Tỷ giá và chính sách tỷ giá ở việt nam hiện nay
Trang 1
A.Mở Đầu :tính cấp thiết của đề tài
Lời mở đầu
Tỷ giá là một biến số kinh tế vĩ mô quan trọng có tác động tới nhiều mặt hoạt động của nền kinh tế Nó ra đời từ hoạt động ngoại thương và quay trở lại tác động lên hoạt động xuất nhập khẩu và cán cân thương mại cán cân thanh toán của mỗi quốc gia Xây dựng thành công một chính sách điều hành tỷ giá thích hợp là một vấn đề vô cùng khó khăn phức tạp Nghiên cứu vấn đề này là một đề tài mang tính cấp thiết trong thời gian gần đây
Trong điều kiện nền kinh tế thế giới ngày nay, khi mà quá trình toàn cầu hoá và khu vực hoá đã trở thành một trong những xu thế phát triển chủ yếu của quan hệ kinh tế quốc tế hiện đại Những tiến bộ nhanh chóng về khoa học kỹ thuật cùng với vai trò ngày càng tăng của các công ty đa quốc gia đã thúc đẩy mạnh mẽ quá trình chuyên môn hoá cao độ Trong bối cảnh
đó, việc quản lý nền kinh tế của một nước không thể quyết định một cách biệt lập, và Việt Nam không phải một ngoại lệ
Thực trạng điều hành tỷ giá ở Việt Nam thời gian qua là một nội dung quan trọng Khái quát sự đổi mới hệ thống tài chính trên lĩnh vực tỷ giá nhằm làm sáng tỏ những ưu nhược điểm để từ đó có những điều chỉnh thích hợp
Góp phần vào những nghiên cứu, phân tích, trong bài tiểu luận này chúng em cũng xin được trình bày về một vấn đề đa dạng, phức tạp và cũng
vô cùng quan trọng này thông qua đề tài: “Tỷ giá và chính sách tỷ giá ở
Việt Nam hiện nay “ Với kiến thức còn nhiều thiếu sót, cơ sở số liệu thống
kê không đầy đủ và tính phức tạp của đề tài nên trong bài viết không tránh khỏi khiếm khuyết rất mong được sự góp ý của thầy giáo và các bạn
Trang 2B.Nội dung:
I Một số vấn đề chung về tỷ giá:
1.Tổng quan về tỷ giá:
a.Khái niệm tỷ giá: Tỷ giá là giá cả một đơn vị tiền tệ của một nước tính
bằng tiền tệ của nước khác, hay là quan hệ so sánh về mặt giá cả giữa hai đồng tiền
b.Biểu diễn và niêm yết tỷ giá: Trong tỷ giá có hai đồng tiền, một đồng tiền
đóng vai trò đồng tiền yết giá, còn đồng kia đóng vai trò là đồng định giá Đồng tiền yết giá là đồng tiền có số đơn vị cố đinh và bằng 1 đơn vị
Đồng tiền định giá là đồng tiền có số đơn vị thay đổi, phụ thuộc vào quan hệ cung cầu trên thị trường ngoại hối Ví dụ 1USD =19000 VND thì USD là đồng tiền yết giá và VND là đồng tiền định giá
Theo tập quán kinh doanh ngoại tệ, tỷ giá thường được yết giá theo hai phương pháp:
+ phương pháp yết tỷ giá trực tiếp: Là khi nhìn vào tỷ giá biết ngay được giá trị 1 đơn vị đồng nội tệ bằng bao nhiêu số lượng ngoại tệ Ví dụ tại Anh: 1GBP = 1,5000 USD
+ phương pháp yết giá gián tiếp: khi nhìn vào tỷ giá chưa biết được ngay 1 đơn vị nội tệ so với ngoại tệ là bao nhiêu, ngoại tệ làm đơn vị so sánh với số lượng nội tệ Vi dụ Tại ngân hàng sacombank: 1USD= 19000 VND
c Phân loại tỷ giá : Các nhà kinh tế thường đề cập đến hai loại tỷ giá là tỷ
giá danh nghĩa và tỷ giá thực tế
Tỷ giá danh nghĩa :là mức giá thị trường của môt đồng tiền tính bằng đồng tiền khác vào một thời điểm nhất định Tỷ giá này thường được công bố hàng ngày trên các phương tiện thông tin đại chúng, do ngân hàng nhà nước công bố Tỷ giá danh nghĩa không phản ánh tương quan thực sự giữa các đồng tiền do sự tác động của giá cả, lạm phát và các nhân tố khác
Tỷ giá thực tế: là tỷ giá phản ánh tương quan sức mua giữa hai đồng tiền,
là tỷ giá danh nghĩa có tính đến yếu tố lạm phát
2 Các nhân tố ảnh hưởng và tác động của tỷ giá:
a Các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá:
* Nhân tố tác động động ngắn hạn: 1 Mức chênh lệch về lãi suất giữa các nước
Lãi xuất là giá của tiền tệ; lãi xuất tăng, đồng tiền lên giá (tỷ giá có thể giảm), lãi xuất giảm,đồng tiền xuống giá (tỷ giá có thể tăng) Nước nào có lãi suất tiền gửi ngắn hạn cao hơn lãi suất tiền gửi của các nước khác thì vốn
Trang 3ngắn hạn sẽ chảy vào nhằm thu phần chênh lệch do tiền lãi tạo ra, do đó sẽ làm cho cung ngoại tệ tăng lên, làm cho tỷ giá sẽ giảm xuống
Khi lựa chọn nắm giữ đồng tiền nội tệ và đồng ngoại tệ (cụ thể là USD), người ta sẽ xem xét mức lãi suất thực tế của 2 đồng tiền này Khi lãi suất của VND cao hơn lãi suất của USD (lãi suất thực), người ta sẽ
có xu hướng chuyển từ nắm giữ USD sang nắm giữ VND Điều này làm cho nhu cầu VND tăng lên, cầu về USD giảm đi, từ đó giá USD sẽ giảm đi so với VND, hay tỷ giá giảm tới một mức tỷ giá mới mà cung cầu USD-VND trở nên cân bằng Khi đó, lãi suất thực tế của VND và USD tương đương nhau
Khi có ảnh hưởng của lạm phát, mặc dù lãi suất danh nghĩa tăng, nhưng lãi suất thực tế giảm, lúc này ngược lai- VND sẽ giảm giá so với USD, dẫn tới tỷ giá tăng
Ngược lại, khi đồng USD tăng giá, để tạo cân bằng trên thị trường ngoại hối, NHTW sẽ chủ động tăng lãi suất đồng nội tệ(VND) thông qua đẩy mạnh lượng cung ngoại tệ ra nền kinh tế đồng thời hút bớt đồng nội tệ về Điều này làm cho cung cầu ngoại hối trở nên cân bằng
2 Các nhà kinh doanh cần dự đoán chính xác về các biến kinh tế nhằm
có những bước đi đúng đắn Vậy việc dự đoán như vậy có ảnh hưởng gì tới
tỷ giá không?
Nếu một nhân tố nào đó làm cho tỷ giá tương lai dự tính của nội tệ(VND) sụt xuống thì làm cho mức tăng giá dự tính của VND giảm xuống và như vậy làm cho mức tămg giá dự tính của đôla tăng lên Kết quả là một khoản lợi tức dự tính cao hơn về tiền gửi đôla, và dẫn tới việc giảm xuống của tỷ giá Ngựơc lại, một sự tăng lên của tỷ giá tương lai dự tính sẽ làm cho đồng nội tệ tăng giá
Nếu lãi suất danh nghĩa tăng do lạm phát tăng trong khi lãi suất thực tế không đổi thì mức tăng giá dự tính của VND giảm xuống (mức tăng giá của USD cao hơn) Kết quả là, với một tỷ giá đã cho bất kỳ lợi tức dự tính về tiền gửi nước ngoài tăng nhiều hơn lợi tức dự tính trong nước, như vậy tỷ giá
sẽ giảm
Nếu lãi suất danh nghĩa dự tính tăng do lãi suất thực tế tăng trong khi lạm phát dự tính không đổi thì đồng nội tệ sẽ tăng
Trang 43 Ảnh hưởng của những cú sốc về kinh tế, chính trị
Kinh tế và chính trị có mối quan hệ mật thiết với nhau, tác động lẫn nhau Nếu như trong nước xảy ra khủng hoảng chính trị thì sẽ làm đồng nội tệ sụt gía do người dân mất niềm tin vào chính phủ Nếu nền kinh tế bị suy thoái thì cung ngoại tệ giảm dẫn tới sự thiếu hụt đồng ngoại tệ và điều tất yếu là đồng ngoại tệ lên giá( hay đồng nội tệ mất giá) Trong trường hợp nền kinh
tế tăng trưởng cũng tác động tương tự tới tỷ giá, khi đó chi tiêu của thi trường trong nước tăng lên, cung ngoại tệ tăng lên và điều này làm đồng nội
tệ tụt giá
Khi xảy ra thiên tai, hạn hán bão lũ, mất mùa, chiến tranh…thì nhu cầu
về ngoại ngoại hối bất thường tăng lên làm cung làm đòng ngoại tệ tăng giá
4 Thị trường ngoại hối cũng giống như nhiều thị trường khác, ngân hàng Trung Ương có thể và đã can thiệp vào thường xuyên vào thị trường Các NHTW cố gắng ảnh hưởng đến tỷ giá của nước mình bằng cách mua và bán các đồng tiền
Nếu NHTW làm thay đổi cơ số tiền: bán đồng tiền trong nước mua tài sản nước ngoài làm cung tiền tệ tăng dẫn đến mức giả cả trong nước cao hơn
và tỷ giá tương lai dự tính thấp hơn Ngược lại, nếu NHTW bán tài sản nước ngoài mua nội tệ thì đồng tiền trong nước tăng
Phương pháp lãi suất chiết khấu: Đây là phương pháp thường được sử dụng để điều chỉnh tỷ giá hối đoái trên thị rường Với phương pháp này, khi
tỷ giá hối đoái đạt đến mức "báo động" cần phải can thiệp thì ngân hàng trungương nâng cao lãi suất chiết khấu Do lãi suất chiết khấu tăng, lãi suất cho vay trên thị trường cũng tăng lên kết quả là vốn vay ngắn hạn trên thị trường thế giới sẽ dồn vào để thu lãi cao hơn Nhờ thế mà sự căng thẳng về nhu cầu ngoại tệ sẽ bớt đi, tỷ giá hối đoái không có cơ hội để tăng nữa
Các nước thường sử dụng quỹ dự trữ bình ổn hối đoái như là một trong những công cụ để điều chỉnh tỷ giá hối đoái Nguồn vốn để hình thành quỹ thường là:
+ Phát hành trái khoán kho bạc bằng tiền quốc gia
+ Sử dụng vàng để lập quỹ dự trữ bình ổn hối đoái Theo phương pháp này, khi cán cân thanh toán quốc tế bị thâm hụt, quỹ sẽ đưa vàng ra bán thu ngoại tệ về để cân bằng cán cân thanh toán
Trang 5Phá giá đồng tiền là việc nâng cao hoặc làm hạ thấp sức mua của đồng tiền đối với các ngoại tệ Kết quả của phá giá đồng tiền sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ giá hối đoái Trên thế giới, việc phá giá đồng tiền thường được sử dụng ở những nước có tiềm lực kinh tế dồi dào, nhưng phải đối đầu với suy thoái kinh tế đi đôi với lạm phát trầm trọng
*Nhân tố tác động trong dài hạn:
Những nhân tố tác động đến cán cân vãng lai qua đó tác động đến xu hướng biến động của tỷ giá trong dài hạn chính là cán cân bộ phận thuộc
CA(current account).Các nhân tố chính ảnh hưởng đến từng cán cân bộ phận, qua tác động đến tỷ giá trong dài hạn bao gồm:
+) Cán cân thương mại và dịch vụ: Với các nhân tố khác không đổi, cán cân thương mại và cán cân dịch vụ chịu ảnh hưởng bởi: tương quan lạm phát giữa hai đồng tiền , thu nhập của người cư trú và người không cư trú, thuế quan và hạn ngạch, tâm lý của người dân
Tương quan lạm phát giữa hai đồng tiền :Nếu như mức độ lạm phát giữa hai nước khác nhau, trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, dẫn đến giá cả của hai nước sẽ có những biến động khác nhau, làm cho ngang giá sức mua của hai đồng tiền bị phá vỡ, khi đó sẽ làm thay đổi tỷ giá Vì tỷ lệ lạm phát thường ít thay đổi trong ngắn hạn, chỉ thay đổi từ từ trong dài hạn, vì vậy tương quan lạm phát giữa hai đồng tiền quyết định xu hướng vận động của tỷ giá trong dài hạn
Thu nhập của người cư trú và người không cư trú: nếu thu nhập của người cư trú tăng tương đối so với người không cư trú, kích thích tăng nhập khẩu dòng, làm tăng cầu nội tệ khiến tỷ giá tăng, tức nội tệ giảm giá Nếu thu nhập của người không cư trú tăng tương đối so với người cư trú, kích thích tăng xuất khẩu dòng,làm tăng cung ngoại tệ, khiến tỷ giá giảm Thuế quan và hạn ngạch:
Nếu là trong nước : một quốc gia tăng thuế quan hoặc áp dụng hạn ngạch đối với hàng nhập khẩu, làm giảm cầu ngoại tệ , tác dụng làm tỷ giá giảm Nếu quốc gia đó giảm mức thếu quan hoặc dỡ bỏ hạn ngạch đối với hàng nhập khẩu , tăng cầu ngoại tệ tỷ giá tăng
Nếu là ở nước ngoài : Phía nước ngoài tăng mức thuế quan hoặc áp dụng hạn ngạch đối với hàng nhập khẩu, làm giả cung ngoại tệ, làm cho tỷ giá tăng Nếu phía nước ngoài giảm mức thuế quan và dỡ vỏ hạn ngạch đối với hàng nhập khẩu làm tăng cung ngoại tệ làm ho tỷ giá giảm Tâm lý ưa thích hàng ngoại: Chừng nào người dân một nước còn ưa thích hàng ngoại hơn hàng nôi thì vẫn sẽ kích thích nhập khẩu làm tăng cầu ngoại tệ khiến tỷ giá tăng
Trang 6+) Cán cân chuyển giao vãng lai một chiều : Các nhân tố ảnh hưởng đến như mối quan hệ, lòng từ thiện…Các khoản thu chuyển giao vãng lai một chiều từ người không cư trú được ghi (+) và các khoản chi cho người không
cư trú đực ghi (-) Nếu cán cân chuyển giao dòng dương(thu>chi) làm tăng cung ngoại tệ trên thị trường ngoại hối, làm cho tỷ giá giảm, Ngược lại cán cân mà âm làm tăng cầu ngoại tệ và tỷ giá tăng
+) Cán cân thu nhập: Nhân tố quyết định đến thu nhập từ người lao động ở nước ngoài đó là số lượng mức lương và tỷ lệ tiết kiệm của họ Nhân tố quyết định đến thu ngập từ đầu tư nước ngoài là giá trị đầu tư ở nước ngoài trước đó và tỷ lệ sinh lời của đầu tư Nếu cán cân thu nhập dòng dương, làm tăng cung ngoại tệ trên thị trường ngoại hối,làm tỷ giá giảm.ngược lại cán cân thu nhập dòng âm làm tăng cầu về ngoại tệ làm tỷ giá tăng
b.Tác động của tỷ giá:
Đối với từng quốc gia hay nhóm quốc gia (nếu có sự liên kết
và có đồng tiền chung) thì tỷ giá hối đoái mà họ quan tâm hàng đầu chính là tỷ giá giữa đồng tiền của chính quốc gia
đó ,hay nhóm các quốc gia đó (đòng nội tệ) với các đồng tiền của các quốc gia khác ( các đồng ngoại tệ) Tỷ giá giữ vai trò quan trọng đối với mọi nền kinh tế Sự vận động của nó có tác động sâu sắc mạnh mẽ tới mục tiêu,chính sách kinh tế vĩ
mô của mỗi quốc gia thể hiện trên hai điểm cơ bản sau:
Thứ nhất - TGHĐ và ngoại thương: Tỷ giá giữa đồng nội tệ
và ngoại tệ là quan trọng đối với mỗi quốc gia vì trước tiên
nó tác động trực tiếp tới giá cả hàng hoá xuất nhập khẩu của chính quốc gia đó Khi đồng tiền của một quốc
gia tăng giá (Tăng trị giá so với đồng tiền khác)thì hàng hoá nước đó ở nước ngoài trở thành đắt hơn và hàng hoá nước ngoài tại nước đó trở nên rẻ hơn.Ngược lại khi đồng tiền một nước sụt giá,hàng hoá của nước đó tại nước ngoài trở nên rẻ hởn trong khi hàng hoá nước ngoài tại nước đó trở nên đắt hơn(các yếu tố khác không đổi) Tỷ giá tác động đến hoạt động xuất nhập khẩu vì vậy nó tác động tới cán cân thanh toán quốc tế,gây ra thâm hụt hoặc thặng dư cán cân
Thứ hai - TGHĐ và sản lượng, công ăn việc làm, lạm phát:
Tỷ giá hối đoái không chỉ quan trọng là vì tác động đến ngoại thương, mà thông qua đó tỷ giá sẽ có tác động đến các khía cạnh khác của nền kinh tế như mặt bằng giá cả trong nước,
Trang 7lạm phát khả năng sản xuất, công ăn việc làm hay thất
nghiệp…
Với mức tỷ giá hối đoái 1USD =10500VND của năm 1994 thấp hơn mức 1USD = 13500VND của năm 1998, tức tiền Việ Nam sụt giá và nếu giả định mặt bằng giá thế giới không đổi ,thì không chỉ có xe con khi nhập khẩu tính thành tiền Việt Nam tăng giá mà còn làm tất cả các sản phẩm nhập khẩu đều rơi vào tình trạng tương tự và trong đó có cả
nguyên vật liệu ,máy móc cho sản xuất Nếu các yếu tố khác trong nền kinh tế là không đổi,thì điều này tất yếu sẽ làm mặt bằng giá cả trong nước tăng lên Nếu tỷ giá hối đoái tiếp tục có sự gia tăng liên tục qua các năm (đồng nội tệ Việt Nam liên tục mất giá) có nghĩa lạm phát đã tăng Nhưng bên cạnh đó, đối với lĩnh vực sản xuất chủ yếu dựa trên nguồn lực trong nước, thì sự tăng giá của hàng nhập khẩu sẽ giúp tăng khả năng cạnh tranh cho các lĩnh vực này, giúp phát triển sản xuất và từ đó có thể tạo thêm công ăn việc làm, giảm thất nghiệp, sản lượng quốc gia có thể tăng lên Ngược lại, nếu các yếu tố khác không đổi thì lạm phát sẽ giảm, khả năng cạnh tranh của các lĩnh vực trong nước cũng có xu hướng giảm, sản lượng quốc gia có thể giảm, thất nghiệp của nền kinh tế có thể tăng lên… nếu tỷ gá hối đoái giảm xuống (USD giảm giá hay VND tăng giá)
Khi tỷ giá giảm, tức giá trị đồng nội tệ giảm nên giá cả hàng hoá xuất khẩu tính bằng tiền nước ngoài giảm , sức cạnh tranh của hàng hoá đó trên thị trường thế giới sẽ tăng lên có tác dụng đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá Đồng thời với việc
tỷ giá giảm làm cho giá hàng hoá nhập khẩu tăng lên dẫn đến hạn chế nhập khẩu Ngược lại khi tỷ giá tăng, nghĩa là giá trị đồng nội tệ tăng thì có tác động giảm xuất khẩu và tăng nhập khẩu hàng hoá
Tỷ giá thay đổi cũng có tác động điều tiết việc di chuyển tư bản (vốn) từ
quốc gia này sang quốc gia khác Việc di chuyển tư bản trên thế giới nhằm mục đích kiếm lời nhuận và tránh rủi ro Do
đó, nếu tỷ giá giảm trong
trường hợp người ta dự đoán tỷ giá không tiếp tục giảm nữa thì tư bản nhập
khẩu sẽ gia tăng và tư bản xuất khẩu sẽ giảm
Trang 8Ngoài các nhân tố khác, vật giá trong một quốc gia còn chịu
sự tác động
của tỷ giá hối đoái Khi tỷ giá giảm ,giá tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng nhập khẩu tăng lên kéo theo giá cả các mặt hàng trong nước có liên quan cũng tăng theo Đồng thời do tác động giảm nhập khẩu nên cầu về các hàng hoá nhập khẩu cũng sẽ gia tăng, tất điều đó làm cho giá cả chung trong nền kinh tế cũng gia tăng Ngược lại, khi tỷ giá tăng sẽ
có tác động làm cho mức giá chung giảm
II Thực trạng tỷ giá ở Việt Nam trong thời gian qua:
I THỰC TRẠNG
Năm 2009 có thể coi là năm “tiền tệ” tại Việt Nam Tỷ giá USD/VND tăng mạnh, nhập siêu cao, lạm phát đứng trước áp lực tăng trở lại vào năm 2010, khan hiếm cục bộ USD, giá vàng sốt nóng, lãi suất ngân hàng lên kịch trần…
Tỷ giá chính thức giữa USD và VND trong năm 2009 đã trải qua hai lần điều chỉnh, một lần vào tháng 3 (+2%) do tăng biên độ giao dịch từ 3% lên 5% và lần gần nhất là vào tháng 11 (+3,4%) Mặc dù sau mỗi lần điều chỉnh,
tỷ giá chính thức đều lên kịch trần nhưng tỷ giá trên thị trường không chính thức (tỷ giá thị trường tự do) vẫn luôn nằm ngoài biên độ cho phép của Ngân hàng Nhà nước.Trên thực tế, điều này đã xảy ra từ đầu năm tới nay, cho thấy
thị trường ngoại hối luôn căng thẳng(theo dõi biểu đồ dưới).
Trang 9Diễn biến tỷ giá USD/VNĐ 2008-2009
Biểu đồ cho thấy càng về cuối năm tỷ giá càng biến động và mất giá mạnh, thị trường ngoại hối luôn có biểu hiện căng thẳng, đồng thời USD tín dụng thì thừa, USD thương mại thì thiếu Các ngân hàng không có ngoại tệ để bán cho doanh nghiệp và nếu có bán thì mức tỷ giá cũng cao hơn mức tỷ giá trần
do NHNN quy định Những bất ổn trên thị trường ngoại hối và tỷ giá hối đoái đã tiếp tục gây ra những khó khăn cho hoạt động xuất nhập khẩu Hơn nữa, đồng tiền mất giá còn ảnh hưởng đến lạm phát trong nước do giá hàng nhập khẩu tăng mạnh
Để thấy rõ sự biến động của chúng thi so sánh ở ba góc độ của thị trường là thị trường liên ngân hàng, thị trường tự do, tỷ giá bình quân liên ngân hàng trong 4 giai đoạn
tháng 1 - tháng 3;
tháng 4 - tháng 9;
Trang 10tháng 10 - ngày 24/11
và từ 25/11 đến hết năm 2009
Đầu tiên, xét trên thị trường liên ngân hàng
Ở giai đoạn 1, tỷ giá dao động trong khoảng 17.450 đồng - 17.700 đồng, cách giá trần khoảng từ 0 - 200 điểm (một điểm tương đương một đồng), lúc
đó tính thanh khoản thị trường kém, nguồn cung khan hiếm, ngoại trừ thời điểm thị trường được bổ sung từ doanh thu xuất khẩu vàng Giai đoạn 2, tỷ giá liên ngân hàng sát giá trần của Ngân hàng nhà nước (Ngân hàng Nhà nước) trong khoảng 10 ngày sau khi Ngân hàng Nhà nước tăng biên độ tỷ giá (từ +/- 3% lên +/- 5% vào ngày 23/3/2009) Tuy nhiên đến 9/4, tỷ giá liên ngân hàng tăng mạnh và duy trì biên độ 200 - 600 điểm
Giai đoạn 3, từ cuối tháng 10/2009, tỷ giá tăng mạnh và đến ngày 10/11, cao hơn giá trần 1.000 điểm Biến động tỷ giá rất dữ dội, có ngày tăng 200 - 300 điểm và đạt đỉnh ở mức 19.750 vào 24/11 Chỉ đến khi Ngân hàng Nhà nước cho phép nhập vàng trở lại, tỷ giá ở thị trường này giảm trong 2 ngày nhưng vẫn cao hơn 1.200 - 1.500 điểm so với giá trần Giai đoạn 4, tỷ giá giao dịch liên ngân hàng giảm từ mức cao 19.800 đồng
Ở thị trường tự do, tỷ giá biến động dữ dội hơn rất nhiều.
Giai đoạn 1, chúng dao động trong khoảng 17.450 đồng - 17.800 đồng, cao hơn tỷ giá trên liên ngân hàng trên 100 điểm
Giai đoạn 2, từ 18.180 đồng - 18.250 đồng nhưng từ nửa cuối tháng 6/2009, tăng lên mức 18.450 đồng - 18.500 đồng
Sang giai đoạn 3, tỷ giá thị trường tự do tăng rất nhanh, đạt đỉnh 20.000 đồng rồi giảm nhanh về 18.700 đồng trước khi tăng trở lại và duy trì ở mức 19.000 đồng - 19.300 đồng
Đến giai đoạn 4, tỷ giá thị trường này giảm mạnh
Nếu như tỷ giá hai thị trường trên biến động mạnh thì biến động của tỷ giá bình quân liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước công bố làm cơ
sở cho tỷ giá thị trường biến động rất ít ở giai đoạn 1, chúng biến động
nhỏ và xoay quanh mức 16.980 đồng Giai đoạn 2, sau khi nới biên độ, tỷ giá giảm từ 16.980 đồng xuống 16.935 đồng (- 0,26%) và duy trì đến hết tháng 5/2009 Từ tháng 6/2009, mặc dù Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh tăng dần nhưng mức tăng thấp Giai đoạn 3, nhịp độ tăng của tỷ giá bình