Nguyễn Phúc Cảnh, Nguyễn Quốc Anh, Nguyễn Hồng Quân 2013, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường: “Đặc điểm ngân hàng tác động đến sự truyền dẫn của chính sách tiền tệ qua kênh tín dụng
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
*****
NGUYỄN PHÚC CẢNH
TRUYỀN DẪN CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ
KÊNH CHO VAY TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 62.34.02.01
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Tp Hồ Chí Minh, năm 2016
Trang 2DANH SÁCH CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ
Bài báo
Võ Xuân Vinh, Nguyễn Phúc Cảnh (2015), “Các yếu tố ảnh hưởng đến kênh cho vay trong
truyền dẫn chính sách tiền tệ”, Tạp chí Công nghệ ngân hàng 112, 7/2015, p.38-47, Trường Đại học
Ngân hàng Tp Hồ Chí Minh, Việt Nam
Nguyễn Phúc Cảnh (2015), “Cơ chế truyền dẫn của Chính sách tiền tệ: Các nghiên cứu lý
thuyết và thực nghiệm trên thế giới”, Tạp chí khoa học và đào tạo ngân hàng 154, 3/2015, p.29 – 41,
Học viện ngân hàng, Việt Nam
Võ Xuân Vinh & Nguyễn Phúc Cảnh (2014), “Monetary policy and bank credit risk in
Vietnam pre and post global financial crisis”, Contemporary Studies in Economic and Financial
Analysis, Vol 96; Risk Management Post Financial Crisis: A Period of Monetary Easing, Emerald Group Publishing Limited, United Kingdom, p.277-290
Nguyễn Phúc Cảnh, Trầm Thị Xuân Hương, Võ Xuân Vinh (2014), “Truyền dẫn của chính
sách tiền tệ: một số mô hình kiểm định phù hợp”, Tạp chí phát triển và hội nhập 16 (26), P.41 - 46,
6/2014, Trường Đại học kinh tế tài chính Tp Hồ Chí Minh, Việt Nam
Nguyễn Phúc Cảnh, Trầm Thị Xuân Hương, Võ Xuân Vinh (2014), “Nới lỏng định lượng và
lạm phát mục tiêu trên thế giới - bài học cho Việt Nam”, Tạp chí Công nghệ ngân hàng 99, p.40 -
48, 6/2014, Trường Đại học Ngân hàng Tp Hồ Chí Minh, Việt Nam
Nguyễn Phúc Cảnh, Trầm Thị Xuân Hương, Võ Xuân Vinh (2014), “Truyền dẫn của chính
sách tiền tệ qua kênh lãi suất ngân hàng tại Việt Nam trước và sau khủng hoảng”, Tạp chí phát
triển kinh tế 283, p.42 - 67, 5/2014, Trường đại học kinh tế Tp Hồ Chí Minh, Việt Nam
Nguyễn Phúc Cảnh, Trầm Thị Xuân Hương, Võ Xuân Vinh (2014), “Truyền dẫn của chính
sách tiền tệ qua kênh tỷ giá tại Việt Nam – trước và sau khủng hoảng”, Tạp chí khoa học và đào
tạo ngân hàng 143, p.27 - 35, 4/2014, Học viện ngân hàng, Việt Nam
Nguyễn Phúc Cảnh (2014), “Truyền dẫn của chính sách tiền tệ qua kênh giá tài sản tài
chính: nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam”, Tạp chí phát triển và hội nhập 19(29), 11-12/2014,
Trường Đại học kinh tế tài chính thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam
Nguyễn Phúc Cảnh (2013), “Chính sách lạm phát mục tiêu- cơ chế giám sát độc lập và cơ
hội cho việt nam trong quá trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại”, Tạp chí phát triển
và hội nhập 13 (23), 11/2013, Trường Đại học kinh tế tài chính Tp Hồ Chí Minh, Việt Nam
Nguyễn Phúc Cảnh, Nguyễn Quốc Anh, Nguyễn Hồng Quân (2013), “Đặc điểm ngân hàng
tác động đến sự truyền dẫn của chính sách tiền tệ qua kênh tín dụng ngân hàng tại Việt Nam”,
Tạp chí phát triển kinh tế 276, 10/2013, p.75 – 91, Trường đại học kinh tế Tp Hồ Chí Minh, Việt Nam
Hội thảo
Võ Xuân Vinh, Nguyễn Phúc Cảnh (2014), “Monetary policy transmission in Vietnam:
evidence from a VAR approach”, the 27th Australasian Finance and Banking conference, 16 – 18 December 2014, UNSW Business School, Sydney, Australia
Trang 3Trầm Thị Xuân Hương, Võ Xuân Vinh, Nguyễn Phúc Cảnh (2014), “Effect of monetary policy
to trade balance on open developing country: a case of Vietnam”, ICFE 2014 - The International
Conference on Finance and Economics Ton Duc Thang University, Ho Chi Minh City, Vietnam, June
2nd - 4th, 2014
Nguyễn Phúc Cảnh (2014), “Bank risk pre and post global financial crisis in Vietnam: a
survey”, ICFE 2014 - The International Conference on Finance and Economics Ton Duc Thang
University, Ho Chi Minh City, Vietnam, June 2nd - 4th, 2014
Trầm Thị Xuân Hương, Võ Xuân Vinh, Nguyễn Phúc Cảnh (2014), “Hiệu quả công cụ lãi
suất trong điều hành chính sách tiền tệ Việt Nam”, Hội thảo tổng kết các vấn đề lý thuyết và thực
tiễn 30 năm đổi mới, Trường Đại học kinh tế Tp Hồ Chí Minh, 01/21/2014
Trầm Thị Xuân Hương, Nguyễn Phúc Cảnh (2013), “Truyền dẫn của Chính sách tiền tệ qua
kênh lãi suất ngân hàng thương mại ở Việt Nam”, Hội thảo phân tích rủi ro lãi suất của ngân hàng
thương mại tại khu vực Tp Hồ Chí Minh, Đại học ngân hàng Tp Hồ Chí Minh, Việt Nam
Công trình nghiên cứu
Nguyễn Phúc Cảnh, Võ Xuân Vinh (2015), “Vai trò của tỷ giá hối đoái trong điều hành
chính sách tiền tệ tại Việt Nam”, Đề tài cấp trường, trường Đại học kinh tế Tp.HCM, chủ nhiệm,
CS-2015-44
Võ Xuân Vinh, Nguyễn Phúc Cảnh (2014), Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường “Monetary
policy and bank credit risk in Vietnam pre and post global financial crisis”, Trường đại học kinh
tế Tp Hồ Chí Minh, Việt Nam
Nguyễn Phúc Cảnh, Nguyễn Quốc Anh, Nguyễn Hồng Quân (2013), Đề tài nghiên cứu khoa
học cấp trường: “Đặc điểm ngân hàng tác động đến sự truyền dẫn của chính sách tiền tệ qua
kênh tín dụng ngân hàng tại Việt Nam”, Trường đại học kinh tế Tp Hồ Chí Minh, Việt Nam
Sách
Võ Xuân Vinh, Nguyễn Phúc Cảnh (2016), Sách chuyên khảo: “Chính sách tiền tệ: nghiên
cứu ứng dụng các mô hình định lượng”, Nhà xuất bản kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 4Tóm tắt
Nghiên cứu này xem xét sự tồn tại của kênh lãi suất, kênh tỷ giá, kênh giá tài sản và kênh cho vay trong truyền dẫn chính sách tiền tệ tại Việt Nam Thêm vào đ1o, nghiên cứu này xem xét các yếu tố tác động đến kênh cho vay cũng như ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính toàn cầu nằm 2008 đến kênh truyền dẫn này Nghiên cứu phát hiện bằng chứng của kênh chi phí tại Việt Nam, điều này phản ánh tính không hiệu quả của chính sách tiền tệ trong kiểm soát lạm phát, vì vậy đây là thách thức rất lớn cho các nhà hoạch định chính sách Việt Nam trong điều hành chính sách tiền tệ Tuy nhiên, nghiên cứu này lại không phát hiện bằng chứng có ý nghĩa thống kê về kênh tỷ giá và kênh giá tài sản chứng tỏ hai kênh truyền dẫn này yếu hoặc không tồn tại ở Việt Nam Nghiên cứu này cũng phát hiện bằng chứng của kênh cho vay tại Việt Nam, trong đó kênh cho vay bị ảnh hưởng bởi đặc điểm của ngân hàng thương mại như quy mô và vốn của ngân hàng Nghiên cứu này cũng phát hiện thấy rằng khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 có tác động mạnh đến kênh cho vay làm kênh cho vay mạnh hơn trong giai đoạn khủng hoảng
Trước tiên, với các kết quả nghiên cứu đó, luận án này có đóng góp về mặt lý thuyết về sự tồn tại của kênh chi phí tại quốc gia nhỏ và mở cửa Tiếp đến luận án này có đóng góp bằng chứng thực nghiệm
về sự tồn tại của kênh cho vay, các yếu tố tác động bao gồm cả tác động của khủng hoảng đến kênh cho vay tại một quốc gia mới nổi như Việt Nam Thứ ba, luận án này có đóng góp quan trọng cho nhà hoạch định chính sách Việt Nam trong thực thi chính sách tiền tệ và ổn định hệ thống ngân hàng và thị trường tài chính, đặc biệt trong trường hợp Việt Nam phải đối mặt với các cú sốc từ bên ngoài như khủng hoảng toàn cầu Với khía cạnh học thuật, luận án này xác định rằng những nhà nghiên cứu kinh tế nên kiểm tra sự tồn tại của tất cả các kênh truyền dẫn trong cùng một mô hình để dễ dàng kiểm soát tốt hơn các tương tác giữa các kênh và hiệu quả của từng kênh Với kết quả thực nghiệm, luận án có những hàm ý chính sách quan trọng cho nhà hoạch định chính sách Việt Nam như phát triển thị trường nợ và vốn, kiểm soát các hoạt động có tính rủi ro của hệ thống ngân hàng và áp dụng các chính sách tiền tệ phi truyền thống như chính sách lạm phát mục tiêu
Trang 5CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU
Nền kinh tế Việt Nam đã trai qua nhiều giai đoạn tăng trưởng cao từ năm 1994, đặc biệt giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2007 Trong đó, kinh tế Việt Nam trải qua hai giai đoạn tăng trưởng chậm lại do khủng hoảng kinh tế châu Á năm 1997 và khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008
1.1.2 Ngân hàng nhà nước Việt Nam
Trong khi đó, hoạt động của ngân hàng nhà nước Việt Nam cũng thu hút nhiều chú ý trong giai đoạn
2007 – 2012 khi nền kinh tế rơi vào giai đoạn bất ổn Năm 2010, quốc hội Việt Nam đã thông qua luật Ngân hàng nhà nước năm 2010 với nhiều thay đổi quan trọng so với phiên bản năm 2003, trong đó thay đổi quan trọng nhất là ngân hàng nhà nước được xác định rõ ràng là cơ quan thực thi chính sách tiền tệ
ở điều 2 của luật này
1.1.3 Chính sách tiền tệ Việt Nam
Ngân hàng nhà nước Việt Nam đã thực thi chính sách tiền tệ mở rộng trong giai đoạn 2000 – 2007 nhằm đối phó với khủng hoảng 1997 và thúc đẩy kinh tế phát triển, sau đó ngân hàng nhà nước tiếp tục mở rộng và thắt chặt tiền tệ nhiều lần trong giai đoạn 2008 - 2012
1.1.4 Chính sách tiền tệ và các yếu tố vĩ mô của Việt Nam
1.1.4.1 Lãi suất thị trường
Lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay cũng thay đổi theo xu hướng của VNIBOR, hai lãi suất này ổn định
ở mức thấp trong giai đoạn 2000 – 2007, sau đó biến động cùng với thay đổi trong chính sách tiền tệ như tăng trong năm 2008, giảm năm 2009, tăng trở lại trong năm 2010, 2011 và giảm trong năm 2012
1.1.4.2 Lạm phát
Tăng trưởng kinh tế nóng, đầu tư công lớn và thiếu hiệu quả cùng với tổng cầu tăng sau khi gia nhập WTO, thâm hụt ngân sách dài hạn, tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng cung tiền cao cùng ảnh hưởng của sự gia tăng trong giá cả hàng hóa thế giới làm tăng lạm phát của Việt Nam trong giai đoạn 2008 –
2012, đặc biệt trong một số năm như 2008, 2010, 2011
1.1.4.3 Tỷ giá hối đoái
Tỷ giá USD/VND tăng liên tục từ mức 10,966 năm 1994 lên 15,994 năm 2006 và 20,293 năm 2012, trong đó tỷ giá USD/VND đã tăng với tốc độ thấp và ổn định sau năm 2000 Nhưng sau năm 2007, tỷ giá USD/VND tăng với tốc độ cao trong những năm 2008, 2009, 2010, 2011 và tiếp tục xu hướng tăng trong năm 2012
1.1.4.6 Tóm lại
Trang 6Kinh tế Việt Nam tăng trưởng nhanh trong giai đoạn 2000 – 2007 Kết quả đó một phần đóng góp từ chính sách tiền tệ mở rộng, hoạt động tín dụng của hệ thống ngân hàng với lãi suất thấp và những yếu
tố khác Chính sách tiền tệ mở rộng bằng lãi suất thấp, tăng trưởng cung tiền cao trong giai đoạn 2000 – 2007 nhưng sau đó thay đổi nhiều lần trong giai đoạn 2008 – 2012
Thứ nhất, luận án này kiểm tra sự tồn tại của kênh lãi suất, kênh tỷ giá và kênh giá tài sản trong
truyền dẫn của chính sách tiền tệ tại Việt Nam, kết quả này sẽ có đóng góp có ý nghĩa cho các nhà hoạch
định chính sách trong thực thi chính sách tiền tệ Tiếp đến, luận án này kiểm tra sự tồn tại của kênh cho
vay và phân tích các yếu tố tác động đến kênh cho vay bao gồm cả khủng hoảng tài chính toàn cầu năm
2008 Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu đó, luận án này trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau:
1 Kênh nào trong các kênh lãi suất, kênh tỷ giá và kênh giá tài sản tồn tại ở Việt Nam trong truyền dẫn chính sách tiền tệ?
2 Kênh cho vay có tồn tại ở Việt Nam hay không? Và các yếu tố bao gồm quy mô, vốn, tính thanh khoản, rủi ro của ngân hàng thương mại và khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 có ảnh hưởng đến kênh cho vay tại Việt Nam hay không?
Luận án này kiểm tra các kênh truyền dẫn của chính sách tiền tệ và kênh cho vay tại Việt Nam trong giai đoạn 2003 - 2012
1.4.1 Phương pháp nghiên cứu
Trong phần chính thứ nhất, luận án sẽ sử dụng mô hình VAR để kiểm tra sự tồn tại của từng kênh
truyền dẫn bao gồm kênh lãi suất, kênh tỷ giá, và kênh giá tài sản ở Việt Nam thông qua dữ liệu theo thời gian từ năm 2003 đến năm 2012 Sau đó luận án sử dụng mô hình SVAR như mô hình chính để
kiểm tra các kênh truyền dẫn trên trong một mô hình Trong phần chính thứ hai, luận án sử dụng mô
hình GMM hệ thống để kiểm tra sự tồn tại của kênh cho vay tại Việt Nam, trong đó luận án cũng đồng thời đo lường tác động của các đặc điểm ngân hàng và khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 đến kênh cho vay thông qua dữ liệu bảng theo năm trong giai đoạn 2003 – 2012
1.4.2 Dữ liệu nghiên cứu
Luận án sử dụng hai nhóm dữ liệu: dữ liệu vĩ mô Việt Nam và dữ liệu vi mô thu thập từ báo cáo tài chính của ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2003 – 2012
Chính sách tiền tệ, ngân hàng trung ương, mục tiêu của chính sách tiền tệ, công cụ của chính sách tiền
tệ, truyền dẫn của chính sách tiền tệ, kênh cho vay
Chương 1: Giới thiệu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam
Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách
Trang 72.1.2 Ngân hàng trung ương
Ngân hàng trung ương là cơ quan độc quyền trong in và phát hành tiền, ngân hàng trung ương còn đóng vai trò là ngân hàng của chính phủ, ngân hàng của ngân hàng thương mại, người cho vay cuối cùng, cơ quan quản lý hệ thống thanh toán, cơ quan giám sát hệ thống ngân hàng và là cơ quan thực thi chính sách tiền tệ (Blinder et al., 2008, Friedman, 1999)
2.1.3 Mục tiêu của chính sách tiền tệ
Ngân hàng trung ương thực thi chính sách tiền tệ để hướng đến ổn định kinh tế, tạo việc làm, ổn định
hệ thống tài chính, nhưng ổn định giá cả vẫn luôn là mục tiêu quan trọng nhất (Cecchetti and Krause,
2002, Geraats, 2002, Issing, 2004, Spyromitros and Tuysuz, 2012, Van der Cruijsen and Demertzis,
2007, Jean Louis and Balli, 2013)
2.1.4 Công cụ của chính sách tiền tệ
Ngân hàng trung ương sử dụng lãi suất chính sách để thực thi chính sách tiền tệ như lãi suất tái chiết khấu, lãi suất liên ngân hàng Ngân hàng trung ương còn có thể mua hoặc bán chứng khoán ngắn hạn trên thị trường mở để tác động trực tiếp đến cung tiền và cầu tiền từ đó tác động đến lãi suất thị trường
và các yếu tố kinh tế khác (Thành and Hằng, 2008) Bên cạnh đó, ngân hàng trung ương còn có thể sử dụng dự trữ bắt buộc để tác động đến cung tiền vì dự trữ bắt buộc có tác động trực tiếp đến hệ số tạo tiền của hệ thống ngân hàng thương mại
2.1.5 Sự thiếu hiệu quả của chính sách tiền tệ
Chính sách tiền tệ mở rộng đôi khi không thể kích thích tăng trưởng kinh tế do bẫy thanh khoản (Dieppe and McAdam, 2006) Tình trạng giảm phát cũng là một vấn đề khác trong thực thi chính sách tiền tệ
2.1.6 Chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa
Tương tác giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa có ảnh hưởng đến hiệu quả chung của chính sách vĩ mô tại nhiều quốc gia (Buti et al., 2001a, Buti et al., 2001b, Melitz, 2000, Leith et al., 2015)
2.1.7 Chính sách tiền tệ phi truyền thống
2.1.7.1 Chương trình nới lỏng định lượng
Chương trình nới lỏng định lượng là chính sách tiền tệ phi truyền thống được một số quốc gia như Nhật Bản, Anh, Mỹ sử dụng để đối phó với tình trạng giảm phát và khi lãi suất gần mức không Hiệu quả của chính sách nới lỏng định lượng còn là vấn đề tranh cãi, thực tế chính sách này giúp Nhật Bản đối phó với khủng hoảng và kích thích tăng trưởng kinh tế (Girardin and Moussa, 2011), nhưng chính sách này lại không thể có tác động tương tự tại Anh (Lyonnet and Werner, 2012)
2.1.7.2 Chính sách lạm phát mục tiêu
Chính sách lạm phát mục tiêu ra đời đầu tiên ở New Zealand năm 1989, sau đó nhiều quốc gia áp dụng như Chi lê, Canada, Israel, Anh, Thụy Điển, Phần Lan, Úc và Tây Ban Nha (Svensson, 2000) Trong
Trang 8chính sách lạm phát mục tiêu, ngân hàng trung ương thiết lập mục tiêu lạm phát cho chính sách tiền tệ
và sau đó thực thi chính sách tiền tệ nhằm đạt được mục tiêu đó
2.2.1 Cơ sở lý thuyết
Truyền dẫn chính sách tiền tệ là quá trình truyền dẫn những thay đổi trong lãi suất chính sách hoặc cung tiền đến các thay đổi khác của các yếu tố kinh tế như lãi suất thị trường, giá tài sản, tỷ giá hối đoái, dòng tiền, cung tín dụng ngân hàng, tiêu dùng tư nhân….để hướng đến mục tiêu cuối cùng là mức giá, tăng trưởng kinh tế và lao động của nền kinh tế (Mankiw and Taylor, 2011) Tác động của những thay đổi trong cung tiền hay lãi suất chính sách của ngân hàng trung ương lên các biến số vĩ mô khác được nghiên cứu trong mô hình IS – LM, đây được xem là mô hình nền tảng mô tả quá trình truyền dẫn của chính sách tiền tệ thông qua nhiều kênh khác nhau
2.2.2 Các kênh truyền dẫn của chính sách tiền tệ
2.2.2.1 Kênh lãi suất
Ngân hàng trung ương có thể thay đổi cung tiền và hoặc lãi suất chính sách để tác động đến lãi suất thực, đầu tư, tổng cầu và sản lượng Kênh lãi suất được được xem là kênh truyền dẫn chính của chính sách tiền tệ và được khẳng định ở nhiều nghiên cứu tại nhiều khu vực và quốc gia khác nhau (Friedman,
1956, Hannan and Liang, 1993, Taylor, 1995, Cecchetti, 1995)
2.2.2.2 Kênh tỷ giá
Bên cạnh kênh lãi suất, kênh tỷ giá cũng là kênh truyền dẫn quan trọng của chính sách tiền tệ (Golinelli and Rovelli, 2005, Demir, 2014), theo đó kênh tỷ giá truyền dẫn chính sách tiền tệ thông qua tỷ giá hối đoái đến hoạt động thương mại và đầu tư của nền kinh tế, bên cạnh đó kênh tỷ giá còn truyền dẫn các
cú sốc bên ngoài đến nền kinh tế, vì thế kênh tỷ giá gần như không tồn tại ở các quốc gia đóng cửa nền kinh tế Các nghiên cứu thực nghiệm tìm thấy kênh tỷ giá đóng vai trò quan trọng trong truyền dẫn chính sách tiền tệ ở nhiều quốc gia Tuy nhiên, Mengesha & Holmes (2013) không tìm thấy bằng chứng
về sự tồn tại của kênh tỷ giá tại Eritrea, nhưng họ lại phát hiện kênh tỷ giá tồn tại ở thị trường ngoại hối bất hợp pháp của nước này
2.2.2.3 Kênh giá tài sản
Kênh giá tài sản có hai cơ chế truyền dẫn là lý thuyết Tobin's q và hiệu ứng của cải, cả hai cơ chế truyền dẫn này đều có liên quan đến mối quan hệ giữa giá tài sản và hoạt động đầu tư và tiêu dùng Kênh giá tài sản tồn tại ở hầu hết các quốc gia phát triển, nhưng chỉ tồn tại ở một số quốc gia đang phát triển bởi
vì thị trường nợ và thị trường vốn của các quốc gia này còn nhỏ hoặc chưa phát triển (Mishra and Montiel, 2012)
Trang 92.2.2.4 Kênh tín dụng
Kênh tín dụng bao gồm kênh cho vay, kênh bảng cân đối kế toán, kênh dòng tiền, kênh mức giá không mong đợi, và kênh hiệu ứng thanh khoản hộ gia đình Các kênh truyền dẫn này khá khác biệt so với kênh lãi suất, kênh tỷ giá và kênh giá tài sản vì những kênh này tập trung vào giải thích tác động của chính sách tiền tệ lên tín dụng của ngân hàng thương mại và bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp và
hộ gia đình (Bernanke and Gertler, 1995, Ramey, 1993, Iacoviello and Minetti, 2008, Kashyap and Stein, 1995, Ciccarelli et al., 2014) Hầu hết các nghiên cứu về kênh tín dụng chủ yếu tập trung ở các quốc gia lớn và phát triển vì dữ liệu của các quốc gia đó đầy đủ như Mỹ và Châu Âu; các nghiên cứu tập trung vào hai kênh chính là kênh cho vay và kênh bảng cân đối kế toán Kênh tín dụng được tìm thấy ở Mỹ (Bernanke and Blinder, 1992, Kashyap and Stein, 2000, Kishan and Opiela, 2000, Liu and Minford, 2014, Orlowski, 2015), châu Âu (Altunbas et al., 2002, Mojon et al., 2002, Chrystal and Mizen, 2002, Altunbas et al., 2009), và nhiều quốc gia khác
2.2.2.5 Kênh mong đợi
Kênh mong đợi thường khó có thể tồn tại độc lập vì kênh mong đợi có tác động khếch đại tác động của các kênh truyền dẫn khác Mukherjee and Bhattacharya (2011) và nghiên cứu của Dabla-Norris and Floerkemeier (2006) có đề cập đến kênh mong đợi trong truyền dẫn chính sách tiền tệ
2.2.3 Tính trễ và hiệu quả của truyền dẫn chính sách tiền tệ
2.2.3.1 Tính trễ trong truyền dẫn chính sách tiền tệ
Mức giá cả thường phản ứng chậm với chính sách tiền tệ và độ trễ thường kéo dài đến một năm (Christiano et al., 1999, Mojon, 2001, Goodhart and Hofmann, 2001, Sander and Kleimeier, 2002, Hülsewig et al., 2009)
2.2.3.2 Hiệu quả truyền dẫn chính sách tiền tệ
Chính sách tiền tệ thường không truyền dẫn hoàn toàn trong dài hạn và không hiệu quả ở tất cả các nước bởi do các rào cản trên thị trường làm cản trở quá trình truyền dẫn (de Bondt, 2002)
2.3 Kênh cho vay
2.3.1 Giới thiệu
Đóng vai trò như một kênh truyền dẫn chính trong kênh tín dụng, kênh cho vay bổ sung cho kênh lãi suất giúp khếch đại tác động của chính sách tiền tệ đến các biến số kinh tế vĩ mô thông qua cung tín dụng của ngân hàng thương mại
2.3.2 Cơ chế truyền dẫn
Khi ngân hàng trung ương thắt chặt chính sách tiền tệ, nguồn vốn của ngân hàng thương mại bị suy giảm, nếu ngân hàng thương mại không thể hoặc gặp khó khăn trong việc phát hành công cụ nợ hoặc vốn trên thị trường để huy động vốn nhằm bù vào phần suy giảm đó thì ngân hàng thương mại phải cắt giảm cung cho vay và ngược lại (Bernanke and Blinder, 1988)
2.3.3 Điều kiện tồn tại
Kênh cho vay sẽ tồn tại với một số điều kiện nhất định trong nền kinh tế, của ngân hàng thương mại và của khách hàng như: các doanh nghiệp dựa vào nguồn vốn từ ngân hàng thương mại (Bernanke and Blinder, 1988), ngân hàng thương mại không thể thay thế toàn bộ nguồn vốn từ tiền gửi (Bernanke and Blinder, 1988), ngân hàng trung ương có khả năng tác động đến cung tín dụng của ngân hàng thương mại (Kashyap and Stein, 1995)
2.3.4 Bằng chứng thực nghiệm
Trang 10Nghiên cứu đầu tiên đề cập đến kênh cho vay như một kênh truyền dẫn của chính sách tiền tệ là Bernanke (1986), sau đó các nghiên cứu khác như Bernanke et al (1991), Bernanke and Blinder (1992), Kashyap et al (1993), và nhiều nghiên cứu khác tìm hiểu về kênh truyền dẫn này chi tiết hơn Kênh cho vay được tìm thấy ở Nhật Bản (Asako et al., 1989, Hoshi and Kashyap, 1990, Hayashi and Inoue,
1991, Ogawa and Suzuki, 1998), ở Hàn Quốc (Ferri and Kang, 1999, Kim, 1999), ở Đức (Barran et al.,
1996, De Bondt, 2004, Ehrmann, 2004, Ehrmann and Worms, 2004, Holtemöller, 2003, Hulsewig et al., 2001, Kakes and Sturm, 2002, Von Kalckreuth, 2001, Worms, 2001), ở châu Âu (Altunbas et al.,
2002, Altunbas et al., 2009, Altunbas et al., 2010, Altunbas et al., 2012, Sander and Kleimeier, 2004, Angeloni and Ehrmann, 2003, Bredin et al., 2001, Burgstaller, 2003, de Bondt, 2002, De Bondt, 2004, Petturson, 2001, Kleimeier and Sander, 2000, Sander and Kleimeier, 2002, Toolsema et al., 2001, Cantero-Saiz et al., 2014, Leroy, 2014, Apergis and Christou, 2015), và ở nhiều quốc gia khác như Indonesia, Cananda, Thái Lan và khu vực Nam Á (Perera et al., 2014)
2.3.5 Các yếu tố tác động đến kênh cho vay
2.3.5.1 Điều kiện kinh tế vĩ mô
Kênh cho vay có sự khác biệt ở các quốc gia khác nhau vì sự khác biệt trong điều kiện kinh tế vĩ mô, kênh cho vay sẽ mạnh hơn ở quốc gia nhỏ với thị trường tài chính phát triển thấp, nhưng kênh cho vay còn bị tác động bởi các đặc điểm kinh tế địa phương Kênh cho vay còn có thể bị tác động bởi độ mở của nền kinh tế, khủng hoảng, cấu trúc nền kinh tế và cả mức nợ công của một quốc gia Đặc biệt, kênh cho vay sẽ mạnh hơn nếu ngân hàng trung ưng có tính độc lập cao hơn
2.3.5.2 Sự phát triển của thị trường tài chính
Kênh cho vay yếu hơn nếu thị trường tài chính phát triển mạnh hơn, kênh cho vay còn bị tác động bởi cấu trúc của thị trường tài chính, chi phí giao dịch tài chính và cả các cải tiến trong thị trường tài chính
2.3.5.3 Luật phát trong ngành ngân hàng
Kênh cho vay bị tác động bởi các quy định về quản lý vốn chủ sở hữu, hay cơ chế giám sát của ngân hàng trung ương, đặc biệt các quy định về lãi suất và sự minh bạch hóa trong chính sách vĩ mô
2.3.5.4 Cạnh tranh trong ngành ngân hàng
Kênh cho vay sẽ yếu đi nếu ngành ngành ngân hàng ít cạnh tranh hơn
2.3.5.5 Các yếu tố vi mô
Quy mô của ngân hàng thương mại Kênh cho vay sẽ mạnh hơn ở ngân hàng thương mại nhỏ, ngân
hàng thương mại nhỏ phản ứng với chính sách tiền tệ qua cung tín dụng, trong khi ngân hàng lớn phản ứng với chính sách tiền tệ chủ yếu qua lãi suất
Vốn của ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại với các rào cản về vốn sẽ phản ứng mạnh hơn
với chính sách tiền tệ thắt chặt, trong khi đó các ngân hàng này lại phản ứng yếu hơn vớn chính sách tiền tệ mở rộng
Thanh khoản của ngân hàng thương mại Kênh cho vay sẽ mạnh hơn tại ngân hàng thương mại có
thanh khoản thấp, trong đó kênh cho vay sẽ yếu hơn nếu tài sản của ngân hàng có chất lượng tốt hơn, đồng thời hoạt động chứng khoán hóa các khoản vay cũng làm suy yếu kênh cho vay, nhưng cũng hoạt động này đôi khi làm mạnh thêm kênh cho vay
Rủi ro của ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại luôn quan tâm đến yếu tố rủi ro trước khi
ra quyết định phản ứng lại với thay đổi trong chính sách tiền tệ do đó kênh cho vay cũng bị ảnh hưởng bởi rủi ro của chính ngân hàng thương mại
Trang 11Đặc điểm khách hàng của ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại với danh mục khách hàng
khác nhau sẽ phản ứng khác nhau với chính sách tiền tệ, trong đó kênh cho vay sẽ mạnh hơn nếu khách hàng của ngân hàng thương mại chủ yếu là doanh nghiệp vừa và nhỏ, hay khách hàng của ngân hàng
có nhiều rào cản tài chính, hay ngành của khách hàng có tính cạnh tranh cao hơn Kênh cho vay cũng
bị ảnh hưởng bởi hành vi của nhà quản lý doanh nghiệp và sẽ suy yếu nếu ngân hàng thương mại có quan hệ lâu dài với khách hàng của họ
Cấu trúc sở hữu của ngân hàng thương mại Kênh cho vay sẽ mạnh hơn tại ngân hàng tư nhân
2.4 Các nghiên cứu về truyền dẫn chính sách tiền tệ và kênh cho vay tại các nước đang phát triển
Thứ nhất, biến đại diện cho chính sách tiền tệ Bên cạnh cung tiền thì lãi suất chính sách mà đặc biệt là
lãi suất chính sách ngắn hạn được sử dụng như biến đại diện chính cho chính sách tiền tệ ở nhiều quốc gia đang phát triển
Thứ hai, các kênh truyền dẫn của chính sách tiền tệ Truyền dẫn của chính sách tiền tệ ở các nước đang
phát triển như Việt Nam có sự khác biệt giữa các quốc gia, tuy nhiên luận án tìm thấy bằng chứng thực nghiệm của nhiều nghiên cứu rằng kênh lãi suất và kênh tín dụng là những kênh truyền dẫn chính ở các quốc gia này, trong khi đó kênh tỷ giá và kênh giá tài sản thường yếu do đặc điểm của từng quốc gia Thêm vào đó, hầu hết các nghiên cứu không tiến hành xác định hoặc tìm thấy bằng chứng về kênh mong đợi ở các quốc gia đang phát triển do thiếu dữ liệu tin cậy
Thứ bai, kênh cho vay Kênh cho vay có thể tồn tại hoặc không tồn tại phụ thuộc vào đặc điểm kinh tế
của các nước đang phát triển mà đặc biệt bị ảnh hưởng bởi đặc điểm của các ngân hàng thương mại
2.5 Các nghiên cứu về truyền dẫn chính sách tiền tệ và kênh cho vay ở Việt Nam
Sử dụng thông tin từ các tạp chí, thư viện và các luận án tiến sĩ để tìm kiếm các nghiên cứu về kênh cho vay và truyền dẫn chính sách tiền tệ ở Việt Nam, tác giả không tìm thấy bất cứ nghiên cứu nào đầy đủ
và hoàn thiện nhất về vấn đề trên ngoại trừ bài báo của tác giả Lân (2012), tuy nhiên bài báo này tạp trung vào truyền dẫn của chính sách tiền tệ đến tổng cung tín dụng của nền kinh tế mà không đi vào nghiên cứu các đặc điểm của từng ngân hàng thương mại và phản ứng của từng ngân hàng với chính sách tiền tệ trong kênh cho vay Nhiều nghiên cứu khác có liên quan đến mối quan hệ giữa chính sách tiền tệ và ngân hàng thương mại nhưng không được thực hiện hoàn thiện và đầy đủ và chủ yếu ở mức luận văn thạc sĩ không được công bố trên các tạp chí chuyên ngành, đồng thời đó các nghiên cứu như vậy chủ yếu xem xét chính sách tiền tệ và hoạt động cũng như rủi ro của các ngân hàng thương mại
Nghiên cứu về chính sách tiền tệ được thực hiện từ những năm 1990 và kéo dài đến những năm sau
2000 ở Việt Nam Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu không áp dụng phương pháp định lượng vì thiếu
dữ liệu, trong khi đó những nghiên cứu gần đây có áp dụng các mô hình đình lượng để đo lường nhưng không nhiều và hầu hết các nghiên cứu đó tập trung vào tác động của chính sách tiền tệ trong giai đoạn khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 Thực tế tại Việt Nam hiện nay chưa có một nghiên cứu cẩn thận và đầy đủ về truyền dẫn chính sách tiền tệ và kênh cho vay tại Việt Nam, nhưng các nghiên cứu liên quan lại cho thấy có những điều kiện cho kênh cho vay tồn tại ở Việt Nam Bên cạnh đó, hầu hết các nghiên cứu không có đầy đủ dữ liệu phù hợp với độ dài đủ để sử dụng cho các mô hình phù hợp ở Việt Nam Vì vậy rõ ràng khoảng trống nghiên cứu về truyền dẫn chính sách tiền tệ và kênh cho vay tại Việt Nam cần được xem xét và nghiên cứu
Trang 12CHƯƠNG 3
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1.1 Quan hệ giữa chính sách tiền tệ, sản lượng và lạm phát
Các nhà kinh tế học tiền tệ luôn cố gắng giải thích mối quan hệ giữa chính sách tiền tệ, lãi suất, tổng cầu, sản lượng và mức giá cả Hệ số tương quan giữa lạm phát và tốc độ tăng trưởng cung tiền gần như
là 1 khi giao động từ 0.92 đến 0.96, và hệ số tương quan đó phụ thuộc vào định nghĩa cung tiền Điều này trùng với nhiều kết quả nghiên cứu của Lucas (1980), Rolnick and Weber (1994) Cho nên việc hiểu được mối quan hệ giữa cung tiền, sản lượng và lạm phát trong ngắn hạn và cả dài hạn sẽ giúp chúng ta hiểu được quá trình truyền dẫn của chính sách tiền tệ trong thực tiễn
3.1.2 Đo lường tác động của chính sách tiền tệ
Nhiều công cụ dược sử dụng để ước lượng tác động của chính sách tiền tệ có sự phát triển theo thời gian vì sự phát triển trong kính tế lượng chuỗi thời gian và sự thay đổi trong các câu hỏi nghiên cứu theo lý thuyết Tobin (1970) là nhà kinh tế học đầu tiên mô hình hóa ý tưởng về tương quan dương giữa tiền và sản lượng dẫn đến cách nhìn nhận tích cực rằng sản lượng có thể bị tác động bởi tiền tệ Một trong những nghiên cứu sử dụng chuỗi thời gian đầu tiên để ước lượng tác động của chính sách tiền tệ
là Friedman and Meiselman (1963) Hai nhà nghiên cứu này cố gắn kiểm tra vai trò của chính sách tiền
tệ trong việc hình thành thu nhập danh nghĩa thông qua phương trình:
3.1.3 Dữ liệu trong nghiên cứu truyền dẫn chính sách tiền tệ
Trong nghiên cứu về truyền dẫn chính sách tiền tệ, dữ liệu bao gồm các yếu tố vĩ mô như lãi suất chính sách, cung tiền, dự trữ bắt buộc, GDP, thất nghiệp, sản lượng công nghiệp, tỷ giá và cả các yếu tố vi
mô đại diện cho từng kênh truyền dẫn
3.1.4 Biến đại diện cho chính sách tiền tệ
3.1.4.1 Lãi suất chính sách
Theo lý thuyết kinh tế học truyền thống, ngân hàng trung ương thay đổi cung tiền để tác động đến lãi suất và sau đó tác động đến các biến kinh tế khác Ngày nay, các ngân hàng trung ương thường thay đổi trực tiếp lãi suất chính sách để thực thi chính sách tiền tệ do đó lãi suất chính sách thường được xem là biến đại diện phù hợp nhất cho chính sách tiền tệ
3.1.4.2 Cung tiền
Bên cạnh lãi suất chính sách, cung tiền đương nhiên cũng là một biến đại diện quan trọng cho chính sách tiền tệ Cung tiền cũng đồng thời là mục tiêu trung gian mà ngân hàng trung ương hướng đến khi thực thi chính sách tiền tệ
3.1.5 Biến đại diện cho các đặc điểm của ngân hàng thương mại trong kênh cho vay
Các nhà kinh tế học thống nhất rằng các đặc điểm của ngân hàng thương mại có tác động lên quá trình truyền dẫn của chính sách tiền tệ thông qua kênh cho vay và trong đó ba biến chính là: quy mô, vốn và
Trang 13thanh khoản của ngân hàng thương mại (Kashyap and Stein, 2000) Trong đó, quy mô ngân hàng đại diện bằng log của tổng tài sản, thanh khoản của ngân hàng đại diện bằng tỷ kệ tài sản thanh khoản trên
tổng tài sản, trong đó tài sản thanh khoản bao gồm tiền mặt, tiền gửi tại ngân hàng trung ương và ngân
hàng khác, và chứng khoán ngắn hạn, vốn ngân hàng đại diện bằng tỷ tệ vốn chủ sở hữu của ngân hàng
trên tổng tài sản
3.2.1 Mô hình VAR và các mô hình liên quan
3.2.1.1 Mô hình VAR
VAR được giới thiệu đầu tiên bởi Sims (1972) và Sims (1980), VAR có thể sử dụng bởi các nhà kinh
tế vĩ mô để đo lường phản ứng của các biến vĩ mô mà không đòi hỏi các điều kiện ràng buộc để xác định các cú sốc Do đó, VAR dần trở thành một trong những mô hình phổ biến sử dụng chuỗi dữ liệu theo thời gian trong suốt hơn 40 năm qua
3.2.1.2 Mô hình SVAR
Bên cạnh VAR, mô hình VAR cấu trúc (SVAR) cũng phổ biến trong sử dụng ở các các nghiên cứu về truyền dẫn của chính sách tiền tệ nói chung và kênh cho vay nói riêng SVAR được sử dụng rộng rãi bởi vì SVAR giúp phân biệt giữa cú sốc cấu trúc và cú sốc phi cấu trúc mà mô hình VAR không làm được, trong khi đó SVAR cũng có thể cung cấp hai công cụ để phân tích quá trình truyền dẫn của chính sách tiền tệ là hàm phản ứng xung và phân rã phương sai
3.2.2 Mô hình đồng liên kết
3.2.2.1 ECM
ECM là mô hình hệ thống biến đổi với đặc điểm là bất kỳ sự thay đổi nào đi khỏi xu hướng dài hạn của một chuỗi dữ liệu sẽ được điều chỉnh lại trong ngắn hạn ECM là mô hình sử dụng cho nhiều chuỗi thời gian trong đó đo lường trực tiếp tốc độ mà biến phụ thường điều chỉnh để quay lại cân bằng trong dài hạn sau thay đổi của biến độc lập (Engle and Granger, 1987)
3.2.2.2 VECM
VECM là mô hình cải tiến của ECM, trong đó đưa thêm thành phần hiệu chỉnh của nhiều hơn hai yếu
tố vào phương trình véc tơ tự hồi quy
3.2.2.3 ARDL
Nếu hai hoặc nhiều chuỗi dữ liệu theo thời gian có đồng liên kết nhưng không dừng cùng bậc thì chúng
ta phải sử dụng mô hình ARDL ARDL được phát triển bởi Pesaran and Shin (1998), Pesaran et al (2001) có nhiều đặc điểm được cải tiến mà nhiều nhà nghiên cứu cho rằng mô hình này có những lợi thế trong đo lường của các chuỗi có đồng liên kết khác bậc
3.2.3 Mô hình DSGE
Nhiều nhà nghiên cứu về truyền dẫn chính sách tiền tệ sử dụng VAR, nhưng mô hình cân bằng tổng thể năng động (DSGE) cũng được sử dụng trong nhiều trường hợp khi có các hàm số về hàm hữu dụng của các thành phần trong nền kinh tế (George et al., 2008, Cogley and Sargent, 2005)
3.2.4 Mô hình GMM cho dữ liệu bảng
Mô hình GMM thường được đề xuất sử dụng cho nghiên cứu về kênh cho vay nói chung và kênh cho vay khi xem xét tác động cảu các đặc điểm ngân hàng lên kênh cho vay GMM giúp xử lý hiện tượng nội sinh và các vấn đề khác do dữ liệu bảng gây ra (Arellano and Bond, 1991) Trong mô hình GMM, các phương pháp ước lượng phổ biến là phương pháp sử dụng sai phân bậc một của Arellano & Bond
Trang 14(1991) và phương pháp ước lượng GMM hệ thống của (Blundell and Bond, 1998) Mô hình GMM được thừa nhận có lợi thế hơn các phương pháp khác trong xử lý nội sinh, phương sai thay đổi, tự tương quan (Hall, 2003)
3.3.1 Quy trình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
Luận án này tiến hành kiểm tra sự tồn tại của kênh lãi suất, kênh giá tài sản, kênh tỷ giá và kênh cho vay ở Việt Nam thông qua sử dụng ba mô hình chính: VAR, SVAR và GMM ở 4 bước như sau:
Bước 1 và 2 Để trả lời câu hỏi nghiên cứu số 1, luận án này sử dụng kết quả từ phần tổng hợp lý thuyết
ở chương 2 để xác định các giả thuyết nghiên cứu sau: giả thuyết 1: kênh lãi suất có tồn tại tại Việt Nam, giả thuyết 2: kênh tỷ giá có thể tồn tại hoặc không tại Việt Nam, giả thuyết 3: kênh giá tài sản có
thể tồn tại học không tồn tại tại Việt Nam Để kiểm chứng các giả thuyết trên, luận án này xây dựng mô hình VAR và SVAR để kiểm tra ba kênh truyền dẫn chính của chính sách tiền tệ tại Việt Nam bao gồm kênh lãi suất, kênh tỷ giá và kênh giá tài sản
Bước 3 và 4 Luận án này tiến hành kiểm định sự tồn tại và tác động của các đặc điểm ngân hàng lên
kênh cho vay bằng mô hình GMM với các giả thuyết sau: giả thuyết 4: kênh cho vay tồn tại ở Việt Nam,
giả thuyết 5: kênh cho vay bị ảnh hưởng bởi quy mô, vốn, thanh khoản và rủi ro của ngân hàng thương
mại, giả thuyết 6: kênh cho vay bị ảnh hưởng bởi khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 Để kiểm
định các giả thuyết trên, luận án sử dụng mô hình GMM được đề xuất trong nhiều nghiên cứu trước đây
để sử dụng cho mô hình với dữ liệu vi mô từ ngân hàng thương mại
3.3.2 Mô hình kiểm định truyền dẫn chính sách tiền tệ tại Việt Nam
Trong đó: Y t là véc tơ các biến nội sinh đại diện cho các yếu tố nội địa, X t là các biến ngoại sinh, 𝜑, 𝜃
là véc tơ hệ số ước lượng, ɛ: véc tơ các phần dư Các biến ngoại sinh bao gồm chỉ số giá hàng hóa thế
giới (Compi world ), lãi suất chính sách của Mỹ (i us ), và sản lượng của Mỹ (y us)
Trong khi đó, véc tơ các biến nội sinh đại diện cho các yếu tố kinh tế của Việt nam bao gồm sản lượng
công nghiệp Việt Nam (IPVN) đại diện cho sản lượng của Việt Nam, Chỉ số giá Việt Nam (Price), và lãi suất chính sách tiền tệ của Việt Nam (i)
Trang 15giới, cú sốc sản lượng nội địa, cú sốc từ chính sách tiền tệ, cú sốc cầu tiền, cú số quốc tế (cú sốc từ tỷ
giá), cú sốc của lãi suất cho vay, cú sốc trong giá tài sản, và cú sốc trong mức giá
3.3.3 Mô hình kiểm định kênh cho vay
Mô hình được sử dụng từ nghiên cứu của Altunbas et al (2010) có dạng:
Nguồn: Altunbas et al (2010)
Trong đó, Loan là dư nợ tín dụng của ngân hàng thuơng mại, GDP là sản lượng, i là lãi suất chính sách,
EDF là khả năng phá sản, SIZE là quy mô ngân hàng, LIQ là thanh khoản ngân hàng, CAP là vốn ngân
hàng, LLP là dự phòng rủi ro tín dụng của ngân hàng Phương trình ước lượng có dạng:
Δln(loan) i,t = αln(loan) i,t-1 + σ 2 ln(GDP) t-1 + ϕ 1 Δi t + ϕ 2 Δi t-1 + φ 1 Δi t *SIZE i,t-1 + τ 1 Δi t *LIQ i,t-1 +
Ω 1 Δi t *LLP i,t-1 + ¥ 1 SIZE i,t-1 + ψ 1 Δi t *CAP i,t-1 + ω 1 LIQ i,t-1 + λ 1 CAP i,t-1 + µ 1 LLP i,t-1 + ɛ i,t
(3.34)Tất cả các biến trong mô hình được sử dụng giống như trong mô hình của Altunbas et al (2010), trong
đó tăng trưởng tín dụng bị ảnh hưởng bởi chính sách tiền tệ, cụ thể thông qua lãi suất chính sách
3.3.4 Dữ liệu nghiên cứu
Trước tiên, dữ liệu theo tháng từ năm 2003 đến 2012 sử dụng trong mô hình VAR và SVAR bao gồm
chỉ số giá thế giới (Compi world ), lãi suất chính sách của Mỹ (i us ), sản lượng của Mỹ (y us), sản lượng của
Việt Nam (IPVN), chỉ số giá của Việt Nam (Prices), và lãi suất chính sách Việt Nam (i), lãi suất thị trường (LER), tỷ giá danh nghĩa của USD/VND (NEER), và chỉ số VNindex (VNI) được thu thập chủ
yếu từ IMF, Tổng cục thống kê Việt Nam, và Ngân hàng nhà nước Việt Nam Nghiên cứu này còn thu
thập lãi suất tái chiết khấu (RDR), lãi suất tái cấp vốn (RFR), và cung tiền (M2) để thay thế cho VNIBOR
đại diện cho chính sách tiền tệ Việt Nam khi kiểm tra tính bền vững của mô hình VAR và SVAR Trong khi đó, dữ liệu theo năm được sử dụng trong mô hình GMM được thu thập từ báo cáo tài chính của từng ngân hàng thương mại trong giai đoạn 2003 – 2012, nhưng vì một số ngân hàng thương mại không có đầy đủ tất cả các báo cáo tài chính cho cả giai đoạn trên nên một số năm bị thiếu hụt dữ liệu do đó luận
án sử dụng dữ liệu bảng không cân bằng, trong khi đó GDP và lãi suất chính sách tiền tệ Việt Nam bao gồm VNIBOR, lãi suất tái chiết khấu và lãi suất tái cấp vốn được thu thập từ ADB và ngân hàng nhà nước Việt Nam
Trang 163.4 Tóm lượt
Luận án này sử dụng mô hình VAR để kiểm tra sự tồn tại của các kênh truyền dẫn chính của chính sách tiền tệ tại Việt Nam Dựa trên kết quả của mô hình VAR, luận án sử dụng thêm mô hình SVAR với các điều kiện ràng buộc trong ngắn hạn để kiểm tra lại các kênh truyền dẫn đó trong cùng một hệ thống Sau đó, nghiên cứu sử dụng mô hình GMM với dữ liệu từ báo cáo tài chính của các ngân hàng thương mại để kiểm tra kênh cho vay Phương pháp nghiên cứu này đảm bảo rằng truyền dẫn của chính sách tiền tệ được kiểm định với mô hình phù hợp để tránh các sai sót trong việc đưa ra kết luận Với các mô hình và dữ liệu được trình bày trong phần này, chương tiếp theo sử dụng cho nghiên cứu thực nghiệm
ở chương tiếp theo