Kết quả kinh doanh củadoanh nghiệp được xác định theo chuẩn mực kế toán, chế độ kế toándoanh nghiệp.Với chức năng cung cấp thông tin hữu ích để nhà quản trị raquyết định quản lý hoạt độn
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các
số liệu nêu trong luận văn là trung thực Các tư liệu, tài liệu được sửdụng trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng
Trang 2MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục phụ lục
MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT, GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG CÁC DOANH NGHIỆP XÂY LẮP
1.1 Khái quát chung về kế toán quản trị
1.1.1 Bản chất của kế toán quản trị
1.1.2 Phân biệt kế toán quản trị và kế toán tài chính
1.1.3 Đối tượng của kế toán quản trị
1.2 Nội dung kế toán quản trị chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp
1.2.1 Xác định các trung tâm chi phí
1.2.2 Phân loại chi phí sản xuất
1.2.3 Phân loại giá thành sản phẩm
1.2.4 Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành sản phẩm 1.2.5 Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất
1.2.6 Các phương pháp kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
Trang 31.2.7 Tổ chức thu nhận thông tin
1.2.8 Tổ chức lập báo cáo quản trị chi phí, giá thành
1.2.9 Tô rchức phân tích chi phí - giá thành
1.2.10 Ứng dụng kế toán quản trị chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm trong định giá dự thầu
1.3 Kinh nghiệm tổ chức kế toán quản trị chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm ở một nước trên thế giới
1.3.1 Tổ chức kế toán quản trị các doanh nghiệp ở Cộng hoà Pháp
1.3.2 Tổ chức kế toán quản trị chi phí doanh nghiệp ở Mỹ
1.3.3 Bài học kinh nghiệm và hướng vận dụng kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp tại Việt Nam
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT, GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN SÔNG ĐÀ
2.1 Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công ty cổ phần Sông Đà
2.1.1 Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh
2.1.2 Đặc điểm của sản phẩm kinh doanh
2.1.3 Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý của công ty
2.1.4 Đặc điểm tổ chức công tác kế toán của công ty Cổ phần Sông Đà
2.2 Thực trạng kế toán quản trị chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần Sông Đà
2.2.1 Tổ chức thu thập thông tin
Trang 42.2.2 Tổ chức phân tích thông tin
2.3 Đánh giá thực trạng kế toán quản trị chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần Sông Đà 2
2.3.1 ưu điểm
2.3.2 Những tồn tại
2.3.3 Những nguyên nhân của thực trạng trên
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT, GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN SÔNG ĐÀ
3.1 Sự cần thiết, yêu cầu, và các nguyên tắc hoàn thiện kế toán quản trị tại Công ty cổ phần Sông Đà 2
3.1.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện kế toán quản trị tại Công ty cổ phần Sông Đà 2
3.1.2 Những yêu cầu của việc hoàn thiện kế toán quản trị chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm trong công ty Cổ phần Sông Đà 2
3.1.3 Nguyên tắc hoàn thiện kế toán quản trị chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm trong Công ty cổ phần Sông Đà 2
3.2 3.2.1 Hoàn thiện tổ chức vận dụng hệ thống chứng từ sử dụng trong kế toán quản trị
3.2.2 Hoàn thiện hệ thống sổ kế toán sử dụng trong kế toán quản trị
3.2.3 Hoàn thiện việc vận dụng hệ thống tài khoản kế toán phục vụ cho kế toán quản trị
Trang 53.2.4 Hoàn thiện kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản
phẩm
3.2.5 Hoàn thiện công tác lập báo cáo sản xuất
3.2.6 Hoàn thiện việc ứng dụng kế toán quản trị trong quá trình định giá dự thầu
3.2.7 Hoàn thiện hệ thống định mức, dự toán chi phí sản xuất theo yêu cầu tổ chức kế toán quản trị
3.2.8 Hoàn thiện tổ chức bộ máy kế toán quản trị
3.3 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện kế toán quản trị chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp xây lắp
3.3.1 Về phía nhà nước
3.3.2 Về phía các doanh nghiệp
KẾT LUẬN TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Từ sự phân tích trên đây cho thấy kế toán tài chính và kế toán quản trị tuy là hai lĩnh vực khác nhau song chúng có quan hệ chặt chẽ với nhau, hợp thành các công cụ quản lý kinh tế Cũng từ sự phân tích trên chúng ta nhận thức được chức năng của kế toán quản trị là công
cụ cung cấp thông tin để nhà quản trị doanh nghiệp thực hiện được chức năng của mình
1.1.3 Đối tượng của kế toán quản trị
Trang 61.1.3.1 Quan niệm của kế toán quản trị về chi phí và kết quả kinh doanh
Chi phí trong kế toán quản trị: Kế toán quản trị có quan niệmriêng về chi phí trong doanh nghiệp Chi phí sản xuất kinh doanh làbiểu hiện bằng tiền hoặc toàn bộ các khoản chi tiêu cho quá trình sảnxuất kinh doanh đòi hỏi đắp thu nhập của doanh nghiệp
Như vậy, chi phí trong kế toán quản trị không phải ghi nhận theonguyên tắc phù hợp mà được ghi nhận ở thời điểm chi tiêu cho sảnxuất kinh doanh (tức là thời điểm có chứng từ chứng minh nghiệp vụchi tiêu đã hoàn thành) Những khoản chi tiêu phát sinh trong doanhnghiệp nhưng không hoặc chưa liên quan đến quá trình sản xuất kinhdoanh, có nguồn vốn riêng bù đắp thì không tính vào chi phí củadoanh nghiệp
* Điểm khác biệt nhất giữa kế toán quản trị và kế toán tài chínhkhi quan niệm về chi phí là khoản chi tiêu để hình thành nên cơ sở vậtchất kỹ thuật để tiến hành sản xuất kinh doanh, kế toán tài chính dựatrên giả thuyết doanh nghiệp kinh doanh liên tục nên chỉ ghi nhận chiphí sử dụng tài sản cố định theo mức khấu hao tức là dựa vào thờigian phát huy tác dụng của nó Ngược lại, kế toán quản trị dựa trên giảthiết chu kỳ sống của sản phẩm hoặc loại hình kinh doanh cụ thể nênghi nhận toàn bộ khoản chi tiêu để hình thành tài sản cố định vào chiphí ở thời điểm đưa chúng vào sử dụng Quan điểm này của kế toánquản trị là phù hợp với quan niệm của nhà quản trị, bởi vì nếu quátrình sản xuất kinh doanh theo một dự án cụ thể nào đó bị ngưng trệ
Trang 7thì các khoản đầu tư cho tài sản cố định sẽ tạo ra một khoản thiệt hạilớn cho doanh nghiệp và hơn nữa, với một hệ thống tài sản cố định thìchỉ thích ứng với một loại hình kinh doanh cụ thể Quan niệm nàybuộc các nhà quản trị phải tính toán kỹ lưỡng hiệu quả kinh tế khi đầu
tư để hình thành tài sản cố định
* Kết quả kinh doanh trong kế toán quản trị: Kế toán quản trị cóchức năng cung cấp thông tin hữu ích cho các nhà quản trị trongdoanh nghiệp, nên thông tin quá khứ về kết quả kinh doanh trong kếtoán quản trị phải được xác định trên cơ sở giả thiết và nguyên tắcđược nhà quản trị thừa nhận
Khi quyết định lựa chọn một phương án kinh doan nào đó, nhàquản trị phải tính toán thu nhập, chi phí, kết quả theo từng phương ánkinh doanh Lợi nhuận của doanh nghiệp chỉ có được khi doanhnghiệp đã thu hồi đủ vốn đầu tư vào cơ sở vật chất kỹ thuật cho từngphương án là lợi nhuận thu được trong một năm là lợi nhuận của cảmột phươn án kinh doanh Với quan niệm đó, nhà quản trị sẽ chấpnhận thua lỗ trong thời gian phát sinh của dự án kinh doanh để thâmnhập và chiếm lĩnh thị trường, sau đó sẽ thu hồi lại vốn đầu tư và thulợi nhuận khi dự án kinh doanh ở giai đoạn phát triển thịnh vượng,nhà quản trị phải có quyết định chấm dứt một dự án kinh doanh cụ thểkhi nó ở giai đoạn suy tàn
Từ điểm xuất phát như trên, kết quả kinh doanh kế toán quản trịđược xác định dựa trên giả thiết là một mặt hàng, loại hình kinh doanhdưới một hình thức nhất định thì chỉ tồn tại trong một thời gian nhất
Trang 8định và gọi tắt là chu kỳ sống của sản phẩm Trên cơ sở giả thiết vềchu kỳ sống của từng mặt hàng hoặc loại hình kinh doanh cụ thể, xácđịnh kết quả kinh doan trong kế toán quản trị phải tuân theo cácnguyên tắc sau:
- Kết quả kinh doanh phải xác định theo từng mặt hàng, loại hìnhkinh doanh, hoặc từng đơn vị nội bộ, sau đó mới tổng hợp ra kết quảkinh doanh của toàn doanh nghiệp
- Kết quả kinh doanh phải được xác định theo nguyên tắc trựctiếp cho từng mặt hàng, loại hình kinh doanh và gọi là lãi bộ phận Lãi
bộ phận được tính bằng số chênh lệch giữa doanh thu của một mặthàng, loại hình kinh doanh với chi phí trực tiếp của mặt hàng, loạihình kinh doanh đó
- Kỳ xác định kết quả kinh doanh phải xác định một cách linhhoạt, có thể xác định theo chu kỳ kinh doanh, tức là theo thời gian sảnxuất của từng đợt, từng sản phẩm,… theo thời gian hoạt động của từngphương tiện kinh doanh và có thể xác định theo kỳ báo cáo
- Các chi phí chung liên quan đến nhiều mặt hàng, loại hình kinhdoanh thì không phân bổ cho từng loại mà được bù đắp bằng lãi bộphận của tất cả các mặt hàng hoặc loại hình kinh doanh tạo ra
- Lợi nhuận của doanh nghiệp chỉ có thể có được khi đã thu đủvốn đầu tư tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật và năng lực hoạt động chungcủa toàn doanh nghiệp Nghĩa là việc xác định kết quả kinh doanhtrong kế toán quản trị không tuân thủ nguyên tắc như kế toán tài chính
mà phải ưu tiên việc thu hồi vốn đầu tư vào năng lực hoạt động sản
Trang 9xuất kinh doanh của doanh nghiệp Kết quả kinh doanh của doanhnghiệp phải trải qua hai giai đoạn: thu hồi vốn đầu tư và thu lãi ròng.Trong giai đoạn thu hồi vốn đầu tư, kết quả kinh doanh của doanhnghiệp là tổng số vốn đầu tư vào cơ sở vật chất kỹ thuật đã thu hồiđược Trong giai đoạn thu lãi ròng thì kết quả kinh doanh của doanhnghiệp là mức lãi ròng thu được.
- Kết quả kinh doanh trong kế toán quản trị cũng phải tuân thủnguyên tắc thận trọng như trong kế toán tài chính
- Để đảm bảo tính hữu dụng của thông tin cung cấp cho nhàquản trị doanh nghiệp, xác định kết quả kinh doanh cũng phải tuân thủnguyên tắc khách quan ở một mức độ nhất định, tức là cũng sử dụngchứng từ ban đầu để ghi nhận chi phí và thu nhập
1.1.3.2 Khái quát về đối tượng của kế toán quản trị
Hạch toán kế toán nghiên cứu quá trình sản xuất thông qua sựhình thành và vận động của tài sản trong một đơn vị cụ thể, nhằmquản lý và sử dụng có hiệu quả tài sản theo phạm vi sử dụng nhấtđịnh Do mục đích, chức năng khác nhau, nên đối tượng của kế toántài chính và kế toán quản trị cũng có sự khác nhau ở một mức độ nhấtđịnh
Kế toán tài chính phản ánh sự hình thành và vận động của tài sảntrong các đơn vị gắn với tính pháp lý của từng nghiệp vụ kinh tế phátsinh để cung cấp thông tin cho việc thực hiện các chức năng của tàichính là phân phối kết quả và kiểm soát toàn bộ quá trình hoạt độngcủa một đơn vị về phương diện tài chính Chính vì vậy, tài sản của
Trang 10một đơn vị thuộc đối tượng của kế toán tài chính được phân loại theotình hình sử dụng và theo nguồn hình thành Kết quả kinh doanh củadoanh nghiệp được xác định theo chuẩn mực kế toán, chế độ kế toándoanh nghiệp.
Với chức năng cung cấp thông tin hữu ích để nhà quản trị raquyết định quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp,đối tượng của kế toán quản trị là nghiên cứu sự hình thành và sử dụngtài sản của doanh nghiệp gắn với hiệu quả của từng bộ phận, từng mặthàng, từng loại hình kinh doanh
1.2 NỘI DUNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT, GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG CÁC DOANH NGHIỆP.
Về mặt bản chất, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm giốngnhau là cùng biểu hiện bằng tiền những hao phí về lao động sống vàlao động vật hóa phát sinh trong quá trình sản xuất, nhưng khác nhau
về mặt lượng Khi đề cập đến chi phí sản xuất thì không phân biệt choloại sản phẩm nào, đã hoàn thành hay chưa, còn khi đề cập đến giáthành sản phẩm là xác định một lượng chi phí sản xuất nhất định, tínhcho một đại lượng kết quả hoàn thành nhất định Đứng trên giác độquá trình hoạt động xem xét, thì quá trình sản xuất là một quá trìnhhoạt động liên tục, còn việc tính giá thành sản phẩm là một điểm cắt
có tính chất chu kỳ để so sánh chi phí với đại lượng kết quả, nên tạithời điểm tính giá thành, có thể có một khối lượng sản phẩm chưahoàn thành, chứa đựng một lượng chi phí cho nó, gọi là chi phí sảnxuất dở dang cuối kỳ Tương tự như vậy, cũng sẽ có chi phí dở dang
Trang 11đầu kỳ Như vậy, giá thành sản phẩm hoàn thành trong kỳ sẽ bao gồmchi phí sản xuất kỳ trước chuyển sang và một phần của chi phí sảnxuất phát sinh trong kỳ.
Chi phí sản xuất là biểu hiệu bằng tiền toàn bộ về hao phí laođộng sống và lao động vật hóa và các chi phí cần thiết khác mà doanhnghiệp đã chi ra để tiến hành hoạt động sản xuất, chế tạo sản phẩmhay thực hiện lao vụ, trong một thời kỳ nhất định
Xác định nội dung và phạm vi của kế toán quản trị được xuấtphát từ mục tiêu và nhiệm vụ của kế toán quản trị ở từng doanhnghiệp theo yêu cầu quản trị Điều đó khẳng định nội dung cụ thể vàphạm vi kế toán quản trị ở các doanh nghiệp không hoàn toàn giốngnhau Tuy vậy, căn cứ vào yêu cầu kiểm soát chi phí, quản lý hoạtđộng kiểm soát kinh doanh và mối quan hệ giữa kế toán với chức năngquản trị, có thể xác định kế toán quản trị chi phí sản xuất, giá thànhsản phẩm trong doanh nghiệp gồm các nội dung cơ bản sau:
1.2.1 Xác định các trung tâm chi phí
Trung tâm chi phí là trung tâm trách nhiệm mà người quản lý chỉ
có quyền điều hành quản lý các chi phí phát sinh thuộc bộ phận mìnhquản lý Việc xác định trung tâm chi phí phụ thuộc vào quy trình sảnxuất và qui mô của từng doanh nghiệp Các trung tâm chi phí thườngđược chia thành 2 loại: các trung tâm sản xuất và các trung tâm phụcvụ
Trang 12* Trung tâm sản xuất là: Là trung tâm hoạt động và thực hiệncác chức năng chủ yếu của doanh nghiệp như trung tâm tiếp liệu,trung tâm chế tạo sản phẩm, trung tâm thương mại…
* Trung tâm phục vụ: Là các trung tâm có nhiệm vụ cung cấplao vụ, phục vụ cho trung tâm sản xuất bao gồm các trung tâm hànhchính, quản trị, tài chính, trung tâm quản lý nhân sự, trung tâm quản lýdụng cụ…
Các trung tâm chi phí cung cấp các hoạt động, các hoạt động tạonên sản phẩm của doanh nghiệp được biểu diễn bằng những "hoạtđộng" của các trung tâm Mô hình này gọi là mô hình xác định giá phítrên cơ sở hoạt động Việc mô tả doanh nghiệp theo hình thức trên dẫnđến xuất hiện một mạng lưới chu chuyển các luồng chi phí Kế toánquản trị tiến hành phân bổ nguồn nhân lực đã tiêu dùng (chi phí) chocác bộ phận và các hoạt động Thông thường có 3 bước phân bổ:
+ Các chi phí được tập hợp theo bản chất ban đầu của các trungtâm chi phí Căn cứ vào mục đích của các chi phí cho trung tâm nào
để tập hợp nó vào trung tâm chi phí đó
+ Tổng các chi phí của mỗi trung tâm sản xuất (bao gồm cả chiphí nhận từ trung tâm dịch vụ) được phân bổ cho các sản phẩm
Tiêu chuẩn phân bổ chi phí: Việc phân bổ chi phí phát sinh tạimột bộ phận có thể xảy ra 4 trường hợp sau:
+ Bộ phận có một hoạt động tạo ra 1 loại sản phẩm thì toàn bộchi phí của bộ phận đó tập hợp trực tiếp cho giá phí của loại sản phẩmđó
Trang 13+ Bộ phận có 1 hoạt động tạo ra nhiều sản phẩm thì chi phí của
bộ phận đó được tập hợp theo bộ phận sau đó phân bổ chi phí chotừng loại sản phẩm
1.2.2 Phân loại chi phí sản xuất
Chi phí sản xuất của doanh nghiệp bao gồm nhiều loại có nộidung, công dụng và tính chất khác nhau, do đó việc nhận diện và phânloại chi phí cho các mục đích khác nhau theo yêu cầu quản trị doanhnghiệp là cơ sở của các quyết định đúng đắn trong quá trình điều hànhhoạt động kinh doanh của nhà quản trị
Để thuận lợi cho công tác quản lý chi phí sản xuất và tổ chức kếtoán tập hợp chi phí sản xuất, trong các doanh nghiệp thường phânloại chi phí theo các tiêu thức sau:
1.2.2.1 Phân loại chi phí theo nội dung, tính chất kinh tế
Đặc điểm của cách phân loại này là căn cứ vào tính chất, nộidung kinh tế và hình thái nguyên thủy ban đầu của chi phí để tập hợpsắp xếp những chi phí có cùng tính chất, nội dung vào một yếu tổ chiphí mà không phân biệt chi phí đó phát sinh ở đâu và nơi nào chịu chiphí
Theo cách phân loại này toàn bộ chi phí sản xuất của doanhnghiệp được chia thành năm yếu tố sau:
+ Chi phí nguyên vật liệu: bao gồm giá mua, chi phí mua củanguyên liệu dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh
Trang 14+ Chi phí nhân công: bao gồm các khoản tiền lương phải trả chongười lao động và các khoản trích theo lương như kinh phí công đoàn,bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho người lao động.
+ Chi phí khấu hao tài sản cố định: bao gồm tất cả tài sản cốđịnh, tài sản dài hạn dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp
+ Chi phí dịch vụ thuê ngoài: bao gồm chi phí gắn liền với dịch
vụ từ bên ngoài cung cấp cho hoạt động sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp như giá dịch vụ điện nước, giá bảo hiểm tài sản, giá thuênhà của phương tiện, giá phí quảng cáo…
+ Chi phí khác bằng tiền: bao gồm tất cả các chi phí khác phátsinh trong quá trình sản xuất ngoài các chi phí nói trên
- Tác dụng: Phân loại chi phí sản xuất theo tính chất kinh tế cótác dụng cho biết những chi phí nào đã dùng vào quá trình sản xuấtsản phẩm và tỷ trọng của từng loại đó chiếm tỷ lệ bao nhiêu trong tổng
số chi phí sản xuất Điều này có ý nghĩa vô vùng quan trọng trong việcxây dựng định mức vốn lưu động, nhu cầu vốn lưu động của doanhnghiệp, trong việc lập các dự toán chi phi sản xuất và kiểm tra các dựtoán trong đó trong quá trình sản xuất Phân loại chi phí theo tính chấtkinh tế còn là tài liệu quan trọng dùng làm căn cứ để xác định địnhmức tiêu hao vật chất và tính thu nhập quốc dân theo từng ngành.Ngoài ra còn là căn cứ để lập báo cáo chi phí sản xuất theo yếu tố
1.2.2.2 Phân loại chi phí sản xuất theo công cụ kinh tế
Trang 15Đặc điểm của cách phân loại này căn cứ vào công dụng kinh tếcủa chi phí, mục đích sử dụng của chi phí, nơi phát sinh và nơi chịuchi phí để sắp xếp những chi phí có cùng công dụng vào một khoảnmục Theo cách phân loại này, toàn bộ chi phí sản xuất trong doanhnghiệp được chia thành các khoản mục sau:
- Chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp: Bao gồm giá mua, chiphí mua của nguyên vật liệu chính được sử dụng trực tiếp trong từngquá trình sản xuất Loại nguyên vật liệu này thường cấu thành nên cơ
sở vật chất chính của sản phẩm và chi phí của nó thường chiếm một tỷ
lệ trọng yếu trong giá thành sản phẩm ở các doanh nghiệp sản xuất
- Chi phí nhân công trực tiếp: Bao gồm các khoản tiền lươngphải trả và các khoản trích theo lương như kinh phí công đoàn, bảohiểm xã hội, bảo hiểm y tế của người lao động
- Chi phí sản xuất chung: Bao gồm tất cả các chi phí sản xuấtngoài hai khoản mục chi phí sản xuất trên Như vậy, chi phí sản xuấtchung thường bao gồm:
+ Chi phí lao động gián tiếp, phục vụ, tổ chức quản lý sản xuấttại phân xưởng
+ Chi phí nguyên vật liệu dùng trong máy móc thiết bị
+ Chi phí công cụ dụng cụ dùng trong sản xuất
+ Chi phí khấu hao máy móc thiết bị, tài sản cố định khác dùngtrong hoạt động sản xuất
+ Chi phí dịch vụ thuê ngoài phục vụ sản xuất như điện, nước,sửa chữa, bảo hiểm tài sản tại xưởng sản xuất
Trang 16Chi phí khác: ngoài những khoản chi phí liên quan đến hoạtđộng sản xuất kinh doanh chức năng của doanh nghiệp, trong chi phícủa doanh nghiệp còn tồn tại những chi phí khác Về cơ bản, chi phíkhác thường bao gồm chi phí hoạt động tài chính, chi phí hoạt độngbất thường, chi phí này thường chiếm tỷ lệ nhỏ Trong một doanhnghiệp có quy mô nhỏ, chi phí này có thể bằng không.
Cách phân loại này có tác dụng trong việc xử lý các nghiệp vụ,
kỹ thuật hạch toán để xác định được phương pháp tập hợp chi phí sảnxuất vào các đối tượng cần tính giá phục vụ cho công tác tính giáthành sản phẩm, lao vụ, dịch vụ
1.2.2.3 Phân loại chi phí sản xuấ theo khả năng quy nạp của chi phí với các đối tượng kế toán chi phí
Theo cách phân loại này toàn bộ chi phí sản xuất của doanhnghiệp được chia thành: chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp
- Chi phí trực tiếp: Là những chi phí có liên quan trực tiếp đếnmột đối tượng chịu chi phí (một loại sản phẩm, một công việc, mộtgiai đoạn công nghệ, một phân xưởng sản xuất…) như: chi phí nguyênvật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp… Loại chi phí nàythường chiếm một tỷ lệ rất lớn trong tổng chi phí Tuy nhiên, chúngđược nhận dạng, hạch toán chính xác Vì vậy, cũng ít gây ra sự sailệch thông tin chi phí ở từng bộ phận, từng quá trình sản xuất kinhdoanh
- Chi phí gián tiếp: Là những chi phí có liên quan đến nhiều đốitượng chịu chi phí như chi phí nguyên vật liệu phụ, chi phí nhân công
Trang 17phục vụ sản xuất, chi phí quảng cáo… Với chi phí gián tiếp, nguyênnhân gây ra chi phí và đối tượng chịu chi phí rất khó nhận dạng Vìvậy, thường phải tập hợp chung, sau đó lựa chọn tiêu thức phân bổcho các đối tượng chịu chi phí Và cũng chính điều này việc tính toán,phân bổ thường dẫn đến những sai leehcj chi phí trong từng bộ phận,từng quá trình sản xuất kinh doanh và cũng sẽ dẫn đến những quyếtđịnh khác nhau.
Cách phân loại này có tác dụng trong việc xử lý các nghiệp vụ,
kỹ thuật hạch toán để xác định phương pháp tập hợp CPSX vào cácđối tượng cần tính giá phục vụ cho công tác tính giá thành sản phẩm,lao vụ, dịch vụ
1.2.2.4 Phân loại chi phí sản xuất theo phương diện đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh
Theo cách phân loại này toàn bộ chi phí của doanh nghiệp đượcchia thành: Chi phí ban đầu và chi phí luân chuyển nội bộ
- Chi phí ban đầu: Là những chi phí mà doanh nghiệp phải tự loliệu mua sắm chuẩn bị từ lúc đầu để tiến hành sản xuất kinh doanh,các chi phí này được chia làm các yếu tố:
+ Chi phí nguyên vật liệu
+ Chi phí nhân công
+ Chi phí khấu hao TSCĐ
+ Chi phí dịch vụ mua ngoài
+ Chi phí khác bằng tiền
Trang 18- Chi phí luân chuyển nội bộ: Là các chi phí phát sinh trong quátrình hợp tác và phân công lao động trong nội bộ doanh nghiệp nhữngchi phí này đã phát sinh lần thứ hai.
1.2.2.5 Phân loại chi phí sản xuất theo mối quan hệ của chi phí với các khoản mục trên bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả kinh doanh
Theo cách phân loại này, chi phí có thể chia thành chi phí sảnphẩm và chi phí thời kỳ
- Chi phí thời kỳ là những chi phí phát sinh và ảnh hưởng trựctiếp đến lợi nhuận trong một kỳ kế toán Chi phí thời kỳ không phải làmột phần của giá trị sản phẩm sản xuất hoặc hàng hóa mua vào màchúng là những chi phí được khấu trừ vào kỳ tính lợi nhuận Chi phíthời kỳ trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tồn tạikhá phổ biến nhưng chi phí hoa hồng bán hàng, chi phí quảng cáo, chiphí thuê nhà, chi phí văn phòng,… Những chi phí này đều là chi phíthời kỳ, chúng được tính vào chi phí giảm lợi tức trong kỳ tính kết quảkinh doanh Thực tiễn, có những chi phí thời kỳ rất khó nhận dạng dochu kỳ sản xuất kéo dài như ngành xây lắp; công nghiệp… Quan sátchi phí quản lý, phục vụ, hành chính quản trị… của một doanh nghiệpxây lắp chúng bao gồm nhiều thành phần chi phí khác nhau phát sinh
từ lúc khởi công cho đến khi kết thúc, nghiệm thu bàn giao công trình
có thể kéo dài trên một năm nhưng chúng vẫn là chi phí thời kỳ, ảnhhưởng trực tiếp đến lợi nhuận của doanh nghiệp trong thời kỳ tính kếtquả kinh doanh khi báo cáo Như vậy, ngoài việc đơn thuần ghi nhận
Trang 19chi phí thời kỳ theo kỳ kế hạch toán thông thường (tháng, quý, năm)chúng ta cần chú ý đến những kỳ báo cáo dài hạn do đặc thù riêng củamột số ngành.
- Chi phí sản phẩm là những chi phí gắn liền với sản phẩm đượcsản xuất ra hoặc được mua vào trong kỳ Đối với hoạt động sản xuất,chi phí sản phẩm là chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhâncông trực tiếp, chi phí sản xuất chung phát sinh trong kỳ Đối với hoạtđộng kinh doanh thương mại, chi phí sản phẩm là giá mua và chi phímua hàng hóa trong kỳ Chi phí sản phẩm phát sinh trong một kỳ vàảnh hưởng đến nhiều kỳ sản xuất kinh doanh, kỳ tính kết quả kinhdoanh Đúng hơn, sự phát sinh khả năng bù đắp của chi phí sản phẩmtrải qua nhiều kỳ sản xuất kinh doanh khác nhau Vì vậy, chi phí sảnphẩm thường gắn liền với những rủi ro tiềm tàng từ sự biến động củathị trường Để quản lý tốt hơn chi phí sản phẩm, hạn chế những rủi ro,các nhà quản trị thường áp dụng hệ thống quản lý hàng tồn kho kịpthời Hệ thống này giúp nhà quản trị điều hành chi phí sản phẩm (chiphí sản xuất và chi phí hàng mua) theo lực hút của thị trường, theonhu cầu tiêu thụ khắc phục nhược điểm truyền thống cổ điển, một khi
áp lực hàng tồn kho gia tăng mới đạt yêu cầu cho tiêu thụ dễ dẫn đếnrủi ro và ứ đọng hàng tồn kho
Đặc điểm, ở những doanh nghiệp sản xuất, chi phí sản phẩmphát sinh trong lĩnh vực sản xuất dưới hình thức chi phí sản xuất Sau
đó, chúng chuyển hóa thành giá trị thành phẩm hàng tồn kho, giá trịthành phẩm chờ bán Khi tiêu thụ, chúng chuyển hóa thành giá vốn
Trang 20hàng bán được ghi nhận trên báo cáo kết quả kinh doanh trong kỳ.Ngược lại với chi phí sản phẩm thì chi phí thời kỳ, thời kỳ chúng phátsinh cũng chính là thời kỳ được ghi nhận trên báo cáo kết quả kinhdoanh.
1.2.2.6 Phân loại sản xuất theo mối quan hệ của chi phí với mức
độ hoạt động (mô hình ứng xử chi phí)
- Biến phí (chi phí biến đổi): là những chi phí thay đổi tỷ lệ vớimức độ hoạt động của Doanh nghiệp Mức độ hoạt động có thể là sốlượng sản phẩm sản xuất; số lượng sản phẩm tiêu thụ; số giờ máy hoạtđộng; doanh thu bán hàng thực hiện… Cần lưu ý, nếu xét về tổng số,biến phí thay đổi tỷ lệ thuận với khối lượng hoạt động nhưng xét trênmột đơn vị khối lượng hoạt động thì biến phí thường có thể là hằng sốđối với mọi mức hoạt động Trong một doanh nghiệp sản xuất, biếnphí gồm: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp,chi phí năng lượng trong doanh nghiệp thương mại, biến phí gồm: Giávốn hàng bán, hoa hồng cho người bán,…
- Định phí (chi phí cố định): là những chi phí mà về tổng sốkhông thay đổi khi có sự thay đổi về mức độ hoạt động của đơn vị.Nếu xét tổng chi phí địh phí không thay đổi, ngược lại, nếu xét địnhphí trên một đơn vị khối lượng hoạt động thì tỷ lệ nghịch với mức độhoạt động Như vậy, dù doanh nghiệp có hoạt động hay không thì vẫntồn tại định phí; ngược lại, khi doanh nghiệp gia tăng mức độ hoạtđộng thì định phí trên một đơn vị hoạt động sẽ giảm dần
Trang 21- Chi phí hỗn hợp: là loại chi phí mà bản thân nó bao gồm cả yếu
tố của định phí và biến phí (như chi phí điện thoại, fax chi phí sủachữa thường xuyên tài sản cố định) Nhằm phục vụ cho việc lập kếhoạch kiểm soát và chủ động điều tiết chi phí, các nhà quản trị doanhnghiệp cần phải phân tích chi phí hỗn hợp thành định phí và biến phí.Các phương pháp dùng để phân tích chi phí hỗn hợp là phương phápcực đại, cục tiểu và phương pháp bình phương bé nhất
Đây là cách phân loại đặc biệt quan trọng trong việc phục vụ chocác nhà quản trị doanh nghiệp hoạch định, kiểm tra và ra quyết định.Cách phân loại này quan tâm tới cách ứng xử của chi phí mà dựa vào
nó để nghiên cứu mối quan hệ giữa chi phí - khối lượng - lợi nhuậnđiều này có ý nghĩa trong việc khai thác khả năng tiềm tàng của doanhnghiệp là cở sở để ra các quyết định ngắn hạn nhằm tối đa hóa lợinhuận Việc phân biệt định phí và biến phí giúp cho nhà quản trị xácđịnh đúng phương hướng để nâng cao hiệu quả
1.2.2.7 Phân loại chi phí sản xuất theo thẩm quyền ra quyết định
- Theo cách phân loại này, nếu gắn quyền kiểm soát chi phí vớimột cấp quản lý nào đó thì phân biệt chi phí thành hai loại, đó là Chiphí kiểm soát được và Chi phí không kiểm soát được
- Chi phí kiểm soát được là những chi phí mà các nhà quản trị ởmột cấp quản lý nào đó xác định được lượng phát sinh của nó, cóthẩm quyền quyết định về sự phát sinh chi phí đó, cấp quản lý đó kiểmsoát được những chi phí này
Trang 22- Chi phí không kiểm soát được là những chi phí nằm ngoài khảnăng thẩm quyền quyết định của cấp đó.
1.2.2.8 Các loại chi phí được sử dụng trong việc lựa chọn phương án
- Chi phí chênh lệch: là những khoản chi phí có ở phương án sảnxuất kinh doanh này nhưng không có hoặc chỉ có một phần phương ánsản xuất kinh doanh khác Chi phí chênh lệch là một trong những căn
cứ quan trọng để lựa chọn phươn án kinh doanh tối ưu
- Chi phí cơ hội: là lợi ích bị mất đi do chọn phương án kinhdoanh này thay vì chọn phương án kinh doanh khác Chi phí cơ hộikhông xuất hiện trên tài liệu chi phí ở phạm vi chi phí của kế toán tàichính
- Chi phí chìm: là những chi phí đã bỏ ra trong quá khư, nókhông có gì thay đổi cho dù phần tài sản đại diện cho chi phí này được
sử dụng thế nào hoặc không sử dụng Chi phí chìm có trong tất cả cácphương án sản xuất kinh doanh được đưa ra xem xét, lựa chọn… Ví
dụ như: tiền thuê nhà, phân xưởng là chi phí chìm, chi phí mà nhàquản trị phải chấp nhận hằng năm dù chấp nhận phương án kinhdoanh khi đã ký hợp đồng thuê và thanh toán chi phí thuê trong nhiềunăm
1.2.3 Phân loại giá thành sản phẩm
Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền toàn bộ những hao phí
về lao động sống và lao động vật hóa tính trên một khối lượng kết quảsản phẩm lao vụ, dịch vụ hoàn thành nhất định
Trang 23Như vậy bản chất của giá thành là sự chuyển dịch giá trị của cácyếu tố chi phí vào những sản phẩm nhất định đã hoàn thành.
1.2.3.1 Phân loại giá thành sản phẩm theo phạm vi chi phí trong giá thành
Để phục vụ cho việc ra quyết định cụ thể chỉ tiêu giá thành cóthể được tính toán theo phạm vi khác nhau, và có các loại giá thànhsau đây:
a) Giá thành sản xuất toàn bộ của sản phẩm: là giá thành sảnxuất của sản phẩm bao gồm các chi phí cố định và chi phí biến đổithuộc các khoản mục: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhâncông trực tiếp, chi phí sản xuất chung
Mô hình giá thành sản xuất toàn bộ được mô tả theo sơ đồ 1.1 như sau:Biến phí
sản xuất
Biến phí trựctiếp
Biến phí trực tiếp trong giáthành
Giáthànhsảnxuấtsảnphẩmtoàn bộ
Biến phí giántiếp
Biến phí gián tiếp trong giáthành
Định phí
sản xuất
Định phí trựctiếp
Định phí trực tiếp trong giáthành
Định phí giántiếp
Định phí gián tiếp trong giáthành
Sơ đồ 1.1: Giá thành sản xuất toàn bộ của sản phẩm
Dựa vào giá thành sản xuất toàn bộ, doanh nghiệp có thể xácđịnh được kết quả của quá trình sản xuất sản phẩm Do bản chất của
nó, giá thành sản xuất đóng vai trò chủ yếu trong các quyết định mangtính chất chiến lược dài hạn: quyết định ngừng sản xuất hay tiếp tục
Trang 24sản xuất một loại sản phẩm nào đó Vì vậy, chỉ tiêu giá thành sản xuất
có ý nghĩa quan trọng trong quản trị doanh nghiệp
b) Giá thành sản xuất theo biến phí: Là giá thành chỉ có toàn bộbiến phí sản xuất bao gồm biến phí trực tiếp và gián tiếp (bao gồm chiphí thuộc chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp,chi phí sản xuất chung (biến phí sản xuất) tính cho sản phẩm hoànthành)
Mô hình giá thành sản xuất theo biến phí được mô tả theo Sơ đồ 1.2
Chi phí nguyên vật
liệu trực tiếp
Biến phí nguyên vậtliệu trực tiếp Giá thành sản xuất
Giá vốn hàng bán
Sơ đồ 1.2: Giá thành sản xuất theo biến phí
c) Giá thành sản xuất có phân bổ hợp lý chi phí cố định (định phísản xuất): Là loại giá thành trong đó bao gồm toàn bộ biến phí sảnxuất tính cho sản phẩm sản xuất hoàn thành và một phần định phí sảnxuất được phân bổ trên cơ sở mức hoạt động thực tế so với mức hoạtđộng theo công suất thiết kế (mức hoạt động chuẩn)
Phần định phí sản xuất còn lại chính là chi phí hoạt động dướicông suất sẽ được ứng xử như chi phí thời kỳ, tức là được tham giakhi xác định kết quả kinh doanh trong kỳ
Trang 25Mô hình của giá thành sản xuất có phân bổ hợp lý định phí sản xuất được mô tả
theo sơ đồ 1.3Chi phí nguyên
vật liệu trực tiếp
Biến phí nguyên vật liệu trực tiếp Giá thành sản
xuất có phân
bổ hợp lý địnhphí sản xuất
Chi phí nhân
công trực tiếp
Biến phí nhân công trực tiếpBiến phí sản xuất chungChi phí sản xuất
chung
Định phísản xuấtchung
Phân bổ theo mức hoạt độngthực tế
Hoạt động dưới công suất Giá vốn hàng
bán
Sơ đồ 1.3: Giá thành sản xuất có phân bổ hợp lý định phí sản xuất
d) Giá thành toàn bộ của sản phẩm tiêu thụ: là giá thành baogồm giá thành sản xuất và chi phí ngoài giá thành sản xuất tính chosản phẩm tiêu thụ
Chỉ tiêu này được sử dụng để xác định kết quả tiêu thụ củadoanh nghiệp Tùy theo phương pháp xác định và nội dung của giáthành sản xuất để xác định giá thành toàn bộ của sản phẩm tiêu thụtheo công thức sau:
= + Giá thành toàn bộ sản phẩm tiêu thụ có thể được phản ánh theo sơ đồ 1.4Giá
+
Chiphíquảnlýdoanh
Giá thành sản xuấttheo biến phí
+ Định phísản xuấtGiá thành sản xuất
có phân bổ hợp lýchi phí cố định
+
Định phíhoạt
động
Trang 26tiêu
thụ
dướicông suất
nghiệp
Sơ đồ 1.4: Giá thành toàn bộ của sản phẩm tiêu thụ
1.2.3.2 Phân loại giá thành theo thời điểm và cơ sở số liệu tính giá thành
Theo cách phân loại này, giá thành sản xuất sản phẩm chia thànhcác loại:
- Giá thành kế hoạch: Là giá thành sản xuất sản phẩm được tínhtrên cơ sở chi phí sản xuất kế hoạch và sản lượng kế hoạch Giá thành
kế hoạch được tính toán trước khi tiến hành sản xuất sản phảm Giáthành kế hoạch là mục tiêu phấn đấu của doanh nghiệp trong việc tiếtkiệm hợp lý chi phí sản xuất để hạ giá thành sản phẩm và là căn cứ đểphân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch hạ giá thành củadoanh nghiệp
- Giá thành định mức: Là giá thành sản xuất sản phẩm được tínhtrên cơ sở các định mức chi phí hiện hành và chỉ tính cho đơn vị sảnphẩm Giá thành định mức được tính trước khi tiến hành sản xuất, chếtạo sản phẩm Giá thành định mức là công cụ để quản lý chi phí sảnxuất và giá thành sản xuất sản phẩm; là thước đo chính xác để xácđịnh hiệu quả sử dụng tài sản, lao động, tiền vốn trong sản xuất, là căn
cứ để đánh giá đúng đắn kết quả thực hiện giải pháp kinh tế, kỹ thuật
mà doanh nghiệp đã đề ra trong quá trình sản xuất kinh doanh
Trang 27- Giá thành sản xuất thực tế: Là giá thành sản xuất sản phẩmđược tính trên cơ sở số liệu chi phí sản xuất thực tế đã phát sinh do kếtoán tập hợp và sản lượng sản phẩm được sản xuất thực tế trong kỳ.Giá thành sản xuất thực tế được tính sau quá trình sản xuất, có sảnphẩm hoàn thành ứng với kỳ tính giá thành mà doanh nghiệp đã xácđịnh Đây là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh kết quả phấn đấu củadoanh nghiệp trong việc sử dụng giải pháp tổ chức kinh tế, kỹ thuật đểthực hiện quá trình sản xuất sản phẩm Giá thành sản xuất thực tế làcăn cứ để xác định kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanhnghiệp.
Trong các loại giá thành thì giá thành định mức được sử dụng rấtrộng rãi trong kế toán quản trị Nhà quản trị doanh nghiệp có thể sosánh với giá thành thực tế nhằm tính ra sự chênh lệch, xác định bảnchất và những nguyên nhân của chênh lệch để từ đó có biện pháp xửlý
1.2.4 Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành sản phẩm
Chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có thể phát sinh ởnhiều địa điểm khác nhau, liên quan đến việc sản xuất chế tạo các loạisản phẩm, lao vụ khác nhau Các nhà quản trị doanh nghiệp cần biếtđược các chi phí phát sinh đó ở đâu, dùng vào việc sản xuất sản phẩmnào… Chí vì vậy chi phí sản xuất kinh doanh phát sinh trong kỳ phảiđược kế toán tập hợp theo một phạm vi, giới hạn nhất định Đó chính làviệc xác định đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất
Trang 281.2.4.1 Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất
Là phạm vi, giới hạn mà các chi phí sản xuất (CPSX) cần được
tổ chức tập hợp theo các phạm vi và giới hạn đó nhằm đáp ứng yêucầu kiểm tra, giám sát, tổng hợp CPSX và tính giá thành sản phẩm
Phạm vi (giới hạn) để tập hợp Chi phí sản xuất có thể là:
- Nơi phát sinh chi phí: Phân xưởng, bộ phận sản xuất, giai đoạncông nghệ…)
- Nơi gánh chịu chi phí: sản phẩm, lao vụ; bộ phận, chi tiết sảnphẩm; công trình; hạng mục công trình, đơn đặt hàng
Như vậy, thực chất của việc xác định đối tượng tập hợp chi phísản xuất là xác định nơi các chi phí đã phát sinh và các đối tượng gánhchịu chi phí
Khi xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất phải dựa vào vàcân nhắc hàng loạt các nhân tố sau:
- Đặc điểm và công dụng của chi phí trong quá trình sản xuất
- Đặc điểm tổ chức sản xuất của doanh nghiệp
- Đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất, chế tạo sản phẩm
- Đặc điểm của sản phẩm (đặc điểm về kỹ thuật, sử dụng, thươngphẩm)
- Yêu cầu kiểm tra, kiểm soát chi phí và hạch toán kinh tế nội bộcủa doanh nghiệp
- Khả năng và trình độ của cán bộ quản lý nói chung và của cán
bộ kế toán nói riêng
Trang 29Tùy thuộc vào đặc điểm tình hình cụ thể mà đối tượng kế toántập hợp CPSX trong các doanh nghiệp có thể là: Từng sản phẩm, chitiêt sản phẩm, nhóm sản phẩm, đơn đặt hàng, công trình, hạng mụccông trình Hoặc từng phân xưởng, bộ phận sản xuất, giai đoạn côngnghệ sản xuất, từng cây trồng, con gia súc chăn nuôi… Xác định đúngđắn, khoa học, hợp lý đối tượng kế toán tập hợp CPSX là cơ sở, tiền
đề quan trọng để kiểm tra, kiểm soát chi phí, tăng cường trách nhiệmvật chất đối với bộ phận, đồng thời cung cấp số liệu cần thiết cho việctính các chỉ tiêu giá thành theo yêu cầu quản trị doanh nghiệp
1.2.4.2 Đối tượng tính giá thành
Đối tượng tính giá thành là các loại sản phẩm, công việc, lao vụ
mà doanh nghiệp đã sản xuất hoàn thành đòi hỏi phải tính tổng giá thành
và giá thành đơn vị
Khi xác định đối tượng tính giá thành sản phẩm căn cứ vào:
+ Đặc điểm tổ chức sản xuất và cơ cấu sản xuất
+ Quy trình công nghệ sản xuất, chế tạo sản phẩm
+ Đặc điểm sử dụng của sản phẩm, nửa thành phẩm
+ Yêu cầu quản lý, yêu cầu cung cấp thông tin cho việc ra quyếtđịnh trong doanh nghiệp
+ Khả năng và trình độ quản lý, hạch toán
Qua đây ta thấy đối tượng tập hợp CPSX và đối tượng tính giáthành giống nhau ở bản chất, chúng đều là những phạm vi giới hạn đểtập hợp CPSX, phục vụ cho công tác quản lý, phân tích và kiểm trachi phí, giá thành sản phẩm Tuy vậy giữa hai khái niệm vẫn có sự
Trang 30khác nhau nhất định Việc xác định hợp lý đối tượng tính kế toán tậphợp chi phí sản xuất là tiền đề, điều kiện để tính giá thành theo các đốitượng tính giá thành trong doanh nghiệp.
1.2.5 Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất
Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất là một hoặc hệ thống cácphương pháp dùng để phân tích và ghi nhận chi phí theo từng đốitượng kế toán chi phí Cụ thể: được sử dụng để tập hợp và phân bổ cácchi phí cho từng đối tượng kế toán tập hợp CPSX đã xác định Việctập hợp chi phí có thể tiến hành bằng phương pháp tập hợp chi phítrực tiếp hay phương pháp phân bổ gián tiếp Tùy theo từng loại chiphí và điều kiện cụ thể kế toán có thể vận dụng phương pháp tập hợpCPSX phù hợp
1.2.5.1 Phương pháp tập hợp trực tiếp
Phương pháp này áp dụng trong trường hợp chi phí sản xuất phátsinh có liên quan trực tiếp đến từng đối tượng tập hợp chi phí riêngbiệt Do đó có thể căn cứ vào chứng từ ban đầu để hạch toán trực tiếpcho từng đối tượng riêng biệt Theo phương pháp này chi phí sản xuấtphát sinh được tính trực tiếp cho từng đối tượng trực tiếp chịu chi phínên bảo đảm chính xác cao trong công tác kế toán Vì vậy cần sử dụngtối đa phương pháp này khi có điều kiện ghi trực tiếp
1.2.5.2 Phương pháp phân bổ gián tiếp
Phương pháp phân bổ gián tiếp được áp dụng khi CPSX có liênquan đến nhiều đối tượng tập hợp CPSX nhưng không thể tập hợp trựctiếp cho từng đối tượng được Vì vậy, phải lựa chọn tiêu thức phân bổ
Trang 31các khoản chi phí này cho phù hợp với từng đối tượng, trước tiên cầnxác định hệ số phân bổ chi phí căn cứ vào CPSX tập hợp được cầnphân bổ và đại lượng phân bổ đã lựa chọn, sau đó, căn cứ vào hệ sốphân bổ chi phí và đại lượng phân bổ chi phí của từng đối tượng đểxác định mức chi phí phân bổ.
Tuy nhiên, việc phân loại chi phí và vận dụng phương pháp tậphợp CPSX trong thực tế chỉ mang tính tương đối Có những CPSXtrực tiếp cho sản xuất sản phẩm cũng phải phân bổ cho các đối tượngchịu chi phí nếu các chi phí này liên quan đến nhiều đối tượng chịuchi phí Ngược lại, chi phí gián tiếp phục vụ sản xuất có thể tập hợptrực tiếp cho từng đối tượng chịu chi phí nếu như chi phí này được tậphợp riêng biệt theo từng đối tượng chịu chi phí ngay từ khâu hạch toánban đầu
1.2.6 Các phương pháp kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
1.2.6.1 Phương pháp kế toán CPSX và tính giá thành theo công việc (theo đơn đặt hàng)
Phương pháp tính giá thành theo công việc áp dụng thích hợpvới những doanh nghiệp tổ chức sản xuất đơn chiếc, hàng loạt nhỏhoặc hàng loạt vừa, theo các đơn đặt hàng
- Đối tượng kế toán tập hợp CPSX là từng đơn đặt hàng Đốitượng tính giá thành là thành phẩm của từng đơn đặt hàng hoàn thành
Tổng hợp chi phí và tính giá thành theo đơn đặt hàng, đối vớinhững đơn đặt hàng chưa hoàn thành đều là CPSX dở dang
Trang 321.2.6.2 Phương pháp kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành theo quá trình sản xuất
Hệ thống kế toán CPSX và tính giá thành theo quá trình sản xuấtđược áp dụng với những doanh nghiệp sản xuất hàng loạt với khốilượng lớn, mặt hàng sản xuất ổn định, quy trình công nghệ giản đơnhoặc phức tạp kiểu liên tục hay kiểu song song, hoặc quy trình sảnxuất, chế tạo hỗn hợp Một số đặc điểm đáng chú ý:
- Mỗi giai đoạn sản xuất sử dụng một tài khoản chi tiết để tậphợp CPSX của giai đoạn đó Trên cơ sở này để tính được tổng giáthành đơn vị của bán thành phẩm từng giai đoạn và để lập báo cáo sảnxuất và giá thành cho từng giai đoạn
- Các chi phí sản xuất phát sinh ở giai đoạn nào được tập hợptrực tiếp ở giai đoạn đó CPSX ở giai đoạn sau bao gồm giá trị bánthành phẩm giai đoạn trước chuyển sang và các CPSX phát sinh tạigiai đoạn đó
- Bán thành phẩm ở giai đoạn trước là đối tượng chế biến tiếptục của giai đoạn sau, cứ tuần tự như vậy đến khi nào tạo thành thànhphẩm ở giai đoạn sau cùng
1.2.6.3 Phương pháp tính giá thành
Phương pháp tính giá thành sản phẩm là phương pháp sử dụng
số liệu CPSX đã tập hợp được trong kỳ để tính toán tổng giá thành vàgiá thành đơn vị theo từng khoản mục chi phí quy định cho các đốitượng giá thành
Trang 33A Tính giá thành sản phẩm đối với những doanh nghiệp có quytrình công nghệ sản xuất giản đơn.
a) Phương pháp tính giá thành giản đơn
Phương pháp tính giá thành giản đơn còn gọi là phương pháptính trực tiếp Phương pháp này áp dụng thích hợp với những sảnphẩm, công việc có quy trình công nghệ sản xuất đơn giản, khép kín,
tổ chức sản xuất nhiều, chu kỳ sản xuất ngắn và xen kẽ liên tục, đốitượng tính giá thành phù hợp với đối tượng kế toán tập hợp CPSX, kỳtính giá thành phù hợp với kỳ báo cáo
Theo phương pháp này, giá thành sản phẩm được tính bằng cáchcăn cứ trực tiếp vào chi phí sản xuất đã tập hợp được theo từng đốitượng kế toán tập hợp chi phí trong kỳ và giá trị sản phẩm làm dở đầu
kỳ, cuối kỳ
Công thức tính Z giản đơn: Z = DĐK + CTK - DCK
Trong đó Z: Giá thành sản phẩm hoàn thành
DĐK, DCK: Giá trị sản phẩm dở dang đầu kỳ, cuối kỳ
CTK: Tổng chi phí sản xuất phát sinh trong kỳb) Phương pháp tính giá thành theo hệ số
Phương pháp này được áp dụng thích hợp trong trường hợp cùngmột quy trình công nghệ sản xuất, sử dụng một loại nguyên vật liệunhưng kết quả sản xuất thu được nhiều loại sản phẩm chính khác nhaunhư trong công nghiệp chóa chất, hóa dầu, chăn nuôi bò sữa, chănnuôi ong
Trang 34Trong trường hợp này đối tượng kế toán tập hợp CPSX là toàn
bộ quy trình công nghệ sản xuất, đối tượng tính giá thành từng sảnphẩm do quy trình sản xuất đó đã hoàn thành Trình tự như sau:
+ Bước 1: Tập hợp CPSX của toàn bộ quy trình công nghệ, quyđổi số sản lượng sản phẩm hoàn thành với các hệ số quy đổi tươngứng về số lượng sản phẩm chuẩn
+ Bước 2: Tính tổng chi phí liên quan đến sản phẩm hoàn thành.+ Bước 3: Tính giá thành từng loại sản phẩm
Để tính được giá thành của từng loại sản phẩm phải căn cứ vàotiêu chuẩn kinh tế hoặc kỹ thuật để định cho mỗi loại sản phẩm một hệ
số giá thành, trong đó lấy loại có hệ số 1 làm sản phẩm tiêu chuẩn
Căn cứ vào sản lượng thực tế hoàn thành của từng loại sản phẩm
và hệ số giá thành đã quy định để tính đổi sản lượng từng loại ra sảnlượng tiêu chuẩn
c) Phương pháp tính giá thành theo tỷ lệ
Phương pháp này được áp dụng thích hợp trong trường hợp cùngmột quy trình công nghệ sản xuất, kết quả sản xuất là 1 nhóm sảnphẩm cùng loại với những chủng loại, phẩm cấp, quy cách khác nhaunhư sản xuất ống nước, sản xuất quần áo dệt kim, gạch ngói, sản xuấtchế biến chè…
Trong trường hợp này đối tượng kế toán tập hợp CPSX là toàn
bộ quy trình công nghệ sản xuất của nhóm sản phẩm, đối tượng tínhgiá thành là từng quy cách sản phẩm trong nhóm đó Đẻ tính giá thành
Trang 35thực tế cho từng quy cách sản phẩm có thể tiến hành theo trình tự sauđây:
+ Bước 1: Tập hợp chi phí sản xuất toàn quy trình sản xuất, tínhchi phí sản xuất của các nhóm sản phẩm đã hoàn thành (= DĐK + CTK -
DCK)
+ Bước 2: Xác định tiêu chuẩn phân bổ giá thành
+ Bước 3: Xác định tỷ lệ giá thành theo khoản mục
Tỷ lệ giá thành (theo khoản mục) = + Bước 4: Xác định giá thành thực tế của từng quy cách (nhóm) sảnphẩm
= x Tỷ lệ giá thànhd) Phương pháp loại trừ chi phí sản xuất sản phẩm phụ
- Phương pháp này được áp dụng thích hợp cho những doanhnghiệp trong trường hợp cùng một quy trình công nghệ sản xuât, đồngthời với việc sản xuất ra sản phẩm chính còn thu được sản phẩm phụ
- Trong trường hợp này đối tượng kế toán tập hợp CPSX là toàn
bộ quy trình công nghệ sản xuất còn đối tượng tính giá thành là sảnphẩm chính Để tính được giá thành của sản phẩm chính phải loại trừchi phí của sản phẩm phụ
- Chi phí của sản phẩm phụ được tính theo giá kế hoạch, giá tiêuthụ nội bộ hoặc giá ước tính và phân bổ cho từng khoản mục theo tỷtrọng của tổng chi phí sản xuất thực tế
Trang 36B Tính giá thành sản phẩm đối với những doanh nghiệp có quytrình công nghệ sản xuất phức tạp kiểu chế biến liên tục
Đặc điểm quy trình công nghệ trong các doanh nghiệp này làquy trình công nghệ sản xuất phức tạp kiểu liên tục, sản phẩm phải trảiqua nhiều giai đoạn chế biến kế tiếp nhau, nửa thành phẩm đã hoànthành ở giai đoạn trước lại là đối tượng tiếp tục chế biến ở bước sau
Đối tượng kế toán tập hợp CPSX là quy trình công nghệ sản xuấtcủa từng giai đoạn (phân xưởng, đội sản xuất); đối tượng tính giáthành là thành phẩm ở giai đoạn cuối cùng, hoặc là nửa thành phẩm ởtừng giai đoạn và thành phẩm ở giai đoạn cuối cùng Do có sự khácnhau về đối tượng tính giá thành nên phương pháp tính giá thành phânbước được chia thành 2 phương án:
+ Phương pháp phân bước có tính giá thành nửa thành phẩm+ Phương pháp phân bước không tính giá thành nửa thành phẩma) Phương pháp tính giá thành phân bước có tính nửa thành phầnPhương pháp phân bước có tính giá thành nửa thành phẩm ápdụng thích hợp trong trường hợp xác định đối tượng tính giá thành lànửa thành phẩm ở các giai đoạn chế biến và thành phẩm của giai đoạncuối cùng Vì vậy kế toán phải căn cứ vào CPSX đã tập hợp theo từnggiai đoạn sản xuất, lần lượt tính tổng giá thành và giá thành đơn vị nửathành phẩm của giai đoạn sản xuất trước và kết chuyển giai đoạn saumột cách tuần tự để tính tiếp tổng giá thành và giá thành đơn vị nửathành phẩm của giai đoạn sau, cứ thế tiếp tục cho đến khi tính đượctổng giá thành và giá thành đơn vị của thành phẩm ở giai đoạn cuối
Trang 37cùng Do cách kết chuyển chi phí nửa thành phẩm giữa các giai đoạncông nghệ sản xuất để lần lượt tính giá thành cho nửa thành phẩm ởgiai đoạn cuối cùng như trên cho nên gọi là phương pháp kết chuyểntuần tự.
b) Phương pháp phân bước không tính giá thành nửa thành phẩmTheo phương pháp này kế toán chỉ cần tính được giá thành vàgiá thành đơn vị của thành phẩm ở giai đoạn cuối cùng Trình tự tiếnhành theo các bước
Trước hết căn cứ vào CPSX đã tập hợp theo từng giai đoạn, tínhtoán phần CPSX nằm trong giá thành của thành phẩm theo từng khoảnmục Tùy theo phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang mà doanhnghiệp áp dụng mà có cách tính có quy đổi theo mức độ hoàn thànhhay không
Chi phí sản xuất của từng giai đoạn nằm trong thành phẩm đãtính, được kết chuyển song song từng khoản mục để tổng hợp tính ratổng giá thành và giá thành đơn vị của thành phẩm
Z Thành phẩm = CPSX gđ1 + CPSX gđ2 + ….CPSX gđ n
Phương pháo tính giá thành phân bước không tính giá thành nửathành phẩm có ưu điểm là tính toán giá thành thành phẩm được nhanhchóng kịp thời Tuy nhiên phương pháp này cũng có những nhượcđiểm riêng Cụ thể:
+ Vì không tính giá thành nửa thành phẩm cho nên không có tácdụng xác định hiệu quả sản xuất của từng giai đoạn, không hạch toánchính xác nửa thành phẩm và sản phẩm dở dang ở từng giai đoạn
Trang 38+ Phương pháp này được áp dụng thích hợp với những doanhnghiệp không có yêu cầu phải tính giá thành nửa thành phẩm như cácdoanh nghiệp sản xuất gạch ngói, xi măng…
1.2.7 Tổ chức thu nhận thông tin
Kế toán quản trị bên cạnh thu nhận những thông tin thực hiện vềnhững nghiệp vụ kinh tế phát sinh và đã hoàn thành còn thu nhận cảthông tin tương lai:
Đối với thông tin thực hiện quá khứ: Kế toán quản trị chi phí, giáthành sử dụng các phương pháp kế toán để thu nhận, xử lý thông tin,đặc biệt là chú trọng sử dụng các chứng từ hướng dẫn các tài khoảnchi tiết để thu nhận thông tin về chi phí của từng đối tượng quản lý,cung cấp số liệu cho việc tính giá thành sản phẩm, lập báo cáo chi tiết
và phân tích kinh tế
Đối với thông tin tương lai: Kế toán quản trị chi phí, giá thànhthu nhận và cung cấp thông tin tương lai bằng cách xây dựng kế hoạchchi phí, giá thành đồng thời xây dựng hệ thống định mức chi phí, dựtoán CPSX giúp nhà quản trị kinh doanh nghiệp ra quyết định đúngđắn hiệu quả
1.2.8 Tổ chức lập báo cáo quản trị chi phí, giá thành
Tùy theo yêu cầu quản lý, kế toán quản trị chi phí, giá thànhthiết lập các báo cáo cần thiết bao gồm các báo cáo nhanh, báo cáođịnh kỳ, báo cáo đột xuất và đặc biệt là các báo cáo bộ phận như báocáo giá thành sản phẩm, báo cáo chi phí của từng bộ phận,… Báo cáocủa kế toán quản trị được thiết lập chi tiết theo các thông tin cần thiết
Trang 39cho nhà quản trị, mặt khác các thông tin chi tiết này còn tùy thuộc vàocác đặc điểm kinh tế kỹ thuật cụ thể của từng ngành nghề, vào từngquy mô, theo các lĩnh vực xem xét Như vậy, sẽ có rất nhiều báo cáo
bộ phận khác nhau với các tác dụng khác nhau trong doanh nghiệp.Nhà quản trị doanh nghiệp cần căn cứ vào nhu cầu thông tin cần thiếtcho công tác quản trị và các đặc điểm của từng doanh nghiệp để thiết
kế báo cáo quản trị cần thiêt, phù hợp và có hiệu quả
1.2.9 Tổ chức phân tích chi phí - giá thành
Căn cứ vào thông tin quá khứ và thông tin tương lai đã thu nhậnđược, kế toán tiến hành so sánh, phân tích tình thực hiện định mức chiphí, qua đó xác định được từng nhân tố, nguyên nhân ảnh hưởng, giúpnhà quản trị đưa ra được các giải pháp để khắc phục những tồn tại vàkhai thác khả năng tiềm tàng để sử dụng hiệu quả hơn các nguồn lực.Việc phân tích cần xác định và so sánh tỷ trọng của từng loại, từngkhoản chi phí trong tổng chi phí để loại trừ ảnh hưởng của sự thay đổi
về quy mô kinh doanh giữa các kỳ Mặt khác việc phân tích chi phícần xem xét trong mối liên hệ với doanh thu và lợi nhuận để thấyđược hiệu quả của chi phí
1.2.10 Ứng dụng kế toản quản trị chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm trong định giá dự thầu
Kế toán quản trị nói chung và kế toán quản trị chi phí, giá thànhnói riêng có những ứng dụng rất quan trọng trong việc ra quyết địnhkinh doanh của nhà quản trị ở các doanh nghiệp Do đặc điểm riêngcủa ngành xây lắp cũng như sản phẩm xây lắp nên việc vận dụng kế
Trang 40toán quản trị tại các doanh nghiệp xây lắp có những nét riêng Việcvận dụng mối quan hệ chi phí - khối lượng - lợi nhuận để ra quyếtđịnh kinh doanh chủ yếu dựa trên cơ sở phân loại chi phí thành biếnphí, định phí và khái niệm giá thành theo biến phí để xử lý và cungcấp thông tin cần thiết về chi phí, giá thành, phục vụ việc ra quyếtđịnh kinh doanh của nhà quản trị Một trong những quyết định kinhdoanh đó là định giá dự thầu Việc xác định giá dự thầu hợp lý, cạnhtranh với các nhà thầu khác để thắng thầu là mục tiêu quan trọng đốivới các doanh nghiệp xây lắp.
Tổ chức đấu thầu để lựa chọn nhà thuầ phù hợp, đảm bảo hiệuquả kinh tế của dự án không chỉ được các chủ đầu tư ưa thích mà đãtrở thành sự bắt buộc đối với hầu hết các dự án đầu tư, đặc biệt là dự
án đầu tư thuộc lĩnh vực xây dựng cơ bản Muốn trúng thầu, doanhnghiệp xây lắp phải có hồ sơ đấu thầu hợp lệ, đáp ứng cơ bản các yêucầu của hồ sơ mời thầu, có giá dự thầu không vượt quá giá đề nghịtrúng thầu
Giá dự thầu là giá do nhà thầu ghi trong hồ sơ dự thầu sau khi đãtrừ phần giảm giá nếu có bao gồm các chi phí cần thiết để thực hiệngói thầu
Giá đề nghị trúng thầu là do bên mời thầu đề nghị trên cơ sở giá
dự thầu được đề nghị trúng thầu sau khi sửa lỗi và hiệu chỉnh các sailệch theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu
Hiện nay các doanh nghiệp xây lắp dựa trên hồ sơ thiết kế, cácyêu cầu của bên mời thầu, các quy định về định mức và đơn giá của