Nghiên cứu tích hợp các nội dung về ứng phó với biến đổi khí hậu trong dạy học hóa học trường phổ thông
Trang 1MỞ ĐẦU
Nhiệm vụ dạy học hóa học trường phổ thông là một trong những nhiệm vụ phát triển tiềm lực trí tuệ cho học sinh, có năng lực sử dụng kiến thức hóa học trong việc giải quyết các vấn đề thực tiễn
Biến đổi khí hậu và những hệ quả của biến đổi khí hậu đang là vấn đề toàn cầu, được các thế hệ, đặc biệt là thế hệ trẻ rất quan tâm
Môn hóa học ở trường phổ thông là một trong những môn học có nhiều điều kiện thuận lợi
để triển khai tích hợp nội dung về ứng phó với biến đổi khí hậu
• Mục đích của đề tài
Mục đích chính của đề tài này là nghiên cứu tích hợp các nội dung về ứng phó với biến đổi khí hậu trong dạy học hóa học trường phổ thông
• Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
• Đối tượng nghiên cứu
Quá trình dạy học hóa học trường phổ thông
• Phạm vi nghiên cứu
Dạy học chương trình hóa học lớp 11 – phần hidrocacbon
• Nhiệm vụ của đề tài
Để thực hiện tốt mục đích đặt ra thì đề tài này phải có những nhiệm vụ sau:
• Nghiên cứu các tài liệu để chỉ ra Cơ sở lý luận của đề tài: Nhiệm vụ dạy học hóa học trường phổ thông và tích hợp các nội dung giáo dục trong dạy học , các văn bản chỉ đạo của ngành giáo dục về vấn đề tích hợp các nội dung về ứng phó với biến đổi khí hậu trong dạy học hóa học
• Nghiên cứu về cơ sở thực tiễn của đề tài: Biến đổi khí hậu toàn cầu – mối quan tâm lớn của thế giới và của Việt Nam
Trang 2• Nghiên cứu chương trình, sách giáo khoa môn Hóa học để chỉ ra mối liên hệ giữa kiến thức hóa học với các vấn đề biến đổi khí hậu.
• Đề xuất giải pháp đưa nội dung ứng phó biến đổi khí hậu vào chương trình dạy học hóa học: Biên soạn tài liệu hỗ trợ dạy hộc hóa học ứng phó biến đổi khí hậu trong nhà trường thông qua môn hóa học, sử dụng tài liệu đó trong dạy học
• Biên soạn tài liệu và các giáo án, tổ chức thử nghiệm
• Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu một cách có hiệu quả đề tài này chúng tôi sử dụng kết hợp các phương phápsau:
• Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Phân tích, tổng hợp tài liệu, mô hình hóa
• Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Quan sát sư phạm, điều tra giáo dục học (phỏng vấn), thực nghiệm
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về việc triển khai tích hợp, lồng ghép giáo dục môi trường trong dạy học hóa học trường phổ thông:
• Giáo dục môi trường cho học sinh THPT trong dạy học hóa học phần hidrocacbon (lớp 11) –khóa luận tốt nghiệp đại học của sinh viên Nguyễn Hải Yến – trường ĐHSP TN (2005) đề cập đến giáo dục môi trường cho học sinh THPT
• Ứng dụng công nghệ thông tin trong thiết kế bài học và tổ chức các hoạt động dạy học hóa học có lồng ghép nội dung giáo dục môi trường nhằm nâng cao hứng thú học tập và nhận thức giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh – Khóa luận tốt nghiệp đại học của sinh viên Trần Thị Duyên – trường ĐHSP TN (2006) đề cập đến vấn đề tổ chức hoạt động dạy học hóa học có lồng ghép nội dung giáo dục môi trường nhằm nâng cao hứng thú học tập và nhận thức giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh
Trang 3• A
Các kết quả nghiên cứu tổng quan cho thấy việc giáo dục môi trường trong dạy học hóa học trường phổ thông đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu về ứng phó với biến đổi khí hậu
trong dạy học hóa học.
vệ môi trường của cộng đồng dân cư
mạnh thực hiện nghị quyết 41/NQ-TW của Bộ Chính trị (Khóa IX) về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước” Chỉ thị đã đánh giá việc thực hiện Nghị quyết 41 sau 4năm về những mặt được và mặt hạn chế, đồng thời nhấn mạnh những hạn chế, yếu kém chưa
Trang 4đạt được cùng với tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu và hội nhập quốc tế đặt ra cho công tác BVMT nhiều thách thức lớn.
việc phê duyệt Đề án “Đưa các nội dung bảo vệ môi trường vào hệ thống giáo dục quốc
dân”
Mục tiêu của đề án là: Giáo dục học sinh, sin viên các cấp học, các trình độ đào tạo trong
hệ thống giáo dục quốc dân, có hiểu biết về pháp luật và chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước về BVMT; có kiến thức về môi trường để tự giác thực hiện BVMT Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ giảng dạy, giáo viên, cán bộ nghiên cứu khoa học công nghệ và cán bộ quản lý
về BVMT Trong những năm qua, Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp các cơ quan có liênquan thực hiện xây dựng chương trình, giáo trình, bài giảng về giáo dục BVMT cho các cấp học
và các trình độ đào tạo; đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên về BVMT; tổ chức chỉ đạo về việcđào tạo đội ngũ cán bộ khoa học và quản lý về lĩnh vực môi trường để đảm bảo nguồn nhân lực cho việc nghiên cứu, quản lý, thực hiện công nghệ BVMT, phát triển bền vững đất nước Đồng thời tăng cường cơ sở vật chất cho việc giảng dạy, học tập nghiên cứu khoa học và chuyển giaocông nghệ và BVMT trong các trương học và thông tin giáo dục về BVMT trong nước, khu vực và trên thế giới
Trang 5•Quyết định số 256/2003/QĐ-TTg ngày 02/12/2003 của Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020
Một trong những quan điểm của Chiến lược nêu rõ: Bảo vệ môi trường là bộ phận cấu thành không thể tách dời của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, là cơ sở quan trọng để phát triển bền vững đất nước Đầ tư bảo vệ môi trường là đầu tư cho phát triển bền vững Trong những giải pháp thực hiện Chiến lược đã nhấn mạnh tới 2 giải pháp liên quan đến Ngành Giáo dục và Đào tạo là:
• Tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức và trách nhiệm BVMT
• Tăng cường năng lực nghiên cứu và phát triển công nghệ về bảo vệ môi trường
•Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình nghị sự 21
của Việt Nam)
Ngày 17/8/2004, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt “Định hướng Chiến lược Phát triển
bền vững ở Việt Nam – Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam” Đây là một chiến lược
khung bao gồm những định hướng lớn làm cơ sở pháp lý để các Bộ, Ngành, địa phương, các tổ chức và cá nhân triển khai thực hiện và phối hợp hành động nhằm đảm bảo phát triển bền vững đất nước trong thế kỷ 21
Chương trình Nghị sự 21 gồm 5 phần chính: Trong đó, phần 4 tập trung vào các vấn đề: (i) chống tình trạng thoái hóa đất, sử dụng hiệu quả và bền vững tài nguyên đất; (ii) Bảo vệ môi trường nước và sử dụng bền vững tài nguyên nước; (iii) Khai thác và sử dụng hợp lý, bền vững tài nguyên khoáng sản; (iv)Bảo vệ môi trường biển, ven biển và hải đảo; (v) Bảo vệ và phát triển rừng: (vi) Giảm ô nhiễm ở các đô thị và khu công nghiệp; (vii) Quản lý chất thải rắn; (viii) Bảo tồn đa dạng sinh học; (ix) Thực hiện các biện pháp làm giảm nhẹ biến đổi khí hậu, phòng
và chống thiên tai
GD&ĐT về việc tăng cường công tác giáo dục BVMT Đặc biệt, các nhiệm vụ trọng tâm đến năm 2010 là việc triển khai thực hiện Đề án ở tất cả các cấp học
Chỉ thị yêu cầu các cấp quản lý giáo dục, các cơ sở giáo dục tập trung chỉ đạo và thực hiện tốt các nhiệm vụ sau:
1 Nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của công tác BVMT và nhiệm vụ giáo dục BVMT
• Thực hiện các mục tiêu giáo dục và đào tạo về BVMT nêu trong Quyết định số TTg của Thủ tướng Chính phủ
Trang 61363/QĐ-• Thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm từ nay đến 2010
• Tổ chức thực hiện được Chỉ thị quy định rõ trách nhiệm của các Vụ trong Bộ GD&ĐT, các Sở, các Đại học, học viện, Viện, trường Đại học, Cao đẳng, Trung cấp chuyên nghiệp
trường học thân thiện, học sinh tích cực” trong các trường phổ thông giai đoạn 2008 – 2013,
với các mục tiêu:
• Huy động sức mạnh tổng hợp các lực lượng trong và ngoài nhà trường để xây dựng môi trường giáo dục an toàn, thân thiện, hiệu quả, phù hợp với điều kiện của địa phương và đáp ứng nhu cầu xã hội
• Phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo của học sinh trong học tập và các hoạt động xãhội một cách phù hợp và hiệu quả
Tất cả các quốc gia đều phải thích ứng với BĐKH, phương pháp thích ứng đều phụ thuộc vào bản chất của những rủi ro đi liền với BĐKH, khả năng phát triển con người, trình độ khoa học công nghệ tổ chức và tiềm lực tài chính… Những chính sách KT-XH nhằm xây dựng năng lực và khả năng chống chịu, khả năng đối phó; những khoản đầu tư vào hệ thống cơ sở hạ tầng phòng chống lụt bão và các cơ chế điều tiết, quản lý các lưu vực – chính là những gì cần thiết để
có thể ứng phó với BĐKH Tuy nhiên quy mô của những đe dọa cũng đem lại những thách thức
cả về chất và lượng
•Công tác thích ứng ở thế giới các nước phát triển
Các cấp chính quyền ở các nước phát triển đều đang vạch ra những chiến lược cho quá trình thích ứng với mục tiêu chung là bảo vệ nhân dân, cơ sở vật chất và hạ tầng kinh tế trước những rủi ro cua BĐKH Sự quan tâm của công chúng ngày càng lớn tới BĐKH là một nhân tố tác động lên chương trình nghị sự của công tác thích
Một nhận thức ở các nước phát triển là các rủi ro của BĐKH ngày cang trở lên trầm trọng Đợt nắng nóng ở Châu Âu năm 2003, bão khủng khiếp ở Nhật Bản năm 2004, cơn bão Katrina tàn phá thành phố New Orleans, cùng với các hiện tượng hạn hán, lũ lụt và nhiệt độ cực đoan xảy ra ở nhiều nước phát triển đã và đang thu hút sự qua tâm của công chúng và là sức ép để Chính phủ phải có những phản ứng tích cực
Trang 7Lĩnh vực bảo hiểm là một yếu tố thúc đẩy thay đổi mạnh mẽ thông qua việc định giá các rủi ro và thị trường này đã tạo ra động cơ cho các cá nhân, công ti và Chính phủ thực hiện các biện pháp giảm thiểu rủi ro bao gồm các biện pháp thích ứng Ở các nước Châu Âu và Hoa Kỳ, lĩnh vực bảo hiểm đã ngày càng quan tâm hơn đến thiệt hại do BĐKH Do đó, ở nhiều nước phát triển ngành bảo hiểm đã trở thành một lực lượng ủng hộ tích cực cho việc tăng cường các khoản đầu tư của Nhà nước vòa cơ sở hạ tầng ứng phó với BĐKH Ví dụ, Hiệp hội các nhà Bảo hiểm Anh đang kêu gọi tăng 50% ngân sách phòng chống lũ lụt Quốc gia đến năm 2012.
Công tác thích ứng ở các nước phát triển đang diễn ra dưới nhiều hình thức Những căn nhànổi ở làng Maasbommel là một ví dụ về chuyển biến hành vi ở cấp độ hộ gia đình Ngành trươt tuyết của Thụy Sĩ đã tìm cách thích ứng bằng cách đầu tư ồ ạt vào các thiết bị làm tuyết nhân tạo Để phủ kín tuyết lên 1 ha sườn dốc cần hơn 3.300 lít nước và phải được chuyên chở đến bằng trực thăng sau đó mới được làm lạnh nhân tạo tiêu tốn nhiều năng lượng Ở Châu Âu các nước Anh, Pháp, Đức đã thiết lập các thể chế cấp độ Quốc gia cho công tác hoạch định quá trình thích ứng Ủy Ban Châu Âu đã kêu gọi các nước thành viên lồng ghép công tác thích ứng vào các chương trình xây dựng cơ sở hạ tầng Với tuổi thọ của cầu, đường, bến, cảng khoảng 80– 100 năm phải tính đến những thay đổi về điều kiện khí hậu trong tương lai Các lĩnh vực nông– lâm – ngư nghiệp thì được ưu tiên hoạch định chiến lược ứng phó Một số ví dụ cụ thể:
Hà Lan: Là một quốc gia có mật độ dân số cao và nằm ở vùng trũng, với hơn ¼ diện tích đất
liền nằm thấp hơn mực nước biển và Hà Lan đang đứng trước nhiều rủi ro của BĐKH Những rủi ro này được kiểm soát nhờ một mạng lưới kênh rạch, bơm thủy lợi và đê điều rộng lớn Hệ thống đê được thiết kế có khả năng chống chịu những rủi ro tồi tệ nhất, ngoài ra còn có các sôngnhư sông Rhine, sông Maas cũng thường trực đe dọa qua lũ lụt Do đó, công tác thích ứng ở Hà Lan đã đầu tư 3 tỷ USD cho công tác phòng ngừa lũ lụt Mục tiêu của ngân sách này là bảo vệ
Hà Lan trước lưu lượng nước sông Rhine lên đến 18.000m3/giây từ 2015 trở đi
Vương quốc Anh: Các chiến lược ứng phó với lũ lụt đang được xây dựng dựa trên kết quả
đánh giá rủi ro do mực nước biển dâng cao và lượng mưa tăng Ngành bảo hiểm ước tính ở Anh
bị ảnh hưởng bởi lũ có thể tăng từ 2 triệu năm 2005 lên 3,5 triệu trong tương lai, nếu hệ thống
cơ sở hạ tầng phòng chống lũ không được cải thiện Cơ quan môi trường đã kêu gọi Chính phủ đầu tư ít nhất 8 tỷ USD để củng cố đập chắn lũ Thames Barrier – một công trình phòng chống lũbằng cơ học để bảo vệ London Hiện nay, hàng năm chính phủ Anh chi ngân sách 1,2 tỷ USD
để chống lũ lụt và xói mòn bờ biển
Nhật Bản: Mối quan tâm vào công tác thích ứng ở Nhật Bản lên đến đỉnh điểm vào năm 2004
khi bị tới 10 cơn bão nhiệt đới đổ bộ vào, gây tổng thiệt hại trên 14 tỷ USD, trong đó khoảng một nửa là được bảo hiểm chi trả Mực nước biển gia tăng trung bình 4-8 mm/năm và Chính
Trang 8phủ Nhật Bản đã lên kế hoạch phòng ngừa cho nước biển dâng cao 1 mét với mức đầu tư 93 tỷ USD.
CHLB Đức: Nhiều vùng rộng lớn ở Đức có nguy cơ bị lũ lụt Các nghiên cứu tại Bang Bavaria
cho thấy, số lượng các đợt lũ nhỏ và vừa tăng lên 40-50% đến năm 2050 và những trận lũ thế kỷ
sẽ tăng lên 15% Bộ Môi Trường của bang này đã bổ sung cho ngân sách khoảng 685 tỷ USD cho công tác ứng phó Sau những đợt lũ năm 2002, 2003 Đức đã phê chuẩn Đạo luật kiểm soát
lũ lụt, trong đó yêu cầu lồng ghép các đánh giá về BĐKH trong các công tác hoạch định vùng lũ
và khu vực dân cư
California: BĐKH ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình cấp nước sinh hoạt cho một số vùng
của California Nhiệt độ mùa đông tăng sẽ làm suy giảm lượng tuyết trên dãy núi Sierra Nevada– vốn có vai trò dự trữ nước ngọt của Bang Sự suy giảm mật độ bao phủ tuyết dự báo khoảng 37% giai đoạn 2035-2064 và lên đến 79% cho giai đoạn 2070-2090 California đang phát triển
hệ thống hồ chứa nước và kênh dẫn nước rộng khắp để duy trì cung cấp nước đến những nơi khô hạn Chính quyền của Bang đã đầu tư 930 triệu USD cho biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng nước ở thành thị và trong nông nghiệp đến năm 2020 Chính phủ Mỹ cũng chi 3 tỷ USD cho phòng chống lũ và ước biển dâng ở vùng thung lũng Trung tâm
Những nước đang phát triển đang phải đối mặt với những nguy cơ lớn hơn từ BĐKH, nó tác động đến mức sống, sinh kế, tăng trưởng kinh tế nói chung và khả năng dễ bị tổn thương củacon người Ở những quốc gia nghèo, công tác thích ứng chủ yếu vẫn là tự lực của mỗi cá nhân
Ví dụ:
hơn để lấy nước sinh hoạt, thường là từ 10 – 15 km một ngày, khiến các em gái không có cơ hộiđến trường và trở thành ghánh nặng cho phụ nữ
sông Hằng đang phải dựng lên những tháp cao bằng tre gọi là machan để lánh nạn khi lũ lụt kéođến Ở Băng-la-đét láng giềng, nhiều người dân đang sống trong những cồn đất gọi là chars có nguy cơ biệt lập vào mùa mưa lũ phải nâng cao hơn mực nước lũ bằng cách di dời chúng lên trên các cột đỡ hay mặt đê
giữ nước hình chữ U, được gọi là albarradas để giữ nước trong những năm có nhiều mưa nhằm
bổ sung cho lượng nước ngầm cạn kiệt vào mùa khô hạn
Trang 9• Ở Nepan: Các cộng đồng dân cư thường bị lũ đe dọa nên buộc họ phải xây dựng các hệ
thống cảnh báo sớm Ví dụ, các tháp canh và đóng góp nhân công, nguyên vật liệu để gia cố các
bờ kè giữ không cho các hố băng bị vỡ
Những người nông dân ở các nước đang phát triển đang phải đối phó với nhiều nguy cơ của BĐKH, đặc biệt với những công nghệ canh tác truyền thống thô sơ Ở Băng-la-đét những phụ nư nông dân đang xây dựng các “khu vườn nổi” Những chiếc bè được kết bằng cây dạ lan hương, trên đó có thể trồng các loại rau ngay ở những vùng lũ Ở Sri-Lanka, những người nông dân đang thử nghiệm với các giống lúa mới có thể chịu được sự nhiễm mặn và khô hạn
BĐKH toàn cầu là một thách thức lớn nhất đối với nhân loại trong thế kỷ 21 Các nhà khoa học thấy rằng, BĐKH đang diễn ra với tốc độ nhanh hơn nhiều so với chúng ta hình dung 10 năm về trước và đã xác định được 5 vấn đề của BĐKH có thể hạn chế và đẩy lùi quá ttrinhf phát triển của con người Đó là:
• Sản xuất nông nghiệp và an ninh lương thực sẽ bị ảnh hưởng thông qua lượng mưa, nhiệt
độ bị biến động;
• Khủng hoảng nước và tình trạng mất an ninh về nước Sự thay đổi hình thể dòng chảy và hiện tượng băng tan sẽ làm tăng thêm áp lực sinh thái, ảnh hưởng xấu tới lưu lượng nước tưới tiêu và sự định cư của con người trong quá trình này;
• Nước biển dâng và nguy thiên tai Sự tan chảy với tốc độ ngày càng cao của các tảng băng có thể làm cho mực nước biển dâng lên nhanh chóng Nếu nhiệt độ Trái đất tăng thêm 3-
40C có thể khiến cho 330 triệu người phải di dời tạm thời hay vĩnh viễn do lũ lụt Hơn 70 triệu người Băng-la-đét, 6 triệu người ở các đồng bằng thấp của Ai Cập và 22 triệu người ở Việt Nam
sẽ bị ảnh hưởng;
• Các hệ sinh thái (HST) và đa dạng sinh học sẽ bị đe dọa BĐKH đang làm thay đổi diện mạo của các HST Khoảng một nửa số hệ san hô trên thế giới bị “bợt trắng” Tính axit ngày càng tăng cao ở các đại dương cũng là mói đe dọa đối với các HST biển về lâu dài;
• Sức khỏe con người bị đe dọa đặc biệt ở những nước đang phát triển vì tỷ lệ người nghèo cao và năng lực của hệ thống y tế công cộng còn hạn chế
Trong cả 5 vấn đề trên, không có một vấn đề nào có cơ chế để có thể áp dụng một cách đơn
lẻ Các cơ chế này có mối quan hệ qua lại với các quá trình vận hành xã hội, kinh tế và sinh tạo
cơ hội cho phát triển con người Rõ ràng, việc kết hợp các cơ chế tác động từ BĐKH đến phát triển con người sẽ khác nhau giữa các nước và trong từng nước
Trang 10• Biến đổi khí hậu ở Việt Nam và tác động tới ngành giáo dục
Theo kết quả nghiên cứu bước đầu của Ngân hàng thế giới (WB) và UNDP (2007) thì Việt Nam là một trong những nước trên thế giới sẽ bị thiệt hại nhiều nhất do tác động của BĐKH ƯỚc tính hàng triệu ha đất bị ngập và hàng triệu người dân có thể bị mất nhà cửa do nước biển dâng Nhiều thành phố ven biển, các danh lam thắng cảnh, các điểm du lịch hấp dẫn có thể bị ảnh hưởng Sản lượng lương thực bị giảm sút lớn, đe dọa đến an ninh lương thực quốc gia, đồngthời để lại nhiều hậu quả nặng nề khác nếu chúng ta không có được nhận thức đầy đủ, không được chuẩn bị cho những tình huống và sẵn sàng cho những hành động ứng phó
Hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm nhiều đối tượng, có số lượng rất đông và thành phần cũng rất khác biệt, từ những cô giáo và các cháu nhỏ những trường mầm non đến các thầy cô giáo và học sinh các cấp như tiểu học, THCS, THPT, giảng viên các trường Cao đẳng, Đại học,
kể cả giáo viên, học sinh các trường Trung cấp chuyên nghiệp, các trường dân tộc nội trú, Trungtâm giáo dục thường xuyên, các trung tâm lao động hướng nghiệp, học viên các Trung tâm giáo dục cộng đồng và đông đảo các nhà quản lý giáo dục từ Bộ GD&ĐT, các Viện nghiên cứu đến các Trung tâm giáo dục, các cán bộ quản lý ở các Sở, các phòng tuyến huyện và ở các trường Qua những tác động của BĐKH đến các hệ sinh thái, lượng mưa, nhiệt độ và thời tiết, hiện tượng nóng lên toàn cầu sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến tất cả các đối tượng Không ai có thể miễn dịch với những hậu quả của hiện tượng này Tuy nhiên, có một số đối tượng dễ bị ảnh hưởng hơn như các cháu ở các trường mầm non, tiểu học rất nhạy cảm với sự thay đổi của thời tiết Ngoài ra các thầy cô giáo và học sinh, sinh viên, các nhà quản lý giáo dục sống tại những vùng sinh thái dễ bị tổn thương, các vùng đất dốc, khô cằn, các vùng ven biển thường xuyên bị lũ lụt
và tại các khu nhà tạm bợ, những học sinh có gia đình nghèo, thường có nguy cơ cao khi phải đối mặt với những rủi ro nảy sinh từ BĐKH Điều đáng lo ngại nhất của BĐKH đối với hệ thống giáo dục quốc dân là tác động của BĐKH đến sức khỏe các đối tượng BĐKH gây ra những tác động hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các yếu tố khác như thực phẩm, nhà ở, các côn trùng, vật chủ mang mầm bệnh Có thể nêu ra 6 tác động của BĐKH toàn cầu đến sức khỏe như:
• Các áp lực về nhiệt (đợt nắng nóng/sóng lạnh);
• Các hiện tượng cực trị và thiên tai (bão, lũ lụt, hạn);
• Ô nhiễm không khí (cát bay vùng ven biển);
• Các bệnh nhiễm khuẩn (sốt rét, sốt xuất huyết);
• Các vấn đề về ô nhiễm nguồn nước;
Trang 11• Những vấn đề liên quan đến lương thực và dinh dưỡng.
Các tác động này có thể là trực tiếp như khí hậu nóng lên làm tăng tác động tiêu cực đối với sức khỏe các đối tượng Thời tiết cực đoan dẫn đến gia tăng một số nguy cơ đối với các đối tượng có tuổi, các cháu bậc mầm non, các thầy cô, các cán bộ quản lý giáo dục mắc bệnh tim mạch Khí hậu nóng lên làm thay đổi cấu trúc mùa hàng năm Mùa đông ở miền Bắc sẽ ấm dần lên dẫn tới thay đổi đặc tính trong nhịp sinh học của các thầy cô và học sinh, sinh viên Sự tăng tần suất thiên tai như bão, nước dâng do bão, gió mạnh, mưa lớn đe dọa cơ sở vật chất trường sở,đời sống của nhiều đối tượng trên nhiều vùng nhất là vùng ven biển, vùng núi Tác động gián tiếp có thể qua các nguồn mang và truyền bệnh Nhiều bệnh truyền nhiễm nguy hiểm chịu ảnh hưởng của BĐKH như bệnh sốt rét, bệnh “giun chỉ bạch huyết”, sốt xuất huyết, viêm não Nhật Bản, các bệnh virut hình cây vốn được coi là thịnh hành ở nhiệt đới ẩm
Nhiệt độ tăng dẫn tới tăng tốc độ sinh trưởng và phát triển nhiều loại vi khuẩn dễ lây lan như các bệnh đường thuộc đường tiêu hóa, hô hấp, hay các bệnh virut có xu thế tăng lên về số lượng các đối tượng bị nhiễm bệnh cũng như tử vong
Khi nước biển dâng, vấn đề đi lại các vùng ven biển, vùng đất thấp sẽ có nhiều khó khăn, ảnh hưởng tới số ngày dự lớp, đến kế hoạch giảng dạy và học tập của học sinh Ở nước ta, trong thời gian qua cũng xuất hiện một số bệnh mới ở người và động vật (cúm gia cầm, bệnh lợn tai xanh…), một số bệnh cũ quay trở lại (tả), nhiều bệnh có biễn biến phức tạp và bất thường hơn (sốt xuất huyết) Các bệnh truyền qua vật trung gian như sốt rét (do muỗi truyền), sốt xuất huyết (muỗi), viêm não (muỗi), qua môi trường nước (các bệnh đường ruột) và các bệnh khác (suy dinh dưỡng, bệnh về phổi…).những bệnh này đặc biệt ảnh hưởng lớn tới mọi đối tượng ở các vùng sâu, vùng xa nơi có tỷ lệ nghèo cao
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề, ngày 02/12/2008, Thủ tướng Chính Phủ đã phêduyệt Quyết định số 158/2008/QĐ-TTg về “Chương trình mục tiêu Quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu” Một trong những nhiệm vụ quan trọng của Chương trình mục tiêu Quốc gia ứng phó với BĐKH là nâng cao nhận thức phát triển nguồn nhân lực với các chỉ tiêu thực hiện đến năm 2015 là:
• Từng bước triển khai có hiệu quả kế hoạch nâng cao nhận thức về BĐKH từ Trung Ương đến địa phương
• Hoàn thiện, cập nhật và phổ cập rộng rãi tài liệu và phương tiện phục vụ nâng cao nhận thức
• Triển khai kế hoạch nâng cao nhận thức, phát triển nguồn nhân lực trong hệ thống giáo dục, đào tạo các cấp
Trang 12• Trên 80% cộng đồng dân cư và 100% công chức, viên chức nhà nước có hiểu biết cơ bản
về BĐKH và các tác động của nó
Tiếp theo đó, Bộ Tài Nguyên và Môi trường đã xây dựng kịch bản BĐKH, nước biển dâng cho Việt Nam Theo các kịch bản, khí hậu trên tất cả các vùng của Việt Nam sẽ có nhiều biến đổi Vào cuối thế kỷ 21, nhiệt độ trung bình năm ở nước ta có thể tăng khoảng 2,5oC, tổng lượng mưa năm và lượng mưa mùa mưa tăng trong khi lượng mưa mùa khô lại giảm, mực nướcbiển dâng khoảng 75cm so với trung bình thời kỳ 1980 – 1999
Hiện nay, tất cả các Bộ, Ngành, trong đó có Bộ GD&ĐT đang tiến hành xây dựng Chương trình hành động ứng phó với BĐKH Ngành GD&ĐT có lơcj lượng đông đảo, chiếm gần ¼ dân
số của cả nước và liên quan đến từng gia đình Công tác giáo dục về BĐKH, những nguyên nhân và tác động của nó, những chiến lược có thể tập trung vào việc làm thay đổi hoặc giảm nhẹ
và tìm ra các phản ứng đầy đủ, kịp thời đối với những tác động BĐKH trên phạm vi toàn cầu là cấp bách Những nhận thức và hành động của lực lượng học sinh, sinh viên sẽ lan tỏa mau chóng ra khắp cộng đồng Do đó việc “Đưa các nội dung ứng phó với biến đổi khí hậu vào các chương trình giáo dục và đào tạo” có ý nghĩa rất to lớn và rất cần thiết
Như vậy, việc đưa khối kiến thức về ứng phó với BĐKH vào hệ thống giáo dục quốc dân được ghi nhận như một bộ phận cấu thành không thể thiếu được của Chương trình mục tiêu quốc gia về ứng phó với BĐKH Đây là một nhu cầu rất lớn với hơn 21 triệu học sinh, sinh viên, chiếm ¼ dân số của cả nước Các nhà giáo dục học từ trước đến nay đã khẳng định: Tư cách của một con người, cách ứng xử đối với xã hội và biến đổi xã hội đối với môi trường được hình thành một cách cơ bản trong những năm tháng trên ghế nhà trường, và trong việc ứng phó với BĐKH thì yếu tố quyết định nhất là yếu tố con người Một mặt khác, thế hệ trẻ Việt Nam là những người sẽ phải chịu những gánh nặng tác động của BĐKH trong tương lai, chiếm tỷ lệ caottrong tổng dân số và là những tuyên truyền viên cho các thay đổi Việc tăng cường năng lực và giáo dục thế hệ trẻ có thể gây ảnh hưởng tới sự thay đổi những hành vi của những người có tuổi
Do đó, nếu lực lượng đông đảo này được giác ngộ, có ý thức đầy đủ về các hành động của mìnhtrong các tình huống thay đổi của thời tiết, của khí hậu, có những hiểu biết cần thiết về tác động của BĐKH, mối quan hệ giữa đời sống, phát triển kinh tế với BĐKH thì có thể gắn kết được những vấn đề kinh tế với ứng phó BĐKH Tại Điều 13 của Luật giáo dục sửa đổi về đầu tư cho giáo dục nêu: Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển Đầu tư trong lĩnh vực giáo dục là hoạt động đầu tư đặc thù thuộc lĩnh vực đầu tư có điều kiện và được ưu đãi đầu tư
Bởi vậy, cần thiết phải giáo dục ứng phó với BĐKH cho học sinh, sinh viên
Chương 2
Trang 13TÍCH HỢP NỘI DUNG ỨNG PHÓ VỚI BĐKH TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC PHẦN HIDROCACBON – HÓA HỌC LỚP 11
Biến đổi khí hậu là những biến đổi trong môi trường vật lý hoặc sinh học gây ra những ảnh hưởng có hại đáng kể đến thành phần, khả năng phục hồi hoặc sinh sản của các hệ sinh thái tự nhiên và được quản lý hoặc đến hoạt động của các hệ thống kinh tế - xã hội hoặc đến sức khỏe
và phúc lợi của con người (Công ước chung mà Liên hợp quốc về BĐKH tại Hội nghị Thượng đỉnh về Môi trường tại Riodefanero (Braxin) năm 1992) Nói một cách khác BĐKH là sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình hoặc dao động của khí hậu duy trì trong một thời gian dài, thường là vài thập kỷ hoặc dài hơn
• Sự nóng lên của khí quyển và trái đất nói chung
Nhiệt độ không khí của Trái Đất đang có xu hướng nóng dần lên: từ năm 1850 đến nay nhiệt độ trung bình đã tăng 0,74oC, trong đó nhiệt độ tại 2 cực của Trái Đất tăng gấp 2 lần so với số liệu trung bình toàn cầu; và theo dự báo nhiệt độ trung bình của Trái Đất có thể tăng lên 1,1 – 6,4oC tới năm 2100, đạt mức chưa từng có trong lịch sử 10.000 năm qua
Ở Việt Nam trong vòng 50 năm (1957 – 2007) nhiệt độ không khí trung bình tăng khoảng 0,5 – 0,7oC, sẽ tăng từ 1 – 2oC vào năm 2020 và từ 1,5 – 2oC vào năm 2070
• Có sự dâng cao của mực nước biển do tan băng gây ngập úng và xâm nhập mặn ở các vùng thấp ven biển và xóa sổ nhiều đảo trên biển và đại dương
Trong thế kỷ XX, trung bình mực nước biển ở châu Á dâng cao 2,44 mm/năm, chỉ riêng thập kỷ vừa qua là 3,1mm/năm Dự báo trong thế kỷ XIX, mực nước biển dâng cao từ 2,8 – 4,3mm/năm
Ở Việt Nam, tốc độ dâng lên của mực nước biển khoảng 3mm/năm (giai đoạn 1993 – 2008) tương đương với tốc độ dâng lên của đại dương thế giới Dự báo đến giữa thế kỷ 21 mực nước biển có thể dâng thêm 30cm và đến cuối thế kỷ 21 mực nước biển có thể dâng lên 75cm sovới thời kỳ 1980 – 1999
Trang 14• Sự di chuyển của các đới khí hậu tồn tại hàng nghìn năm trên các vùng khác nhau của tráiđất dẫn tới nguy cơ đe doạ sự sống của các loài sinh vật, các hệ sinh thái và hoạt động của con người.
• Sự thay đổi cường độ hoạt động của quá trình hoàn lưu khí quyển, chu trình tuần hoàn nước trong tự nhiên và các chu trình sinh địa hoá khác
• Có sự thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển có hại cho môi trường sống của con người và các sinh vật sống trên Trái Đất
• Có sự xuất hiện của nhiều thiên tai bất thường, trái quy luật, mức độ lớn như bão, mưa lớn, hạn hán gây nên những tổn thất to lớn về người và tài sản
• Sự thay đổi năng suất sinh học của các hệ sinh thái, chất lượng và thành phần của thủy quyển, sinh quyển, các địa quyển
• Diễn ra chậm, từ từ, khó phát hiện, khó đảo ngược;
• Diễn ra trên phạm vi toàn cầu, có ảnh hưởng tới tất cả các lĩnh vực có liên quan đến sự sống và hoạt động của con người;
• Cường độ ngày một tăng và hậu quả khó lường trước;
• Là nguy cơ lớn nhất của con người phải đối mặt với tự nhiên trong lịch sử phát triển của mình
• Các nguyên nhân có nguồn gốc tự nhiên: Sự tương tác vận động của Trái Đất và vũ trụ,
sự thay đổi của bức xạ Mặt Trời, sự tác động của khí CO2 do các hoạt động núi lửa, cháy rừng hoặc các trận động đất lớn gây ra
• Nguyên nhân chính gây nên BĐKH Trái Đất là do sự gia tăng các hoạt động tạo ra chất thải khí nhà kính, chủ yếu từ các nguồn nhiên liệu hóa thạch (than, dầu, khí đốt) và các hoạt động khai thác quá mức các bể hấp thụ khí nhà kính như sinh khối, rừng, các hệ sinh thái biển, ven bờ và đất liền khác
Tình hình đô thị phát triển mạnh mẽ, gia tăng các hoạt động giao thông vận tải, triệt phá rừng và cháy rừng… cũng làm nghiêm trọng thêm tình hình ô nhiễm không khí, giữ lại lượng bức xạ sóng dài khiến cho nhiệt độ Trái Đất nóng lên theo hiệu ứng nhà kính Từ đó làm thay