Vì vậy, việc nghiên cứu tìm ra nguyên nhân gây bệnh, triệu chứng và ảnh hưởng của môi trường đến sự phát sinh, phát triển bệnh cây từ đó đề ra các biện pháp phòng trừ bệnh bệnh hại chủ y
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
PHẠM ĐỨC DŨNG
PH NG TRỪ M T S NH HẠI CÂ EO
T I TƯỢNG GI I ĐOẠN VƯỜN Ư M TẠI TRƯỜNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM NGHI P
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
PHẠM ĐỨC DŨNG
PH NG TRỪ M T S NH HẠI CÂ EO
T I TƯỢNG GI I ĐOẠN VƯỜN Ư M TẠI TRƯỜNG
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TH I NGU N”
Trang 3LỜI C M ĐO N
Tôi xin cam đoan rằng mọi số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa hề sử dụng để bảo vệ một học vị nào Mọi sự giúp đỡ để hoàn thành luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn đều được chú thích một cách cụ thể và chỉ rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2015
Tác giả
Phạm Đức Dũng
Trang 4LỜI CẢM N
Để hoàn thành khóa luận và thực hiện đề tài, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi còn nhận được sự dạy bảo của các thầy cô giáo và sự giúp đỡ của gia đình, các tập thể và cá nhân, cùng bạn bè đồng nghiệp
Nhân dịp này, tôi xin trân trọng cảm ơn:
TS Đặng Kim Tuyến là cô giáo hướng dẫn khoa học đã tận tình, tâm huyết hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Ban lãnh đạo, các thầy cô giáo, cán bộ viên chức trường ĐHNL Thái Nguyên, các anh chị cán bộ vườn ươm tại Viện Nghiên cứu và phát triển Lâm nghiệp miền núi phía Bắc Trường Đại học Nông Lâm và Vườn ươm trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tình giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi
để tôi hoàn thành chương trình học tập và đề tài
Sự giúp đỡ của gia đình, các sinh viên trường Đại học Nông Lâm đã tham gia nghiên cứu đề tài
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2015
Tác giả
Phạm Đức Dũng
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH ix
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Ý nghĩa của đề tài 3
Chương 1: TỔNG QU N T I LI U 4
1.1 Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài 4
1.1.1 Cơ sở khoa học 4
1.1.2 Cơ sở thực tiễn 6
1.2 Cơ sở khoa học của việc phòng chống bệnh hại chủ yếu 8
1.3 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước 10
1.3.1 Những nghiên cứu về bệnh trên thế giới 10
1.3.2 Những nghiên cứu về bệnh trong nước 13
1.4 Tổng quan khu vực nghiên cứu 20
1.4.1 Điều kiện tự nhiên của khu vực nghiên cứu 20
1.4.2 Điều kiện dân sinh- kinh tế xã hội 22
1.5 Tài nguyên đất 23
Chương 2: N I DUNG V PHƯ NG PH P NGHI N CỨU 25
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 25
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 25
2.1.2 Địa điểm, thời gian và phạm vi nghiên cứu 25
2.2 Nội dung nghiên cứu 25
Trang 62.2.1 Khảo sát vườn ươm khu vực nghiên cứu xác định bệnh hại chính: 25
2.2.2 Khảo nghiệm hiệu lực của một số loại thuốc đối với bệnh hại chính cây keo tai tượng: 25
2.2.3 Ảnh hưởng của tuổi cây và chế độ chăm sóc, mật độ đến mức độ gây hại của bệnh hại chính cây keo ở ườn ươm: 25
2.2.4 Đặc điểm phát sinh phát triển của bệnh hại chính và đề xuất các biện pháp phòng trừ 26
2.3 Phương pháp nghiên cứu 26
2.3.1 Phương pháp kế thừa số liệu có chọn lọc 26
2.3.2 Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm kết hợp với điều tra qua sát trực tiếp 26
2.3.3 Phương pháp xử lý số liệu 31
2.3.4 Phương pháp tổng hợp thông tin, số liệu phân tích kết quả
nghiên cứu 34
Chương 3: ẾT QUẢ NGHI N CỨU 35
3.1 Kết quả khảo sát vườn ươm khu vực nghiên cứu, xác định bệnh
hại chính 35
3.1.1 Tình hình vệ sinh vườn ươm và kết quả điều tra sơ bộ 35
3.1.2 Kết quả điều tra về thành phần bệnh hại và xác định bệnh hại chính cây keo ở giai đoạn vườn ươm 36
3.1.3 Đánh giá tình hình phân bố bệnh cây 39
3.2 Kết quả khảo nghiệm hiệu lực của một số loại thuốc đối với bệnh hại chính cây Keo 45
3.2.1 Bệnh thối cổ rễ cây Keo 45
3.2.2 Bệnh phấn trắng lá Keo 52
3.2.3 Kết quả điều tra mức độ hại của bệnh phấn trắng lá Keo sau khi sử dụng thuốc lần 1 54
3.3 Đặc điểm sinh thái học của vật gây bệnh chính cho cây Keo 61
Trang 73.3.1 Ảnh hưởng của tuổi cây đến tỷ lệ và mức độ bị bệnh 61
3.3.2 Ảnh hưởng của mật độ 62
3.3.3 Ảnh hưởng của điều kiện chăm sóc 63
3.4 Đặc điểm sinh trưởng phát triển của bệnh hại và đề xuất biện pháp phòng trừ 64
3.4.1 Một số đặc điểm sinh trưởng phát triển của bệnh hại 64
3.4.2 Đề xuất một số biện pháp phòng trừ 65
ẾT LUẬN 68
1 Kết luận 68
2 Đề nghị 70
T I LI U TH M HẢO 71
PHỤ LỤC
Trang 8D NH MỤC C C CHỮ VIẾT TẮT
CT1 : Công thức 1 CT2 : Công thức 2 CT3 : Công thức 3 CT4 : Công thức 4
ĐC : Đối chứng O.D.B : Ô dạng bản OTN : Ô thí nghiệm
Trang 9D NH MỤC C C ẢNG
Bảng 1.1 Một số yếu tố khí hậu từ tháng 8/2014 đến tháng 3 năm 2015
tại tỉnh Thái Nguyên 21 Bảng 2.1 Tên thuốc và hoạt chất các loại thuốc sử dụng của bệnh hại rễ 27 Bảng 2.2 Thông tin về các loại thuốc sử dụng phòng trừ bệnh phấn trắng
lá Keo 28 Bảng 2.3 Kiểm tra sự sai khác giữa các công thức thí nghiệm 33 Bảng 3.1 Bảng thống kê thành phần hại bệnh cây Keo tai tượng giai
đoạn vườn ươm 37 Bảng 3.2 Kết quả điều tra tỷ lệ nhiễm bệnh thối cổ rễ trước khi sử dụng
thuốc tại điểm điều tra 1 40 Bảng 3.2a Bệnh thối cổ rễ 40 Bảng 3.2b Bệnh phấn trắng lá Keo 40 Bảng 3.3 Kết quả điều tra tỉ lệ nhiễm bệnh trước khi sử dụng thuốc tại điểm
điều tra 2 41 Bảng 3.3a Bệnh thối cổ rễ 41 Bảng 3.3b Bệnh phấn trắng lá Keo 41 Bảng 3.4 Kết quả điều tra tỉ lệ nhiễm bệnh trước khi sử dụng thuốc tại điểm
điều tra 3 42 Bảng 3.4a Bệnh thối cổ rễ 42 Bảng 3.4b Bệnh phấn trắng lá keo 42 Bảng 3.5 Kết quả điều tra mức độ hại rễ của bệnh thối cổ rễ Keo trước
khi sử dụng thuốc 45 Bảng 3.6 Kết quả điều tra mức độ hại rễ của bệnh thối cổ rễ Keo sau khi
sử dụng thuốc lần 1 46 Bảng 3.7 Kết quả điều tra mức độ hại rễ của bệnh thối cổ rễ Keo sau khi
sử dụng thuốc lần 2 46 Bảng 3.8 Kết quả điều tra mức độ hại rễ của bệnh thối cổ rễ hại Keo sau
khi sử dụng thuốc lần 3 48
Trang 10Bảng 3.9 Tổng hợp kết quả mức độ điều tra mức độ hại của bệnh trước
và sau phun thuốc 49
Bảng 3.10 Kiểm tra sự sai khác giữa các công thức thí nghiệm 49
Bảng 3.11 Tỷ lệ tăng giảm bệnh hại rễ ở các công thức (%) 50
Bảng 3.12 So sánh hiệu lực của thuốc sau 3 lần phun 51
Bảng 3.13 Mức độ hại của bệnh phấn trắng lá Keo trước khi sử dụng thuốc 52
Bảng 3.14 Kết quả điều tra mức độ hại lá của bệnh hại Keo sau khi sử dụng thuốc lần 1 54
Bảng 3.15 Kết quả điều tra mức độ hại lá của bệnh hại Keo sau khi sử dụng thuốc lần 2 56
Bảng 3.16 Kết quả điều tra mức độ hại lá của bệnh hại Keo sau khi sử dụng thuốc lần 3 56
Bảng 3.17 Mức độ hại của bệnh phấn trắng lá Keo trước và sau mỗi lần phun thuốc 57
Bảng 3.18 Kiểm tra sự sai khác giữa các công thức thí nghiệm 58
Bảng 3.19 Tỷ lệ tăng giảm bệnh hại lá ở các công thức (%) 59
Bảng 3.20 So sánh hiệu lực của thuốc sau 3 lần phun 60
Bảng 3.21 Ảnh hưởng của tuổi cây đến tỷ lệ mức độ bị bệnh 61
Bảng 3.22 Ảnh hưởng của mật độ đến mức độ bị hại bệnh Thối cổ rễ và phấn trắng lá Keo 62
Bảng 3.22.a Thối cổ rễ cây Keo 62
Bảng 3.22.b Phấn trắng lá Keo 62
Bảng 3.23 Ảnh hưởng của chế độ chăm sóc đến mức độ hại bệnh thối cổ rễ và bệnh phấn trắng lá keo 63
Bảng 3.23a Bệnh thối cổ rễ 63
Bảng 3.23b Bệnh phấn trắng lá Keo 64
Trang 11D NH MỤC C C HÌNH
Hình 3.1 Triệu chứng bệnh phấn trắng lá Keo 39
Hình 3.2 Hình ảnh cây Keo bị Bệnh phấn trắng 44
Hình 3.3 Hình ảnh cây Keo bị Bệnh thối cổ rễ 44
Hình 3.4 Hình ảnh cây Keo sau phun thuốc trị bệnh thối cổ rễ lần 1 45
Hình 3.5 Cây Keo sau phun thuốc trị bệnh thối cổ rễ lần 3 47
Hình 3.6 Đồ thị biểu diễn tác động của các loại thuốc đến bệnh thối cổ rễ sau các lần phun 50
Hình 3.7 Ảnh cây keo giai đoạn ra lá giả bị bệnh phấn trắng khi chưa sử dụng thuốc 53
Hình 3.8 Ảnh cây keo giai đoạn ra lá thật bị bệnh phấn trắng khi chưa sử dụng thuốc 53
Hình 3.9 Ảnh cây keo giai đoạn ra lá thật bị bệnh phấn trắng sau phun thuốc lần thứ 3 54
Hình 3.10 Sau phun thuốc lần 2 55
Hình 3.11 Sau phun thuốc lần 3 57
Hình 3.12 Đồ thị biểu diễn sự suy giảm của bệnh phấn trắng sau các lần phun 59
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Hiện nay cùng với sự phát triển mạnh mẽ của xã hội thì nền kinh tế Nước ta cũng thay đổi từng ngày từng giờ theo chiều hướng đi lên Sự thay đổi đó diễn ra ở các ngành nghề khác nhau, các lĩnh vực khác nhau Xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu của con người ngày càng cao hơn Vì vậy đòi hỏi các nhà quản lý phải nghiên cứu phải cân nhắc khi thiết kế xây dựng một chương trình bất kỳ nào đó phải đảm bảo sự hài hoà giữa lợi ích kinh tế với các lợi ích khác của xã hội
Cùng với sự phát triển chung của ngành kinh tế thì ngành Lâm nghiệp cũng không nằm ngoài quy luật đó Hiện nay diện tích rừng đang được ngành Lâm nghiệp quản lý, ngoài việc bảo vệ môi trường sinh thái thì rừng nước ta
đã góp phần quan trọng vào việc tăng trưởng kinh tế của đất nước, đồng thời cung cấp cho chúng ta lượng lâm sản phục vụ cho nhu cầu của nhân dân Một trong những lâm sản quan trọng mà rừng mang lại cho con người là gỗ, gỗ được sử dụng trong các ngành xây dựng, trụ mỏ, chế biến bột giấy, sợi, đồ dùng gia đình nhưng hiện nay diện tích rừng tự nhiên của nước ta đang bị thu hẹp ở mức báo động Trước thực trạng đó Đảng và nhà nước ta đã có nhiều biện pháp thiết thực nhằm giảm tình trạng khai thác nguồn tài nguyên rừng bừa bãi, tiếp tục phủ xanh diện tích đất trống đồi núi trọc, tiến hành trồng rừng phòng hộ đầu nguồn, trồng rừng sản xuất tập trung Trồng rừng sản xuất tập chung đáp ứng được nhu cầu về nguyên liệu gỗ cho các nhà máy giấy, nhà máy sợi, các nhà máy xí nghiệp chế biến ván dăm và cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy chế biến gỗ khác
Tuy nhiên, khi rừng trên một diện tích lớn số lượng cây nhiều và trồng thuần loài nên rất dễ bị sâu, bệnh hại phát sinh phát triển Để đạt được kết quả tốt của việc trồng rừng thì điều quan trọng nhất ở đây là phải tạo được nhiều cây giống tốt, khoẻ mạnh, không bị sâu hại và không có mầm bệnh Muốn có
Trang 13được như vậy thì ngoài việc chọn được hạt giống tốt, bảo quản hạt giống tốt đối với những cây có khả năng tái sinh bằng hạt, những phương pháp xử lý trước khi gieo ươm thì việc phòng trừ sâu bệnh hại ở giai đoạn vườn ươm là không thể thiếu được, nếu thực hiện được vấn đề đó thì tổn thất do bệnh hại gây ra sẽ giảm xuống một cách đáng kể
Trên thực tế tổn thất do bệnh gây ra lớn hơn rất nhiều lần tổn thất do các tác hại tự nhiên khác Sản xuất cây con các loài như thông, keo, bạch đàn
đã có rất nhiều dịch bệnh xảy ra, cây con bị chết hàng loạt do bệnh thối cổ rễ, bệnh rơm lá thông, bệnh phấn trắng hại keo Vì vậy, việc nghiên cứu tìm ra nguyên nhân gây bệnh, triệu chứng và ảnh hưởng của môi trường đến sự phát sinh, phát triển bệnh cây từ đó đề ra các biện pháp phòng trừ bệnh bệnh hại chủ yếu cho cây con ở vườn ươm là rất cần thiết
Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, keo tai tượng (Acacia
mangium wild) là những loài cây trồng chính, được trồng với diện tích lớn và
tập trung Để góp phần sản xuất cây con đạt chất lượng cao phục vụ cho công tác trồng rừng tại Thái Nguyên thì việc chăm sóc, điều tra xác định nguyên nhân gây bệnh, nghiên cứu quá trình phát sinh, phát triển của bệnh và đề xuất biện pháp phòng trừ bệnh hại cây giai đoạn vườn ươm là không thể thiếu Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, với nguyện vọng đóng góp một phần nhỏ của bản thân trong nghiên cứu khoa học về bệnh hại cây rừng nói chung và
bệnh hại cây con vườn ươm nói riêng, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên
cứu c s o c và biện p áp p òng trừ một số bện ại cây Keo tai tượng gi i đoạn vườn ư m tại Trường Đại c Nông Lâm Thái Nguyên”
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá được hiệu quả của một số biện pháp phòng trừ bênh hại chính trên cây keo tại vườn ươm
- Đề xuất được một số biện pháp phòng trừ bệnh hại cây keo tại vườn ươm, góp phần nâng cao chất lượng cây giống keo trước khi xuất vườn
Trang 143 Ý nghĩa của đề tài
3.1 Ý ng ĩ trong c tập và ng iên cứu o c
- Quá trình thực hiện đề tài giúp tôi nắm vững phương pháp nghiên cứu khoa học về bệnh cây rừng
- Nắm được đặc điểm, quá trình phát sinh phát triển của bệnh hại cây keo
- Nắm vững phương pháp điều tra đánh giá bệnh hại cây lâm nghiệp ở vườn ươm
- Kết quả nghiên cứu đề tài là cơ sở khoa học để đề xuất biện pháp phòng
trừ bệnh hại cây con ở vườn ươm nói chung và bệnh hại cây keo nói riêng
3.2 Ý ng ĩ trong t ực tiễn sản xuất
- Quá trình thu thập số liệu giúp bản thân tôi học hỏi và làm quen với thực tế sản xuất
- Nắm được các triệu chứng bệnh thường gặp ở vườn ươm và cách nhận biết cây bị bệnh trong thực tế sản xuất cây giống
- Các biện pháp đề xuất mà đề tài đưa ra có thể ứng dụng vào thực tế sản xuất và nhân rộng để phòng trừ bệnh hại cây keo ở giai đoạn vườn ươm
Trang 15Chương 1 TỔNG QU N T I LI U 1.1 Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài
Theo cách hiểu thông thường, bệnh cây là khoa học nghiên cứu về cây
bị bệnh, sinh trưởng và phát triển không bình thường vì những lý do sinh vật cũng như không phải sinh vật Bệnh cây là kết quả tác động của 3 yếu tố: nguồn bệnh, cây trồng và điều kiện bên ngoài Cách hiểu trên giúp chúng ta nắm được nội dung và thực chất của bệnh cây ở mức độ từng cá thể Tuy nhiên trong thực tế sản xuất cách hiểu trên đây chưa cho phép giải quyết một cách có cơ sở những trường hợp cụ thể về bệnh cây Trong hoạt động thực tế của mình, người làm công tác bệnh cây phải giải quyết các nhiệm vụ có liên quan đến những tập đoàn có cây lớn, vi sinh vật gây bệnh, trong những khoảng không gian nhất định, thường là khá rộng lớn, với tác động của nhiều yếu tố khí hậu, đất đai khác nhau Khoa học bệnh cây có các nhiệm vụ chính Nghiên cứu bệnh hại cây trên cơ sở đó xác định các biện pháp bảo vệ cây làm cho năng suất cây trồng ở mức cao và ổn định Góp phần phát huy tác dụng của giống cây có năng suất cao và các biện pháp kỹ thuật trồng trọt tiên tiến: Bón phân, chế độ nước, mật độ cao… trong sản xuất không để bệnh hại phát triển và gây thành dịch Giải quyết vấn đề bệnh cây góp phần tạo điều kiện cho việc hình thành các vùng chuyên canh, nhất là những cây có giá trị kinh
Trang 16tế lớn (Đường Hồng Dật, 1979) [8] Để có thể hoàn thành được các nhiệm vụ trên đây, khoa học bệnh cây có các nội dung:
Nghiên cứu và xác định nguyên nhân gây bệnh: Nguyên nhân gây bệnh thường rất nhiều và rất phức tạp, trong thực tế nhiều trường hợp cùng một nguyên nhân nhưng gây ra những biểu hiện bệnh rất khác nhau, ngược lại có những trường hợp nhiều nguyên nhân cùng gây ra một triệu chứng bệnh rất giống nhau Một biểu hiện bệnh có thể có một hoặc một số nguyên nhân chủ yếu và một số nguyên nhân thứ yếu Nhầm lẫn vai trò và vị trí các loại nguyên nhân có thể dẫn đến những kết luận và hành động sai lầm Có xác định đúng nguyên nhân gây bệnh thì các công việc tiếp tục sau đó mới có cơ sở chắc chắn và chính xác Muốn phòng trừ bệnh, bảo vệ cây có hiệu quả, tránh lãng phí và các hậu quả tiêu cực khác, không thể không xác định nguyên nhân gây bệnh (Đường Hồng Dật, 1979) [8]
Phát hiện các quy luật phát sinh, phát triển và hình thành của dịch của bệnh cây: Bệnh cây phát sinh và phát triển theo những quy luật nhất định Các quy luật đó phụ thuộc vào tình trạng và đặc điểm của tập đoàn vi sinh vật gây bệnh, cây chủ và điều kiện bên ngoài Khoa học bệnh cây phải nắm được các quy luật đó Công tác dự tính, dự báo và phòng trừ bệnh đều phải dựa trên quy luật này mới đảm bảo kết quả tốt được (Đường Hồng Dật, 1979) [8]
Tìm hiểu bản chất, đặc điểm và các quy luật chống chịu của bệnh cây: Nói chung, khi cây bị nguồn bệnh xâm nhập thường có những biểu hiện phản ứng và hoạt động chống lại để tự vệ Trong tự nhiên hiện tượng này thường xảy ra và đó là kết quả của quá trình thích ứng lâu dài giữa vi sinh vật gây bệnh và cây chủ Nắm được các đặc điểm chống chịu bệnh của cây ta có thể dùng nhiều biện pháp khác nhau để không ngừng củng cố, làm tăng lên để ngăn ngừa mọi tác hại của bệnh, đồng thời tìm cách đưa ra các đặc điểm đó vào các giống cây mới Các đặc điểm chống chịu bệnh thường chỉ được phát huy trong những điều kiện chăm sóc, kỹ thuật canh tác và khí hậu, đất đai
Trang 17nhất định Công tác chọn lọc, lai tạo các giống chống bệnh cũng như tiến hành các biện pháp phòng trừ chỉ có thể đạt kết quả thật tốt khi nắm được các quy luật này (Đường Hồng Dật, 1979) [8]
Nghiên cứu, xác định các phương pháp phòng trừ bệnh: Phòng trừ bệnh cây có thể tiến hành theo nhiều cách khác nhau, mỗi cách có những ưu điểm
và nhược điểm của nó Vì vậy, mỗi phương pháp thường chỉ phát huy tác dụng cao nhất trong những điều kiện nhất định Trong thực tế sản xuất, những biện pháp riêng rẽ thường không đảm bảo, bảo vệ tốt cây chống bệnh và cần phải phối hợp nhiều biện pháp khác nhau mới giải quyết được bệnh
Nhiệm vụ của khoa học bệnh cây là tìm ra các hệ thống tổng hợp các biện pháp bảo vệ cây chống bệnh (Đường Hồng Dật, 1979) [8]
Thực chất công tác phòng trừ bệnh cây không chỉ nhằm tiêu diệt nguồn bệnh Việc làm đó chỉ có ý nghĩa khi bảo vệ được cây, góp phần làm tăng năng suất, giữ năng suất cây ở mức cao nhất và đạt hiệu quả kinh tế cao nhất Phương hướng chủ yếu của công tác bảo vệ thực vật là tác động các biện pháp khác nhau trong một hệ thống hợp lý có cơ sở và căn cứ đầy đủ, nhằm điều khiển toàn bộ sinh quần đồng ruộng, rừng cây, tạo điều kiện cho cây trồng sinh trưởng tốt nhất, bệnh hại không thể phát triển được, đảm bảo tạo ra khối lượng nông lâm sản cao nhất, có phẩm chất tốt nhất Cho đến nay, khoa học bệnh cây đã đạt được nhiều kết quả lớn và đã có hệ thống kiến thức có khả năng hạn chế đến mức thấp những tác hại của bệnh cây Tuy nhiên, những kiến thức đó chỉ có thể trở thành sức mạnh thực tế, khi những người trực tiếp sản xuất nắm vững được nó và vận dụng tốt trong hoạt động sản xuất hàng ngày (Đường Hồng Dật, 1979) [8]
1.1.2 C s t ực tiễn
Bệnh cây rừng là một loại tác hại tự nhiên vô cùng phổ biến Bệnh hại thường làm cho cây rừng sinh trưởng kém, lượng sinh trưởng của cây gỗ hàng năm giảm xuống, một số bệnh hại có thể làm cây chết, thậm chí có thể gây
Trang 18chết hàng loạt Nước ta đã từng xảy ra các loại bệnh hại như bệnh khô cành bạch đàn ở Đồng Nai làm cho 11.000 ha cây bị khô, ở Thừa Thiên Huế 5800
ha, ở Quảng Trị trên 50 ha Bệnh khô xám thông, bệnh khô ngọn thông, bệnh thối cổ rễ thông, bệnh vàng lá sa mu, bệnh khô ngọn thông, bệnh chổi xể tre luồng, bệnh tua mực quế… đã gây ra những thiệt hại nghiêm trọng đến sản xuất lâm nghiệp ở nước ta Hàng năm chúng gây ra những tổn thất lớn cho nền kinh tế, không những thế chúng còn gây ra ảnh hưởng đến môi trường sinh thái (Trần Văn Mão, 2003) [20]
Ở giai đoạn vườn ươm, cây con đang trong thời gian sinh trưởng mạnh
và cây con còn bị ảnh hưởng lớn từ môi trường bên ngoài nên thời gian này cây dễ bị nhiễm bệnh Nước ta có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm mưa nhiều là yếu tố tạo điều kiện thuận lợi cho cho nấm mốc và các vi sinh vật phát triển Trong quá trình bị bệnh cây bị biến đổi về các mặt sinh lý, giải phẫu và hình thái gây ra những tác hại đối với cây con vườn ươm, rừng trồng
và rừng tự nhiên, sự thay đổi đó diễn ra liên tục Cây bị bệnh, quá trình thay đổi về sinh lý là nguyên nhân của sự thay đổi về giải phẫu, hình thái và sự thay đổi về hình thái cũng chính là bệnh thể hiện ở triệu chứng Mỗi một loại bệnh cây đều có những đặc trưng triệu chứng riêng biệt và là một căn cứ quan trọng để chuẩn đoán bệnh cây (Trần Văn Mão, 2003) [20]
Do thực vật và vật gây bệnh đều chịu tác động của môi trường xung quanh nên cả hai bị môi trường khống chế Tính chống chịu của cây và tính xâm nhiễm của vật gây bệnh tuỳ thuộc vào điều kiện môi trường Trong quá trình tác động lẫn nhau giữa cây và vật gây bệnh nếu điều kiện môi trường có thuận lợi cho cây chủ và không có lợi cho vật gây bệnh quá trình gây bệnh có thể kéo dài hoặc ngưng lại Ngược lại, nếu môi trường thuận lợi cho vật gây bệnh, quá trình gây bệnh mới có thể phát triển thuận lợi Cây chủ, vật gây bệnh và môi trường luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau và là cơ sở của sự phát sinh phát triển bệnh cây, ba nhân tố này luôn biến động theo thời gian và
Trang 19không gian cho nên mối quan hệ tương hỗ giữa chúng không ngừng phát triển Chỉ cần tìm hiểu sâu sắc mối quan hệ động thái của 3 nhân tố trên mới
có thể nắm vững quy luật phát sinh phát triển của bệnh cây và mới có thể đề
ra được giải pháp phòng trừ chính xác (Trần Văn Mão, 2003) [20]
1.2 Cơ sở khoa học của việc phòng chống bệnh hại chủ yếu
Mục đích cuối cùng của khoa học bệnh cây là tìm ra những biện pháp
có hiệu quả, có lợi về mặt kinh tế nhằm hạn chế tác hại của bệnh, bảo vệ cây, làm cho cây sinh trưởng, phát triển cho năng suất và phẩm chất tốt Trên ý nghĩa đó, công tác phòng trừ bệnh cây không thể chỉ nhằm tiêu diệt nguồn bệnh mà việc tiêu diệt nguồn bệnh chỉ có ý nghĩa khi làm cho năng suất cây trồng không bị ảnh hưởng, giải phóng được nguồn bệnh và giữ được mức ổn định trong mọi trường hợp (Weber, 1973) [46]
Phòng trừ bệnh cây phải được thực hiện trên nguyên tắc tổng hợp, toàn diện và chủ động Biện pháp tổng hợp là áp dụng nhiều phương pháp khác nhau trong một hệ thống hoàn chỉnh và hợp lý Trong hệ thống đó các biện pháp bổ sung cho nhau, phát huy kết quả lẫn nhau tạo nên những tác động và sức mạnh tổng hợp phát huy mức cao nhất các đặc điểm có ích của cây, loại trừ tác hại của bệnh Tổng hợp còn nhằm phát huy đến mức cao mọi điều kiện
có thể có ở các cơ sở sản xuất, không tự giới hạn trong những loại biện pháp nhất định nào đó Do tính chất và chiều hướng tác động của các biện pháp khác nhau cho nên khi áp dụng một hệ thống gồm nhiều biện pháp sẽ nhằm tác động lên vi sinh vật gây bệnh, tác động lên cây, tác động lên môi trường sống của cây và vi sinh vật gây bệnh Hệ thống biện pháp tổng hợp bảo vệ cây chống bệnh cần được áp dụng một cách phân hóa phù hợp với điều kiện cụ thể từng nơi và từng lúc Áp dụng phân hóa trên cơ sở khoa học, có phân tích đầy đủ các yếu tố và quy luật sinh thái của từng địa phương, đảm bảo cho hệ thống tổng hợp nâng cao được hiệu quả kinh tế và thiết thực (Đường Hồng Dật,1979) [8]
Trang 20Phòng trừ bệnh cây bao gồm nhiều biện pháp khác nhau Có những biện pháp có tác dụng phòng, bảo vệ cây, có biện pháp có tác dụng trừ một loại bệnh cụ thể Chúng bao gồm 6 biện pháp chủ yếu: Kỹ thuật lâm nghiệp (gồm các biện pháp canh tác, tổ chức và quản lý kinh doanh rừng), chọn giống cây chống chịu bệnh, kiểm dịch thực vật, sinh vật học, vật lý cơ giới và hoá học (Đặng Vũ Cẩn và cs, 1992) [5]
Hệ thống tổng hợp phòng trừ bệnh cây phải mang tính chất toàn diện Tuy nhiên, từng thời gian, ở từng địa phương thường có một số loại bệnh hại giữ vị trí chủ yếu, gây hại lớn nhất Vì vậy cần xác định các loại bệnh chủ yếu
và hệ thống tổng hợp các biện pháp phải tập chung giải quyết các loại bệnh chủ yếu, đồng thời kết hợp giải quyết các loại bệnh hại khác một cách hợp lý, khoa học Tính chất toàn diện không những không thể hiện ở đối tượng tác động mà các biện pháp bảo vệ cây không những đòi hỏi phải tiến hành ngoài đồng mà còn phải được thực hiện ở cả trong kho tàng, trong quá trình cất trữ, chế biến bảo quản, chuyên chở… Các biện pháp bảo vệ cây không những phải tiến hành trực tiếp trên cây mà còn phải thực hiện cả trong đất, trong không khí và trong môi trường sống của cây (Đường Hồng Dật,1979) [8]
Công tác phòng trừ bệnh cây chỉ có thể đảm bảo mang lại kết quả tốt khi được tiến hành một cách chủ động Chủ động trước hết có nghĩa là dùng nhiều biện pháp tác động khác nhau, điều khiển toàn bộ hệ sinh thái đồng ruộng, làm sao loại trừ được tác hại của bệnh cây, tạo ra được năng suất cây trồng cao nhất, cần áp dụng nhiều biện pháp khác nhau, để điều khiển cây trồng Muốn điều khiển được phải nắm chắc các đặc điểm của cây, nắm đầy đủ các đặc điểm tốt cũng như nhược điểm Trên cơ sở đó dùng các biện pháp khác nhau: Chế độ canh tác, phân bón, chế độ nước… phát huy đến mức cao nhất các đặc tính chống chịu bệnh của cây Cần điều khiển quá trình sinh trưởng phát triển của cây, làm sao để cho giai đoạn yếu chống chịu bệnh của cây không trùng với thời gian nguồn bệnh sinh sản và phát triển mạnh Tùy theo tình hình phát sinh
Trang 21và tích lũy của nguồn bệnh mà điều khiển tốc độ cũng như quá trình phát triển của bệnh cây, làm sao tạo ra những trạng thái quan hệ giữa cây và ký sinh dẫn tới năng suất cây trồng cao nhất (Đường Hồng Dật,1979) [8]
Bên cạnh việc điều khiển cây trồng áp dụng nhiều biện pháp điều hòa
số lượng và mật độ vi sinh vật gây bệnh, giữ chúng dưới mức có khả năng gây ra những thiệt hại có ý nghĩa kinh tế Đối với một số loại vi sinh vật gây bệnh, khi điều kiện cho phép, cần áp dụng những biện pháp điều khiển cho giai đoạn yếu chống chịu của cây không gặp giai đoạn sinh sản và lây lan mạnh của vi sinh vật gây bệnh (Đường Hồng Dật,1979) [8]
Để chủ động phòng trừ bệnh cây cần điều khiển các yếu tố trong môi trường sống tạo điều kiện thuận lợi nhất cho cây phát triển và tạo điều kiện ngăn cản sự phát triển của vi sinh vật gây bệnh Có thể dùng các biện pháp như: Mật độ, khoảng cách, hướng luống, tỉa cành, bấm ngọn… để điều khiển
độ thoáng, dùng chế độ nước… để điều khiển độ ẩm, dùng phân hữu cơ, vôi… để điều khiển chế độ nhiệt (Đường Hồng Dật,1979) [8]
Như vậy, để loại trừ tác hại của bệnh cây phải tiến hành trên các hướng: phòng bệnh, tránh bệnh, tiêu diệt vi sinh vật gây bệnh, bồi dưỡng cây sau khi
bị bệnh Các biện pháp phòng bệnh là những biện pháp được áp dụng để bảo
vệ cây chống sự sâm nhiễm và gây hại của bệnh trước khi bệnh xuất hiện trên cây "trị" bệnh hay là" chữa" là những biện pháp nhằm tiêu diệt vi sinh vật gây bệnh khi chúng đã xuất hiện trên cây để giải phóng cho cây khỏi nguồn bệnh và cứu chữa các bộ phận cây đã bị bệnh (Đường Hồng Dật,1979) [8]
1.3 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước
1.3.1 N ững ng iên cứu về bện trên t ế giới
Bệnh cây rừng đã được bắt đầu nghiên cứu trên 150 năm nay, là một môn khoa học còn rất non trẻ nhưng sự cống hiến cho công tác nghiên cứu khoa học, phục vụ cho đời sống sản xuất thực tiễn của các nhà bệnh cây hết sức to lớn
Trang 22Năm 1874 ở châu Âu, Robert Hartig (1839-1901) là người đặt nền móng cho việc nghiên cứu môn khoa học bệnh cây rừng Ông đã phát hiện ra sợi nấm nằm trong gỗ và công bố nhiều công trình nghiên cứu, đến nay đã trở thành môn khoa học không thể thiếu được Kể từ đó đến nay trên thế giới đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu về bệnh lý cây rừng như: G.H Hapting nhà bệnh lý cây rừng người Mỹ trong 30 năm nghiên cứu bệnh cây (1940-1970), đã đặt nền móng cho công việc điều tra chủng loại và mức độ bị hại liên quan tới sinh lý, sinh thái cây chủ và vật gây bệnh (dẫn theo Trần Văn Mão, 1997) [19]
Những năm ở thập kỷ 50 của thế kỷ XX, nhiều nhà bệnh cây đã tập trung vào việc xác định loài, mô tả nguyên nhân gây bệnh và điều kiện phát sinh, phát triển của bệnh Đặc biệt ở các nước nhiệt đới, L Roger (1953) đã nghiên cứu các loại bệnh hại cây rừng được mô tả trong cuốn sách bệnh cây rừng các nước nhiệt đới (Phytopathologie des pays chauds) Trong đó có một
số bệnh hại lá của thông, keo, bạch đàn (Roger,1953) [45]
John Boyce năm 1961, xuất bản sách Bệnh cây rừng (Forest pathology)
đã mô tả một số bệnh hại cây rừng Cuốn sách này được xuất bản ở nhiều nước như: Anh, Mỹ, Canada (John Boyce,1961) [40]
1.3.1.1 Nghiên cứu về bệnh hại keo
Với tổng số trên dưới 1200 loài, chi keo Acacia là một chi thực vật quan trọng đối với đời sống xã hội của nhiều nước (Boland, 1989; Boland et al., 1984; Pedley, 1987) Theo các ghi chép của Trung tâm giống cây rừng Ôxtrâylia (dẫn từ Maslin và McDonald, 1996) thì các loài keo Acacia của Ôxtrâylia đã được gây trồng ở trên 70 nước với diện tích khoảng 1.750.000 ha vào thời điểm đó Nhiều loài trong số đó đã đáp ứng được các yêu cầu về sử dụng cho các mục tiêu công nghiệp, xã hội và môi trường Các loài có tiếng
về cung cấp nguyên liệu gỗ và bột giấy là keo lá tràm (A.auriculiformis), keo
lá liềm (A.crassicarpa), keo tai tượng (A.mangium), keo đa thân (A.aulacocarpa) v.v còn các loài khác như A.colei, A.tumida lại có tiềm năng
Trang 23cung cấp gỗ củi, chống gió và hạt làm thức ăn cho người ở một số vùng (dẫn theo Nguyễn Hoàng Nghĩa) [24]
Năm 1961 - 1968 John Boyce, nhà bệnh cây rừng người Mỹ đã mô tả một số bệnh cây rừng, trong đó có bệnh hại keo (Boyce J.S,1961) [40]
Năm 1953 Roger đã nghiên cứu một số bệnh hại trên cây bạch đàn và keo G.F Brown (người Anh, 1968) cũng đề cập đến một số bệnh hại keo [45] [39]
Cây trồng bị khô héo, rụng lá và tàn lụi từ trên xuống dưới (chết ngược)
do loài nấm hại lá Glomerlla cingulata (giai đoạn vô tính là nấm Colletotrichum
gleosporioides.) đó là nguyên nhân chủ yếu của sự thiệt hại với loài keo Acacia mangium trong vườn giống ở Papua New Guinea (FAO 1981) và Ấn Độ
Theo nghiên cứu của Lee và Goh năm 1989 loài nấm này còn gây hại với các
loài Acacia ssp Đặc biệt dưới điều kiện khí hậu ẩm ướt lá và thân cây keo bị bệnh nguyên nhân do loài Cylindroladium quinqueseptatum (dẫn theo Vương
Văn Quỳnh - Trần Tuyết Hằng, 1996) [29]
Nhiều nhà nghiên cứu của Ấn Độ, Malaysia, Philipin, Trung Quốc cũng được công bố nhiều loại nấm bệnh gây hại các loài keo như các công trình của Vannhin, L Rogen (1953) Spauding (1961), Peace (1962), Bakshi (1964) Tại hội nghị lần thứ III nhóm tư vấn nghiên cứu và phát triển của các loài
Acacia, họp tại Đài Loan cuối tháng 6 năm 1964 nhiều đại biểu kể cả các tổ
chức Quốc tế như CIFOR (Trung tâm nghiên cứu Lâm nghiệp Quốc tế) cũng
đã đề cập đến các vấn đề sâu bệnh hại các loài Acacia Năm 1988-1990
Benergee R (Ấn Độ) đã xem xét nghiên cứu vùng trồng Keo lá tràm ở Kalyani
Nadia và đã phát hiện nấm bồ hóng Oidium sp gây hại trên cây non từ 1-15 tuổi
Florece E.J và đồng nghiệp ở viện Nghiên cứu Lâm nghiệp Kerela Ấn
Độ đã phát hiện ra bệnh phấn hồng do nấm Corticium salmonicolor gây hại trên vùng trồng A auricuformis bang Kerela, tỷ cây chết khoảng 10%
Ganapathy N và các đồng nghiệp ở trung tâm nghiên cứu quốc gia cây
họ đậu ở Vamban Ấn Độ, phát hiện sự rụng lá nghiêm trọng của cây non
Trang 24Acacia spp trồng tại vùng đất khô hạn và vùng đất đỏ đá ong (pH = 5,5-6,0)
tại Tamilladu do bọ vòi voi Mylloceros sp gây ra ở 4 loại A.auriculiformis,
A.mangium, A Crassicarpa và A.holosericea
Meshram P và đồng nghiệp ở viện cây rừng Madhya Pradesh Ấn Độ
nghiên cứu về sâu và bệnh gây thiệt hại cho cây A auriculiformisvườn ươm
Lucgo J N thuộc phòng môi trường và tài nguyên thành phố Cebu, Philippin
đã phát hiện thấy một số bệnh trên A mangium
Trong thực tế có một số nấm bệnh đã được phân lập từ một số loài keo
Đó là nấm Glomerella cingulata gây bệnh đốm lá ở A simsii; nấm
Uromycladium robinsonii gây bệnh rỉ sắt ở lá giả loài A melanoxylon; nấm Oidium sp có trên các loài A mangium và A Auriculiformis ở Trung Quốc
nhưng loài A confusa (Đài Loan tương tự) địa phương lại không bị bệnh.Các nghiên cứu về các loại bệnh ở keo Acacia cũng đã được tập hợp khá đầy đủ
vào cuốn sách “Cẩm nang bệnh keo nhiệt đới ở Ôxtrâylia, Đông Nam Á và ấn Độ” (A Manual of Diseases of Tropical Acacias in Australia, South-east Asia and India Old et al., 2000) trong đó có các bệnh khá quen thuộc đã từng gặp
ở nước ta như bệnh bệnh phấn trắng (Powdery mildew), bệnh đốm lá, bệnh phấn hồng và rỗng ruột (Heart rot) [24]
1.3.2 N ững ng iên cứu về bện trong nước
Khí hậu Việt nam cũng đưa đến không ít những khó khăn, làm cản trở hoặc phá hoại cơ sở vật chất và thành quả của sản xuất lâm nghiệp như: Những thuận lợi cho sinh trưởng phát triển cây rừng, cũng là những thuận lợi cho sự phát sinh, phát triển, lan tràn sâu bệnh hại thực vật Nạn dịch sâu ăn lá, sâu đục thân, nấm cổ rễ phát sinh hầu hết ở khắp nơi, gây thiệt hại đáng kể cho sản xuất lâm nghiệp (Vương Văn Quỳnh và cs, 1996) [29]
Bệnh cây ở Việt Nam rất phổ biến, các cây trồng ít nhiều đều bị bệnh Song khoa học bệnh cây cũng như khoa học bệnh cây rừng nước ta lại được bắt đầu muộn hơn so với thế giới Mặc dù trong thời kỳ thuộc Pháp, một số
Trang 25nhà khoa học bệnh cây đã có những công trình nghiên cứu đến các loại nấm gây bệnh cây rừng, cây gỗ và cây cảnh, nhưng môn khoa học bệnh cây rừng
có điều kiện phát triển từ những năm đầu của thập kỷ 60 (Trần Văn Mão, 2003) [20]
Năm 1960, khi điều tra bệnh cây rừng ở miền Nam Việt Nam, Hoàng Thị My đã đề cập đến một số bệnh hại lá, chủ yếu là bệnh gỉ sắt, phấn trắng, nấm bồ hóng… có thể nói từ sau cách mạng tháng 8/1945 nhất là từ ngày miền Bắc hoàn toàn giải phóng (1945), nước ta xây dựng một nền nông - lâm nghiệp lớn xã hội chủ nghĩa Với phương thức sản xuất tập trung thì phương pháp bảo vệ cây chống sâu bệnh có nhiều thuận lợi hơn trước, sản xuất có kế hoạch, có tập trung tổ chức, cho phép từng bước xây dựng nề nếp cho công tác bệnh cây, tạo điều kiện đi sâu tìm hiểu nguyên nhân gây bệnh, chủ động các biện pháp phòng trừ
Cùng với sự giúp đỡ tận tình của các chuyên gia nước ngoài và các cơ quan nghiên cứu, cho đến nay chúng ta đã có thể biết được gần 1000 loài nấm gây bệnh cho gần 100 loài cây rừng; trong đó có khoảng 600 loài nấm mục
gỗ, trên 300 loài nấm hại lá, hại thân, hại cành, hại rễ; trên 50 loài cây rừng bị bệnh ở mức độ nghiêm trọng và đã có những công trình nghiên cứu cụ thể Trên
cơ sở nắm vững quy luật phát sinh phát triển của bệnh cây, những nhà nghiên cứu bệnh cây rừng cũng đề xuất biện pháp phòng trừ
Từ năm 1971, với nhiều công trình nghiên cứu của mình, Trần Văn Mão đã bắt đầu công bố một số bệnh cây như quế, trẩu, sở, hồi… ông đã xác định được nguyên nhân gây bệnh, điều kiện phát bệnh và phương pháp phòng trừ một số bệnh hại lá Các tác giả Nguyễn Sỹ Giáo, Đỗ Xuân Quý, Phạm Xuân Mạnh… đã nghiên cứu trên lá keo phát hiện ra một số loại bệnh hại như: Cháy lá, phấn trắng (Trần văn mão,1997) [19] Nhiều chuyên gia nước ngoài như ấn Độ, Mỹ đã từng đến Việt Nam nghiên cứu về bệnh hại lá keo như: Hodge (1990), Zhon (1992), Sharma (1994) và công bố trong báo cáo chuyên đề bệnh cây ở Hà Nội Hiện nay ở nước ta đã có các cơ quan về lâm
Trang 26nghiệp có các bộ phận chuyên trách về phòng trừ sâu bệnh hại như Viện khoa học lâm nghiệp Việt Nam, viện điều tra quy hoạch rừng và các trung tâm bảo
vệ rừng (Trần Văn Mão, 1997) [19]
Các bệnh đốm lá, gỉ sắt, khô héo gây tổn thất lớn Do vậy cần phải có biện pháp phòng trừ như chọn giống, chọn vườn ươm, gieo đúng thời vụ, xới xáo, diệt cỏ, tưới nước, bón phân hợp lý, che bóng kịp thời thì sẽ giảm được nhiều khả năng lây lan xâm nhiễm của bệnh tạo điều kiện cho cây con phát triển tốt (Trần Văn Mão, 1993) [16]
Qua đó, các nhà khoa học đã đề ra một số biện pháp phòng trừ sâu bệnh cho cây trồng ở vườn ươm như bệnh: lở cổ rễ, nấm thân, phấn trắng, rơm lá thông có hiệu quả cao tạo điều kiện cho cây con phát triển tốt (Trần Công Loanh,1992) [15]
Biện pháp phòng trừ chủ yếu là triệt để nguồn bệnh, thường xuyên theo dõi, kiểm tra vườn ươm, rừng trồng kịp thời phát hiện bệnh để có những biện pháp cắt bỏ lá bệnh, chặt bỏ cành nhánh rậm rạp (Trần Văn Mão, 2003) [20]
Song song với việc nghiên cứu các biện pháp phòng trừ bệnh hại rừng thì các cán bộ nghiên cứu và giảng dạy môn bệnh cây rừng đã có mối quan hệ rộng rãi với các cơ quan nghiên cứu bệnh cây rừng các nước trên thế giới để tìm ra nhiều phương pháp khác nhau để phòng trừ bệnh cây phát huy được tác dụng bảo vệ tài nguyên rừng hiện tại và tương lai (Trần Văn Mão, 1995) [18]
Đến nay, khoa học bệnh cây rừng ngày càng đáp ứng nhu cầu kinh doanh lâm nghiệp Việc nghiên cứu tìm hiểu đặc tính sinh vật học, sinh thái học của mỗi loài bệnh là một vấn đề quan trọng, nó là cơ sở lý luận để đưa
ra biện pháp phòng trừ hiệu quả Các công trình nghiên cứu về bệnh hại cây con ở vườn ươm, các tác giả đã có kết luận ở giai đoạn vườn ươm cây con chủ yếu mắc phải một số bệnh như: phấn trắng lá keo, cháy lá, khảm lá, thối
cổ rễ Trong đó, bệnh thối cổ rễ là khá phổ biến và thường bị hại nặng nhất (Trần Văn Mão,1993) [16]
Trang 27Khi thử nhiệm 3 loại thuốc thì tác giả rút ra kết luận cả 3 loại thuốc đều hiệu lực trong phòng trừ bệnh cổ rễ Sau đó tác giả đã rút ra kết luận rằng hiệu lực của mấm Carbenzem 500 FL có hiệu lực nhất trong 3 loại thuốc đem thử nghiệm (Trần Văn Mão, 1993) [16]
Thuốc bảo vệ thực vật được cung cấp cho nhân dân để phòng trừ bệnh hại cây trồng đã áp dụng từ năm 1950 Số lượng các loại thuốc ngày càng tăng, biện pháp hoá học ngày càng được sử dụng rộng rãi trong sản xuất nông lâm nghiệp Với ngành Lâm nghiệp, thuốc bảo vệ thực vật chủ yếu được sử dụng để phòng trừ sâu bệnh hại ở vườn ươm, rừng mới trồng hoặc khi xuất hiện dịch bệnh lớn Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam trong nhiều năm qua đã hợp tác với Khoa Lâm nghiệp và Lâm sản thuộc Tổ chức Khoa học và Công nghệ Australia nghiên cứu về bệnh cây bạch đàn và có nhiều đợt điều tra về bệnh hại cây keo và xác định sinh vật gây bệnh trên nhiều vùng trong
cả nước cho thấy bệnh hại cây rừng chủ yếu là do các loài nấm gỉ sắt, nấm phấn trắng, nấm bồ hóng gây nên, ngoài ra còn một số loại vi khuẩn gây bệnh khô ngọn, khô cành (Phạm Quang Thu, 2002) [30]
Ở vườn ươm bệnh thối cổ rễ cây con là rất phổ biến, nấm gây bệnh sống ở trong đất, có khả năng thích ứng với môi trường lớn, phân bố rộng rãi nên rất khó phòng trừ Do vậy, cần có biện pháp kỹ thuật phòng trừ như chọn đất vườn ươm, gieo ươm đúng thời vụ thì sẽ giảm được nhiều khả năng lây lan xâm nhiễm của bệnh, tạo điều kiện thuận lợi giúp cây con phát triển tốt (Trần Văn Mão, 1993) [16]
Ở giai đoạn cây con vẫn còn non sức đề kháng còn yếu, khi gặp điều kiện bất lợi cây thường mắc bệnh nặng hơn và giảm dần khi tuổi cây tăng Các nhà khoa học đã nghiên cứu và phát hiện cây bị sâu bệnh hại không những kém giá trị về sử dụng mà ở giai đoạn gieo ươm giảm tỷ số lượng cây con do làm cây con yếu và chết hàng loạt, nếu không có biện pháp phòng trừ kịp thời thì nhiều bệnh cây con còn lây lan đến các cây ở rừng trồng làm giảm tỷ lệ sống của cây rừng (Trần Văn Mão, 1993) [16]
Trang 28Ngày nay, khoa học bệnh cây rừng ngày càng phát triển bằng việc hoàn thiện cơ sở lý luận và đưa ra những phương pháp phòng trừ bệnh hữu hiệu Nhờ đó đã làm giảm bớt những thiệt hại gây ra đối với tài nguyên rừng Nhưng bên cạnh đó vẫn còn rất nhiều bệnh nghiêm trọng mà chúng ta chưa có biện pháp giải quyết triệt để Cũng có nhiều bệnh có lúc, có nơi được dập tắt nhưng trong điều kiện mới lại gây ra dịch trở lại Cho nên vấn đề bệnh cây rừng hôm nay vẫn phải được thừa kế những kết quả nghiên cứu trước đây trên những cơ sở lý luận và phương pháp phòng trừ để sáng tạo và phát triển cho việc áp dụng phòng trừ bệnh cây trồng của ngày mai
1.3.2.1 Tình hình nghiên cứu bệnh cây keo
Từ đầu năm 1980 trở lại đây, nhiều loài keo đã được nhập về thử
nghiệm ở nước ta như keo tai tượng (A mangium), keo lá liềm (A
crassicarpa), keo bụi (A cincinnata) keo lá sim (A holosericea) và sau này
keo lai tự nhiên được phát hiện và chủ động lai tạo (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2003) [24]
Mùa xuân năm 1990, các xuất xứ Keo tai tượng và Keo lá tràm gieo tại vườm ươm Chèm, Từ Liêm, Hà Nội đã bị bệnh phấn trắng lá với các mức độ khác nhau Nhìn bề ngoài, lá keo như bị rắc một lớp bột phấn trắng hay vôi bột Mức độ bệnh đã được đánh giá qua quan sát bằng mắt thường và được xếp theo thứ tự nặng hay nhẹ Nhìn chung bệnh đã chưa gây nên ảnh hưởng gì lớn tới sinh trưởng của cây con tại vườn ươm và tác giả cũng không có điều kiện để tìm hiểu sâu hơn về nguồn gốc bệnh và các vấn đề có liên quan (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2003) [24]
Hiện nay, đề tài "chọn giống sinh trưởng nhanh và kháng bệnh cho keo
và bạch đàn" đang được triển khai việc điều tra, khảo sát bệnh hại cũng như
cố gắng chọn được các loài, xuất xứ và dòng kháng bệnh cho trồng rừng tương lai Trong thực tế một số nấm bệnh đã được phân lập từ một số loài keo
như Glomerella cingulata gây bệnh đốm lá ở A simsii, Uromycladium robinsonii
Trang 29gây bệnh gỉ sắt ở các loài keo A melanoxylon, Oidium sp gây bệnh phấn trắng trên các loài A mangium và A auriculiformis ở Trung Quốc nhưng loài
A Confusa (Đài Loan tương tư) địa phương lại không bị (Nguyễn Hoàng
Nghĩa, 2003) [24]
Một vài năm gần đây, khi diện tích gây trồng keo đã tăng lên đáng kể (gần 500.000 ha vào cuối năm 2007) thì cũng đã xuất hiện bệnh ở rừng trồng Tại Đạ Tẻh (Lâm Đồng) Keo tai tượng trồng thuần loài trên diện tích 400 ha
đã có 118,5 bị bệnh với tỷ lệ từ 7 đến 59% trong đó có một số diện tích bị bệnh khá nặng Tại Bầu Bàng, một số dòng keo lai đã bị mắc bệnh phấn hồng (Pink Disease) với tỷ lệ và mức độ mắc bệnh khá cao gây thiệt hại cho sản xuất Tại Kon Tum năm 2001 có khoảng 100 ha rừng keo lai 2 tuổi bị nhiễm bệnh loét thân, thối vỏ và dẫn đến khô ngọn Tỷ lệ nặng nhất là ở Ngọc Tụ, Ngọc Hồi (Kon Tum) lên đến 90% số cây bị chết ngọn [24] [30]
Nguyễn Hoàng Nghĩa (2001- 2005) thực hiện đề tài "Chọn giống kháng bệnh cho năng suất cao, kháng bệnh cho bạch đàn và keo", tác giả đã tiến hành điều tra bệnh hại các loài keo ở vườn ươm và rừng trồng, một số bệnh quan trọng được tác giả nhắc đến là: bệnh phấn hồng do nấm
Corticium salmonicolor, bệnh loét thân do nấm Botryosphaeria sp., bệnh
đốm lá do nấm Colletotrichum gloeosporioides và nấm Pestalotiopsis
neglecta và pestalotiopsis acaciae, bệnh rỗng ruột do nấm Ganoderma spp
(Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2001) [23]
Bệnh “Die-back’ hay còn gọi là bệnh chết ngược Bệnh xâm nhiễm trên
keo lá tràm (Acasia auriculiformis), phân bố cả phía Nam và phía Bắc Bệnh
xuất hiện thành từng đám trên rừng trồng làm chết lụi từng đám nhỏ keo 15% số cây (diện tích không quá 0,3ha) Bệnh úa vàng Tỷ lệ cây bị nhiễm bệnh úa vàng cao hơn các bệnh khác trên keo Bệnh gây hại trên cả keo tai
10-tượng (A mangium) và keo lá tràm (A auriculiformis) Keo lá tràm nhiễm
bệnh cao hơn keo tai tượng Bệnh làm cho cây rụng lá sớm Theo Jyoti K.Sharma, bệnh có thể do virus gây ra, chứ không phải thiếu chất dinh dưỡng
Trang 30Bệnh phấn trắng lá keo phân bố cả hai miền Nam, Bắc Bệnh nặng có thể làm cho lá rụng, cây khô rồi chết Tỷ lệ bị bệnh như cây ở Lào Cai, lên đến 60%, gây ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây [2]
Bệnh hại lá: Bệnh phấn trắng lá Keo là một loại bệnh phổ biến ở vườn ươm và rừng mới trồng Nó gây hại các loài Keo kể cả Keo tai tượng, Keo lai
và Keo lá tràm, bệnh nặng tỷ lệ cây bệnh có khi lên tới 80 - 90% làm cho cây chết hoặc sinh trưởng kém không đủ tiêu chuẩn xuất vườn, gây nên những tổn thất trong kinh doanh lâm nghiệp
Triệu chứng: Hiện tượng rõ nhất của nấm phấn trắng là lúc đầu trên mặt
lá và phần ngọn non xuất hiện các đốm bột màu trắng, các đốm trắng lan dần không rõ hình dạng, bệnh nặng thì cả hai mặt lá được phủ kín lớp bột màu trắng như phấn
Tác hại: Sau một thời gian bị bệnh cây quang hợp rất kém, mép lá khô
và xoăn lại, ngọn khô dần mà chết (Đặng Kim Tuyến, 2014) [35]
Trong báo cáo tổng kết đề tài cấp bộ, khi nghiên cứu về bệnh gỉ sắt cây keo tại rừng phòng hộ Hồi Núi Cốc, tác giả Đặng Kim Tuyến 2006 [34] đã chỉ ra rằng việc sử dụng biện pháp phun thuốc hóa học và biện pháp kỹ thuật lâm sinh thông qua vệ sinh rừng và chặt bỏ các cây, cành bệnh sớm là có hiệu quả tốt
Những nghiên cứu về sâu bệnh hại trên cho thấy trong thời gian qua, việc nghiên cứu biện pháp phòng trừ sâu bệnh hại ở nước ta đã có những
Trang 31bước phát triển nhanh chóng và có nhiều đóng góp nhằm nâng cao hiểu biết
về sâu bệnh hại, nâng cao hiệu quả trong nghiên cứu cũng như sản xuất kinh doanh rừng Tuy nhiên các nghiên cứu về sâu bệnh hại ở địa phương còn rất ít
và hạn chế nên chưa đáp ứng được mục tiêu kinh doanh rừng ổn định lâu dài Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, tác giả muốn đóng góp một phần nhỏ trong nghiên cứu khoa học về bệnh hại cây rừng nói chung và bệnh hại cây con vườn ươm nói riêng ở địa phương
1.4 Tổng quan khu vực nghiên cứu
1.4.1 Điều iện tự n iên củ u vực ng iên cứu
* Vị trí địa lý
Vườn ươm khoa Lâm Nghiệp Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên cách trung tâm thành phố khoảng 3km về phía tây nằm trong địa bàn xã Quyết Thắng
- Phía Nam vườn ươm giáp với phường Thịnh Đán
- Phía Bắc vườn ươm giáp với phường Quán Triều
- Phía Đông vườn ươm giáp với khu dân cư
- Phía Tây vườn ươm giáp với xã Phúc Hà
+ Địa hình
Xã Quyết Thắng chủ yếu là đồi bát úp không có núi cao, có độ dốc trung bình từ 10-25 độ, có độ cao trung bình từ 50-70m Nói chung xã Quyết Thắng có địa hình thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam
* Đặc điểm khí hậu thủy văn
+ Khí hậu
Xã Quyết Thắng là một xã nằm trong địa bàn thành phố Thái Nguyên nên cũng là một xã nằm trong vùng khí hậu gió mùa Do vậy điều kiện khí hậu rất thuận lợi đối với sự phát triển của sản xuất nông lâm nghiệp Do đặc điểm của địa hình và sự phân bố lượng mưa hàng năm nên thường ít có lũ quét, lũ ống hay lở đất, và ảnh hưởng của gió bão là rất ít
Trang 32Theo số liệu quan trắc của Trạm khí tượng thủy văn Thái Nguyên cho thấy xã Quyết Thắng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, thời tiết chia làm 4 mùa; Xuân - Hạ - Thu - Đông, song chủ yếu là 2 mùa chính; Mùa mưa
và mùa khô Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, cụ thể:
Chế độ nhiệt: Nhiệt độ trung bình năm khoảng 22 - 230C
Nắng: Số giờ nắng cả năm là 1.588 giờ Tháng 5 - 6 có số giờ nắng nhiều nhất (khoảng 170 - 180 giờ)
Lượng mưa: Trung bình năm khoảng 2007 mm/năm, tập trung chủ yếu vào mùa mưa (tháng 6, 7, 8, 9) chiếm 85% lượng mưa cả năm, trong đó tháng
7 có số ngày mưa nhiều nhất
Độ ẩm không khí: Trung bình đạt khoảng 82% Độ ẩm không khí nhìn chung không ổn định và có sự biến thiên theo mùa, cao nhất vào tháng 7 (mùa mưa) lên đến 86,8%, thấp nhất vào tháng 3 (mùa khô) là 70% Sự chênh lệch
độ ẩm không khí giữa 2 mùa khoảng 10 - 17%
Gió, bão: Hướng gió thịnh hành chủ yếu vào mùa nóng là gió mùa Đông Nam và mùa lạnh là gió mùa Đông Bắc
ảng 1.1 Một số yếu tố khí hậu từ tháng 8/2014 đến tháng 3 năm 2015 tại
tỉnh Thái Nguyên Tháng Nhiệt độ trung bình (°C) Lượng mưa (mm)
Trang 33+ Thủy văn
Xã Quyết Thắng không có sông lớn chảy qua địa bàn do vậy chủ yếu chịu ảnh hưởng chế độ thuỷ văn hệ thống kênh đào Hồ Núi Cốc, suối và ao trên địa bàn, phục vụ cơ bản cho nhu cầu sản xuất và đời sống sinh hoạt của nhân dân
1.4.2 Điều iện dân sin - in tế xã ội
* Dân số - lao động
Xã Quyết Thắng có tổng số dân là 10.474 người, người dân nơi đây đa
số sống chủ yếu dựa vào nghề sản xuất nông lâm nghiệp, chăn nuôi, hoạt động dịch vụ và đi làm thuê ngoài trong những lúc nông nhàn Trình độ dân trí ở đây tương đối cao nhưng tỷ lệ hộ sống dựa vào ngành nông nghiệp vẫn còn cao
Số lao động trong độ tuổi là khoảng 5523 người chiếm 59,92% trong tổng số nhân khẩu của toàn xã
* Giao thông- thủy lợi
- Giao thông
Xã Quyết Thắng có hệ thống giao thông tương đối hoàn chỉnh, các tuyến đường liên xã đều được nhựa hóa, hệ thống liên thôn đều được bê tông hóa tiện cho việc đi lại Tuy nhiên chất lượng một số tuyến đường còn thấp nên gây khó khăn trong việc trao đổi mua bán hàng hóa của người dân
- Thủy lợi
Quyết Thắng không có sông lớn chảy qua địa bàn do vậy chủ yếu chịu ảnh hưởng chế độ thuỷ văn hệ thống kênh đào Núi Cốc, Suối và hồ, ao trên địa bàn, phục vụ cơ bản cho nhu cầu sản xuất và đời sống sinh hoạt của nhân dân
Ở đây người dân sống phần đa là sản xuất nông lâm nghiệp, vì vậy công tác thủy lợi được chính quyền xã cùng với nhân dân rất quan tâm và đầu
tư Toàn xã xây dựng được 15km kênh mương đảm bảo cung cấp đủ nước cho sản xuất Hiện nay các thôn xóm cũng đã và đang tiến hành xây dựng những đoạn kênh mương còn lại nhằm đảm bảo cho việc cung cấp nước cho sản xuất nông lâm nghiệp đạt hiệu quả tốt
Trang 34- Dịch vụ: Hiện nay dịch vụ đang có sự phát triển đi lên Nhìn chung kinh tế của xã vẫn chưa cao, quy mô sản xuất chưa lớn và chưa có kế hoạch
cụ thể, rõ ràng đây là một điểm hạn chế của xã Trong xã chưa phát triển tương đối giữa các ngành, mức sống của người dân vẫn chưa đồng đều
Trong những năm gần đây mức sống của người dân tăng lên rõ rệt Hệ thống cơ sở hạ tầng của xã được đầu tư và phát triển đặc biệt là hệ thống giao thông, thủy lợi là lĩnh vực quan trọng để phục vụ về các mặt của đời sống, kinh tế, xã hội của nhân dân trong xã
1.5 Tài nguyên đất
Đất đai của xã Quyết Thắng được hình thành do hai nguồn gốc: Đất hình thành tại chỗ do phong hoá đá mẹ và đất hình thành do phù sa bồi tụ Nhóm đất phù sa chiếm tỷ lệ ít, là nhóm đất ở địa hình bằng, được bồi đắp bởi sản phẩm phù sa của dòng chảy của các suối và do thời tiết, thời gian được chia thành Đất phù sa không được bồi hàng năm trung tính ít chua, thành phần cơ giới chủ yếu là thịt trung bình đất phù sa ít được bồi hàng năm trung tính ít chua, thành phần cơ giới cát pha thịt nhẹ
Nhóm đất xám bạc màu: phát triển trên đất phù sa cổ có sản phẩm Feralitic trên nền cơ giới nặng, đây là đất bạc màu có thành phần cơ giới nhẹ,
dễ bị sói mòn, rửa trôi
Nhóm đất Feralitic: phân bố chủ yếu ở địa hình đồi núi, được phát triển trên phù sa cổ, dăm cuội kết và cát kết, loại đất này diện tích khá lớn
Trang 35Đất khu vực vườn ươm là đất dốc tụ pha cát lẫn với đá nhỏ, đất có màu xám đen, hàm lượng dinh dưỡng trong đất thấp do đã sử dụng nhiều năm Đất
là đất feralit, nguồn gốc của đất xuất phát từ đá sa thạch, độ pH của đất thấp, đất nghèo mùn Đất có độ màu mỡ thấp nên cây con sinh trưởng và phát triển mức trung bình, đôi khi có cây phát triển thấp
Trang 36Chương 2
N I DUNG V PHƯ NG PH P NGHI N CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng ng iên cứu
Đối tượng nghiên cứu là bệnh phấn trắng và bệnh thối cổ rễ trên cây keo
tai tượng thuộc họ (Fabaceae)
2.1.2 Đị điểm, t ời gi n và p ạm vi ng iên cứu
* Đị điểm ng iên cứu
Đề tài tiến hành điều tra, thu mẫu keo tai tượng bị bệnh tại vườn ươm trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên
* T ời gi n ng iên cứu
Đề tài được thực hiện từ tháng 8/2014 đến tháng 5/2015
* P ạm vi ng iên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu một số bệnh hại chính trên cây Keo tai tượng ở giai đoạn vườn ươm là bệnh phấn trắng và bệnh thối cổ rễ
2.2 Nội dung nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu trên, luận văn đặt ra các nghiên cứu sau:
2.2.1 K ảo sát vườn ư m u vực ng iên cứu xác địn bện ại c ín
- Tình hình vệ sinh vườn ươm
- Điều tra thành phần bệnh hại, xác định bệnh hại chính
- Đánh giá tình hình phân bố bệnh cây
2.2.2 K ảo ng iệm iệu lực củ một số loại t uốc đối với bện ại c ín cây eo t i tượng
- Bệnh thối cổ rễ
- Bệnh phấn trắng
2.2.3 Ản ư ng củ tuổi cây và c ế độ c ăm sóc, mật độ đến mức độ gây
ại củ bện ại c ín cây keo ườn ư m
- Ảnh hưởng của tuổi cây chủ đến tỷ lệ và mức độ bị bệnh
- Ảnh hưởng của mật độ đến sự phát sinh và phát triển của bệnh
Trang 37- Ảnh hưởng của chế độ chăm sóc đến sự phát sinh, phát triển của bệnh
2.2.4 Đặc điểm p át sin p át triển củ bện ại c ín và đề xuất các biện
p áp p òng trừ
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 P ư ng p áp ế t ừ số liệu có c n l c
Điều tra thành phần bệnh hại, chuẩn đoán nguyên nhân gây bệnh, thống
kê thành phần bệnh hại, xác định bệnh hại chính và nguyên nhân gây bệnh cây Keo giai đoạn vườn ươm
Trong qua trình thực hiện đề tài chúng tôi đã kế thừa một số tài liệu về điều kiện tự nhiên, dân sinh kinh tế - xã hội của khu vực nghiên cứu tỉnh Thái Nguyên Những tài liệu cây keo, tình hình bệnh hại và các loại bệnh hại chủ yếu cây keo ở giai đoạn vườn ươm và kết quả giám định tên vật gây bệnh kết hợp với tra cứu tài liệu của các nhà khoa học
2.3.2 P ư ng p áp ng iên cứu t ực ng iệm ết ợp với điều tr qu sát trực tiếp
ước 1: Chuẩn bị các vật dụng phục vụ cho công tác điều tra và điều tra sơ bộ
Các dụng cụ gồm có: Thước dây, địa bàn, cọc, dao, giấy bút, bình phun, nhiệt ẩm kế, kính hiển vi, kính lúp, các loại thuốc hóa học đem thử nghiệm, hệ thống bảng biểu phù hợp phục vụ cho công tác điều tra bệnh hại ở vườn ươm [19]
Khảo sát, điều tra và đánh giá sơ bộ về tình hình phân bố bệnh và đánh giá mức độ nhiễm bệnh chung của cây Keo trong khu vực nghiên cứu
Đánh dấu những loài cây bị bệnh nặng, những khu vực, luống bị bệnh
và những loại bệnh hại chủ yếu trên cây keo
Từ những số liệu thu thập được thông qua khảo sát được bệnh hại trên cây keo, đề tài đã tiến hành lập các ô dạng bản (ODB) trên các luống reo, để đánh giá tần suất, xuất hiện bệnh của mỗi loại bệnh hại thông qua triệu chứng trên cây bị bệnh Căn cứ vào tần suất đó để xác định bệnh hại chính trên cây keo là bệnh phấn trắng và bệnh thối cổ rễ:
Trang 38Tần suất xuất hiên:
Đối với phương pháp hóa học: Mỗi luống gieo lập 5 ô dạng bản để áp
dụng biện pháp thử nghiệm, diện tích mỗi ô là 1m2 Trên ô thí nghiệm ứng với 1 công thức là 1 loại thuốc hóa học, mỗi công thức có 3 lần nhắc lại (Đặng Kim Tuyến, 2003) [33]
Điều tra đánh giá tình hình phân bố bệnh cây trên mỗi ô thí nghiệm
K ảo ng iệm một số loại t uốc ó c
Đặc điểm của các loại thuốc thí nghiệm:
Dụng cụ cần thiết để tiến hành thí nghiệm khác như: Bình phun, các loại thuốc khảo nghiệm, thước dây, sổ ghi chép và bảng, xô chậu và các dụng
cụ cần thiết khác
Thử nghiệm hiệu lực một số loại thuốc hóa học trong phòng trừ bệnh: Đánh giá mức độ hại bệnh thối cổ rễ cây Keo trước và sau mỗi lần sử dụng thuốc và tìm ra loại thuốc có hiệu lực phòng trừ cao nhất Danh lục một số loại thuốc thử nghiệm được ghi tại bảng 2.1 sau:
ảng 2.1 Tên thuốc và hoạt chất các loại thuốc sử dụng của bệnh hại rễ
3 Đồng Cloruloxi 30wp Copper oxychloride 30% Bột
4 Ridomil GoldR 68WG Metalaxy M 40g/kg
Trang 39- Ridomil GoldR 68WG thuốc trị bệnh nội hấp cực mạnh trị các bệnh: Vàng lá, sương mai, thán thư, xỉ mủ, loét sọc, chết cây con, thối nõn, mốc sương, đốm cành, đốm lá
Pha 100g/bình 16 lít Phun 3 bình/1000 m2, như vậy tương ứng với 160 lít dung dịch trên 1ha
- AficoR 70wp là thuốc có trị bệnh nội hấp có tác dụng phòng trừ các loại bệnh: Khô vằn, đạo ôn, lem lép hạt hại lúa, thán thư, sương mai, thối cổ
rễ, mốc xám, đốm lá, đốm quả, rỉ sắt…
Pha 1 gói thuốc (25g)/ bình 8 lít nước Lượng nước phun 400L/ha
- AnvilR 5sc là thuốc đặc trị nhiều loại bệnh: Khô vằn, lem lép hạt hại,
rỉ sắt, nấm hồng, đốm vòng, phấn trắng, lở cổ rễ, đốm lá, ghẻ sẹo, vàng lá…
Pha 10- 20ml/bình 16L Phun 3- 5bình/1000m2 như vậy tương ứng với
160 lít dung dịch trên 1ha
- Đồng Cloruloxi 30wp là thuốc trị các loại bệnh: Sương mai, đốm vòng, phấn trắng, thán thư, đổ ngã cây con, đốm lá, rỉ sắt, mốc sương…
Pha 2- 2.5kg/ha Lượng nước thuốc 400 - 500 lít/ha hay pha 50g vào bình 10- 12 lít phun cho 250m2
Thử nghiệm hiệu lực một số loại thuốc hóa học trong phòng trừ bệnh: Đánh giá mức độ hại bệnh phấn trắng lá Keo trước và sau mỗi lần sử dụng thuốc và tìm ra loại thuốc có hiệu lực phòng trừ cao nhất
ảng 2.2 Thông tin về các loại thuốc sử dụng phòng trừ bệnh phấn trắng
lá Keo
1 Score 250 ECR Difenoconazole 250g/l Nhũ dầu
2 DaconilR 75wp Chlorothalonil 75% Bột
Trang 40- Score 250 ECR làthuốc đặc trị bệnh phấn trắng, thán thư, đốm đen, gỉ sắt, giác ban, chấm xám, đốm vòng, muội đen, đốm nâu, đốm cành
Pha 10ml/bình 16 lít Phun 2.5- 3 bình/1000m2
- DaconilR 75wp là thuốc dạng bột hòa nước, phổ tác dụng rộng, trừ được nhiều loại bệnh trên cây trồng: phấn trắng, đổ ngã cây con, mốc sương, đốm lá, thán thư, đạo ôn, khô vằn Hiệu lực trừ bệnh cao kéo dài
Pha 15g/bình 10 lít Phun 400- 500 lít/ha
- Anvil R 5sc là thuốc đặc trị nhiều loại bệnh: khô vằn, rỉ sắt, phấn trắng, nấm hồng, đốm vòng, lở cổ rễ, đốm lá, ghẻ sẹo, vàng lá…
Pha 100-170ml/100l nước Phun 500- 600l nước/ha
- ManageR 5wp là thuốc trị bệnh nội hấp, tác dụng nhanh, hiệu quả cao với nhiều loại bệnh như: phấn trắng, thán thư, gỉ sắt, đốm lá, phồng lá…
Pha 15-20g thuốc với bình phun 8 lít nước, phun thuốc bám ướt đều (Các liều lượng pha chế được tuân theo chỉ dẫn ngoài bao bì và tờ rơi của nhà sản xuất thuốc bảo vệ thực vật cung cấp)
Với mỗi biện pháp còn lại này, tiến hành lập 3 ODB thí nghiệm và 3 ODB đối chứng, diện tích ODB là 1m2, từ đó tiến hành điều tra thu thập số liệu cho việc đánh giá và so sánh
ước 3: Điều tra tỷ mỉ
Điều tra mức độ gây hại trên các ODB trong mỗi công thức thí nghiệm + Đối với bệnh thối cổ rễ thì điều tra tất cả số cây trong ODB Đếm số cây bị hại và tổng số cây trong ODB
+ Đối với bệnh phấn trắng thì tại ODB cứ cách 2 hàng điều tra một hàng trong hàng điều tra tất cả số cây, trên cây điều tra tất cả số lá
Để điều tra mức độ bị hại của lá ta dựa vào cơ sở phân cấp mức độ
bệnh hại lá làm 5 cấp sau:
Cấp 0: lá không bị hại