 26

3.1.1 Phương hướng phát triển quan hệ thương mại Việt Nam-Singapore 26

3.1.2 Phương hướng phát triển xuất khẩu 28

3.1.3 Phương hướng phát triển nhập khẩu 29

3.2 Kiến nghị một số giải pháp thúc đẩy mối quan hệ kinh tế thương mại giữa Việt Nam-Singapore 29

KẾT LUẬN 33 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Ngày nay, quốc tế hóa – toàn cầu hóa đang là một xu thế chung trên thế giới.Trong đó, thương mại quốc tế là một lĩnh vực quan trọng đóng vai trò mũi nhọnthúc đẩy nền kinh tế trong nước, tạo dựng mối quan hệ ngoại giao với các nướctrên thế giới, phát huy được lợi thế so sánh của đất nước, tận dụng được tiềm năng

về vốn, khoa học kỹ thuật và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại

Hiện nay, Việt Nam đang tiến hành mở rộng quan hệ hợp tác với hầu hết cácnước trên thế giới Đó là con đường duy nhất để Việt Nam có thể thu hút đầu tư,phát triển kinh tế và tạo ra được tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất Song cái gìcũng có tính hai mặt của nó, hoạt động thương mại càng mở rộng và tự do hóa thìcàng gây áp lực cho các nước có nền kinh tế vẫn còn lạc hâu, chưa phát triển Việclựa chọn một thị trường kinh tế thích hợp để mở rộng quan hệ mua bán, trao đổihàng hóa dịch vụ và thu hút được nguồn vốn đầu tư là vô cùng nan giải Chính vìvậy, phân tích thực trạng quan hệ thương mại giữa Việt Nam với các nước trên thếgiới là vô cùng cần thiết, qua đó có thể đề ra các giải pháp hữu hiệu để phát triểnhơn nữa quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và các nước cả về chiều rộng lẫn chiềusâu, phục vụ cho công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước

Do vậy, nhóm em mạnh dạn lựa chọn chủ đề:“Quan hệ thương mại Việt Nam – Singapore” qua đó tập trung phân tích thực trạng quan hệ thương mại Việt

Nam – Singapoe, đánh giá những tác động của mối quan hệ này từ đó xác địnhtriển vọng của mối quan hệ ngoại giao giữa hai nước, xác định rõ hơn quan điểm vàđưa ra những giải pháp hữu hiệu thúc đẩy mối quan hệ này trong tương lai

Trang 3

NỘI DUNG CHÍNH

1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM SINGAPORE

-I.1 Cơ sở lý luận

I.1.1 Những vấn đề cơ bản về thương mại quốc tế

Định nghĩa

Thương mại quốc tế là quá trình trao đổi hàng hoá giữa các nước thông quabuôn bán nhằm mục đích kinh tế tối đa Thương mại quốc tế là một lĩnh vực quantrọng nhằm tạo điều kiện cho các nước tham gia vào phân công lao động quốc tế,phát triển kinh tế và làm giàu cho đất nước Ngày nay, thương mại quốc tế khôngchỉ mang ý nghĩa đơn thuần là buôn bán mà là sự phụ thuộc tất yếu giữa các quốcgia vào phân công lao động quốc tế Vì vậy, phải coi thương mại quốc tế như mộttiền đề một nhân tố phát triển kinh tế trong nước trên cơ sở lựa chọn một cách tối

ưu sự phân công lao động và chuyên môn hoá quốc tế

Thương mại quốc tế một mặt phải khai thác được mọi lợi thế tuyệt đối củađất nước phù hợp với xu thế phát triển và quan hệ kinh tế quốc tế Mặt khác, phảitính đến lợi thế tương đối có thể được theo quy luật chi phí cơ hội Phải luôn luôntính toán cái có thể thu được so với cái giá phải trả khi tham gia vào buôn bán vàphân công lao động quốc tế để có đối sách thích hợp

Điều kiện để thương mại quốc tế tồn tại và phát triển là:

- Có sự tồn tại và phát triển của kinh tế hàng hóa – tiền tệ, kèm theo đó là

sự xuất hiện của tư bản thương nghiệp

- Có sự ra đời của nhà nước và sự phân công lao động quốc tế

Các lý thuyết thương mại quốc tế

 Chủ nghĩa trọng thương

Trang 4

Chủ nghĩa trọng thương ở Châu Âu đã phát triển từ giữa thế kỷ XV đến giữathế kỷ XVIII, với nhiều đại biểu khác nhau: Jean Bodin, Melon, Jully, Colbert(Pháp),… Nội dung chính của thuyết này là: Vàng, bạc là tiền tệ, là biểu hiện của

sự giàu có Mỗi quốc gia muốn đạt được sự thịnh vượng trong phát triển kinh tế thìphải gia tăng khối lượng tiền tệ bằng phát triển ngoại thương và mỗi quốc gia chỉ

có thể thu được lợi ích từ ngoại thương nếu cán cân thương mại mang dấu dương(hay giá trị xuất khẩu lớn hơn giá trị nhập khẩu)

Đây đã là những tư tưởng đầu tiên của các nhà kinh tế học tư sản cổ điểnnghiên cứu về hiện tượng và lợi ích của ngoại thương Ngoài ra, những người trọngthương cũng sớm nhận thức được vai trò qua trọng của nhà nước trong quản lý,điều hành trực tiếp các hoạt động kinh tế xã hội thông qua các công cụ thuế quan,bảo hộ mậu dịch trong nước để bảo hộ các ngành sản xuất non trẻ, kiểm soátnhập khẩu, thúc đẩy xuất khẩu

 Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith.

Trong cuốn sách “Nghiên cứu về bản chất và nguồn gốc giàu có của cácquốc gia”, Adam Smith đã đề cao vai trò của thương mại, song khác với sự phiếndiện của trọng thương đã tuyệt đối hoá quá mức vai trò ngoại thương, ông cho rằngngoại thương có vai trò rất to lớn nhưng không phải nguồn gốc duy nhất của sựgiàu có Sự giàu có không phải do ngoại thương mà là do công nghiệp, tức là dohoạt động sản xuất đem lại chứ không phải do hoạt động lưu thông Theo ông, hoạtđộng kinh tế (bao gồm cả hoạt động sản xuất và lưu thông) phải được tiến hành mộtcách tự do, do quan hệ cung cầu và biến động giá cả thị trường quy định

Theo Adam Smith, sức mạnh làm cho nền kinh tế tăng trưởng là do sự tự dotrao đổi giữa các quốc gia, do đó mỗi quốc gia cần chuyên môn vào những ngànhsản xuất có lợi thế tuyệt đối, nghĩa là phải biết dựa vào những ngành sản xuất cóthể sản xuất ra những sản phẩm có chi phí sản xuất nhỏ hơn so với quốc gia khác,nhưng lại thu được lượng sản phẩm nhiều nhất, sau đó đem cân đối với mức cầu ở

Trang 5

mức giá lớn hơn giá cân bằng Chính sự chênh lệch giá nhờ mức cầu tăng lên ởquốc gia khác làm cho nền kinh tế tăng trưởng.

Quan điểm trên thể hiện nội dung cơ bản của lý thuyết lợi thế tuyệt đối trongthương mại quốc tế Một nước được coi là có lợi thế tuyệt đối so với một nước kháctrong việc chuyên môn hoá sản xuất hàng hoá A khi cùng một nguồn lực có thể sảnxuất được nhiều sản phẩm A hơn là nước thứ 2

Lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo.

Nếu chỉ dựa vào lợi thế tuyệt đối thì khó có thể giải thích được vì sao mộtnước có lợi thế tuyệt đối hơn hẳn so với nước khác, hoặc một nước không có lợi thếnào vẫn có thể tích cực tham gia vào quá trình hợp tác và phân công lao động quốc

tế để phát triển mạnh các hoạt động thương mại quốc tế

Khắc phục những hạn chế của lợi thế tuyệt đối của Adam Smith, năm 1817,trong tác phẩm nổi tiếng của mình “Những nguyên lý của kinh tế chính trị” nhàkinh tế học cổ điển người Anh David Ricardo đã đưa ra lý thuyết lợi thế so sánh,nhằm giải thích tổng quát chính xác hơn về cơ chế xuất hiện lợi ích trong thươngmại quốc tế

Nội dung của lý thuyết này bao gồm:

- Mọi nước đều có lợi khi tham gia vào phân công lao động quốc tế, bởi vì:phát triển ngoại thương cho phép mở rộng khả năng tiêu dùng của mộtnước Nguyên nhân chính là do chuyên môn hoá sản xuất một số sảnphẩm nhất định của mình để đổi lấy hàng nhập khẩu từ các nước khácthông qua con đường thương mại quốc tế

- Những nước có lợi thế tuyệt đối hoàn toàn hơn hẳn các nước khác, hoặc

bị kém lợi thế tuyệt đối hơn so với các nước khác, vẫn có thể có lợi khitham gia vào phân công lao động và quốc tế, vì mỗi nước đều có những

Trang 6

lợi thế so sánh nhất định về một số mặt hàng và một số kém lợi thế sosánh nhất định về một số mặt hàng khác.

Lý thuyết nguồn lực và Thương mại Hecksher - Ohlin.

Chúng ta đã thấy rằng lợi thế so sánh là nguồn gốc những lợi ích của thươngmại quốc tế, nhưng lợi thế so sánh do đâu mà có? Vì sao các nước khác nhau lại cóchi phí cơ hội khác nhau? Lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo đã khônggiải thích được những vấn đề trên đây Để khắc phục những hạn chế này, hai nhàkinh tế học Thuỵ điển, Eli Hecksher và B.Ohlin trong tác phẩm “Thương mại liênkhu vực và quốc tế” xuất bản 1933, đã phát triển lợi thế so sánh của David Ricardothêm một bước bằng việc đưa ra mô hình H-O để trình bày lý thuyết ưu đãi vềnguồn lực sản xuất vốn có Lý thuyết này đã giải thích hiện tượng thương mại quốc

tế là do trong một nền kinh tế mở cửa, mỗi quốc gia đều hướng đến chuyên mônhoá các ngành sản xuất mà cho phép sử dụng nhiều yếu tố sản xuất đối với nước đó

là thuận lợi nhất Nói cách khác, theo lý thuyết H-O, một số nước này có lợi thế

so sánh hơn trong việc sản xuất và xuất khẩu một số sản phẩm hàng hoá của mình

là do việc sản xuất những sản phẩm đó đã sử dụng nhiều yếu tố sản xuất mà mộttrong số nước đó đã được ưu đãi hơn so với một số nước khác Chính sự ưu đãi vềcác lợi thế tự nhiên của các yếu tố sản xuất này (bao gồm vốn, lao động, tàinguyên, đất đai, khí hậu ) đã khiến một số nước đó có chi phí cơ hội thấp hơn (sovới việc sản xuất các sản phẩm hàng hoá khác) khi sản xuất những sản phẩm hànghoá đó

Sau này, nó còn được các nhà kinh tế học nổi tiếng khác như PaulSamuelson, james William tiếp tục mở rộng và nghiên cứu tỷ mỉ hơn để khẳngđịnh tư tưởng khoa học của định lý H-O hay còn gọi là quy luật H-O về tỷ lệcân đối các yếu tố sản xuất, trước đó đã được Hecksher- Ohlin đưa ra với nộidung: một nước sẽ sản xuất loại hàng hoá mà việc sản xuất nó cần sử dụng nhiều

Trang 7

yếu tố rẻ và tương đối sẵn có của nước đó và nhập khẩu hàng hoá mà việc sản xuất

nó cần nhiều yếu tố đắt và tương đối khan hiếm hơn của nước đó

I.1.2 Vai trò của thương mại quốc tế đối với nền kinh tế của mỗi quốc gia

Trong xu thế mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay thì vai trò củathương mại quốc tế đối với mỗi quốc gia là vô cùng quan trọng Thương mại quốc

tế vừa là cầu nối kinh tế giữa các nước với nhau trên thế giới, vừa góp phần cho sảnxuất và đời sống toàn xã hội ngày một phồn vịnh hơn Cụ thể là:

- Thương mại quốc tế tạo nguồn ngoại tệ cho đất nước để đầu tư pháttriển

- Đẩy nhanh đổi mới cơ cấu nền kinh tế và sự phát triển của kinh tế xãhội

- Phát huy lợi thế so sánh, khai thác hiệu quả tiềm năng nguồn lực sẵn

có của đất nước

- Tiếp thu, học hỏi khoa học kỹ thuật tiên tiến của các nước trên thếgiới

- Nâng cao đời sống kinh tế - xã hội của người dân

I.2 Cơ sở thực tiễn của quan hệ thương mại Việt Nam – Singapore

I.2.1 Nhân tố bên ngoài

Ngày nay, xu thế đa phương hoá, toàn cầu hoá thương mại đã và đang tácđộng sâu sắc đến nền kinh tế của các quốc gia trên thế giới Sự tồn tại và phát triểncủa các nền kinh tế đang ngày càng trở nên lệ thuộc lẫn nhau nhiều hơn trongnhững mối quan hệ thương mại đa phương phức tạp Bên cạnh đó, khoa học côngnghệ phát triển mạnh mẽ đặc biệt là lĩnh vực công nghệ thông tin đã đưa các quốcgia gắn kết với nhau thành một mạng lưới toàn cầu Việc thị trường thế giới hìnhthành như một chỉnh thể thống nhất bắt buộc nền kinh tế mỗi quốc gia phải tiếnhành cải cách, chuyển đổi tích cực để trở thành một phần hữu cơ của nó

Để tránh nguy cơ tụt hậu và tiến tới hội nhập vào nền kinh tế khu vực cũngnhư thế giới Việt Nam cũng phải mở rộng và đa dạng hoá các hình thức thương mại

Trang 8

song phương và đa phương Thị trường hàng hoá và dịch vụ của Việt Nam được

mở rộng tới trên 100 quốc gia trên thế giới Nước ta đã chính thức là thành viên củanhiều tổ chức và thể chế thương mại khu vực và quốc tế quan trọng như: Khu vựcmậu dịch tự do ASEAN (AFTA), Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái BìnhDương (APEC), Hội nghị thượng đỉnh Á-Âu (ASEM), Tổ chức thương mại thế giới(WTO) và đang tích cực xúc tiến gia nhập Hiệp định đối tác xuyên Thái BìnhDương (TPP) Lợi ích của tham gia vào thương mại quốc tế là vô cùng to lớn Nó làcon đường duy nhất để Việt Nam có thể thu hút đầu tư, phát triển kinh tế và tạo rađược tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất

I.2.2 Nhân tố bên trong

Những đặc điểm cơ bản của thị trường Singapore

Singapore hầu như không có tài nguyên, nguyên liệu đều phải nhập từ bênngoài, hàng năm phải nhập lương thực, thực phẩm để đáp ứng nhu cầu ở trongnước Nhưng bù lại, tạo hóa đã cho quốc đảo này một vị trí địa lý lý tưởng, nằm ánngữ trên trục đường vận tải biển từ Á sang Âu, Đông sang Tây, cửa ngõ ra vào củaChâu Á Hơn thế, Singapore còn là tâm điểm nối các châu lục Á – Âu – Phi – Úc

và Bắc – Nam Mĩ Vị trí tự nhiên hiếm có cùng với những thế mạnh do chính conngười Singapore tạo ra đã biến Quốc đảo này trở thành mảnh đất có sức hấp dẫncao trên thế giới

Singapore có cơ sở hạ tầng và một số ngành công nghiệp phát triển cao hàngđầu Châu Á và thế giới như: cảng biển, công nghiệp đóng và sửa chữa tàu, côngnghiệp lọc dầu, chế biến, điện tử và lắp ráp máy móc tinh vi Singapore có 12 khuvực công nghiệp lớn, trong đó lớn nhất là khu công nghiệp Du-rông (Jurong).Singapore là nước hàng đầu về sản xuất ổ đĩa máy tính điện tử và hàng bán dẫn.Singapore còn là trung tâm lọc dầu và vận chuyển quá cảnh hàng đầu ở Châu Á Singapore cũng được coi là nước đi đầu trong việc chuyển đổi sang nền kinh

tế tri thức Singapore đang thực hiện kế hoạch đến năm 2018 sẽ biến Singapore

Trang 9

thành một thành phố hàng đầu thế giới, một đầu mối của mạng lưới mới trong nềnkinh tế toàn cầu và Châu Á và một nền kinh tế đa dạng nhạy cảm kinh doanh.

Nền kinh tế nước này phụ thuộc rất nhiều vào xuất khẩu, đặc biệt là các thiết

bị điện tử tiêu dùng, sản phẩm công nghệ thông tin, dược phẩm, và lĩnh vực dịch vụtài chính Nền kinh tế sụt giảm 0,8% trong năm 2009 do hệ quả của cuộc khủnghoảng tài chính toàn cầu, nhưng lại hồi phục 14,5% trong năm 2010 và 5,3% trongnăm 2011 nhờ sức mạnh của xuất khẩu Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tạiSingapore trị giá 307.860.000.000 đô la Mỹ trong năm 2014 Giá trị GDP củaSingapore chiếm 0,50 phần trăm của nền kinh tế thế giới

Singapore có nền kinh tế thị trường tự do phát triển cao và rất thành công.Singapore được hưởng một môi trường kinh tế mở cửa và không có tham nhũng,giá cả ổn đỉnh, và thu nhập bình quân trên đầu người cao hơn so với hẩu hết cácnước phát triển khác Singapore có chế độ nhập khẩu rất mở Tất cả các loại thựcphẩm đều được miễn thuế nhập khẩu, ngoại trừ đồ uống có cồn và thuốc lá Trênthực tế, không có những hàng rào phi thuế quan nào ở thị trường này bởi có quá ítsản phẩm nội địa và các chính sách của chính phủ trong thời gian gần đây là để tìmkiếm nguồn thực phẩm từ khắp nơi trên thế giới

Về chính sách thương mại tổng thể: Khoảng 99% hàng hóa nhập khẩu vào

Singapore không phải chịu thuế nhập khẩu hoặc các biện pháp phi thuế quan khác.Đối với các doanh nghiệp bình thường: thuế thu nhập là 40% Đối với các doanhnghiệp có giá trị xuất khẩu > = 100000 USD/năm thì thuế là 4%/năm Các doanhnghiệp có vốn đầu tư từ $200 triệu trở lên được hưởng mức thuế doanh thu 10%(mức chung 25,5%) trong 10 năm Quốc gia này không sử dụng hàng rào phi thuếquan như hạn ngạch, không trợ giá xuất nhập khẩu Nhà nước không bảo hộ, nhưngnhà nước ưu tiên đầu tư cho doanh nghiệp ở các ngành quan trọng phát triển bằng

cổ phần lớn của nhà nước, khi các doanh nghiệp này đủ mạnh trong cạnh tranh xuấtkhẩu trên thị trường quốc tế thì nhà nước bán cổ phiếu cho dân

Trang 10

Singapore tham gia nhiều cam kết WTO, ASEAN, APEC… và nhiều camkết song phương khác nhằm tự do hóa nền kinh tế, tăng năng lực cạnh tranh toàncầu của hàng hóa, dịch vụ và của cả nền kinh tế.

Về lâu dài, Chính phủ hy vọng sẽ thiết lập một lộ trình tăng trưởng mới tậptrung vào nâng cao năng suất Singapore đã thu hút được đầu tư lớn vào sản xuấtdược phẩm và công nghệ y tế và sẽ tiếp tục nỗ lực để thiết lập Singapore là trungtâm tài chính và công nghệ cao của khu vực Đông Nam Á

Tình hình đổi mới của Việt Nam

Qua gần 30 năm đổi mới, nhờ đường lối đúng đắn của Đảng và tính tích cực,chủ động, sáng tạo của nhân dân trong việc hiện thực hoá đường lối đó, chúng ta đãđạt dược những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử:

Việt Nam đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội kéo dài nhiều năm, khắcphục được nạn lạm phát có lúc trên 700% (năm 1986) xuống mức lạm phát 12%(năm 1995) và từ đó đến nay lạm phát chỉ còn một con số; khắc phục được nạnthiếu lương thực trước đây và hiện nay kinh tế phát triển liên tục, đặc biệt là sảnxuất lương thực, Việt Nam trở thành một nước xuất khẩu gạo thứ hai, thứ ba trênthế giới

Hiện nay Việt Nam đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nướcnhằm mục tiêu đến năm 2020, Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệptheo hướng hiện đại Cùng với tăng trưởng kinh tế, trong thời kỳ đổi mới, Việt Nam

đã chú ý đến việc thực hiện chính sách công bằng xã hội, xóa đói giảm nghèo Nhờ

đó, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện một bước đáng kể.Tính riêng trong 5 năm (1993-1998), thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam

đã tăng 2,45 lần Giai đoạn 2000 – 2015, thu nhập bình quân đầu người Việt Nam

tăng 5,25 lần (Nguồn: Tổng cục thống kê)

Một đặc điểm khác đáng chú ý nữa là sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam đã xácđịnh đổi mới kinh tế là trọng tâm, trước hết phải đổi mới tư duy về kinh tế Nhờđịnh hướng đúng đắn mà những yêu cầu cấp thiết của nhân dân ta về sản xuất và

Trang 11

đời sống được giải quyết, đem lại sự tin tưởng của nhân dân đối với sự nghiệp đổimới, tự nó trở thành động lực thúc đẩy công cuộc đổi mới giành nhiều thắng lợi.

Song song với đổi mới kinh tế, từng bước đổi mới về chính trị, xã hội, vănhóa với mục tiêu phát huy quyền làm chủ thực sự của nhân dân, xây dựng và pháthuy đại đoàn kết toàn dân, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa vănhóa nhân loại Khoa học - công nghệ cùng với giáo dục - đào tạo được Nhà nướchết sức chăm lo Nhà nước coi chính sách phát triển khoa học - công nghệ và giáodục - đào tạo là quốc sách hàng đầu Nhờ vậy, trong những năm vừa qua, khoa học -công nghệ và giáo dục - đào tạo đạt được nhiều thành tựu quan trọng

Trong lĩnh vực đối ngoại, Việt Nam thực hiện chính sách mở rộng quan hệđối ngoại và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế Thực hiện nhất quán đường lối đốingoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế,phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển Trên cơ sở đường lối đó, Việt Nam đãkiên trì phấn đấu đẩy lùi và làm thất bại chính sách bao vây cấm vận, cô lập ViệtNam của các thế lực thù địch, tạo được môi trường quốc tế, khu vực thuận lợi chocông cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước

Tháng 7-1995, Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của Hiệp hội cácquốc gia Đông Nam Á (ASEAN).Tháng 3-1996, Việt Nam đã tham gia Diễn đànhợp tác Á - Âu (ASEM) gồm 10 nước châu Á và 15 nước châu Âu với tư cáchthành viên sánglập Tháng 11-1998, Việt Nam đã gia nhập Diễn đàn hợp tác kinh tếchâu Á - Thái Bình Dương (APEC) gồm các nước và lãnh thổ thuộc châu Á, châu

Mỹ và châu Đại Dương ở ven hai bờ Thái Bình Dương Tháng 10-2004, Hội nghịASEM lần thứ năm đã họp tại Thủ đô Hà Nội của Việt Nam Tháng 1 năm 2007,Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới WTO

và gần đây nhất là chính thức ký kết gia nhập Hiệp định Đối tác xuyên Thái BìnhDương TPP vào ngày 04 tháng 2 năm 2016

Tính đến 2014 , Việt Nam có quan hệ ngoại giao với 180 trong 193 quốc giathành viên Liên hợp quốc; có quan hệ thương mại với gần 230 quốc gia và vùng

Trang 12

lãnh thổ; là thành viên tích cực của trên 70 tổ chức khu vực và quốc tế Chúng ta đã

có 98 cơ quan đại diện tại các quốc gia và vùng lãnh thổ khắp 5 châu lục trên thếgiới

Những thắng lợi trong hợp tác kinh tế ở Việt Nam đã tạo điều kiện thuận lợicho thị trường xuất nhập khẩu của Việt Nam thông qua việc khai thác thị trườngmới, mở rộng quan hệ hợp tác, trao đổi Tuy nhiên, cùng với những mặt tích cựccủa việc mở rộng thương mại quốc tế như đã nêu trên thì Việt Nam cũng phải đốimặt với những thách thức to lớn về sức cạnh tranh của hàng hóa dịch vụ cũng nhưđảm bảo cân bằng cán cân thương mại Do trình độ công nghệ, chất lượng hàng hóadịch vụ và năng lực cạnh tranh của chúng ta còn chưa cao, cơ cấu sản xuất – đầu tưcủa chúng ta chưa được điều chỉnh kịp thời đồng bộ và dựa trên một chiến lượctổng thể Khả năng tiếp cận và phát triển thương mại đến các thị trường còn rất hạnchế Vì vậy, để hoạt động thương mại quốc tế có hiệu quả tạo ra được nguồn ngoại

tệ và kích thích được sản xuất, đầu tư trong nước thì việc xác định, lựa chọn thịtrường thích hợp nhằm tận dụng, khai thác những lợi thế thương mại, hạn chế rủi ro

sẽ được coi như nhân tố chiến lược trong việc hoạch định chính sách thương mạiquốc tế ở Việt Nam Do đó, với những điều kiện khá thuận lợi thì Singapore sẽ làmột bước đệm quan trọng trên con đường hội nhập của Việt Nam

2 THỰC TRẠNG QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM - SINGAPORE 2.1 Quan hệ thương mại Việt Nam-Singapore

2.1.1 Hiện trạng xuất khẩu của Việt Nam sang Singapore

2.1.1.1 Về kim ngạch xuất khẩu

Singapore là một quốc gia có quá ít tiềm năng về nông nghiệp và khoángsản, do vậy Singapore đã trở thành một nước luôn trong tình trạng nhập siêu, vìphải nhập khẩu gần như toàn bộ nguyên vật liệu để chế biến hàng xuất khẩu, tiêudùng trong nước và một phần để tái sản xuất

Trang 13

Cơ cấu các mặt hàng chính của Việt Nam vào thị trường Singapore đượcchia thành 2 nhóm mặt hàng chính: Nhóm mặt hàng phục vụ cho sản xuất hàngxuất khẩu và tiêu dùng của Singapore là dầu thô, hải sản, hàng dệt may, giày dép ,

và nhóm hàng phục vụ cho chuyển khẩu sang nước thứ 3 như: gạo, lạc, cà phê…Mặc dù không có lợi thế về điều kiện tự nhiên, song với vị thế địa lý và điều kiện

cơ sở hạ tầng rất thuận lợi cho việc chuyển khẩu hàng hóa từ khu vực sang nướcthứ ba, Singapore trở thành đầu mối tiêu thụ một lượng hàng hóa lớn của nhiềunước, chính vì vậy, hàng Việt Nam xuất khẩu sang Singapore trong những năm quacũng đáp ứng nhu cầu đó của thị trường này và thường được tiêu thụ theo 2 kênh:

- Kênh thứ nhất: Nhóm hàng nguyên, nhiên liệu, vật tư phục vụ cho sản

xuất, chế biến hàng xuất khẩu, tiêu dùng trong nước, tái sản xuất Mụcđích chủ yếu của Singapore khi nhập khẩu nhóm hàng này của Việt Nam

là phục vụ cho sản xuất và tái sản xuất, hướng chính vào các sản phẩmcông nghiệp mang lại giá trị gia tăng cao khi xuất khẩu Những mặt hàngtái xuất như hàng điện tử, dệt may, giày dép… (Hiện nhóm mặt hàng nàyvẫn chưa có chỗ đứng tại thị trường Singapore)

- Kênh thứ hai: Nhóm mặt hàng xuất khẩu sang Singapore nhằm phục vụ

cho chuyển khẩu sang các nước khác Nhóm măt hàng này có khối lượngkim ngạch khá lớn (chiếm 60-65% tổng kim ngạch xuất khẩu của ViệtNam) Qua thực tế cho thấy, các doanh nghiệp Việt Nam đã khai tháchiệu quả những thế mạnh này thông qua các công ty nước ngoài đóng tạiSingapore để đẩy mạnh xuất khẩu, đặc biệt những mặt hàng có khốilượng kim ngạch lớn mà ta đang gặp khó khăn về bạn hàng, thị trườngnhư: gạo, cà phê, cao su, hạt điều, hải sản…

Trên đây là 2 kênh phân phối hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sang cùngmột địa bàn Singapore, mỗi kênh đảm trách phần cơ cấu mặt hàng khác nhau vàđược tiêu thụ thông qua 2 mục tiêu của thị trường Singapore (tiêu dùng, tái sản xuất

Trang 14

và chuyển khẩu) Điều đáng nói là trong những năm qua, chủng loại hàng hóa ViệtNam xuất khẩu sang thị trường khá đa dạng nhưng số lượng còn khiêm tốn, nó chỉchiếm một phần rất nhỏ trong kim ngạch nhập khẩu của Singapore

Bảng 2.1: Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Singapore từ

năm 2010 – 2015 và Tỷ trọng so với ASEAN và thế giới

(triệu USD)

Tỷ trọng so với ASEAN (%)

Tỷ trọng so với thế giới (%)

Nguồn: Tổng cục Thống kê & Tổng cục Hải quan

Nhìn vào bảng trên ta thấy, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sangSingapore từ năm 2010-2015 chiếm tỷ trọng không cao trong khối ASEAN (trungbình 15%) và so với thế giới thì chiếm ở vị trí khá thấp (trung bình khoảng 2%).Tuy nhiên, nhìn chung, giá trị kim ngạch xuât khẩu sang Singapore có xu hướngtăng dần qua các năm Từ 2,1 tỷ USD năm 2010 tăng lên đến 2,37 tỷ USD năm

2012 với tốc độ tăng trung bình đạt 5% Giai đoạn 2014 là giai đoạn kim ngạchxuất khẩu sang Singapore tăng mạnh nhất, tăng hơn 11% so với cùng kỳ nămngoái Một trong những lý do chính là giai đoạn 2014-2015 Việt Nam mở rộng xuấtkhẩu hàng nông thủy sản qua cửa ngõ Singapore Các mặt hàng nông sản xuấtkhẩu chủ yếu của Việt Nam sang Singapore đều tăng trong những năm gần đây vớimức tăng 19,5%/năm Kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này tăng 1,3 lần từ 274,6

Trang 15

triệu USD năm 2012 lên 355,8 triệu USD năm 2014, đặc biệt kim ngạch xuất khẩugạo lại đột nhiên tăng trưởng 1,2% trong 10 tháng đầu năm 2014

Tình hình xuất khẩu của Việt Nam sang Singapore trong những năm gầnđây có tiến bộ nhưng vẫn vẫn chưa tương xứng với những ưu đãi của đất nướcSingapore đầy triển vọng, vẫn còn chiếm tỷ trong thấp so với khối ASEAN nóichung và thế giới nói riêng Do đó,Việt Nam cần có những giải pháp để thúc đẩyhoạt động xuất khẩu ,cân bằng cán cân thương mại với thị trường này

2.1.1.2 Về cơ cấu hàng xuất khẩu

Những nhóm hàng chủ yếu Việt Nam xuất khẩu sang Singapore gồm: dầuthô; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện; máy móc, thiết bị, dụng cụ phụtùng; phương tiện vận tải và phụ tùng; điện thoại các loại và linh kiện; hạt tiêu; càphê; hàng thủy sản; hàng dệt may…

Về mặt hàng nông – thủy sản, Singapore hàng năm nhập khẩu 90% lươngthực, thực phẩm để đáp ứng nhu cầu trong nước Các mặt hàng nông sản xuất khẩuchủ yếu của Việt Nam sang Singapore là rau quả, cà phê, hạt tiêu , tăng trưởngtrong 3 năm trở lại đây (2013 – 2015), đạt 19,5%/năm Kim ngạch xuất khẩu nhómhàng này tăng 1,3 lần từ 274,6 triệu USD (2012) lên đến 355,8 triệu USD (năm2014) Tỷ trọng nhập khẩu nhóm hàng này của Việt Nam trong tổng kim ngạchnhập khẩu của Singapore tăng từ 2,9% (năm 2012) lên 4,1% (năm 2014) Kimngạch xuất khẩu một số mặt hàng nông sản, thủy sản sang thị trường Singaporegồm một số mặt hàng chủ yếu: hạt tiêu (Singapore là 1 trong 5 thị trường xuất khẩuchính của Việt Nam); thủy sản (đứng thứ 3); gạo (đứng thứ 3); rau quả (đứng thứ6); cà phê, hạt điều và cao su đều chiếm tỷ trọng không nhỏ Mặc dù kim ngạchxuất khẩu các mặt hàng nông thủy sản của Việt Nam sang Singapore tăng trưởngtốt trong những năm gần đây, tuy nhiên chưa thực sự tương xứng với tiềm lực giữahai nước

Trang 16

Bảng 2.2: Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng chủ yếu sang Singapore

Trang 18

Thức ăn gia súc

và nguyên liệu

Nguồn: Tổng cục Hải quan

Số liệu thống kê sơ bộ mới nhất từ Tổng cục Hải quan Việt Nam cho thấy:Trong năm 2015, mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu cao nhất là dầu thô với721,4,9 triệu USD, chiếm 22,0% tổng trị giá xuất khẩu, tăng 16,2% so với nămngoái

Đứng thứ hai là mặt hàng máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện, trị giáđạt 336,80 triệu USD, giảm 29,8% so với năm 2014, chiếm 11,2% tổng kim ngạchxuất khẩu sang Singapore

Mặt hàng máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác xếp thứ ba về kim ngạch,đạt 321,72 triệu USD, chiếm 9,8% tổng trị giá xuất khẩu sang Singapore, tăng15,4% so với năm trước

Một số mặt hàng có mức tăng trưởng kim ngạch cao trong năm 2015 so vớinăm 2014 gồm: phương tiện vận tải và phụ tùng tăng 73,8%; thủy tinh và các sảnphẩm từ thủy tinh tăng 18,0%; hàng dệt may tăng 25,8%; giày dép các loại tăng21,0%; túi xách, ví, vali, mũ, ô, dù tăng 22,3%; thức ăn gia súc và nguyên liệu tăng45,8%;

Ngược lại, một số mặt hàng lại có kim ngạch sụt giảm so với năm ngoái như:kim loại thường khác và sản phẩm giảm 110,6%; hạt điều giảm 91,4%; gạo giảm46,8%; dây điện và dây cáp điện giảm 12,8%; sắt thép các loại giảm 41,77%;

So sánh cơ cấu nhập khẩu của Singapore những năm 1990 với hiện tại, thì cơcấu này đã hoàn toàn thay đổi Những năm 1990, tỷ trọng nhập khẩu nguyên liệuhàng sơ chế và bán thành phẩm là chủ yếu nhằm phục vụ cho mục đích tái sản xuất,

Ngày đăng: 27/04/2016, 21:35

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Singapore từ - Thực trạng quan hệ thương mại Việt Nam – Singapore trong những năm gần đây
Bảng 2.1 Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Singapore từ (Trang 14)
Bảng 2.2: Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng chủ yếu sang - Thực trạng quan hệ thương mại Việt Nam – Singapore trong những năm gần đây
Bảng 2.2 Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng chủ yếu sang (Trang 16)
Bảng 2.4: Cơ cấu hàng nhập khẩu từ Singapore giai đoạn 2010-2012 - Thực trạng quan hệ thương mại Việt Nam – Singapore trong những năm gần đây
Bảng 2.4 Cơ cấu hàng nhập khẩu từ Singapore giai đoạn 2010-2012 (Trang 20)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w