Nghiên cứu này được thực hiện nhằm lượng hóa tác động của động của bất bình đẳng trong thu nhập và chi tiêu đến tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam trong giai đoạn 2002
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ HỌC
Chuyên ngành: Kinh tế học Giảng viên hướng dẫn khoa học:
Mã số chuyên ngành: 60 03 01 01 TS Lê Hồ Phong Linh
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2015
Trang 2TÓM TẮT
Trong giai đoạn 2002 – 2012, mặc dù Việt Nam đã duy trì được tốc độ tăng trưởng và có thành tựu ấn tượng trong việc giảm nghèo, song bất bình đẳng thu nhập đang tăng lên trên cả nước, thể hiện qua sự gia tăng chênh lệch thu nhập bình quân giữa nhóm giàu nhất và nhóm nghèo nhất (theo ngũ phân vị) và sự gia tăng trong hệ số Gini tính theo thu nhập
“Bất bình đẳng tác động như thế nào đến thu nhập?” là vấn đề đang được xã hội quan tâm Việc xác định đúng mối quan hệ giữa hai yếu tố này có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển hài hòa của mỗi quốc gia vì bất bình đẳng quá thấp sẽ làm giảm động lực phát triển nhưng bất bình đẳng quá cao lại làm giảm hiệu quả kinh tế và gia tăng bất ổn xã hội (Banerjee và Duflo, 2003; Todaro và Smith, 2012)
Thế nhưng, hiện có rất ít nghiên cứu đi sâu vào phân tích và lượng hóa mối quan hệ này
ở Việt Nam Hơn nữa, trong phạm vi tìm hiểu của tác giả thì rất ít trong số các nghiên cứu trước sử dụng số liệu chi tiêu để đo lường bất bình đẳng Trên thực tế, chi tiêu đại diện tốt hơn cho mức sống và điều kiện kinh tế của hộ gia đình (Vũ Triều Minh, 1999; Brewer and O’Dea, 2012)
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm lượng hóa tác động của động của bất bình đẳng trong thu nhập và chi tiêu đến tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam trong giai đoạn 2002-2012 Đề tài sử dụng dữ liệu bảng của 63 tỉnh thành tại Việt Nam gồm 378 quan sát Kết quả hồi qui theo mô hình tác động cố định với tùy chọn robust cho thấy chi tiêu phản ánh tốt hơn tác động của bất bình đẳng đến tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người Mô hình cũng chỉ ra mối quan hệ phi tuyến hình chữ U ngược giữa bất bình đẳng và tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT iii
DANH MỤC HÌNH VẼ vi
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ vii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT viii
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 2
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.5 Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu 3
1.6 Ý nghĩa và hạn chế nghiên cứu 3
1.7 Kết cấu luận văn 4
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 6
2.1 Cơ sở lý luận về bất bình đẳng 6
2.1.1 Khái niệm 6
2.1.2 Đo lường 6
2.2 Cơ sở lý luận về tổng sản phẩm trong nước và tổng sản phẩm trong nước bình quân đầu người 8
2.2.1 Khái niệm 8
2.2.3 Đo lường 9
2.3 Lý thuyết về tăng trưởng 9
2.4 Các lý thuyết về mối quan hệ giữa bất bình đẳng và tăng trưởng 10
2.5 Kết quả các nghiên cứu thực nghiệm 13
CHƯƠNG 3: DỮ LIỆU, MÔ HÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
3.1 Dữ liệu và phương pháp thu thập 18
Trang 43.2 Mô hình nghiên cứu 24
3.3 Phương pháp phân tích dữ liệu 28
CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH KẾT QUẢ 30
4.1 Xu hướng bất bình đẳng và tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người ở Việt Nam giai đoạn 2002 – 2012 30
4.2 Kết quả phân tích hồi quy 37
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH 48
5.1 Kết luận 48
5.2 Gợi ý chính sách 48
KẾT LUẬN 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO 53
PHỤ LỤC ix
Phụ lục 1 – Các khái niệm ix
Phụ lục 2 – Số liệu thu nhập và chi tiêu hộ gia đình xii
Phụ lục 3 – Kết quả mô hình hồi quy xxxii
Trang 5DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 2.1: Đường cong Lorenz 6 Hình 2.2: Đường cong Kuznets dưới dạng chữ U ngược 10 Hình 4.1: Tác động của bất bình đẳng tính theo chi tiêu đến tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người dưới dạng chữ U ngược 48
Trang 6DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Bảng 2.1: Tổng hợp kết quả các nghiên cứu trước về mối quan hệ giữa bất bình đẳng và tăng
trưởng 14
Bảng 3.1: Mô tả phương pháp đo lường các biến và nguồn dữ liệu 19
Bảng 3.2: Chuyển đổi lớp hệ thống giáo dục phổ thông 21
Bảng 3.3: Chuyển đổi lớp của giáo dục nghề nghiệp 21
Bảng 3.4: Chuyển đổi lớp của giáo dục đại học 22
Bảng 3.5:Thông tin các biến được trích lọc từ bộ dữ liệu VHLSS 2002, 2004, 2006, 2008, 2010 và 2012 23
Bảng 3.6: Mô tả biến, cơ sở chọn biến và dấu kỳ vọng 26
Bảng 3.7: So sánh nghiên cứu của tác giả với các nghiên cứu trước có liên quan 27
Biểu đồ 4.1: Tăng trưởng GDP bình quân đầu người, thu nhập và chi tiêu bình quân nhân khẩu một tháng trong giai đoạn 2002 – 2012 30
Biểu đồ 4.2: Bất bình đẳng trong thu nhập giai đoạn 2002 – 2012 31
Biểu đồ 4.3: Thu nhập bình quân nhân khẩu một tháng 32
Biểu đồ 4.4: Bất bình đẳng trong chi tiêu giai đoạn 2002 – 2012 34
Biểu đồ 4.5: Chi tiêu cho đời sống bình quân nhân khẩu một tháng 35
Biểu đồ 4.7: Phân phối xác suất của GDP bình quân đầu người 37
Biểu đồ 4.8: Phân phối xác suất của Lôgarít GDP bình quân đầu người 38
Bảng 4.2: Thống kê mô tả các biến trong mô hình hồi quy 38
Bảng 4.3: Ma trận hệ số tương quan 40
Bảng 4.4: Kết quả kiểm tra đa cộng tuyến sử dụng VIF với Gini thu nhập 41
Bảng 4.5 : Kết quả kiểm tra đa cộng tuyến sử dụng VIF với Gini chi tiêu 41
Bảng 4.6: Kết quả mô hình FEM sử dụng Gini tính theo thu nhập và chi tiêu 42
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
WTO (World Trade Organization) Tổ chức Thương mại Thế giới
GDP (Gross Domestic Product) Tổng Sản phẩm Quốc nội
GNP (Gross Nation Product) Tổng Sản phẩm Quốc gia
GSP (Gross State Product) Tổng Sản phẩm vùng/tỉnh
PPP (Purchasing Power Parity) Ngang giá sức mua
OLS (Ordinary Least Squares) Bình phương nhỏ nhất
FEM (Fixed Effects Model) Mô hình tác động cố định
REM (Random Effects Model) Mô hình tác động ngẫu nhiên
GWR (Geographically Weighted Regression) Hồi quy trọng số theo không gian
GMM (Generalized Method of Moments) Phương pháp moments tổng quát
VIF (Variance inflation factor) Hệ số phóng đại phương sai
VHLSS (Vietnamese Household Living - Khảo sát Mức sống Hộ gia đình -
Trang 8CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1.1 Lý do chọn đề tài
Hiện có nhiều quan điểm khác nhau về mối quan hệ giữa bất bình đẳng và tăng trưởng Trong đó quan điểm phổ biến nhất cho rằng bất bình đẳng tăng trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển sau đó ổn định và giảm dần khi thu nhập tăng lên (Kuznets, 1955) Những người theo quan điểm này cho rằng việc tăng tích lũy giúp người giàu có điều kiện tăng đầu
tư, tỷ lệ đầu tư cao sẽ thúc đẩy tăng trưởng
Tuy nhiên, thực tiễn phát triển cho thấy quan điểm này không hoàn toàn đúng Một quốc gia có thể đạt được tốc độ tăng trưởng cao trong khi vẫn duy trì được mức bất bình đẳng thấp (Deininger và Squire, 1996) Trong khi đó, một số quốc gia có mức tăng trưởng thấp hoặc không tăng trưởng nhưng bất bình đẳng lại tăng mạnh Theo Todaro và Smith (2012), bất bình đẳng cao làm giảm hiệu quả kinh tế và làm gia tăng bất ổn xã hội
Mỗi quan điểm nói trên xuất phát từ sự phân tích quá trình tăng trưởng và công bằng xã hội đã diễn ra ở một số nước nhất định, ở những thời kỳ khác nhau mà khái quát lên Mối quan hệ giữa tăng trưởng thu nhập và bất bình đẳng hiện vẫn là vấn đề tranh cãi Có ý kiến cho rằng, tại mỗi quốc gia, ở những thời điểm khác nhau, mối tương quan giữa tăng trưởng thu nhập và bất bình đẳng cũng sẽ khác nhau Vậy mối quan hệ giữa tăng trưởng thu nhập và bất bình đẳng ở Việt Nam trong giai đoạn 2002 - 2012 là như thế nào?
Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, tình trạng phân hóa giàu nghèo tại Việt Nam đang chuyển dần từ mức tương đối bình đẳng năm 2002 sang mức chênh lệch trung bình do khoảng cách thu nhập ngày càng tăng giữa các nhóm dân cư Nhận định này không có gì bất ngờ khi Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cũng cho rằng khoảng cách thu nhập giữa các nhóm lao động ngày càng có sự chênh lệch rõ nét, đặc biệt là ở các thành phố lớn
Hệ số Gini tính theo thu nhập cho thấy bất bình đẳng ở Việt Nam đang ở mức vừa phải Tuy nhiên, điều đáng lo ngại là bất bình đẳng có khuynh hướng tăng lên và có thể đạt đến mức báo động trong thời gian tới nếu không có nỗ lực ngăn chặn từ bây giờ
Trang 9Vì vậy, việc nghiên cứu mối quan hệ giữa bất bình đẳng và tăng trưởng là vấn đề cấp thiết và có ý nghĩa Nghiên cứu được thực hiện nhằm tìm hiểu một số vấn đề cấp bách đang đặt ra như: Làm thế nào để định lượng mối quan hệ này? Phải chăng có sự đánh đổi giữa các mục tiêu tăng trưởng thu nhập và giảm bất bình đẳng thu nhập? Bất bình đẳng thu nhập có tác động như thế nào đến thu nhập bình quân đầu người? Làm thế nào để dung hòa hai mục
tiêu này? Đó là lý do tôi chọn nghiên cứu đề tài “Tác động của bất bình đẳng trong thu nhập
và chi tiêu đến tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người ở Việt Nam giai đoạn 2002 – 2012”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Phân tích thực trạng bất bình đẳng trong thu nhập, chi tiêu và tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người ở Việt Nam trong giai đoạn 2002 – 2012
- Kiểm định và phân tích tác động của bất bình đẳng trong thu nhập, chi tiêu đến tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người ở Việt Nam
- Cung cấp thêm thông tin về mối quan hệ giữa bất bình đẳng và tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người ở Việt Nam
- Trên cơ sở đó, đề xuất một số khuyến nghị nhằm hạn chế những tác động tiêu cực của bất bình đẳng thu nhập và chi tiêu trong quá trình phát triển kinh tế của Việt Nam
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
- Xu hướng thu nhập bình quân đầu người ở Việt Nam trong giai đoạn 2002 – 2012 như thế nào?
- Bất bình đẳng trong thu nhập và chi tiêu ở Việt Nam trong giai đoạn 2002 – 2012 có đặc điểm gì?
- Bất bình đẳng trong thu nhập và chi tiêu tác động như thế nào đến thu nhập bình quân đầu người ở Việt Nam trong giai đoạn 2002 – 2012?
Trang 101.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: bất bình đẳng trong thu nhập và chi tiêu, thu nhập bình quân đầu người và mối quan hệ giữa các yếu tố này tại các tỉnh thành của Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu: Tác động của bất bình đẳng trong thu nhập và chi tiêu đối với thu nhập bình quân đầu người tại 63 tỉnh/thành của Việt Nam (không gian) trong giai đoạn từ năm 2002 đến năm 2012 (thời gian)
1.5 Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu
Trong chương 3 tác giả sẽ trình bày chi tiết phương pháp nghiên cứu Ở đây, phương pháp nghiên cứu được tóm tắt như sau:
- Dữ liệu từ Niên giám Thống kê và Khảo sát Mức sống Hộ gia đình sau khi thu thập, kiểm tra và tổng hợp sẽ được sử dụng để mô tả, đánh giá sơ bộ đặc điểm của các đối tượng nghiên cứu trong giai đoạn 2002 - 2012
- Phương pháp hồi quy: Sử dụng dữ liệu bảng và hồi quy theo ba mô hình: Kết hợp tất cả các quan sát (Pooled OLS), mô hình tác động cố định (FEM) và mô hình tác động ngẫu nhiên (REM)
- Phần mềm được sử dụng để hồi quy và kiểm định các hệ số ước lượng là Stata phiên bản
12
1.6 Ý nghĩa và hạn chế nghiên cứu
Ý nghĩa: Dù đã có nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng bất bình đẳng trong chi tiêu thể hiện tốt hơn sự khác biệt trong mức sống của hộ gia đình nhưng cho đến nay vẫn có rất ít nghiên cứu
về tác động của bất bình đẳng trong chi tiêu đến tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người ở Việt Nam Do đó, việc lượng hóa tác động của cả bất bình đẳng trong thu nhập và chi tiêu đến tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người ở Việt Nam trong giai đoạn 2002 – 2012 sẽ cho chúng ta có cái nhìn toàn diện hơn về mối quan hệ này Nghiên cứu cũng góp phần cung cấp cơ sở khoa học để các nhà hoạch định chính sách đề ra những chính sách hợp lý để đảm
bảo sự hài hòa giữa hai mục tiêu tăng trưởng và ổn định xã hội
Trang 11Hạn chế: VHLSS là bộ dữ liệu duy nhất hiện nay cho phép tính toán bất bình đẳng theo thu nhập và chi tiêu của hộ gia đình ở các tỉnh thành trên cả nước trong giai đoạn 2002-2012 nhưng quy mô mẫu của của bộ dữ liệu này không mang tính đại diện ở cấp tỉnh thành Bên cạnh đó, một số yếu tố quan trọng khác cũng tác động đến thu nhập bình quân đầu người nhưng không được đưa vào mô hình như: vốn đầu tư, lạm phát… nên có thể ảnh hưởng đến mức độ phù hợp của mô hình
1.7 Kết cấu luận văn
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
Trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa, hạn chế và kết cấu bài nghiên cứu
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN
Trong chương này, tác giả phân tích các khái niệm, lý thuyết được sử dụng trong nghiên cứu như: bất bình đẳng, tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người … Tác giả cũng tổng hợp một
số nghiên cứu trước đây về ảnh hưởng của bất bình đẳng thu nhập đến tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người, trong nước và quốc tế
CHƯƠNG 3: DỮ LIỆU, MÔ HÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chương này tác giả trình bày những nội dung liên quan đến dữ liệu, mô hình và phương pháp nghiên cứu
CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH KẾT QUẢ
Chương mở đầu với phần giới thiệu chung về xu hướng thay đổi bất bình đẳng thu nhập, chi tiêu và thu nhập bình quân đầu người ở Việt Nam giai đoạn 2002-2012 Tiếp theo tác động của bất bình đẳng thu nhập và chi tiêu đến tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người được phân tích thông qua các thống kê mô tả dữ liệu và phân tích hồi quy Cuối cùng là các kiểm định và các kết quả nghiên cứu
Trang 12CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH
Chương trình bày tóm tắt những kết quả nghiên cứu đã đạt được, từ đó rút ra kết luận và đề xuất những gợi ý chính sách nhằm đảm bảo hài hòa mục tiêu tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người và giảm bất bình đẳng thu nhập, chi tiêu góp phần phát triển bền vững
Trang 13CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.1 Cơ sở lý luận về bất bình đẳng
Hệ số Gini là giá trị của diện tích A (được tạo bởi đường cong Lorenz và đường thẳng
450 từ gốc tọa độ) chia cho diện tính A+B (là diện tích tam giác vuông nằm dưới đường
Phần trăm thu nhập/
chi tiêu cộng dồn
B
A
Đường bình đẳng tuyệt đối
Đường cong Lorenz
Phần trăm dân số cộng dồn
Trang 14thẳng 450 từ gốc tọa độ) Khi đường cong Lorenz trùng với đường thẳng 450 (đường bình đẳng tuyệt đối) thì hệ số Gini bằng 0 (vì A=0), xã hội có sự phân phối thu nhập bình đẳng tuyệt đối, mọi người dân có thu nhập như nhau; và khi đường cong Lorenz trùng với trục hoành, hệ số Gini bằng 1 (vì B=0), xã hội có sự phân phối thu nhập bất bình đẳng tuyệt đối, một người dân hưởng toàn bộ thu nhập của cả xã hội
Hệ số Gini (G) được tính theo công thức sau:
i – là phần trăm thu nhập/chi tiêu cộng dồn đến người thứ i (nhóm thứ i)
Như vậy Gini càng gần 1 thì sự bất bình đẳng về thu nhập trong dân cư càng lớn Tương
tự, chúng ta có thể áp dụng công thức trên để tính hệ số Gini theo chi tiêu
b Chênh lệch thu nhập/chi tiêu bình quân đầu người giữa nhóm hộ có thu nhập/chi tiêu cao nhất với nhóm hộ có thu nhập/chi tiêu thấp nhất
Được tính bằng số lần chênh lệch giữa thu nhập/chi tiêu bình quân người trong một tháng (hoặc một năm) của nhóm hộ có thu nhập/chi tiêu cao nhất so với thu nhập/chi tiêu bình quân người/tháng (hoặc năm) tương ứng của nhóm hộ có thu nhập/chi tiêu thấp nhất Công thức như sau1:
1 Áp dụng tương tự cho việc tính toán chênh lệch trong mức chi tiêu giữa hai nhóm hộ
Chênh lệch thu nhập giữa
Trang 15Các nhóm thu nhập/chi tiêu được xác định bằng cách sắp xếp các hộ theo mức thu nhập bình/chi tiêu quân đầu người 1 tháng từ thấp đến cao, sau đó chia các hộ thành các nhóm hộ
có số hộ bằng nhau, thường là 5 nhóm, mỗi nhóm chiếm 20% tổng số hộ
• Nhóm 1: Nhóm thu nhập/chi tiêu thấp nhất (nhóm nghèo nhất);
• Nhóm 2: Nhóm thu nhập/chi tiêu dưới trung bình;
• Nhóm 3: Nhóm thu nhập/chi tiêu trung bình;
• Nhóm 4: Nhóm thu nhập/chi tiêu khá;
• Nhóm 5: Nhóm thu nhập/chi tiêu cao nhất (nhóm giàu nhất)
Tương tự, có thể chia các hộ thành các nhóm nhỏ hơn như 10 nhóm (mỗi nhóm 10% tổng số hộ); 20 nhóm (mỗi nhóm 5% tổng số hộ); 50 nhóm (mỗi nhóm 2% tổng số hộ); 100 nhóm (mỗi nhóm 1% tổng số hộ)
Ngoài ra còn nhiều thước đo khác để đo lường bất bình đẳng thu nhập như chỉ số Theil (Atkinson), HHI, tiêu chuẩn “40%” của Worldbank, hệ số biến thiên trong phân phối thu nhập/chi tiêu…
2.2 Cơ sở lý luận về tổng sản phẩm trong nước và tổng sản phẩm trong nước bình quân đầu người
2.2.1 Khái niệm
Tổng sản phẩm trong nước (GDP) Chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh giá trị mới của
hàng hóa và dịch vụ được tạo ra của toàn bộ nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm Tổng sản phẩm trong nước được tính theo giá thực tế và giá so sánh
Tổng sản phẩm trong nước theo giá thực tế dùng để nghiên cứu cơ cấu kinh tế, mối quan
hệ tỷ lệ giữa các ngành trong sản xuất, mối quan hệ giữa kết quả sản xuất với phần huy động vào ngân sách
Trang 16Tổng sản phẩm trong nước theo giá so sánh đã loại trừ biến động của yếu tố giá qua các năm, dùng để tính tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, nghiên cứu sự thay đổi về khối lượng hàng hóa và dịch vụ sản xuất
Tổng sản phẩm trong nước bình quân đầu người Chỉ tiêu kinh tế phản ánh một cách
tổng quan mức sống dân cư và được tính bằng tỷ lệ giữa tổng sản phẩm trong nước với tổng dân số trung bình trong năm Tổng sản phẩm trong nước bình quân đầu người có thể tính theo giá thực tế, giá so sánh, tính theo nội tệ hoặc theo ngoại tệ
GDP bình quân đầu người còn là chỉ tiêu được dùng để đánh giá sự phát triển kinh tế theo thời gian và so sánh quốc tế
2.2.3 Đo lường
Tốc độ tăng sản lượng hàng năm và tốc độ tăng sản lượng bình quân đầu người là các chỉ số đo lường tốc độ tăng trưởng thu nhập Các chỉ tiêu này được tính theo công thức:
( ) ( ) ( )
Trong đó: gx là tốc độ tăng trưởng của thời kỳ t; X có thể là GDP thực, GNP thực, GDP thực tế bình quân đầu người, hoặc GNP thực tế bình quân đầu người
2.3 Lý thuyết về tăng trưởng
Mankiw, Romer và Weil (1992) đề xuất mô hình “Solow tăng cường” nhấn mạnh sự đóng góp của giáo dục và kỹ năng Họ cho rằng nguyên nhân của sự khác biệt về thu nhập là
do các nước nghèo đầu tư ít vào giáo dục và kỹ năng
Schultz (1961) và Becker (1962) cũng cho thấy vai trò của đầu tư cho giáo dục, của vốn con người đối với phát triển kinh tế Schultz (1961) đã chỉ ra ưu thế nhờ lợi suất cao hơn hẳn của vốn con người ở các nước giàu so với các nước nghèo, ông cho rằng vốn nhân lực gia tăng sẽ làm tăng năng suất, dẫn đến mức thu nhập cao hơn, theo ông đó là lý do vì sao các nước giàu đầu tư vào giáo dục nhiều và nhanh hơn hẳn so với các lĩnh vực khác Ông rút ra kết luận: “đầu tư vào cải thiện chất lượng dân cư có thể tăng đáng kể triển vọng kinh tế và
Trang 17phúc lợi cho người nghèo” Becker (1962) cũng nhấn mạnh vai trò của việc đầu tư vào giáo dục và đào tạo nhằm đạt lợi ích lâu dài
Mô hình tăng trưởng nội sinh của Lucas (1988) đã nhấn mạnh vai trò của vốn con người (được hình thành qua quá trình học tập và kinh nghiệm) đối với tăng trưởng Những nước giàu với nguồn vốn nhân lực dồi dào sẽ có năng suất cao hơn và kiếm được tiền lương cao hơn người lao động của nước nghèo Những người lao động có năng lực ở các nước nghèo
có động cơ nhập cư vào các nước giàu với mong muốn nhanh chóng cải thiện được cuộc sống Như vậy, vốn con người và thu nhập có mối quan hệ cùng chiều Mức sống cao là một tiền đề quan trọng để có chất lượng nguồn nhân lực tốt hơn Chất lượng nguồn nhân lực tốt
sẽ thúc đẩy tăng trưởng Tương tự như vậy, thu nhập cao là tiền đề cho việc gia tăng mức sống của người dân
2.4 Các lý thuyết về mối quan hệ giữa bất bình đẳng và tăng trưởng
Theo Kuznets (1955), bất bình đẳng ở một quốc gia sẽ tăng dần trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển kinh tế và sẽ giảm dần khi quốc gia ấy đạt đến một mức phát triển nhất định Luận điểm này được thể hiện bằng hình vẽ chữ U ngược
Hình 2.2: Đường cong Kuznets dưới dạng chữ U ngược
Nguồn: Nguyễn Trọng Hoài, 2007
Ông cho rằng, bất bình đẳng tăng trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển sau đó ổn
định và giảm dần khi thu nhập tăng lên Ông giải thích rằng ban đầu bất bình đẳng có thể tăng khi một quốc gia chuyển đổi từ nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp Khi mọi người làm việc trong nền kinh tế nông nghiệp, thu nhập được phân
Trang 18phối tương đối đồng đều, nhưng khi có tiến trình đô thị hóa và công nghiệp hóa thì bất bình đẳng tăng lên
Giả thuyết Kuznets trong nhiều trường hợp được ủng hộ khi so sánh nhiều quốc gia ở nhiều trình độ phát triển khác nhau, nhưng không rõ ràng khi kiểm chứng cho từng quốc gia riêng biệt Tuy nhiên, giả thuyết này đưa ra một gợi ý đáng để các quốc gia tham khảo rằng
sự gia tăng bất bình đẳng trong quá trình phát triển là điều khó tránh khỏi
Luận điểm của Kuznets được củng cố bởi mô hình thặng dư lao động của Lewis Trong
mô hình thặng dư lao động của Lewis, bất bình đẳng không chỉ là một kết quả cần thiết của tăng trưởng, nó còn là nguyên nhân của tăng trưởng Lewis (1954) cho rằng lúc đầu lao động
dư thừa trong khu vực nông nghiệp được thu hút vào công nghiệp nhưng chỉ được trả lương
ở mức tối thiểu Nhờ đó, nhà tư bản có điều kiện tích lũy và tái đầu tư Thu nhập tăng lên được tái đầu tư mở rộng qui mô sản xuất và lao động của công nhân đem lại ngày càng nhiều giá trị thặng dư Nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhờ sự tích lũy, đầu tư của khu vực công nghiệp, và hiện tượng bất bình đẳng giữa hai khu vực cũng tăng Tư bản nếu được tích lũy liên tục trong khu vực công nghiệp sẽ thu hút dần lao động dư thừa trong khu vực nông nghiệp; Giai đoạn sau khi lao động được thu hút hết và trở nên khan hiếm hơn, cùng với nhu cầu sử dụng ngày càng nhiều lao động, dẫn đến việc tiền công tăng lên, lợi nhuận của nhà tư bản giảm đi Khi đó cần phải có sự đầu tư lại cho khu vực nông nghiệp để giảm bất lợi trong
cả hai khu vực Thu nhập của nền kinh tế tiếp tục tăng trưởng dựa trên động lực phát triển của cả hai khu vực, kết quả là bất bình đẳng giảm
Từ một góc nhìn khác, Alesina và Rodrik (1994), Persson và Tabellini (1994) cho rằng bất bình đẳng thu nhập làm giảm tốc độ tăng trưởng do áp lực phải phân phối lại Họ lập luận rằng, trong các xã hội dân chủ, mức thuế được nhóm trung lưu quyết định Thuế được giả định là tỷ lệ thuận với thu nhập, lợi ích của của chi tiêu công được phân phối lại cho tất
cả mọi người Khi đó người giàu muốn một mức thuế thấp để giảm phần đóng góp cho chi tiêu công, còn người nghèo sẽ muốn có một mức thuế cao hơn (để được hưởng lợi nhiều hơn
từ chi tiêu công) Do đó, lợi ích nhận được của người nghèo lớn hơn lợi ích nhận được của người giàu Chính phủ quyết định chính sách dựa trên nguyên tắc đa số và nhóm cử tri chiếm đa số không phải là nhóm người giàu (thu nhập của các cử tri chiếm đa số thấp hơn
Trang 19mức thu nhập trung bình) Vì vậy, bất bình đẳng tạo áp lực tăng thuế, dẫn đến các chính sách làm chậm tăng trưởng Khi thu nhập được phân phối đồng đều hơn, thì sẽ có nhiều người ủng hộ thuế thấp
Cùng quan điểm với Alesina và Rodrik (1994), Todaro (1994) cũng cho rằng bất bình đẳng không có lợi cho nền kinh tế nhưng lý giải theo một cách khác Ông cho rằng những người nghèo với thu nhập thấp sẽ có ít điều kiện chăm sóc sức khỏe và tiếp cận hệ thống giáo dục dẫn đến năng suất lao động của họ giảm đồng thời giảm cả cơ hội tiếp cận việc làm Khi lực lượng tham gia lao động và chất lượng lao động của nền kinh tế giảm sẽ làm giảm tổng thu nhập toàn xã hội
Theo Mankiw (2004), việc thực hiện mục tiêu công bằng xã hội, đặc biệt là hướng tới phân phối thu nhập bình đẳng hơn có thể mâu thuẫn với mục tiêu đảm bảo tăng trưởng Lý
do cơ bản là để lấy thu nhập của người giàu chuyển cho người nghèo, chính phủ phải thực hiện các chính sách tái phân phối thu nhập, ví dụ như thông qua hệ thống thuế thu nhập lũy tiến và các chương trình phúc lợi Với các chính sách này, những người có thu nhập cao phải nộp một phần lớn hơn trong thu nhập của họ cho chính phủ và những người nghèo nhận được các khoản trợ cấp từ chính phủ Điều này sẽ làm giảm động lực lao động và gây ra tổn thất cho xã hội Nếu chính phủ lấy đi phần thu nhập tăng thêm mà một cá nhân nào đó có thể kiếm được thông qua tăng thuế để trợ cấp, thì cả người giàu và người nghèo sẽ có ít động lực lao động chăm chỉ hơn, người giàu sẽ không tích cực làm việc, còn người nghèo dễ có tâm
lý ỷ lại Khi họ lao động ít hơn, tổng thu nhập của toàn xã hội sẽ giảm, và phần thu nhập dành cho mỗi người cũng giảm
Perotti (1996) cũng cho rằng bất bình đẳng thu nhập có tác động tiêu cực đến tăng trưởng thông qua quyết định của các hộ gia đình về giáo dục và sinh sản Bố mẹ phải tối ưu việc sử dụng những nguồn lực của gia đình bằng cách cải thiện về chất lượng hoặc tăng quy
mô gia đình Các gia đình nghèo sẽ không đầu tư vào giáo dục mà đầu tư vào quy mô hộ gia đình Trong khi đó, tăng trưởng thu nhập được thúc đẩy bởi sự đầu tư vào chất lượng nguồn nhân lực hơn là số lượng lao động Do vậy một xã hội có những gia đình nghèo đầu tư vào
Trang 20số lượng hơn là chất lượng thì bất bình đẳng sẽ cao hơn Bùng nổ dân số sẽ dẫn đến thu nhập bình quân đầu người thấp hơn
Trong khi đó, Deininger và Squire (1996) cho rằng không có bằng chứng chứng minh mối quan hệ theo mô hình “chữ U ngược” trong quan hệ giữa tăng trưởng và bất bình đẳng
về thu nhập khi xem xét các nước riêng lẻ, nghĩa là tăng trưởng không làm bất bình đẳng gia tăng ngay cả trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển ở các nghèo Cùng quan điểm này, Barro và Sala-i-Martin (1999) cho rằng bất bình đẳng tăng lên chỉ làm giảm tốc độ tăng trưởng của các nước nghèo có mức GDP bình quân đầu người thấp hơn 2.000 đô la Mỹ Trái lại, các nước có mức GDP bình quân đầu người cao hơn mức này, mối quan hệ này trở nên không rõ ràng
Như vậy, có rất nhiều quan niệm khác nhau về tác động của bất bình đẳng đối với tăng trưởng Dù vẫn còn nhiều tranh cãi nhưng đa số các nhà kinh tế học cho rằng mối quan hệ giữa bất bình đẳng và tăng trưởng ở các quốc gia khác nhau thường không giống nhau Ở một mức độ nhất định bất bình đẳng có thể thúc đẩy tăng trưởng Tuy nhiên, bất bình đẳng cao sẽ có tác động tiêu cực đến tăng trưởng
2.5 Kết quả các nghiên cứu thực nghiệm
Kết quả các nghiên cứu thực nghiệm về tác động của bất bình đẳng đến tăng trưởng có thể phân thành bốn nhóm: (i) Bất bình đẳng có tác động ngược chiều đến tăng trưởng; (ii) Bất bình đẳng có tác động cùng chiều đến tăng trưởng; (iii) có mối quan hệ phi tuyến giữa bất bình đẳng và tăng trưởng; và (iv) không có mối quan hệ giữa hai yếu tố này Trong bài viết này, các tác giả chỉ tổng hợp những nghiên cứu thực nghiệm phân tích tác động của bất bình đẳng đến tăng trưởng ở từng quốc gia riêng lẽ sử dụng dữ liệu bảng ở cấp tỉnh thành,
bang hoặc vùng
Trang 21Bảng 2.1: Tổng hợp kết quả các nghiên cứu trước về mối quan hệ giữa bất bình đẳng
và tăng trưởng
Nguồn Nghiên
cứu
Dữ liệu, phương pháp nghiên cứu
Biến phụ thuộc
ở
Mê-xi-cô
Dữ liệu bảng 30 bang, 1960 – 2002, GMM
Tăng trưởng bình quân đầu người
GINI thu nhập GSP thực bình quân đầu người
Tỷ lệ dân số nam 10 tuổi trở lên biết đọc biết viết
Tỷ lệ dân số nữ 10 tuổi trở lên biết đọc biết viết
(+) (+) (-) (+)
Wanyagathi
(2006)
Tác động của bất bình đẳng thu nhập đến tăng trưởng thu nhập
ở Kê-ni-a
Dữ liệu chuỗi thời gian, giai đoạn 1950 –
2006, OLS
Logarit GDP bình quân đầu người
Logarit Gini thu nhập Logarit chi tiêu cho giáo dục Logarit chi tiêu cho sức khỏe Logarit tăng trưởng dân số
(-) (+) (-) (-)
Digdowiseiso
(2009)
Bất bình đẳng giáo dục, tăng trưởng thu nhập
và bất bình đẳng thu nhập
ở nê-xi-a
In-đô-Giai đoạn 1996-2005, OLS
Logarit GDP thực bình quân đầu người
Tuổi thọ kỳ vọng
Số năm đi học trung bình
Hệ số Gini thu nhập
Hệ số Gini giáo dục Sai phân bậc 1 của Logarit Logarit GDP thực bình quân
không không (+) không (+)
Pede &
Cộng sự
(2012)
Tác động của bất bình đẳng thu nhập đối với tăng trưởng thu nhập
80 tỉnh, giai đoạn 1991 –
2000, GWR
Logarit Thu nhập bình quân
Thu nhập bình quân đầu người năm gốc 1991 Chỉ số Thiel về bất bình đẳng thu nhập
Tỷ lệ nghèo Trình độ giáo dục Thành thị-nông thôn
(-) (+)
(-) (+) (+)
Trang 22ở pin
Phi-líp-Oyama
(2014)
Phân phối thu nhập
và tăng trưởng thu nhập
ở Nhật Bản
Giai đoạn
1980 –
2010, FEM
Tốc độ tăng trưởng bình quân
Logarit thu nhập bình quân đầu người
Hệ số Gini thu nhập
Tỷ lệ tốt nghiệp trung học và cao đẳng
Mức độ đô thị hóa Tuổi
Nông nghiệp Sản xuất
(-)
(+) Không
Không Không Không Không
Coll (2014) Vấn đề
bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng thu nhập
Hệ số Gini thu nhập
Hệ số Gini thu nhập bình phương
Tỷ lệ chi tiêu Chính phủ trên GDP
Tỷ lệ đầu tư trên GDP Logarit tỷ lệ sinh Logarit GDP bình quân đầu người
Số năm đi học trung bình Vai trò của luật pháp Biến giả Vùng:
Bắc Trung Đông Nam
(+) (-) (+)
(+) (-) (-)
(+) (+)
(+) (-) không
Lê Quốc Hội
(2008)
Mối quan
hệ giữa tăng trưởng, nghèo đói
và bất bình đẳng
ở Việt Nam
Giai đoạn 1996-2004, OLS, 61 tỉnh thành
Tỷ lệ tăng trưởng GDP
Hệ số Gini chi tiêu
Tỷ lệ hộ nghèo
Số năm đi học trung bình của dân số trưởng thành
GDP bình quân đầu người
Tỷ lệ trung bình của đầu tư trên GDP
không (-) (+)
(+) (+)
và bất bình đẳng
2006-2010,
63 tỉnh thành, FEM
Lôgarít GDP
Logarit tỷ lệ đầu tư/GDP, Logarit dân số trong độ tuổi lao động,
Hệ số Gini thu nhập,
Hệ số Gini thu nhậpbình phương
Tương tác Gini và đầu tư
(+) (+)
(-) (+) (+) (+)
Trang 23ở Việt Nam
Tương tác Gini và giáo dục
Hoàng Thủy
Yến (2015)
Tác động của bất bình đẳng thu nhập đến tăng trưởng thu nhập
ở Việt Nam
2004-2010,
dữ liệu bảng
63 tỉnh/thành, FEM
LogaritGDP
Hệ số Gini thu nhập,
Hệ số Gini thu nhậpbình phương,
Logarit tỷ lệ đầu tư trong GDP,
Logarit tỷ lệ lao động trong tổng số dân
Tương tác của Gini và đầu tư
(+) (-)
(+) (+) (-)
Nguồn: Tổng hợp của tác giả
Kết quả thực nghiệm tổng hợp ở Bảng 1 cho thấy, hầu hết các nghiên cứu sử dụng tốc độ tăng trưởng GDP hay thu nhập bình quân đầu người để đại diện cho tăng trưởng kinh tế và
hệ số hệ số GINI thu nhập hay chi tiêu để đại diện cho mức độ bất bình đẳng Các mô hình thực nghiệm cũng sử dụng biến GINI bình phương để xem xét mối quan hệ phi tuyến giữa tăng trưởng và bất bình đẳng Bên cạnh các biến đại diện cho bất bình đẳng, một số đặc điểm khác của địa phương như trình độ học vấn, tỷ lệ hộ nghèo, lực lượng lao động, thành thị-nông thôn,… cũng được sử dụng như các biến kiểm soát khi phân tích tác động của bất bình đẳng đối với tăng trưởng
Cả ba nghiên cứu về mối quan hệ giữa bất bình đẳng và tăng trưởng thu nhập ở Việt Nam được tổng hợp ở Bảng 2.1 đều sử dụng dữ liệu Khảo sát mức sống hộ gia đình Việt Nam ở cấp tỉnh thành nhưng các biến số được chọn để đại diện cho bất bình đẳng và giai đoạn nghiên cứu lại rất khác nhau Nghiên cứu của Lê Quốc Hội sử dụng GINI chi tiêu trong khi hai nghiên cứu còn lại đều sử dụng GINI thu nhập để đại diện cho bất bình đẳng Xét về thời gian, Lê Quốc Hội nghiên cứu mối quan hệ này trong giai đọan 1996-2004, Phạm Ngọc Toàn và Hoàng Thanh Nghị nghiên cứu giai đoạn 2006-2010 còn Hoàng Thủy Yến nghiên cứu cho giai đoạn 2004-2010 Kết quả thực nghiệm của ba nghiên cứu này cũng rất khác nhau Lê Quốc Hội (2008) không tìm thấy mối quan hệ giữa bất bình đẳng và tăng trưởng Trái lại nghiên cứu của Phạm Ngọc Toàn và Hoàng Thanh Nghị (2012) và Hoàng Thủy Yến (2015) cho thấy có mối quan hệ phi tuyến giữa bất bình đẳng và tăng trưởng Tuy nhiên, ngưỡng xác định chiều tác động của bất bình đẳng đến tăng trưởng trong nghiên cứu của
Trang 24Kết luận chương 2:
Trong chương 2 tác giả nêu một số lý thuyết liên quan đến thu nhập bình quân đầu người và bất bình đẳng, mối quan hệ giữa bất bình đẳng và tăng trưởng Đồng thời tác giả cũng đưa ra một số các nghiên cứu trước liên quan mối quan hệ này
Trang 25CHƯƠNG 3: DỮ LIỆU, MÔ HÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Dữ liệu và phương pháp thu thập
Nghiên cứu sử dụng dữ liệu từ TCTK, NGTK các tỉnh/thành, VHLSS và Kết quả VHLSS các năm 2002, 2004, 2006, 2008, 2010 và 2012
Trong quá trình xử lý dữ liệu, do hai tỉnh Hà Tây và Thành phố Hà Nội (cũ) được sát nhập vào năm 2007, nên tác giả hợp nhất số liệu hai địa phương này thành một địa phương
là Hà Nội (mới) cho cả giai đoạn 2002 – 2012 Ngoài ra, số liệu năm 2002 của ba địa phương Điện Biên, Đắc Nông và Hậu Giang bị thiếu do việc tách tỉnh, cụ thể tỉnh Điện Biên được tách từ tỉnh Lai Châu (cũ) vào năm 2003, tỉnh Đắc Nông được tách ra từ tỉnh Đắc Lắc (cũ) vào năm 2004, tỉnh Hậu Giang được thành lập từ năm 2004 do tách ra từ tỉnh Cần Thơ (cũ), nên tác giả thay thế bằng các giá trị trung bình giai đoạn 2004 – 2012 để xử lý giá trị thiếu trong mô hình
Đến nay, Tổng cục Thống kê đã tổ chức các cuộc khảo sát mức sống hộ gia đình năm
2002, 2004, 2006, 2008, 2010, 2012, 2014 Riêng cơ sở dữ liệu và kết quả cuộc khảo sát năm 2014 hiện chưa được công bố chính thức, nên đề tài sử dụng cơ sở dữ liệu các cuộc khảo sát năm 2002, 2004, 2006, 2008, 2010 và 2012
Như vậy, dữ liệu bảng trong mô hình có thời gian T = 6 (năm) và N = 63 (tỉnh/thành), tổng cộng có 378 quan sát
Tác giả tổng hợp bảng phương pháp đo lường các biến và nguồn dữ liệu như sau:
Trang 26Bảng 3.1: Mô tả phương pháp đo lường các biến và nguồn dữ liệu
LnGDPpc it Giá trị logarit (Tổng sản phẩm quốc nội
của tỉnh i) / (Dân số tỉnh i) tại thời điểm t
(tính theo giá so sánh 1994 để loại bỏ ảnh hưởng của yếu tố lạm phát)
Niên giám Thống kê
G_inc it Gini tính theo thu nhập (%) VHLSS
G_exp it Gini tính theo chi tiêu (%) VHLSS
EDU it Số năm đi học trung bình của các thành
viên hộ từ 15 tuổi trở lên (năm đi học)
VHLSS
POV it Tỷ lệ nghèo (%) = [(Số người (hoặc hộ) có
thu nhập (chi tiêu) bình quân đầu người thấp hơn chuẩn nghèo) / (Tổng số người (hoặc hộ) được nghiên cứu)] x 100
VHLSS
LAB it Tỷ lệ lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên
trên tổng dân số (%)
Niên giám Thống kê
URB it Tỷ lệ dân số thành thị trung bình trên tổng
dân số trung bình (%)
Niên giám Thống kê
Nguồn: Tổng hợp của tác giả từ TCTK
Tăng trưởng thu nhập: Căn cứ trên cơ sở lý thuyết về tổng sản phẩm trong nước, tác giả sử
dụng GDP thực bình quân đầu người để đo lường tăng trưởng thu nhập Dựa trên kiểm định phân phối chuẩn, tác giả sử dụng lôgarít của GDP thực bình quân đầu người nhằm khắc phục vấn đề phân phối xác suất bị lệch
Bất bình đẳng trong thu nhập: Đo lường bằng hệ số Gini tính theo thu nhập Tác giả lọc số
liệu thu nhập từ bộ dữ liệu VHLSS các năm 2002, 2004, 2006, 2008, 2010 và 2012
Theo TCTK, thu nhập của hộ là toàn bộ số tiền và giá trị hiện vật quy thành tiền sau khi đã trừ chi phí sản xuất mà hộ và các thành viên của hộ nhận được trong một thời gian nhất định, thường là 1 năm Thu nhập của hộ bao gồm: Thu nhập từ tiền công, tiền lương; Thu nhập từ sản xuất nông, lâm nghiệp, thuỷ sản (sau khi đã trừ chi phí và thuế sản xuất); Thu nhập từ sản xuất ngành nghề phi nông, lâm nghiệp, thuỷ sản (sau khi đã trừ chi phí và thuế sản xuất); Thu khác được tính vào thu nhập như thu cho biếu, mừng, lãi tiết kiệm…
Các khoản thu không tính vào thu nhập gồm rút tiền tiết kiệm, thu nợ, bán tài sản, vay nợ, tạm ứng và các khoản chuyển nhượng vốn nhận được do liên doanh, liên kết trong sản xuất kinh doanh…
Trang 27Tính bằng phần mềm trực tuyến trên website: http://www.wessa.net/co.wasp
Bất bình đẳng trong chi tiêu: Đo lường bằng hệ số Gini tính theo chi tiêu Tác giả lọc số
liệu chi tiêu từ bộ dữ liệu VHLSS các năm 2002, 2004, 2006, 2008, 2010 và 2012
Theo TCTK, các khoản chi tiêu gồm: Lương thực, thực phẩm, đồ uống, hút; Quần áo và giày dép; Nhà ở, điện, ga, nước và nhiên liệu khác; Đồ đạc, thiết bị gia đình và bảo dưỡng thông thường; Y tế; Vận tải; Truyền thông; Giải trí và văn hoá; Giáo dục; Nhà hàng và khách sạn; Chi khác cho tiêu dùng Chi khác tính vào chi tiêu: tổng số tiền chi tiêu cho lệ phí, dịch vụ hành chính pháp lý cho đời sống; đóng góp các loại quỹ; thuế các loại (trừ thuế sản xuất); tiền đóng góp lao động công ích, nghĩa vụ; cưới hỏi của hộ; ma chay, tế lễ của hộ; tổ chức tiệc, chiêu đãi; cho, biếu, mừng giúp, phúng viếng, góp giỗ hộ khác
Chi tiêu của hộ dân cư trong kỳ không bao gồm chi phí sản xuất kinh doanh, thuế sản xuất kinh doanh, gửi tiết kiệm, cho vay, trả nợ, hoàn tạm ứng… và những khoản chi tương tự Tính bằng phần mềm trực tuyến trên website: http://www.wessa.net/co.wasp Theo đó, Gini thu nhập và chi tiêu được tính theo công thức:
(
̅) ∑ ((
) )
Trình độ học vấn: Đo lường bằng số năm đi học trung bình của các thành viên hộ từ 15 tuổi
trở lên Căn cứ vào bảng chuyển đổi lớp của các hệ thống giáo dục phổ thông của TCTK năm 2012, tác giả tổng hợp lại bảng chuyển đổi lớp hệ thống giáo dục phổ thông cả nước từ năm 1989 đến nay như sau:
Trang 28Bảng 3.2: Chuyển đổi lớp hệ thống giáo dục phổ thông
Cấp Trung học cơ sở
Lớp 6 phổ thông
4
Lớp 7 phổ thông Lớp 8 phổ thông Lớp 9 phổ thông
Cấp Trung học phổ thông
Lớp 10 phổ thông
3 Lớp 11 phổ thông
Lớp 12 phổ thông
Nguồn: Tổng hợp của tác giả
Về thời gian đào tạo giáo dục nghề nghiệp theo Luật Giáo dục Việt Nam như sau:
“Giáo dục nghề nghiệp bao gồm: 1 Trung cấp chuyên nghiệp được thực hiện từ ba đến bốn năm học đối với người có bằng tốt nghiệp trung học cơ sở, từ một đến hai năm học đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông; 2 Dạy nghề được thực hiện dưới một năm đối với đào tạo nghề trình độ sơ cấp, từ một đến ba năm đối với đào tạo nghề trình độ trung
Bảng 3.3: Chuyển đổi lớp của giáo dục nghề nghiệp Loại hình đào tạo
Thời gian đào tạo khi có bằng
(năm) Trung học cơ sở Trung học phổ thông
Nguồn: Tổng hợp của tác giả
Trang 29Về thời gian đào tạo giáo dục đại học theo Luật Giáo dục Việt Nam như sau:
“Giáo dục đại học bao gồm:
1 Đào tạo trình độ cao đẳng được thực hiện từ hai đến ba năm học tùy theo ngành nghề đào tạo đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc bằng tốt nghiệp trung cấp; từ một năm rưỡi đến hai năm học đối với người có bằng tốt nghiệp trung cấp cùng chuyên ngành;
2 Đào tạo trình độ đại học được thực hiện từ bốn đến sáu năm học tùy theo ngành nghề đào tạo đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc bằng tốt nghiệp trung cấp; từ hai năm rưỡi đến bốn năm học đối với người có bằng tốt nghiệp trung cấp cùng chuyên ngành; từ một năm rưỡi đến hai năm học đối với người có bằng tốt nghiệp cao đẳng cùng chuyên ngành;
3 Đào tạo trình độ thạc sĩ được thực hiện từ một đến hai năm học đối với người có bằng tốt nghiệp đại học;
4 Đào tạo trình độ tiến sĩ được thực hiện trong bốn năm học đối với người có bằng tốt nghiệp đại học, từ hai đến ba năm học đối với người có bằng thạc sĩ Trong trường hợp đặc biệt, thời gian đào tạo trình độ tiến sĩ có thể được kéo dài theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo
Thủ tướng Chính phủ quy định cụ thể việc đào tạo trình độ tương đương với trình độ thạc sĩ, trình độ tiến sĩ ở một số ngành chuyên môn đặc biệt” (Điều 38, bộ Luật Giáo dục năm 2005)
Bảng 3.4: Chuyển đổi lớp của giáo dục đại học Loại hình đào tạo Thời gian đào tạo giáo dục đại học
Trang 30Số năm đi học được tình bằng cách cộng dồn tất cả thời gian đã đi học của thành viên hộ gia đình theo giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học
Tỷ lệ nghèo: Dựa trên tính sẵn có của dữ liệu, tác giả sử dụng tỷ lệ hộ nghèo từ Kết quả số
liệu tổng hợp về khảo sát mức sống hộ gia đình năm 2002, 2004, 2006, 2008, 2010 và 2012 của TCTK Trong đó, tỷ lệ hộ nghèo được tính theo thu nhập ở Mục 9: Tham gia các chương trình xóa đói giảm nghèo, đề mục 9.3: Tỷ lệ hộ nghèo chia theo tỉnh/thành phố
Lực lượng lao động: Tác giả thu thập dữ liệu từ TCTK, mục Dân số và Lao động Trong đó,
tác giả sử dụng số liệu Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên phân theo địa phương; Dân số trung bình phân theo địa phương
Đô thị hóa: Tác giả thu thập dữ liệu từ TCTK, mục Dân số và Lao động Trong đó, tác giả
sử dụng số liệu Dân số thành thị trung bình phân theo địa phương; Dân số trung bình phân theo địa phương Thông tin các biến lấy từ bộ VHLSS các năm được tóm tắt như sau:
Bảng 3.5:Thông tin các biến được trích lọc từ các bộ dữ liệu VHLSS 2002, 2004, 2006,
Ho1 (thunhap)
Ttchung (thunhap)
Ho15 (thunhap)
Ho13 (thunhap)
Ho13 (thunhap)
G_exp Bất bình đẳng
tính theo chi
tiêu
Tongcong (t37)
Ho1 (chitieu)
Ttchung (chitieu)
Ho15 (chitieu)
M5a1ct M5a2ct M5b1ct M5b2ct M5b3ct M6c7 M7c23 M3ct M2act
M5a1ct M5a2ct M5b1ct M5b2ct M5b3ct M5ct M6c7 M7c27 M3ct M2act
EDU Số năm đi
học trung
bình
M1c5 M2c1 M2c3
M1ac5 M2c1 M2c6
M1ac5 M2ac1 M2ac8
M1ac5 M2ac1 M2ac8
M1ac5 M2ac1 M2ac6
M1ac5 M2ac1 M2ac6
Nguồn: Tổng hợp của tác giả từ VHLSS 2002, 2004, 2006, 2008, 2010 và 2012
Trang 313.2 Mô hình nghiên cứu
Dựa trên cơ sở lý thuyết chữ U ngược của Kuznets (1955), bất bình đẳng tác động đến thu nhập theo đường cong – hình chữ U ngược, tác giả sử dụng hệ số Gini và Gini bình phương trong mô hình để đo lường bất bình đẳng và xem xét liệu có tồn tại tác động phi tuyến của bất bình đẳng lên tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người hay không
Trong phạm vi các nghiên cứu trước mà tác giả tìm được về mối quan hệ giữa bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng ở Việt Nam, như nghiên cứu của Lê Quốc Hội (2008), Phạm Ngọc Toàn và Hoàng Thanh Nghị (2012), gần đây là Hoàng Thủy Yến (2015), tác giả nhận thấy ngoài nghiên cứu của Lê Quốc Hội (2008) sử dụng bất bình đẳng đo lường bằng hệ số Gini theo chi tiêu (chỉ nghiên cứu cho giai đoạn từ 1996 - 2004), hầu hết các nghiên cứu trước chỉ xem xét mối quan hệ giữa bất bình đẳng trong thu nhập và tăng trưởng Theo WB,
số liệu chi tiêu sẽ đo lường mức sống tốt hơn số liệu thu nhập Vì vậy, trong bài viết này tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu trong đó sử dụng hệ số Gini tính theo thu nhập lẫn chi tiêu nhằm xem xét tác động của bất bình đẳng đến tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người ở Việt Nam
Và kế thừa nghiên cứu của Lê Quốc Hội (2008) trong bài nghiên cứu Mối quan hệ giữa
tăng trưởng, nghèo đói và bất bình đẳng ở Việt Nam:
GROWTH = β1 + β2INEQ + β3POV + βiXi + ε
Trong đó: GROWTH là tỷ lệ tăng trưởng GDP, INEQ là hệ số Gini chi tiêu, POV là tỷ
lệ hộ nghèo, Xi gồm có số năm đi học trung bình của dân số trưởng thành, GDP bình quân đầu người và tỷ lệ trung bình của đầu tư trên GDP
Căn cứ vào cơ sở lý thuyết, các nghiên cứu trước và tính sẵn có của dữ liệu, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu sau:
LnGDPpc = f(G, EDU, POV, LAB, URB)
Mô hình 1: Mô hình sử dụng hệ số Gini tính theo thu nhập
LnGDPpc it = β 1 + β 2 G_inc it + β 3 G_inc 2 it + β 4 EDU it + β 5 POV it + β 6 LAB it + β 7 URB it + µ
Trang 32Mô hình 2: Mô hình sử dụng hệ số Gini tính theo chi tiêu
LnGDPpc it = β 1 + β 2 G_exp it + β 3 G_exp 2 it + β 4 EDU it + β 5 POV it + β 6 LAB it + β 7 URB it + µ
Trong đó: i là các tỉnh/thành phố; t là thời gian; LnGDPpc là biến đại diện cho tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người; G_inc và G_exp là biến đại diện cho bất bình đẳng (tính theo thu nhập và chi tiêu); G_inc2 và G_exp2 để xem xét liệu có mối quan hệ phi tuyến của bất bình đẳng với tăng trưởng hay không; EDU là biến đại diện cho giáo dục (%); POV
là tỷ lệ hộ nghèo (%); LAB là biến đại diện cho lao động (%); URB là là biến đại diện cho
đô thị hóa (%); µ là sai số trong mô hình
Dựa trên các lý thuyết kinh tế và kết quả các nghiên cứu trước, tác giả đặt giả thuyết cho các biến độc lập trong mô hình như sau: