1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế ở việt nam

105 501 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 3,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên thế giới, đã có rất nhiều nghiên cứu về mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế và hầu hết họ đều cho rằng: mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế không phải là m

Trang 1

BỘ TÀI CHÍNH TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH-MARKETING

Trang 2

BỘ TÀI CHÍNH TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH-MARKETING

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn Cô Trần Nguyễn Ngọc Anh Thư đã tận tình hướng dẫn và đóng góp ý kiến quý báu cho tôi trong quá trình hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy Cô trường Đại học Tài chính – Marketing

đã nhiệt tình giảng dạy, truyền đạt kiến thức và hỗ trợ cho tôi trong quá trình học tập tại trường

Tôi cũng xin cảm ơn các bạn, anh chị học viên Lớp 4-1, cao học Tài chính – Ngân hàng khóa 4 đã giúp đỡ, sẻ chia những kiến thức cũng như thông tin bổ ích để tôi

có thể hoàn thành khóa học và luận văn này

Chân thành cảm ơn!

Tác giả: Trần Thị Thùy Trang

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan rằng luận văn “ Mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế

ở Việt Nam” là nghiên cứu của chính tôi dưới sự hướng dẫn của PGS TS Trần Nguyễn Ngọc Anh Thư

Ngoại trừ những tài liệu tham khảo được trích trong luận văn này, tôi xin cam đoan rằng luận văn này chưa từng được công bố hoặc sử dụng để nhận bất kỳ bằng cấp nào của các trường đại học hoặc cơ sở đào tạo khác

Tp HCM, ngày tháng năm 2016

Học viên

Trần Thị Thùy Trang

Trang 5

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ……… …… 1

1.1 Lý do chọn đề tài 2

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3

1.3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 3

1.4 Phương pháp nghiên cứu 3

1.5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 4

1.6 Giới thiệu kết cấu đề tài 4

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA LẠM PHÁT VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 5

2.1 Lạm phát 5

2.1.1 Khái niệm 5

2.1.2 Đo lường lạm phát 5

2.1.2.1 Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) 5

2.1.2.2 Chỉ số điều chỉnh GDP ( GDP deflator) 6

2.1.3 Phân loại lạm phát 7

2.1.3.1 Căn cứ vào mức độ của tỷ lệ lạm phát 7

2.1.3.2 Căn cứ vào tính chất lạm phát 8

2.1.4 Nguyên nhân gây ra lạm phát 8

2.1.4.1 Lạm phát do cầu kéo 8

2.1.4.2 Lạm phát do chi phí đẩy 9

2.1.4.3 Lạm phát ỳ 10

Trang 6

2.2 Tăng trưởng kinh tế 10

2.2.1 Khái niệm 10

2.2.2 Phương pháp đo lường tăng trưởng 10

2.2.2.1 Tổng sản phẩm quốc nội GDP 10

2.2.2.2 Tốc độ tăng trưởng GDP 12

2.2.2.3 GDP bình quân đầu người 12

2.3 Mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế 12

2.3.1 Lý thuyết tăng trưởng cổ điển 12

2.3.2 Lý thuyết tăng trưởng của Keynes 13

2.3.3 Lý thuyết của chủ nghĩa trọng tiền 15

2.3.4 Lý thuyết tăng trưởng tân cổ điển 17

2.4 Các nghiên cứu thực nghiệm 18

2.4.1 Các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới 18

2.4.2 Các nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam 24

CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 29

3.1 Giả thuyết, mô hình và dữ liệu nghiên cứu 29

3.1.1 Các giả thuyết nghiên cứu 29

3.1.2 Mô hình nghiên cứu 29

3.1.3 Dữ liệu nghiên cứu 30

3.2 Phương pháp nghiên cứu 31

3.2.1 Kiểm định tính dừng của chuỗi thời gian (ADF) 31

3.2.2 Kiểm định độ trễ 32

Trang 7

3.2.3 Kiểm định đồng liên kết Johansen 32

3.2.4 Kiểm định nhân quả Granger 33

3.2.5 Mô hình tự hồi quy vecto VAR 34

3.2.6 Mô hình sai số hiệu chỉnh VECM 34

3.2.7 Hàm phản ứng IRF và phân rã phương sai 35

3.2.8 Xác định ngưỡng lạm phát theo kỹ thuật CRDL 36

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 37

4.1 Thực trạng về lạm phát và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam 37

4.1.1 Giai đoạn 1986-1995 37

4.1.2 Giai đoạn 1996 – 2005 38

4.1.3 Giai đoạn 2006-2015 39

4.2 Kết quả phân tích thực nghiệm 42

4.2.1 Mô tả và phân tích bộ dữ liệu nghiên cứu 42

4.2.1.1 Thống kê mô tả về dữ liệu và hệ số tương quan giữa các biến 42

4.2.1.2 Kiểm định tính dừng của chuỗi dữ liệu 44

4.2.1.3 Xác định độ trễ tối ưu của các chuỗi dữ liệu 45

4.2.1.4 Kiểm định đồng liên kết Johansen 46

4.2.1.5 Kiểm định nhân quả Granger 47

4.2.2 Ước lượng mô hình VAR 48

4.2.3 Hàm phản ứng đẩy và phân rã phương sai 51

4.2.3.1 Kết quả hàm phản ứng đẩy 51

4.2.3.2 Kết quả phân rã phương sai 52

Trang 8

4.2.4 Kiểm định nghiệm đơn vị phần dư 53

4.2.5 Ước lượng mô hình vecto hiệu chỉnh VECM 55

4.2.6 Ngưỡng lạm phát tối ưu 56

4.3 Thảo luận 59

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH 62

5.1 Kết luận 62

5.2 Gợi ý chính sách 62

5.3 Hạn chế của đề tài và định hướng nghiên cứu tiếp theo 65

5.3.1 Hạn chế của đề tài 65

5.3.2 Định hướng nghiên cứu tiếp theo 65

TÀI LIỆU THAM KHẢO 66

PHỤ LỤC 70

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Tóm tắt các nghiên cứu trước đây 25

Bảng 4.1: Lạm phát và tăng trưởng kinh tế bình quân qua các giai đoạn Error! Bookmark not defined. Bảng 4.2: Lạm phát và tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 1986-1995 37

Bảng 4.3: Lạm phát và tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 1996-2005 38

Bảng 4.4: Lạm phát và tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2006-2015 39

Bảng 4.5 Mô tả dữ liệu nghiên cứu 43

Bảng 4.6 Hệ số tương quan giữa tăng trưởng và lạm phát 44

Bảng 4.7 :Kiểm định ADF Chuỗi gốc 44

Bảng 4.8 : Kiểm định ADF Chuỗi sai phân bậc 1 44

Bảng 4.9: Kết quả xác định độ trễ tối ưu 45

Bảng 4.10 : Kết quả kiểm định vết ma trận (Trace) 46

Bảng 4.11: Kiểm định giá trị riêng cực đại của ma trận (Maximum Eigenvalue) 47

Bảng 4.12: Kết quả kiểm định nhân quả Granger 47

Bảng 4.13: Kết quả hồi quy mô hình Var 49

Bảng 4.14: Kết quả phân rã phương sai 52

Bảng 4.15: Kết quả kiểm định đơn vị phần dư 53

Bảng 4.16 : Kết quả ước lượng mô hình VECM 55

Bảng 4.17: Kết quả kiểm định tính dừng GDP và CPI (theo năm) 56

Bảng 4.18 : Kết quả chạy ngưỡng lạm phát tối ưu được thực hiện nhiều lần với k chạy từ 5-13% 57

Trang 10

DANH MỤC HÌNH VẼ

Hình 2.1: Lạm phát do cầu kéo 14

Hình 2.2: Lạm phát do chi phí đẩy 14

Hình 4.1: Diễn biến lạm phát và tăng trưởng (%) giai đoạn 1986-1995 37

Hình 4.2: Diễn biến lạm phát và tăng trưởng (%) giai đoạn 1996-2005 39

Hình 4.3: Diễn biến lạm phát và tăng trưởng (%) giai đoạn 2006-2015 40

Hình 4.4: Các nghiệm đơn vị 46

Hình 4.5: Hàm phản ứng đẩy của các biến D(LnGDP) và D(LnCPI) 51

Trang 11

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

2-SLS : 2 Stage Least of Square – Mô hình hồi quy 2 giai đoạn

ADB: Asian Development Bank – Ngân hàng phát triển Châu Á

ADF: Augmented Dickey – Fuller Test - Kiểm định gia tăng Dickey –Fuller

ASEAN: Association of Southeast Asian Nations - Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam

Á

CPI: Consumer Price Index - Chỉ số giá hàng tiêu dùng

GDP: Gross Domestic Product - Tổng sản phẩm quốc nội

GMM: General Method of Moments – Phương pháp moment tổng quát

IMF: International Moneytary Function - Quỹ tiền tệ thế giới

OLS: Ordinary Least Squares – Phương pháp ước lượng bình phương nhỏ nhất thông thường

PCI: Per Capital Income - Tổng sản phẩm bình quân đầu người

VAR: Vector Autoregressive – Mô hình tự hồi quy vector

VECM: Vector Error Corection Model – Mô hình hiệu chỉnh sai số dạng vector

WTO: World Trade Organization - Tổ chức thương mại thế giới

Trang 12

là 6.9%, nếu lạm phát vượt ngưỡng này thì mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế là ngược chiều Kết quả phân rã phương sai và hàm phản ứng đẩy cũng cho thấy lạm phát và tăng trưởng đều chịu tác động từ cú sốc của chính nó

Trang 13

2

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU

Tăng trưởng kinh tế bền vững, kiểm soát và duy trì lạm phát ở mức hợp lý luôn

là mục tiêu kinh tế vĩ mô quan trọng hàng đầu của các quốc gia trong đó có Việt Nam Sau 30 năm đổi mới kể từ năm 1986, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu đáng chú

ý về kinh tế, tốc độ tăng trưởng kinh tế không ngừng gia tăng Trong khi giai đoạn đầu thời kỳ đổi mới, do nền kinh tế được cởi trói, nguồn lực sản xuất trong nền kinh tế được bung ra và tạo thành xung lực thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng Nếu như GDP chỉ đạt mức tăng trưởng bình quân là 4.68% năm 1989 thì từ những năm sau đó đến năm 2007 thì tỷ lệ này đã tăng lên mức bình quân là 7.2%/năm Từ năm 2009 đến nay,

do những tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 nên tỷ lệ GDP

có phần chững lại nhưng Việt Nam vẫn được đánh giá là một trong những quốc gia có tốc độ tăng trưởng cao, có cơ cấu chuyển dịch theo hướng tích cực Bên cạnh những kết quả khả quan trên thì nền kinh tế Việt Nam còn phải đối mặt với nguy cơ lạm phát cao và không ổn định

Theo các nhà khoa học, kiểm soát lạm phát của Việt Nam những năm 90 khá tốt nhưng những năm gần đây lạm phát chưa ổn định Nguyên nhân lạm phát bắt nguồn từ nhiều hướng nhưng tựu chung lại thì do những bất cập trong cơ cấu kinh tế và hiệu quả đầu tư thấp Cơ cấu kinh tế chậm chuyển đổi đã ảnh hưởng lớn đến hiệu quả sử dụng vốn của nền kinh tế Trong giai đoạn 2006 đến nay tỷ lệ tổng vốn đầu tư toàn xã hội trên GDP luôn ở mức cao, trong khi tốc độ tăng trưởng kinh tế thực chỉ đạt khoảng 7%/năm Việc giảm hiệu quả đầu tư cũng ảnh hưởng khá nghiêm trọng đến nền kinh

tế, gây ra các tính trạng mất cân đối cơ bản về cung cầu trên thị trường và kết quả là làm cho lạm phát ngày càng gia tăng

Trên thế giới, đã có rất nhiều nghiên cứu về mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế và hầu hết họ đều cho rằng: mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế không phải là một chiều mà có sự tác động qua lại Trong ngắn hạn, khi lạm phát còn ở mức thấp, lạm phát và tăng trưởng thường có mối quan hệ cũng chiều

Trang 14

3

Trong dài hạn, khi tăng trưởng đạt mức tối ưu thì lạm phát không tác động đến tăng trưởng nữa mà lúc này lạm phát là hậu quả của việc tăng cung tiền quá mức vào nền kinh tế Đối với một nền kinh tế đang phát triển như nước ta hiện nay, một trong những nội dung cơ bản nhất của chính sách kinh tế vĩ mô là tăng trưởng cao, ổn định

và lạm phát thấp Do đó việc nghiên cứu mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế là cần thiết Từ thực tiễn trên tác giả chọn đề tài “ Mối quan hệ giữa lạm phát

và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam” để nghiên cứu Nghiên cứu này sẽ làm rõ mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, đồng thời góp phần bổ sung thêm luận cứ khoa học nhằm hoàn thiện chính sách kinh tế một cách hợp lý và đạt được mục tiêu đề ra

Mục tiêu của nghiên cứu là:

+ Kiểm định mối quan hệ ngắn hạn giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn 1995 đến quý 2/2015

+ Kiểm định mối quan hệ dài hạn giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn 1995 đến quý 2/2015

+ Xác định ngưỡng lạm phát tối ưu của Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu: Các chỉ số kinh tế vĩ mô của Việt Nam, cụ thể là: GDP và CPI giai đoạn từ quý 1 năm 1995 đến quý 2 năm 2015, dữ liệu lấy theo quý

Đối tượng nghiên cứu: Mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế của Việt Nam thể hiện qua 2 chỉ số tương ứng CPI và GDP trong ngắn hạn và dài hạn

Bài nghiên cứu sử dụng chủ yếu phương pháp định tính, định lượng, thống kê,

so sánh và tổng hợp nhằm làm rõ những vấn đề cần nghiên cứu

Mô hình nghiên cứu định lượng được sử dụng trong bài là mô hình tự hồi quy Vecto VAR và mô hình sai số hiệu chỉnh VECM nhằm kiểm định mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế Việt Nam Đồng thời luận văn còn sử dụng phương pháp CRDL (hồi quy OLS có giới hạn) với bộ dữ liệu là GDP và CPI theo năm để tìm

ra ngưỡng lạm phát tối ưu cho Việt Nam

Trang 15

4

Luận văn này đóng góp ý nghĩa như sau:

Ý nghĩa khoa học: Luận văn giúp kiểm định mối quan hệ giữa lạm phát và

tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam

Ý nghĩa thực tiễn: Với kết quả được tìm ra, nghiên cứu góp phần bổ sung thêm

luận cứ khoa học nhằm hoàn thiện chính sách kinh tế vĩ mô nói chung và chính sách tiền tệ nói riêng của Việt Nam trong quá trình xây dựng và thực hiện các mục tiêu chính sách kinh tế - xã hội

1.6 Giới thiệu kết cấu đề tài

Luận văn gồm 5 chương như sau:

Chương 1: Giới thiệu

Chương 2: Cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương 5: Kết luận và gợi ý chính sách

Trang 16

5

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA LẠM

PHÁT VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

Chương 2 của bài viết sẽ tổng hợp lý thuyết và các nghiên cứu về mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế trên thế giới và xem xét lại các bài nghiên cứu thực nghiệm gần đây cho trường hợp Việt Nam

2.1.1 Khái niệm

Lạm phát là một hiện tượng kinh tế vĩ mô phổ biến và có ảnh hưởng rộng lớn đến các mặt của đời sống kinh tế xã hội Lạm phát được định nghĩa là sự gia tăng liên tục trong mức giá chung hay lạm phát là sự suy giảm sức mua của đồng tiền hay nói cách khác là chúng ta sẽ phải chi nhiều tiền hơn để mua hàng hóa trong thời kỳ lạm phát (Mankiw, 2010)

Muốn đánh giá mức độ lạm phát ta dựa vào chỉ tiêu tỷ lệ lạm phát - phản ánh tỷ

lệ tăng thêm hay giảm bớt của giá cả ở một thời điểm nào đó so với thời điểm trước

Chỉ số giá thời điểm (t) - chỉ số giá thời điểm (t-1) Chỉ số giá thời điểm (t-1)

2.1.2 Đo lường lạm phát

Chỉ số giá đo lường mức giá chung của các loại hàng hóa Mỗi loại hàng hóa có tầm quan trọng khác nhau, tùy theo tỷ trọng của các loại hàng hóa Chúng ta thường sử dụng hai loại chỉ số giá: Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) và chỉ số điều chỉnh GDP Hai loại chỉ số này có thể tính so với thời điểm gốc hoặc so với thời điểm trước Gọi thời điểm gốc hoặc thời điểm trước là thời điểm 0, thời điểm muốn tính chỉ số giá (thời điểm hiện hành) là t Theo đó các loại chỉ số giá được tính như sau (Nguyễn Minh Tuấn, 2015)

2.1.2.1 Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)

Chỉ số giá tiêu dùng phản ánh tốc độ thay đổi giá của các mặt hàng tiêu dùng chính như: lương thực, thực phẩm, quần áo, chất đốt, nhà ở, … Công thức tính chỉ số giá tiêu dùng:

Tỷ lệ lạm phát

Trang 17

6

100

0 0

0

  i i i t i

q p

q p CPI

Mục đích của chỉ số giá tiêu dùng là phản ánh những thay đổi trong chi phí sinh hoạt Tuy nhiên, chỉ số giá tiêu dùng không phải là chỉ tiêu hoàn hảo về chi phí sinh hoạt Có ba vấn đề nảy sinh đối với chỉ số này:

Vấn đề thứ nhất là độ lệch thay thế Khi giá cả thay đổi thì không phải tất cả

mọi giá cả đều thay đổi theo cùng một tỷ lệ Người tiêu dùng phản ứng lại thay đổi bằng cách mua ít hàng hóa có giá tăng mạnh, và mua nhiều hàng hóa có giá tăng chậm hơn hoặc giảm Tuy nhiên, chỉ số giá tiêu dùng lại được tính với gió hàng hóa cố định

ở năm gốc Do đó, chỉ số này ước tính quá cao mức tăng chi phí sinh hoạt

Vấn đề thứ hai là sự xuất hiện của những hàng hóa mới Khi một hàng hóa mới

xuất hiện, người tiêu dùng có nhiều hàng hóa để lựa chọn hơn, sự lựa chọn trở nên đa dạng hơn Điều này làm cho đồng tiền trở nên có giá trị hơn Nhưng do chỉ số giá tiêu dùng dựa trên giỏ hàng hóa và dịch vụ cố định nên nó không phản ánh sự thay đổi này trong sức mua của đồng tiền

Vấn đề thứ ba là sự thay đổi chất lượng hàng hóa Nếu chất lượng hàng hóa

giảm từ năm này sang năm khác thì giá trị đồng tiền sẽ giảm, thậm chí ngay khi giá của hàng hóa đó không thay đổi Tương tự như vậy, nếu chất lượng hàng hóa tăng từ năm này sang năm khác thì chất lượng đồng tiền sẽ tăng Chỉ số giá chỉ phản ánh mặt thay đổi giá mà không thể hiện được sự thay đổi về chất lượng Do đó, đôi khi nó thổi phồng mức độ tăng giá

t i t i def

q p

q p GDP

Trong các công thức trên, kí hiệu p,q là để chỉ giá và lượng sản phẩm của mỗi loại hàng hóa ở thời điểm 0 và thời điểm t

Trang 18

7

Trong thực tế, các số liệu công bố chính thức về lạm phát trên toàn thế giới đều được tính trên cơ sở CPI Do đó trong nghiên cứu này tác giá sử dụng số liệu CPI để đại diện cho lạm phát

2.1.3 Phân loại lạm phát

Lạm phát thường được phân loại theo tính chất hoặc theo mức độ của tỷ lệ lạm phát (Vũ Kim Dung & Nguyễn Văn Công, 2012)

2.1.3.1 Căn cứ vào mức độ của tỷ lệ lạm phát

Các nhà kinh tế thường phân biệt 3 loại lạm phát: lạm phát vừa phải, lạm phát phi mã và siêu lạm phát

Lạm phát vừa phải Lạm phát vừa phải được đặc trưng bởi mức giá tăng chậm

và nhìn chung có thể dự đoán trước được vì tương đối ổn định Đối với các nước đang phát triển lạm phát một con số thường được coi là vừa phải Đó là mức lạm phát mà bình thường nền kinh tế trải qua và ít gây tác động tiêu cực đến nền kinh tế Trong bối cảnh đó, mọi người vẫn sẵn sàng giữ tiền để thực hiện giao dịch và ký kết các hợp đồng dài hạn tính bằng tiền vì họ tin rằng giá và chi phí của hàng hóa mà họ mua và bán sẽ không đi chệch quá xa

Lạm phát vừa phải tạo ra sự chênh lệch giá cả hàng hóa, dịch vụ giữa các vùng làm cho thương mại năng động hơn Việc chênh lệch giá thúc đẩy các doanh nghiệp

mở rộng thì trường để tìm kiếm lợi nhuận nhiều hơn ở thị trường mới tiềm năng Việc

mở rộng thị trường của các doanh nghiệp gây ra cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, điều này thúc đẩy các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì phải đưa ra thị trường nhiều sản phẩm có chất lượng cao hơn, giá cả hấp dẫn hơn, từ đó thúc đẩy tăng trưởng

Lạm phát làm cho đồng nội tệ bị mất giá so với ngoại tệ, lạm phát ở mức vừa phải làm cho mức độ mất giá là không cao Điều này tạo lợi thế cho các doanh nghiệp đẩy mạnh xuất khẩu tăng thu ngoại tệ, khuyến khích sản xuất trong nước, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

Lạm phát phi mã Lạm phát trong phạm vi hai hoặc ba con số một năm thường

được gọi là lạm phát phi mã Việt Nam và hầu hết các nước chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường đều phải đối mặt với lạm phát phi mã

Trang 19

8

trong những năm đầu thực hiện cải cách Lạm phát phi mã được duy trì trong thời gian dài sẽ gây ra những biến dạng kinh tế nghiêm trọng Trong bối cảnh đó, đồng tiền bị mất giá rất nhanh cho nên mọi người chỉ giữ lượng tiền tối thiểu vừa đủ cho các giao dịch hàng ngày Mọi người có xu hướng tích trữ hàng hóa, mua bất động sản và chuyển sang sử dụng vàng hoặc các ngoại tệ mạnh để làm phương tiện thanh toán cho các giao dịch có giá trị lớn và tích lũy của cải

Siêu lạm phát là trường hợp lạm phát đặc biệt cao Định nghĩa cổ điển về siêu

lạm phát do nhà kinh tế người Mỹ Phillip Cagan đưa ra là mức lạm phát hàng tháng từ 50% trở lên Trong khi lạm phát 50% một tháng có thể không thực sự gây ấn tượng, nhưng nếu tỷ lệ lạm phát này được duy trì liên tục suốt 12 tháng thì tỷ lệ lạm phát cả năm sẽ lên tới khoảng 13.000 phần trăm Theo định nghĩa này, cho đến nay trên thế giới mới trải qua 15 cuộc siêu lạm phát1 Lạm phát cao dẫn đến giảm mạnh nguồn thu

từ thuế tính theo phần trăm so với GDP, làm tăng thâm hụt ngân sách và chính phủ sẽ phải dựa nhiều hơn vào phát hành tiền mà điều này đến lượt sẽ đẩy lạm phát dâng lên cao hơn

2.1.4 Nguyên nhân gây ra lạm phát

Có nhiều lý thuyết giải thích về nguyên nhân gây ra lạm phát mà dưới đây sẽ giới thiệu những lý thuyết chính

2.1.4.1 Lạm phát do cầu kéo

1 Sách, J.D and L’arrain, F.(1993), Macroeconomics in the Global economy, Harvester Wheatsheaf, New York

Trang 20

9

Lạm phát do cầu kéo xảy ra do tổng cầu tăng, đặc biệt khi sản lượng đã đạt hoặc vượt quá mức tự nhiên Tổng cầu gia tăng thì sẽ làm giá cả gia tăng vì nền kinh tế không còn tiềm năng để tăng trưởng Tổng cầu trong nền kinh tế được tính như sau:

AD = C + I + G + NX Trong đó:

C: Tiêu dùng I: Đầu tư G: Chi tiêu chính phủ NX: Xuất khẩu ròng Tổng cầu có thể tăng lên do:

 Khu vực tư nhân tăng chi tiêu (C,I)

 Người trong nước giảm mua hàng hóa nước ngoài, người nước ngoài tăng mua hàng hóa trong nước ( do giá cả, chất lượng hàng hóa thay đổi,…)

 Chính phủ tăng chi tiêu hoặc giảm thuế

 Ngân hàng Trung ương thay đổi chính sách tiền tệ, chẳng hạn lãi suất giảm, kích thích đầu tư làm tăng tổng cầu, …

Đối với các nền kinh tế nhập khẩu nhiều loại nguyên, nhiên, vật liệu thiết yếu

mà nền công nghiệp trong nước chưa sản xuất được, thì sự thay đổi giá của chúng (có thể do giá quốc tế thay đổi hoặc tỷ giá hối đoái biến động) sẽ có ảnh hưởng quan trọng đến tình hình lạm phát trong nước Nếu giá của chúng tăng mạnh trên thị trường thế

Trang 21

2.2.1 Khái niệm

Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng thu nhập quốc dân (GNP) hoặc quy mô tổng sản lượng quốc gia tính trên đầu người (PCI-Per capital income) trong một thời gian nhất định ( Mankiw, 2010)

2.2.2 Phương pháp đo lường tăng trưởng

Chỉ tiêu dùng để đo lường mức tăng trưởng kinh tế là GDP tuyệt đối, tốc độ tăng trưởng của GDP và GDP bình quân đầu người

2.2.2.1 Tổng sản phẩm quốc nội GDP

Có 3 phương pháp tính GDP như sau:

Trang 22

11

GDP = Tiền lương + tiền lãi + tiền thuê + lợi nhuận

Việc tính GDP theo thu nhập còn gọi là GDP tính theo giá yếu tố vì những khoản này các xí nghiệp chi trả cho việc sử dụng nguồn lực phục vụ cho sản xuất Nếu nền kinh tế không có chính phủ thì việc tính GDP theo giá thị trường hoặc theo giá yếu

tố sẽ cho cùng một kết quả Nhưng khi có chính phủ thì cần có những điều chỉnh để GDP tính theo thu nhập giống với GDP tính theo giá thị trường

Điều chỉnh thứ nhất là cộng thuế gián thu vào thu nhập Chính phủ nhận được thu nhập từ thuế gián thu, tức các khoản thuế đánh vào dịch vụ và hàng hoá bán trên thị trường, trong đó trợ cấp của chính phủ cho sản xuất được coi là một khoản thuế gián thu âm

Điều chỉnh thứ hai là cộng khoản khấu hao vào cùng với các khoản thu nhập Bởi vì, khi tính GDP theo giá thị trường thì khấu hao đã được tính ở chi tiêu đầu tư, còn tính GDP theo thu nhập thì không bao gồm khấu hao Do đó, công thức tính GDP khi có chính phủ

GDP = Tiền lương + tiền lãi + tiền thuê + lợi nhuận + thuế gián thu + khấu hao

GDP = Giá trị tăng thêm + thuế nhập khẩu

Giá trị tăng thêm của toàn bộ ngành kinh tế được xác định cho cả nước và cho từng vùng lãnh thổ và bằng tổng giá trị tăng thêm của các ngành kinh tế và thành phần

kinh tế

Giá trị tăng thêm của từng ngành kinh tế bao gồm:

• Thu nhập của người sản xuất như tiền lương, tiền công (kể cả bằng tiền hay bằng hiện vật và các khoản trả có tính chất lương), trích nộp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, nộp công đoàn cấp trên, thu nhập khác ngoài lương, tiền công

• Thuế sản xuất bao gồm: Thuế hàng hoá (không bao gồm thuế nhập khẩu) thuế sản xuất và chi phí khác Thuế sản xuất không bao gồm thuế trực thu như thuế thu nhập, thuế lợi tức doanh nghiệp…

Trang 23

Khi g tăng: nền kinh tế tăng trưởng

Khi g giảm: nền kinh tế có dấu hiệu suy giảm

2.2.2.3 GDP bình quân đầu người

GDPbình quân đầu người =

Chỉ tiêu này càng cao càng thể hiện mức sống dân cư cao vì giá trị hàng hóa và dịch vụ bình quân cho mỗi người dân càng cao

Có rất nhiều lý thuyết, quan điểm và các nghiên cứu về mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế Tùy theo tỷ lệ lạm phát hoặc nguyên nhân gây ra lạm phát,

nó sẽ có những tác động tích cực hoặc tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế Và cũng tùy vào thực trạng nền kinh tế đang tăng trưởng hoặc suy thoái mà sẽ có những tác động tích cực hoặc tiêu cực đến lạm phát

2.3.1 Lý thuyết tăng trưởng cổ điển

David Ricardo (1772-1823) là người đầu tiên phát hiện những giới hạn của sự tăng trưởng kinh tế do các nguồn tài nguyên thiên nhiên ngày càng khan hiếm Lý thuyết tăng trưởng kinh tế của D Ricardo cho rằng với nguồn tài nguyên thiên nhiên

GDP Dân số

Trang 24

13

giới hạn, nhất là đất đai, việc tăng giá để phục vụ cho số lượng dân cư không ngừng tăng lên sẽ đẩy nền kinh tế tới trạng thái dừng Khi giá lương thực tăng lên thì tiền lương danh nghĩa phải trả cho công nhân cũng cần tăng lên để đảm bảo mức sống tối thiểu cho họ Khi chi phí tiền lương tăng thì lợi nhuận không thể tiếp tục tăng theo tốc

độ tăng của tư bản nữa Do đó, khi cầu về lương thực tiếp tục tăng theo sự gia tăng tích lũy của tư bản và tăng dân số-lao động, thì cuối cùng, giá lương thực sẽ đạt tơi mức

mà ở đó tỷ suất lợi nhuận xuống thấp đến mức nhà tư bản không còn động cơ đầu tư thêm Tăng trưởng sẽ ngừng lại ở đó (Trần Thọ Đạt, 2010)

Như vậy, lý thuyết tăng trưởng cổ điển không xác định rõ mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế, tuy nhiên họ thừa nhận sự sụt giảm trong sản lượng không phải do năng suất cận biên giảm mà là vì mức tiền công cho người lao động tăng lên do tác động của mức giá cả chung tăng Theo đó, trong ngắn hạn tăng trưởng

và lạm phát không tồn tại mối quan hệ tác động qua lại lần nhau nhưng trong dài hạn mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng là tỷ lệ nghịch: tăng chi phí trả lương làm giảm lợi nhuận của nhà sản xuất và dẫn đến giảm sản lượng

2.3.2 Lý thuyết tăng trưởng của Keynes

John Maynard Keynes (1883-1946) là nhà kinh tế học Anh, được coi là nhà kinh tế học có ảnh hưởng lớn nhất đối với kinh tế học phương Tây hiện đại và chính sách kinh tế của các chính phủ nhằm duy trì và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

Năm 1936, John Maynard Keynes đã viết cuốn sách "Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ" dựa trên nền tảng của chủ nghĩa Keynes Trong tác phẩm này, Keynes đã đưa ra những nhân tố xác định mức sản lượng và việc làm trong một quốc gia Ông tin vào sự can thiệp của chính phủ, ông cho rằng sự can thiệp vào nền kinh tế của chính phủ thông qua các chính sách kinh tế mở rộng sẽ thúc đẩy đầu tư và thúc đẩy nhu cầu để đạt được sản lượng tối đa Các mô hình Keynes được dựa trên đường cong tổng cầu (AD) và Tổng cung (AS) Trong mô hình này, trong ngắn hạn

AS có dạng đường cong dốc lên, hệ số góc dương và nhỏ hơn 900, vì vậy khi có những thay đổi bên Cầu sẽ tác động vào lạm phát Nghĩa là, khi nền kinh tế tăng trưởng (AD tăng) sẽ làm cho lạm phát tăng

Trang 25

AD1 đến AD2 Khi đó, sự gia tăng tổng cầu chủ yếu đẩy lạm phát dâng cao trong khi sản lượng và việc làm tăng lên rất ít Khi nên kinh tế suy giảm, nghĩa là tổng cầu giảm, dẫn đến lạm phát cũng giảm ( các yếu tố khác không đổi)

Hình 2.2: Lạm phát do chi phí đẩy

Trang 26

15

Theo hình 2.2, khi chi phí sản xuất gia tăng sẽ làm cho đường AS dịch chuyển lên phía trên sang bên trái Điều này làm cho sản lượng giảm (Y1 < Y*), dẫn đến nền kinh tế suy thoái ( tốc độ tăng trưởng GDP giảm) và lạm phát tăng

Cơ chế điều chỉnh trong ngắn hạn trong lý thuyết Keynes chia làm hai giai đoạn:

+ Giai đoạn đầu lạm phát và sản lượng đều tăng – Lạm phát và sản lượng có mối quan hệ tỷ lệ thuận;

+ Giai đoạn tiếp theo lạm phát tiếp tục tăng nhưng sản lượng không tăng, thậm chí giảm (Giai đoạn “Đình lạm”) và sau đó lạm phát cũng sẽ giảm

Theo mô hình này, trong ngắn hạn sẽ có sự đánh đổi giữa tăng trưởng và lạm phát, tuy vậy sự đánh đổi này không diễn ra thường xuyên vì khi sản lượng giảm xuống dưới mức sản lượng tiềm năng (toàn dụng lao động), lạm phát cũng sẽ giảm Trong dài hạn, đường Tổng cung (AS) là đường thẳng đứng với hệ số góc bằng 90 0 , vì vậy những thay đổi bên Cầu của nền kinh tế chỉ tác động vào giá cả và gây nên lạm phát (Hồ Thị Lam, 2015)

2.3.3 Lý thuyết của chủ nghĩa trọng tiền

Những người theo chủ nghĩa tiền tệ tin rằng yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến lạm phát hay giảm phát là tốc độ cung tiền tăng lên hoặc co lại Họ coi chính sách tài khóa, hoặc chi tiêu chính phủ và thuế, là không có hiệu quả trong việc kiểm soát

lạm phát Theo nhà kinh tế theo chủ nghĩa tiền tệ nổi tiếng Milton Friedman,"Lạm phát

là luôn luôn có và ở khắp mọi nơi là một hiện tượng tiền tệ … và nó chỉ có thể xuất hiện một khi cung tiền tăng nhanh hơn sản lượng ”2 Với giả thiết về thị trường cân

bằng, và bắt đầu từ vị trí cân bằng trên thị trường tiền tệ, khi đó sự gia tăng trong cung ứng tiền tệ sẽ dẫn đến sự mất cân bằng trên thị trường tiền tệ Để thiết lập trạng thái cân bằng, một phần của số tiền dư thừa được dùng để mua hàng hoá và dịch vụ Tuy nhiên, vì số lượng hàng hoá và dịch vụ được qui định bởi các nguồn lực khan hiếm trong nền kinh tế, do đó xuất hiện dư cầu trên thị trường hàng hoá Điều này, đến lượt

2 Friedman, M.(1970) ‘ The Counter-Revolution in Moneytary Theory’, Insitute of Economic Affair, Occasional Paper, No 33

Trang 27

hệ thống sẽ làm thay đổi mức giá Giả sử Y là mức sản lượng mà nền kinh tế tạo ra trong một năm và P là giá của một đơn vị sản lượng điển hình, khi đó số đồng được trao đổi trong năm bằng P.Y Vì tiền trao tay khi giao dịch, chúng ta có thể sử dụng thông tin này để dự đoán số lần mà một tờ giấy bạc điển hình trao tay trong năm Nếu chúng ta ký hiệu V là tốc độ chu chuyển, tức là số lần trung bình mà một tờ giấy bạc điển hình được sử dụng để mua hàng hóa và dịch vụ trong một năm và M là cung tiền, thì số đơn vị tiền tệ trao đổi trong năm cần phải bằng M.V Khi đó ta có phương trình trao đổi:

PY

MV

Khi đó, lạm phát (P tăng) chỉ có thể xảy ra khi lượng tiền cung ứng (M) tăng nhanh hơn sản lượng (Y): tốc độ tăng cung tiền càng cao thì tỷ lệ lạm phát càng cao (khi các nhân tố khác không thay đổi)

Những người theo chủ nghĩa tiền tệ cho rằng vòng quay của tiền không bị ảnh hưởng bởi chính sách tiền tệ (ít nhất là trong thời gian dài), và giá trị thực của sản lượng được xác định trong thời gian dài bởi năng lực sản xuất của nền kinh tế Theo các giả định, động lực chính của sự thay đổi trong mức giá chung là thay đổi trong lượng tiền Với vòng quay ngoại sinh (có nghĩa là, vòng quay được xác định bên ngoài

và không bị ảnh hưởng bởi chính sách tiền tệ), cung tiền xác định giá trị sản lượng danh nghĩa (bằng chi phí cuối cùng) trong ngắn hạn Trong thực tế, vòng quay không phải là ngoại sinh trong ngắn hạn, và do đó, công thức không nhất thiết có nghĩa là một mối quan hệ ngắn hạn ổn định giữa cung tiền và sản lượng không đáng kể Tuy nhiên, về lâu dài, những thay đổi trong vòng quay được giả định được xác định bởi sự

Trang 28

17

phát triển của các cơ chế thanh toán Nếu vòng quay tương đối không bị ảnh hưởng bởi chính sách tiền tệ, tỷ giá dài hạn của tăng giá (tỷ lệ lạm phát) bằng với tỷ lệ dài hạn tăng trưởng của cung tiền cộng với lãi dài hạn ngoại sinh của tốc độ phát triển trừ đi thời gian dài tốc độ tăng trưởng của sản lượng thực tế

Như vậy theo trường phái trọng tiền thì trong dài hạn mức giá chủ yếu bị ảnh hưởng bởi tốc độ tăng trưởng cung tiền và không chịu tác động tăng trưởng sản lượng, nếu cung tiền tăng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng thì lạm phát tất yếu sẽ xảy ra; nếu giữ cung tiền và hệ số tạo tiền ổn định thì tăng trưởng cao sẽ làm giảm lạm phát Trong ngắn hạn có thể có mối quan hệ cùng chiều giữa lạm phát và tăng trưởng kinh

tế

2.3.4 Lý thuyết tăng trưởng tân cổ điển

Mô hình tăng trưởng Tân cổ điển dựa vào sự thay thế giữa máy móc thiết bị và lao động trong hàm sản xuất để đảm bảo tăng trưởng luôn ở trạng thái bền vững Mô hình tăng trưởng Tân cổ điển giả thiết tiến bộ của công nghệ dùng vào sản xuất là một biến ngoại sinh và có thể áp dụng ngay vào sản xuất qua việc trang bị máy móc thiết bị mới hoặc cải tiến ngay máy móc thiết bị hiện đang sử dụng

Tuy nhiên, mô hình tăng trưởng Tân cổ điển đã bị thực tiễn phản bác ở chỗ khi tiền lương của người lao động tăng lên (lợi nhuận của nhà sản xuất giảm), máy móc thiết bị không hoàn toàn thay thế được nhu cầu về lao động Theo mô hình thì khi tiền lương tăng, lẽ ra các nhà sản xuất sẽ sử dụng nhiều máy móc thiết bị thay cho lao động Nhưng máy móc cũng do lao động tạo ra nên giá của máy móc thiết bị cũng tăng lên khi tiền lương tăng Vì vậy khi tiền lương tăng, các nhà sản xuất thường áp dụng công nghệ sử dụng nhiều lao động hơn là áp dụng công nghệ sử dụng nhiều máy móc thiết bị

Mô hình đã phần nào giải thích những nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng nhưng vẫn chưa giải thích trực tiếp được mối quan hệ giữa tăng trưởng và lạm phát Mundell (1963) và Tobin (1965) đã giải thích thành công mối quan hệ giữa lạm phát

và tăng trưởng kinh tế

Mundell (1963) là người đầu tiên cho thấy rằng lạm phát kỳ vọng có tác động đến kinh tế thực thông qua đường cong IS-LM Ông nhận định rằng lãi suất tăng thấp

Trang 29

18

hơn tỷ lệ lạm phát, do đó lãi suất thực giảm trong lạm phát Ông giả định rằng đầu tư thực phụ thuộc vào lãi suất thực và tiết kiệm thực tế trên số dư thực tế và lạm phát cũng làm giảm số dư tiền thực Điều này tạo ra sự sụt giảm tài sản nhưng lại kích thích tiết kiệm Ông tuyên bố rằng những nhược điểm của lạm phát không chỉ do sự thất bại của tập thể trong việc dự đoán nó Kỳ vọng của những biến động trong tỷ lệ lạm phát

có ảnh hưởng thực sự đến hoạt động kinh tế Khi giá cả được kỳ vọng là tăng, tỷ lệ lãi suất tiền tệ tăng ít hơn tỷ lệ lạm phát tạo động lực cho đầu tư phát triển vượt bậc và ngược lại

Tobin (1965) cho rằng tiền có giá trị lưu trữ trong nền kinh tế và cho thấy rằng lạm phát có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế Tiền có vai trò là một tài sản tài chính chứ không phải là vốn hiện vật Kết quả của Tobin cho rằng lạm phát giúp bôi trơn nền kinh tế vì nó giúp thị trường lao động điều chỉnh phù hợp, là nguyên nhân khiến cho các cá nhân kiếm được nhiều vốn hơn là giữ tiền mặt bởi vì tiền và tỷ suất vốn phụ thuộc tiêu cực vào tỷ lệ lạm phát

2.4.1 Các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới

Cho đến giữa những năm 1970 có ít bằng chứng thực nghiệm cho bất kỳ mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế và thậm chí đã có những nghi ngờ, trong mối quan hệ trực tiếp Cũng giống như các mô hình lý thuyết, kết quả nghiên cứu thực nghiệm thay đổi qua thời gian từ quan điểm truyền thống của mối quan hệ tích cực giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế đến mối quan hệ phi tuyến tính trong những năm gần đây Theo đó, lạm phát có thể có mối quan hệ tuyến tính tích cực, tiêu cực, trung lập hay phi tuyến tính đối với tăng trưởng kinh tế trong những mô hình lý thuyết

Sidrauski (1967) cũng có cùng quan điểm với chủ nghĩa trọng tiền, ông đề cập đến một trạng thái “vô cùng dửng dưng” (superneutral) với lạm phát Kết quả nghiên cứu của ông là khi các biến số độc lập với việc tăng trưởng cung tiền trong dài hạn thì việc tăng lạm phát không ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế

Stockman (1981) đã phát triển mô hình giao dịch ràng buộc và coi tiền như nguồn vốn miễn phí Stockman giả định rằng các công ty đưa ra một số tiền mặt trong

Trang 30

19

tài chính tiêu dùng và đầu tư hàng hóa của họ Mua thực tế của hàng hoá này giảm với giảm tiền giữ Ổng nhận thấy một sự gia tăng trong các kết quả tỷ lệ lạm phát ở mức thấp hơn trạng thái ổn định của sản lượng, kể từ khi lạm phát làm xói mòn sức mua của số dư tiền; người dân giảm bớt việc nắm giữ tiền mặt và mua vốn khi tỷ lệ lạm phát tăng lên Tương ứng, mức độ ổn định của sản lượng giảm xuống để đáp ứng với

sự gia tăng trong tỷ lệ lạm phát Hay nói cách khác ông cho rằng lạm phát tăng cao sẽ làm tăng trưởng giảm

Cooley và Hansen (1989) mở rộng thêm tiền mặt vào mô hình ràng buộc để xem xét tích lũy vốn Họ cho rằng hiệu suất biên tế của vốn có mối quan hệ tích cực đến số lượng lao động Vì vậy, khi số lượng lao động giảm để đáp ứng với sự gia tăng lạm phát, thì lợi nhuận của vốn giảm, nguồn vốn ổn định và sản lượng đầu ra giảm Họ cho thấy rằng mức sản lượng dài hạn giảm vì tỷ lệ lạm phát tăng Gillman, Harris và Matyas (2001) sử dụng một mô hình lý thuyết với kết quả tăng trưởng nội sinh của Stockman về mối quan hệ tiêu cực giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế Họ cũng xác định một mô hình kinh tế đó là phù hợp với kết quả thu được trong các mô hình lý thuyết Haslag (1995) cũng cho thấy, trong một nền kinh tế mà trong đó tiền và vốn là hàng hóa miễn phí, các ngân hàng huy động vốn của tất cả người gửi tiết kiệm nhưng được yêu cầu giữ tiền như một khoản tiền gửi để đáp ứng dự trữ bắt buộc Do đó, sự gia tăng tỷ lệ lạm phát giảm lợi nhuận trên tiền gửi vì lợi nhuận trên tiền gửi là một trung bình thu nhập từ tiền và vốn Nếu tiết kiệm giảm do thu nhập trên tiền gửi thấp thì sẽ có ít vốn tích lũy từ đó cản trở tăng trưởng kinh tế

Fisher (1993) đã nghiên cứu mối liên hệ giữa lạm phát và tăng trưởng trong dữ liệu chuỗi thời gian, dữ liệu chéo và bộ dữ liệu bảng cho một số lượng lớn của các quốc gia Ông đã dựa vào kết quả hồi quy của 101 nước trong giai đoạn 1960-1989 Kết quả chính của những nghiên cứu này là có một tác động tiêu cực của lạm phát đối với tăng trưởng: khi lạm phát ở mức thấp thì mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế là không tồn tại hoặc thậm chí lạm phát thúc đẩy tăng trưởng Trong khi lạm phát ở mức cao có tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế thông qua tăng trưởng năng suất Fisher (1993) lập luận rằng lạm phát ảnh hưởng đến sự phân bổ hiệu quả các nguồn lực do những thay đổi bất lợi của giá Đồng thời giá cả tương đối xuất hiện

Trang 31

20

là một trong những kênh quan trọng nhất trong quá trình ra quyết định hiệu quả Cùng với Fisher thì Bullard và Keating (1995) cũng nhận định rằng mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế là ngược chiều nhau

Manuelli và Jones (1995) xem xét các mô hình tăng trưởng nội sinh với xây dựng nguồn cung lao động có hiệu quả để cho thấy tác động của tăng trưởng tiền phúc lợi và tăng trưởng kinh tế Họ cho rằng cầu tiền được tạo ra cho mục đích giao dịch Nếu khấu hao danh nghĩa được bao gồm trong các mã số thuế thì thuế suất biên

tế thực trên thu nhập đầu tư được thay đổi bởi tỷ lệ lạm phát Khi tỷ lệ lạm phát tăng, giá trị chiết khấu của các khoản tín dụng thuế khấu hao giảm, và do đó ảnh hưởng của thuế lên thu nhập vốn cao hơn Chúng làm chậm tỷ lệ tích lũy vốn do thu nhập về vốn sau thuế thấp hơn Điều này làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế

Barro (1996) phân tích tác động của lạm phát và các biến khác như năng suất, chính trị và những vấn đề khác lên tăng trưởng kinh tế ở các nước khác nhau trong thời gian 30 năm Ông sử dụng hệ thống của phương trình hồi quy trong đó yếu tố quyết định khác của tăng trưởng coi như không đổi Để ước tính lạm phát ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế mà không cần xem xét các vấn đề nội sinh của lạm phát, ông khái quát lạm phát là một biến giải thích theo từng thời kỳ cùng với các yếu tố khác của tăng trưởng kinh tế Kết quả chỉ ra rằng có một mối quan hệ tiêu cực giữa lạm phát

và tăng trưởng với một hệ số -0.024 Một vấn đề phát sinh từ kết luận trên là các hồi quy có thể cho thấy mối quan hệ nhân quả từ lạm phát sang tăng trưởng Lạm phát là một biến nội sinh tác động đến tăng trưởng và các biến khác có liên quan đến tăng trưởng Ví dụ một mối quan hệ tỷ lệ nghịch giữa lạm phát và tăng trưởng có thể xảy ra nếu một ngoại sinh của tăng trưởng giảm thì có xu hướng làm cho tỷ lệ lạm phát cao hơn Ông sử dụng các biến công cụ như tính độc lập của ngân hàng trung ương, để tránh vấn đề: lạm phát có độ trễ và tình trạng phụ thuộc trước đây, mỗi các biến này có liên quan đến lạm phát Kết quả có ý nghĩa thống kê và khẳng định thêm mối quan hệ tiêu cực giữa lạm phát và tăng trưởng Như vậy, có một số lý do để tin rằng mối quan

hệ nhân quả phản ánh lạm phát dài hạn cao thì giảm tăng trưởng Cuối cùng, ông kết luận rằng mặc dù kết quả có vẻ nhỏ, những ảnh hưởng lâu dài trên các chuẩn mực của cuộc sống có thể là đáng kể

Trang 32

21

Espinosa và Yip (1995) đã xem xét sự tương tác giữa lạm phát và tăng trưởng bằng cách sử dụng mô hình tăng trưởng nội sinh có trung gian tài chính rõ ràng Họ sử dụng sở thích rủi ro như là cơ sở của họ để xác định tác động của một biến khác, có nghĩa là mối quan hệ phụ thuộc vào những đại diện ít rủi ro Nếu các đại diện là khá sợ rủi ro, tỷ lệ lạm phát cao hơn làm giảm tăng trưởng kinh tế Nếu đại diện không thích rủi ro đủ thấp thì có mối quan hệ tích cực giữa hai biến đó là phù hợp với nguyên tắc của đường cong Philips

Hung (2001) nghiên cứu mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế dựa trên một mô hình với lựa chọn bất lợi và các vấn đề xác tình trạng kiểm nghiệm bất lợi Ông đã cho thấy rằng, nếu chi phí ngân hàng cho thấy không có tác động bên ngoài, có mối quan hệ tích cực giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, nếu chi phí ngân hàng cho thấy tiết kiệm do quy mô, mối quan hệ giữa hai biến số phụ thuộc vào tỷ lệ lạm phát ban đầu Nếu tỷ lệ lạm phát ban đầu là cao, sự gia tăng tỷ lệ lạm phát giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế và ngược lại

Singh và Kalirajan (2003) sử dụng các dữ liệu hàng năm từ Ấn Độ trong giai đoạn 1971-1998 phân tích hiệu quả ngưỡng của tăng trưởng kinh tế lạm phát Các phát hiện cho thấy rõ ràng rằng sự gia tăng lạm phát từ bất kỳ cấp độ có ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế và có thể thu được lợi ích đáng kể bằng cách tập trung các chính sách tiền tệ theo hướng duy trì sự ổn định giá cả Andres và Hernando (1997) cho thấy một mối quan hệ tiêu cực giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế trong thời gian dài Lạm phát làm giảm mức độ đầu tư cũng như hiệu quả sử dụng của các yếu tố đó

Nó có một tác động tiêu cực tạm thời về mức tăng trưởng dài hạn, do đó làm giảm thu nhập bình quân đầu người Họ kết luận rằng chi phí về lâu dài của lạm phát là lớn và

nỗ lực để giảm lạm phát sẽ giúp tăng trưởng kinh tế tốt hơn

Faria và Carneiro (2002) nghiên cứu mối quan hệ giữa lạm phát và sản lượng trong một nền kinh tế phải đối mặt với những cú sốc lạm phát cao liên tục Các tác giả

áp dụng cấu trúc tối thiểu và sử dụng thực hiện các ý tưởng rằng những cú sốc lạm phát có thể được chia thành các thành phần thường trực và tạm thời Kết quả chỉ ra rằng trong dài hạn, phản ứng của sản lượng với một cú sốc lạm phát ở nước lạm phát cao thì không có ý nghĩa đáng kể Kết quả có thể được coi là bằng chứng chống lại

Trang 33

22

quan điểm cho rằng lạm phát và sản lượng có liên quan đáng tin cậy trong thời gian dài Những kết quả này hỗ trợ Sidrauski (1967) về trạng thái “vô cùng dửng dưng” của tiền trong thời gian dài, lạm phát không ảnh hưởng đến tăng trưởng Tuy nhiên, trong ngắn hạn, nghiên cứu của Faria và Carneiro (2002) cung cấp bằng chứng trái ngược với mô hình của Sidrauski là: những thay đổi trong sản lượng tác động tiêu cực đến lạm phát

Gần đây, nhiều nghiên cứu thực nghiệm cho thấy sự tương tác tăng trưởng lạm phát là phi tuyến tính và có dạng lõm Bruno và Easterly (1998) xác định một giai đoạn khủng hoảng lạm phát vì một khoảng thời gian khi mà tỷ lệ lạm phát vượt quá 40 phần trăm, thử đánh giá đất nước thực hiện như thế nào trước, trong và sau giai đoạn khủng hoảng Kết quả cho thấy ở mức lạm phát cao hơn, có một mối quan hệ tiêu cực giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế, trong đó chi phí của lạm phát sẽ cao hơn Ở cấp

độ nhỏ và trung bình của lạm phát kết quả là mơ hồ trong đó cho thấy không có mô hình phù hợp Họ tin rằng sẽ có sự phục hồi của nền kinh tế nếu có giảm thành công

của lạm phát sau khủng hoảng Sarel (1995), “Những tác động phi tuyến tính của lạm

phát lên tăng trưởng kinh tế” sử dụng dữ liệu của 87 quốc gia trong giai đoạn

1970-1990 củng cố ý tưởng rằng mối quan hệ lạm phát và tăng trưởng kinh tế là phi tuyến tính Ông nhận thấy rằng 8% là ngưỡng thích hợp của lạm phát Dưới ngưỡng, lạm phát không đáng kể hoặc thậm chí ít có tác động tích cực trong khi ở trên ngưỡng này thì nó có tác động tiêu cực và đáng kể đến tăng trưởng kinh tế

Khan và Senhadji (2001) phân tích hiệu quả ngưỡng giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế bằng cách sử dụng một tập hợp các dữ liệu trong đó bao gồm 140 quốc gia từ giai đoạn 1960-1998 Họ nhìn vào mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng cho các nước phát triển và đang phát triển một cách riêng biệt Phương pháp ước tính bình phương nhỏ nhất có điều kiện được sử dụng bằng cách hình thành mô hình log lạm phát để tránh sự bất đối xứng trong phân phối mạnh lạm phát Các kết quả thực nghiệm cho thấy sự tồn tại của một ngưỡng mà vượt qua ngưỡng đó lạm phát tạo ra một tác động tiêu cực đến tăng trưởng Mức lạm phát dưới mức ngưỡng của lạm phát không có hoặc ít có tác dụng tích cực đến tăng trưởng Kết quả cũng cho thấy ngưỡng

Trang 34

23

là nhỏ đối với các nước đang phát triển so với các nước đang phát triển (1-3 % và

11-12 % tương ứng) và ước tính đều có ý nghĩa thống kê

Li (2006), sử dụng số liệu 90 nước đang phát triển, giai đoạn 1962-2004, ngưỡng lạm phát là 14% Christoffersen và Doyle (1998), sử dụng số liệu GDP theo giá so sánh, dân số, cơ cấu hàng xuất khẩu, chỉ số cải cách chuyển đổi của giai đoạn 1990-1997 đã tìm ra ngưỡng lạm phát là 13% cho các nước có nền kinh tế chuyển đổi

Qaiser Munir, Kasim Mansur và Fumitaka Furuoka (2009), “Lạm phát và tăng

trưởng kinh tế ở Malaysia” đã nghiên cứu mối quan hệ này dựa trên mô hình của

Hansen (2000) Họ đã sử dụng dữ liệu hàng năm của Malaysia từ 1970-2005 Kết quả

là lạm phát sẽ thúc đẩy tăng trưởng nếu lạm phát dưới 3.89% và sẽ tương quan ngược nếu vượt qua ngưỡng này

Hwang và Wu (2011) sử dụng phương trình kế toán tăng trưởng làm cơ sở mô hình cho họ kiểm tra ngưỡng lạm phát tác động lên tăng trưởng kinh tế ở Trung Quốc Họ nhận thấy rằng tác động của ngưỡng lạm phát là rất quan trọng và mạnh Trên mức ngưỡng 2.50%, mỗi 1% tăng trong tỷ lệ lạm phát cản trở tăng trưởng kinh tế bằng 0.61%; dưới ngưỡng này, mỗi 1% tăng trong tỷ lệ lạm phát kích thích tăng trưởng 0.53% Điều này chỉ ra rằng lạm phát gây hại cho tăng trưởng kinh tế nhưng ngược lại lạm phát thấp có lợi cho tăng trưởng Trung Quốc

Có một số nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng ở châu Phi Tabi và Ondoa (2001) nghiên cứu mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế, lạm phát và tiền trong lưu thông Họ phân tích tầm quan trọng lớn của biến số tiền tệ tăng trưởng kinh tế ở Cameroon Sử dụng dữ liệu từ 1960-2007, họ xây dựng

mô hình VAR để xác định mối liên hệ giữa các biến nói trên Kết quả cho thấy tiền trong lưu thông gây ra sự tăng trưởng và tăng trưởng gây ra lạm phát Kết luận thú vị

là gia tăng lượng tiền trong lưu thông không nhất thiết gây ra sự gia tăng mức giá chung

Chimobi (2010) cố gắng để xác định nếu có là mối quan hệ giữa tăng trưởng và lạm phát bằng cách sử dụng chỉ số giá tiêu dùng của Nigeria 1970-2005 Ông kết luận rằng không có mối quan hệ lâu dài giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế ở Nigeria

Trang 35

24

nhưng cho thấy lạm phát có ảnh hưởng đến tăng trưởng Leshero (2012) sử dụng phương pháp hồi quy được phát triển bởi Khan và Senhadji (2001) cho thấy rằng ngưỡng lạm phát là 4% ở Nam Phi Ở mức lạm phát dưới ngưỡng có mối quan hệ tích cực giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế và các mối quan hệ là không đáng kể Nhưng

ở cấp độ lạm phát ở trên ngưỡng các mối quan hệ là tiêu cực và đáng kể

Robert J.Barro (2013), “Lạm phát và tăng trưởng kinh tế *” đã sử dụng dữ liệu

của 100 quốc gia trong giai đoạn từ 1960-1990 để phân tích mối quan hệ giữa lạm phát

và tăng trưởng kinh tế Kết quả là đã tìm thấy tương quan âm giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế

2.4.2 Các nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam

Nguyễn Trung Chính (2009) nghiên cứu mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn 1995-2008 dựa trên phương pháp hồi quy đồng liên kết,

mô hình sai số hiệu chỉnh (ECM) và mô hình VAR Kết quả là tăng trưởng và lạm phát

có mối quan hệ đồng liên kết với ước lượng hệ số đồng liên kết là 0.5883 có ý nghĩa ở mức 1% Trong dài hạn và ngắn hạn, sự thay đổi của tăng trưởng nhanh hơn sự thay đổi của lạm phát Từ đó tác giả nhận định rằng lạm phát có tác động tích cực đến tăng trưởng khi chưa vượt qua ngưỡng

Phùng Duy Quang (2013), giữa lạm phát và tăng trưởng có mối quan hệ tác động lẫn nhau Bằng việc áp dụng mô hình đồng liên kết ECM, mô hình VAR trên cơ

sở dữ liệu Việt Nam giai đoạn 2008-2012 Kết quả là mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng là đồng biến trong ngắn hạn Trong dài hạn thì khi lạm phát và tăng trưởng lệch khỏi vị trí cân bằng thì sẽ có sự điều chỉnh đưa các yếu tố vĩ mô trở về trạng thái cân bằng

Trần Hoàng Ngân và cộng sự (2013) đã nghiên cứu phân tích dữ liệu Việt Nam trong giai đoạn 1987-2012, kết quả là lạm phát có ảnh hưởng tiêu cực nhẹ đến tăng trưởng kinh tế và đề xuất ngưỡng lạm phát cho Việt Nam là 5-6%

Trương Minh Tuấn (2013) đã sử dụng mô hình VAR và ECM để kiểm định mối tương quan giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn và dài hạn Kết quả

Trang 36

Lê Thanh Tùng và Phạm Tiến Thành (2015) sử dụng phương pháp OLS, 2-SLS

và GMM với dữ liệu hàng năm từ 1986-2013, họ đã tìm thấy ngưỡng lạm phát ở Việt Nam là 7%

Ngô Kim Ngọc và Nguyễn Khương Duy (2015), Đường cong Phillips và ngưỡng lạm phát ở Việt Nam, quan quan sát và nghiên cứu đường cong Phillips đã cho kết quả là ở Việt Nam tồn tại ngưỡng lạm phát xung quanh 10%, khi lạm phát vượt qua ngưỡng này sẽ làm cho tăng trưởng sụt giảm

Hồ Thị Lam (2015), Hiệu ứng ngưỡng trong mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, tác giả áp dụng cách tiếp cận ARDL bounds test để kiểm định và tìm thấy ngưỡng lạm phát tối ưu là 8%

Nguyễn Minh Sáng và Ngô Nữ Diệu Khuê (2015), Lạm phát và tăng trưởng kinh tế: Nghiên cứu thực nghiệm các nước đang phát triển và trường hợp Việt Nam Bằng phương pháp tự hồi quy với mẫu nghiên cứu 17 nước đang phát triển, trong đó

có Việt Nam giai đoạn 2000-2012 Kết quả tìm được ngường lạm phát là từ 11-12%

Bảng 2.1: Tóm tắt các nghiên cứu trước đây

Các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới

Sidrauski (1967) Lạm phát không ảnh hưởng

đến tăng trưởng kinh tế Stockman (1981), Cooley và Lạm phát tác động tiêu cực

Trang 37

Bruno và Easterly (1998), Lạm phát cao thì có mối quan

hệ tiêu cực với tăng trưởng kinh tế, lạm phát thấp hoặc vừa phải thì mối quan hệ không rõ ràng với tăng trưởng kinh tế

Tồn tại ngưỡng lạm phát

Sarel (1995) Lạm phát và tăng trưởng có

mối quan hệ phi tuyến tính

Dưới ngưỡng thì mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng

là tích cực, trên ngưỡng thì mối quan hệ này là tiêu cực

Ngưỡng lạm phát 8%

Khan và Senhadji (2001)

Lạm phát sẽ thúc đẩy tăng trưởng nếu lạm phát dưới ngưỡng và sẽ tương quan ngược nếu vượt qua ngưỡng

- Đối với nước phát triển thì ngưỡng là 1-3%

- Đối với nước đang phát triển là

Trang 38

và 13%

Qaiser Munir, Kasim Mansur và

Fumitaka Furuoka (2009)

Ngưỡng lạm phát của Malaysia là 3.89%

là 4% ở Nam Phi Tabi và Ondoa (2001) Tăng trưởng gây ra lạm phát

Chimobi (2010) Không có mối quan hệ lâu dài

giữa lạm phát và tăng trưởng nhưng lạm phát có tác động đến tăng trưởng

Các nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam

Nguyễn Trung Chính (2009) Lạm phát có tác động tích cực

khi chưa vượt qua ngưỡng

Tồn tại ngưỡng lạm phát

Trang 39

Diệu Khuê (2015)

11-12% đối với các nước đang phát triển

TÓM TẮT CHƯƠNG 2

Chương hai đã trình bày cơ sở lý luận về lạm phát và tăng trưởng kinh tế, các nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa lạm phát và thất nghiệp trên thế giới và Việt Nam Trên cơ sở đó làm căn cứ để xây dựng mô hình nghiên cứu cho bài luận văn được trình bày chi tiết trong chương 3

Trang 40

29

CHƯƠNG 3 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

3.1.1 Các giả thuyết nghiên cứu

Thứ nhất, căn cứ vào nghiên cứu của Barro (1996), Espinosa và Yip (1995), Hung (2001) Trương Minh Tuấn (2013), họ cho rằng lạm phát và tăng trưởng kinh tế

có mối quan hệ qua lại lẫn nhau Do đó giả thuyết thứ nhất là tồn tại mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn

Thứ hai, căn cứ vào lý thuyết tăng trưởng của Keynes và các nghiên cứu của Stockman (1981), Cooley và Hansen (1989), Bruno và Easterly (1995), Barro (2013), Fisher (1993), Andres và Hernando (1997) cho thấy rằng lạm phát và tăng trưởng kinh

tế có mối quan hệ tiêu cực trong dài hạn Do đó, giả thuyết thứ hai là lạm phát và tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ ngược chiều trong dài hạn

Thứ ba, căn cứ vào nghiên cứu của Khan và Senhadji (2001), Sarel (1995), Trần Hoàng Ngân (2013), Sử Đình Thành (2014), Lê Thanh Tùng và Phạm Tiến Thành (2015), Hồ Thị Lam (2015) cho thấy lạm phát sẽ thúc đẩy tăng trưởng nếu lạm phát dưới ngưỡng và sẽ tương quan ngược chiều nếu lạm phát vượt ngưỡng Giả thuyết thứ ba là tồn tại ngưỡng lạm phát tại Việt Nam

3.1.2 Mô hình nghiên cứu

Trên cơ sở xem xét nghiên cứu của Fekadu Dereje Girma (2012), “Mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế ở Ethiopia: Phân tích thực nghiệm giai đoạn 1980-2011” và nghiên cứu của Khan và Senhadji (2001) về ngưỡng lạm phát Tác giả

đã sử dụng mô hình VAR, VECM và hồi quy theo ngưỡng lạm phát nhằm xem xét mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, đồng thời tìm ra ngưỡng

lạm phát tối ưu cho Việt Nam

 Phần đầu, trên cơ sở xem xét các nghiên cứu trước đó, tác giả đã sử dụng phương pháp kiểm định đơn vị, phân tích đồng liên kết Johansen, kiểm định nhân quả Granger, mô hình véc tơ hiệu chỉnh sai số VECM và mô hình VAR xem xét mối quan

hệ trong dài hạn và ngắn hạn giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn từ quý 1/1995 đến quý 2/2015 Mô hình nghiên cứu tổng quát như sau:

Ngày đăng: 27/04/2016, 11:38

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.2: Lạm phát do chi phí đẩy - mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế ở việt nam
Hình 2.2 Lạm phát do chi phí đẩy (Trang 25)
Hình 2.1: Lạm phát do cầu kéo - mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế ở việt nam
Hình 2.1 Lạm phát do cầu kéo (Trang 25)
Bảng 2.1: Tóm tắt các nghiên cứu trước đây - mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế ở việt nam
Bảng 2.1 Tóm tắt các nghiên cứu trước đây (Trang 36)
Hình 4.1 : Diễn biến lạm phát và tăng trưởng (%) giai đoạn 1986-1995 - mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế ở việt nam
Hình 4.1 Diễn biến lạm phát và tăng trưởng (%) giai đoạn 1986-1995 (Trang 48)
Hình 4.2: Diễn biến lạm phát và tăng trưởng (%) giai đoạn 1996-2005 - mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế ở việt nam
Hình 4.2 Diễn biến lạm phát và tăng trưởng (%) giai đoạn 1996-2005 (Trang 50)
Hình 4.3: Diễn biến lạm phát và tăng trưởng (%) giai đoạn 2006-2015 - mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế ở việt nam
Hình 4.3 Diễn biến lạm phát và tăng trưởng (%) giai đoạn 2006-2015 (Trang 51)
Bảng 4.5. Mô tả dữ liệu nghiên cứu - mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế ở việt nam
Bảng 4.5. Mô tả dữ liệu nghiên cứu (Trang 54)
Bảng 4.7 :Kiểm định ADF Chuỗi gốc - mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế ở việt nam
Bảng 4.7 Kiểm định ADF Chuỗi gốc (Trang 55)
Bảng 4.9: Kết quả xác định độ trễ tối ưu - mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế ở việt nam
Bảng 4.9 Kết quả xác định độ trễ tối ưu (Trang 56)
Hình 4.4: Các nghiệm đơn vị - mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế ở việt nam
Hình 4.4 Các nghiệm đơn vị (Trang 57)
Bảng 4.10 : Kết quả kiểm định vết ma trận (Trace) - mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế ở việt nam
Bảng 4.10 Kết quả kiểm định vết ma trận (Trace) (Trang 57)
Bảng 4.13: Kết quả hồi quy mô hình Var - mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế ở việt nam
Bảng 4.13 Kết quả hồi quy mô hình Var (Trang 60)
Hình 4.5: Hàm phản ứng đẩy của các biến D(LNGDP) và D(LNCPI) - mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế ở việt nam
Hình 4.5 Hàm phản ứng đẩy của các biến D(LNGDP) và D(LNCPI) (Trang 62)
Bảng 4.14: Kết quả phân rã phương sai - mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế ở việt nam
Bảng 4.14 Kết quả phân rã phương sai (Trang 63)
Hình nghiên cứu là thích hợp. - mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế ở việt nam
Hình nghi ên cứu là thích hợp (Trang 66)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm