1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC LỊCH SỬ QUAN HỆ ĐẠI VIỆT CHÂN LẠP TỪ THẾ KỶ XI ĐẾN THẾ KỶ XIX

71 607 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 1,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài Quan hệ Đại Việt - Chân Lạp từ thế kỷ XI đến thế kỷ XIX được nghiên cứu nhằm mục đích góp phần hệ thống hóa một cách đầy đủ các sự kiện lịch sử để dựng nênbức tranh sinh động, tru

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG THÁP

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Giảng viên hướng dẫn:

Th.S TRƯƠNG CÔNG VĨNH KHANH

ĐỒNG THÁP, NĂM 2011

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn ii

Mục lục 1

MỞ ĐẦU

Chương 1 KHÁI QUÁT QUAN HỆ ĐẠI VIỆT – CHÂN LẠP TỪ THẾ KỈ XI ĐẾN TRƯỚC THẾ KỶ XIX) 1.1 Khái quát………

1.2 Quan hệ Đại Việt - Chân Lạp dưới triều Lý - Trần – Lê………

1.2.1 Về ngoại giao………

1.2.2 Quan hệ trên lĩnh vực quân sự………

1.3 Quan hệ Đại Việt - Chân Lạp dưới thời Trịnh - Nguyễn………

1.4 Quan hệ Đại Việt - Chân Lạp trong buổi đầu giao thời Nhà Nguyễn Chương 2 QUAN HỆ ĐẠI VIỆT CHÂN LẠP TRONG THẾ KỈ XIX 2.1 Hoàn cảnh lịch sử ………

2.2 Những nhân tố thúc đẩy quan hệ hòa hảo Đại Việt - Chân Lạp……

2.2.1 Chính sách đối ngoại của Triều Nguyễn………

2.2.2 Chính sách đối ngoại của Chân Lạp………

2.3 Quan hệ Đại Việt - Chân Lạp trên các lĩnh vực………

2.3.1 Chính trị………

2.3.1.1 Vấn đề sắc phong………

2.3.1.2 Vấn đề triều cống………

2.3.2 Kinh tế………

2.3.3 Văn hóa – xã hội………

2.4 Một số nhận xét về quan hệ Đại Việt - Chân Lạp trong thế kỉ XIX… KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hoạt động ngoại giao có vai trò và vị trí rất quan trọng đối với mỗi quốc gia Cácquốc gia trên thế giới không thể tồn tại và phát triển cô lập Trong xu thế toàn cầu hóahiện nay, việc mở rộng quan hệ đối ngoại, thiết lập mối quan hệ đa phương đang trởthành một trong những điều kiện phát triển của các quốc gia

Trong lịch sử, Việt Nam đã thiết lập quan hệ với nhiều quốc gia trong khu vực vàthế giới trên nhiều lĩnh vực Các mối quan hệ này đều có vai trò nhất định trong côngcuộc xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước, tùy vào mối quan hệ với từng quốc gia,trong những thời kì lịch sử cụ thể Vào thời kì phong kiến, trong điều kiện cách trở về

Trang 4

địa lý, thông tin liên lạc cũng như giao thông chưa phát triển, quan hệ với các nướcláng giềng rất được coi trọng Mối quan hệ với Chân Lạp đến trước thế kỉ XX, nhất

là giai đoạn thế kỉ XVII - XIX được các chúa Nguyễn và vua Nguyễn lưu tâm.Chân Lạp xưa (Campuchia nay) và Đại Việt xưa (Việt Nam) nay là hai quốc gialáng giềng, có chung đường biên giới và cùng nằm trên bán đảo Đông Dương Ngay

từ rất sớm, Đại Việt và Chân Lạp đã có quan hệ với nhau trên nhiều lĩnh vực Thờiđiểm bang giao chính thức giữa hoàng gia Chân Lạp và Đại Việt là vào đầu thế kỉXVII dưới triều vua Chey Chettha II (1618 - 1628), chấm dứt vào năm 1897 khi ngườiPháp chính thức đặt nền bảo hộ và bắt đầu khai thác thuộc địa tại đây

Đề tài Quan hệ Đại Việt - Chân Lạp từ thế kỷ XI đến thế kỷ XIX được nghiên cứu

nhằm mục đích góp phần hệ thống hóa một cách đầy đủ các sự kiện lịch sử để dựng nênbức tranh sinh động, trung thực về quan hệ của Đại Việt với Chân Lạp đến trước thế

kỉ XX, cung cấp một cách nhìn toàn diện về quan hệ của hai nước; dựng lại rõ quátrình mở cõi về phía Nam của người Việt nói chung và chính quyền phong kiến nóiriêng; nhìn nhận lại mối quan hệ Đại Việt - Chân Lạp - Xiêm; đồng thời qua đó thấyđược vai trò và vị trí của Đại Việt trong giai đoạn này trên chính trường khu vực.Việc nghiên cứu còn góp phần bổ sung nguồn tài liệu cho việc nhận thức về lịch sửViệt Nam thời trung đại

Sang thế kỉ XXI, tình hình thế giới và khu vực có nhiều biến động Xu hướngngoại giao đa phương trở nên năng động và tích cực Việt Nam đang bước vào thời kìtăng cường hội nhập quốc tế, thực hiện đường lối ngoại giao đa phương, đa dạng;chú trọng tăng cường mối quan hệ với các nước láng giềng Vì vậy, việc nghiên cứulịch sử ngoại giao nói chung và lịch sử quan hệ Đại Việt - Chân Lạp nói riêng có ýnghĩa khoa học, thực tiễn và thời sự sâu sắc Nghiên cứu sự kiện lịch sử để hiểu đúngbản chất là rất cần thiết và nhất là những sự kiện quá khứ có liên quan đến quan hệ hiệntại Những bài học của mối quan hệ ngoại giao trong lịch sử có thể góp phần nhậnthức và giải quyết mối quan hệ hiện tại về mặt chủ quyền lãnh thổ, về đường biêngiới giữa Việt Nam - Campuchia và việc hoạch định đường lối ngoại giao cho ngàynay

Việc nghiên cứu đề tài này cũng góp phần giúp người viết thu thập tư liệu,

Trang 5

phục vụ việc giảng dạy ở trường Trung học phổ thông và mở rộng phạm vi nghiên cứu

về sau

Với lý do trên chúng tôi chọn đề tài: “Quan hệ Đại Việt - Chân Lạp từ thế kỷ XI

đến thế kỷ XIX ” để làm đề tài nghiên cứu cho khóa luận tốt nghiệp đại học của mình.

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Quan hệ của Đại Việt với Chân Lạp là một trong những mối quan hệ đượcchính quyền phong kiến Đại Việt xem trọng, đặc biệt trong giai đoạn từ thế kỉ XVII đếnthế kỉ XIX Nhìn chung, đó là mối quan hệ bang giao hòa hiếu, thân thiện, diễn ra trênnhiều lĩnh vực và có tính liên tục

Mối quan hệ giữa hai nước đã được ghi lại trong nhiều bộ sử, qua các thời kìkhác nhau Đó là những tư liệu cổ, có thể cung cấp cho chúng ta những sự kiện chủ yếutrong quan hệ giữa hai nước

Đầu tiên là bộ Đại Việt sử lược, một công trình khuyết danh được hoàn thành vào

những năm 1377 - 1388 Bộ sách được ghi chép dưới dạng biên niên, gồm ba quyển:quyển một ghi chép lịch sử từ thời thượng cổ đến hết Tiền Lê (1009), quyển hai ghichép từ thời Lý Thái Tổ (1010) đến Lý Nhân Tông (1127), quyển ba ghi chép từ thời

Lý Thần Tông (1128) đến Lý Huệ Tông (1124) Dù chỉ là một bộ sách nhỏ, song cónhiều chi tiết giúp ích cho việc nghiên cứu lịch sử nước nhà, nhất là về buổi đầu thời

kì tự chủ Bên cạnh việc ghi chép lại các sự kiện một cách vắn tắt, tác phẩm còn cónhững phần đối chiếu với các tài liệu thư tịch cổ khác, làm tăng tính chính xác của sửliệu Nội dung ghi chép rất đa dạng, bao gồm: những việc làm của vua; việc kiến trúcthành quách, điện các, chùa tháp; việc bang giao với phong kiến Trung Hoa; việc banggiao với Champa, Chân Lạp… Nghiên cứu tác phẩm, người đọc có thể hiểu diện mạokinh tế - xã hội cũng như thế thứ các đời vua, quan hệ bang giao của nước ta với cácquốc gia trong khu vực giai đoạn trước triều Trần

Cũng ghi chép các sự kiện của lịch sử Việt Nam theo dạng biên niên, bộ Đại

Việt sử kí toàn thư do Ngô Sĩ Liên biên soạn dựa trên tác phẩm Đại Việt sử kí của Lê

Văn Hưu và tác phẩm Sử kí tục biên của Phan Phu Tiên Năm 1665, Phạm Công Trứchỉnh lý trước tác của Ngô Sĩ Liên và viết thêm phần Bản kỷ tục biên Năm 1697,các quan Lê Hy, Nguyễn Quý Đức viết thêm và hiệu đính phần Bản kỷ tục biên, tập

Trang 6

hợp toàn bộ các trước tác nói trên gọi là Đại Việt sử kí toàn thư Tác phẩm ghi chép các

sự kiện lịch sử của dân tộc từ thời Hồng Bàng cho đến hết đời Lê Thái Tổ Trong tácphẩm, có một số ghi chép về mối bang giao của Đại Việt với các quốc gia trong khuvực, trong đó có mối quan hệ với Chân Lạp trên nhiều lĩnh vực

Bộ Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn gồm 6 quyển, được viết vào năm 1776, lúc

ông đang giữ chức Tham tán quân cơ ở Thuận Quảng Bộ sách ghi chép về hai đạoThuận Hóa và Quảng Nam trên nhiều mặt từ cảnh quan môi trường, địa lý hành chính,sản vật, phong tục đến lệ thuế má, nhân vật… Bộ sách ngoài phần điểm lại quá trìnhdựng nghiệp của Nguyễn Hoàng ở Thuận Hóa và đối đầu với họ Trịnh ở Đàng Ngoài,

có phần ghi chép về công cuộc mở đất về phía Nam của triều đình phong kiến ĐàngTrong Tác phẩm được xem là một bộ địa lý - lịch sử phong phú về hai xứ Thuận -Quảng thế kỉ XVI - XVIII

Bộ Đại Nam thực lục của Quốc sử quán triều Nguyễn được vua Minh Mạng cho tiến hành biên soạn vào năm 1821, gồm hai phần: Đại Nam thực lục tiền biên ghi

chép giai đoạn lịch sử từ khi Nguyễn Hoàng vào Nam (1558) đến đời chúa Nguyễn

Phúc Thuần (1777); Đại Nam thực lục chính biên ghi chép giai đoạn từ khi Nguyễn

Ánh bôn ba tìm cách khôi phục quyền lực dòng họ (1777) đến khi vua Đồng Khánhmất (1889) Bộ sách là một tập hợp các ghi chép dưới dạng biên niên về những sựviệc cụ thể, những lời nói, việc làm của vua, lời tâu trình của quần thần, việc nộitrị, ngoại giao; trong đó có quan hệ bang giao của Việt Nam với Chân Lạp

Đại Nam liệt truyện do Quốc sử quán biên soạn năm 1841, hoàn thành vào

năm 1895 và được khắc in vào 1909 Nội dung chủ yếu là ghi chép về hàng trămnhân vật lịch sử được chia thành các mục: Hậu phi, hoàng tử, công chúa, chư

thần… Bên cạnh việc ghi chép về các nhân vật lịch sử, tập 2 của Đại Nam liệt

truyện còn ghi chép về quan hệ của triều Nguyễn với các nước, trong đó có Chân

Lạp

Cũng nghiên cứu về lịch sử các nước Đông Nam Á, tác phẩm Lược sử Đông

Nam Á do Phan Ngọc Liên chủ biên cung cấp những tư liệu mang tính khái quát về lịch

sử các nước trong đó có Đại Việt và Chân Lạp từ lúc mới thành lập đến thời hiện đại

Trong cuốn Việt Nam sử lược, tác giả Trần Trọng Kim nghiên cứu về lịch sử

Trang 7

Việt Nam từ thời thượng cổ đến khi Pháp xâm lược và cai trị nước ta; trong đó cónghiên cứu sơ lược về quan hệ Việt Nam - Cao Miên Tác phẩm này được viết theo lốibiên niên, ghi nhận lại các sự kiện lịch sử.

Với những công trình đó là tài liệu quan trọng giúp tôi hoàn thành đề tài này Cáccông trình đã khái quát được một số quan hệ Đại Việt – Chân Lạp trước thế kỷ XXnhưng nhìn chung còn sơ lược và chưa có tính hệ thống cụ thể Vì vậy, tôi chọn đề tài

“Quan hệ Đại Việt - Chân Lạp từ thế kỷ XI đến thế kỷ XIX” để làm khóa luận tốt nghiệp.

3 Mục đích nghiên cứu

Mục đích của việc nghiên cứu là tìm hiểu quan hệ của Đại Việt với Chân Lạptrong lịch sử trên tất cả các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa; làm rõ bối cảnh,những bài học lịch sử của mối quan hệ đó

Xây dựng lại bức tranh quan hệ hai nước từ thế kỷ XI đến thế kỷ XIX, từ đó rút ranhững nhận xét, đánh giá khách quan quan hệ Đại Việt – Chân Lạp…

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đề tài không đi sâu nghiên cứu về lịch sử của hai quốc gia Đại Việt và Chân Lạp

mà chỉ tập trung tìm hiểu quá trình phát sinh, phát triển và kết thúc mối quan hệ củaĐại Việt với Chân Lạp trước thế kỉ XX Nguyên nhân, điều kiện lịch sử, tính chất củaquá trình quan hệ này chịu sự chi phối, tác động của nhiều yếu tố: bối cảnh lịch sử khuvực, quá trình lập quốc và phát triển của mỗi nước; đặc biệt là Đại Việt

Tiến trình mối quan hệ của Đại Việt với Chân Lạp được nghiên cứu chủ yếu trêncác lĩnh vực chính trị, quân sự, ngoại giao cũng như hệ quả tác động của nó đến cáclĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội

Trong đề tài này chúng tôi cố gắng trình bày mối quan hệ của Đại Việt với ChânLạp trên các lĩnh vực: chính trị, quân sự, ngoại giao Phần kinh tế, văn hóa, xã hội dohạn chế về nguồn tư liệu nên việc trình bày sẽ nhẹ hơn Phần này được xem là hệ quảtác động có được từ các mối quan hệ về chính trị, quân sự, ngoại giao

Phạm vi thời gian nghiên cứu: Quan hệ Đại Việt với Chân Lạp từ thế kỉ XI đếnthế kỷ XIX Làm rõ quá trình phát sinh của mối quan hệ, những điều kiện lịch sử chiphối đến mối quan hệ; đồng thời có thể so sánh được tính chất mối quan hệ trong cácgiai đoạn lịch sử khác nhau Mốc kết thúc của mối quan hệ này là thời điểm năm

Trang 8

1897 khi thực dân Pháp căn bản hoàn thành công cuộc xâm chiếm và bắt đầuchương trình khai thác thuộc địa lần thứ nhất ở Đông Dương Đây là lúc tính chấtquan hệ của Đại Việt với Chân Lạp đã có sự thay đổi và chuyển sang một thời kì mới.

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, người viết sử dụng các phương pháp sau:

– Phương pháp lịch sử: Đây là phương pháp được sử dụng chủ yếu trong khóa

luận, nhất là phần nghiên cứu diễn tiến mối quan hệ của Đại Việt với Chân Lạp.Theo chiều dài thời gian, mối quan hệ này được tái hiện từ quá trình đoàn kết của hainước Đại Việt - Chân Lạp trong cuộc chiến chống ách đô hộ của nhà Đường năm

722, cho đến khi hai nước đặt quan hệ chính thức vào năm 1620 và kết thúc vào năm

1897 khi thực dân Pháp bắt đầu khai thác thuộc địa ở Đông Dương lần thứ nhất

– Phương pháp logic: Đặt mối quan hệ của Đại Việt với Chân Lạp trong bối

cảnh của hai nước theo từng giai đoạn lịch sử, cũng như bối cảnh khu vực ĐôngNam Á; đặc biệt nhấn mạnh vị trí, vai trò của Xiêm La trong mối quan hệ này Quan

hệ chính trị - quân sự - ngoại giao đã tác động đến quan hệ kinh tế - văn hóa - xã hộicủa Đại Việt với Chân Lạp

– Phương pháp liên ngành: khai thác nguồn tư liệu, kế thừa kết quả nghiên cứu

thuộc các ngành khoa học khác nhau: sử học, dân tộc học, văn hóa…

Trang 9

Chương 1 KHÁI QUÁT QUAN HỆ ĐẠI VIỆT – CHÂN LẠP TỪ THẾ KỈ XI

ĐẾN TRƯỚC THẾ KỶ XIX 1.1 Khái quát

Đại Việt và Chân Lạp là hai quốc gia láng giềng Đến thế kỉ XVI, cả hai còncách biệt bởi nước Champa nằm giữa Trong lịch sử xây dựng và phát triển của haiquốc gia này vừa có những nét tương đồng nhưng đồng thời cũng có những đặcđiểm khác biệt Thời sơ khai, mỗi cộng đồng cư dân Việt, Khơme phải cố kết vớinhau để chống chọi với môi trường tự nhiên và đối phó với môi trường xã hội đểdựng lên nhà nước sơ khai của mình

Trang 10

Nhà nước của Đại Việt sau năm 179 trước công nguyên lệ thuộc vào TrungHoa; trong khi đó, nhà nước của người Khơme nằm trong sự nội thuộc của vươngquốc Phù Nam Người Việt và người Khơme đã liên tục đấu tranh để chống lại chínhquyền đô hộ, giành độc lập cho dân tộc mình Đồng thời với quá trình đấu tranh khôiphục và bảo vệ độc lập dân tộc là quá trình cố kết cộng đồng dân cư, củng cố thốngnhất đất nước.

Bên cạnh những điểm tương đồng, Đại Việt và Chân Lạp cũng có nhiều điểmkhác biệt Về phía Chân Lạp không bị phong kiến Trung Hoa đô hộ, đó là điều kiện vôcùng quý báu để cộng đồng người Khơme xây dựng và phát triển quốc gia của mình.Chân Lạp từ thế kỉ VI đã thoát khỏi lệ thuộc của Phù Nam do đó có điều kiện xây dựng

và phát triển đất nước Đến thế kỉ X, Chân Lạp bước vào thời kì cực thịnh của đế chếĂng-co Tiềm lực quốc gia ngày càng vững mạnh biểu hiện qua việc xây dựng các côngtrình kiến trúc, chính sách đối ngoại bành trướng… của các triều vua Chân Lạp Từthế kỉ X trở đi, Chân Lạp thường tiến hành các hoạt động quân sự đánh phá vùng biêngiới phía Tây của Đại Việt

Trong khi đó thế kỉ X, Đại Việt vừa thoát khỏi ách thống trị của Trung Hoa,khôi phục độc lập sau hơn một ngàn năm Bắc thuộc Chính quyền còn non trẻ, đấtnước còn nhiều khó khăn

Từ thế kỉ XI đến thế kỉ XVIII, cả Đại Việt và Chân Lạp đều có sự phát triển vềcác mặt kinh tế, văn hóa, xã hội và cả về mặt lãnh thổ Cả hai đều là những quốc giaphát triển nhất trong khu vực Đông Nam Á thời bấy giờ Tuy nhiên, xét về tươngquan so sánh lực lượng và kinh nghiệm xây dựng đất nước, ưu thế vẫn nghiêng hẳn

về Chân Lạp Với chính sách đối ngoại bành trướng, Chân Lạp đã sớm xây dựng chomình một đội quân hùng mạnh với nhiều kinh nghiệm chiến đấu Trong khi đó, bêncạnh việc xây dựng nhà nước về mọi mặt, Đại Việt phải thường xuyên đối phó vớinhiều khó khăn: đó là tình trạng cát cứ và quan trọng hơn là tình trạng giặc ngoại xâmluôn đe dọa từ các phía Bắc, Tây và Nam

Chính bối cảnh lịch sử của hai nước quyết định đến tính chất, chính sách đốingoại của Đại Việt với Chân Lạp

Đầu thế kỉ XI, nước Đại Việt non trẻ luôn có tư tưởng giữ gìn độc lập nên

Trang 11

trong quan hệ với Chân Lạp luôn ở thế phòng ngự, chuộng yên ổn; trong khi đó,Chân Lạp xuất phát từ tư tưởng hiếu chiến, luôn có tham vọng bành trướng lãnh thổnên liên tục tiến hành các hoạt động quân sự xâm phạm biên giới phía Tây (thuộc Nghệ

An, Thanh Hóa) của Đại Việt Từ thế kỉ XI, Đại Việt dần khẳng định vị thế trong khuvực Các triều Đại Việt nối tiếp nhau phát triển đất nước ngày càng vững mạnh về mọimặt Đến triều Lê sơ, nhà nước phong kiến Đại Việt phát triển đến đỉnh cao Ưu thếngày càng được khẳng định khi quân dân Đại Việt nhiều lần đánh bại các cuộc chiếntranh xâm lược của các nước láng giềng hùng mạnh như Trung Hoa, Champa…Chính sách đối ngoại đối với các nước láng giềng nói chung và Chân Lạp nói riêngcũng thay đổi linh hoạt theo hướng khẳng định vị trí và sức mạnh của Đại Việt trongkhu vực Đại Việt chủ động hơn trong quan hệ với Chân Lạp Cụ thể: chính sách đốingoại của Đại Việt thay đổi từ chỗ mang nặng tư tưởng phòng thủ và bị động đối phóvới những cuộc xâm lược cướp bóc từ biên giới phía Bắc, phía Tây và phía Namsang thế chủ động; tiến hành các hoạt động ngoại giao kết hợp với quân sự; thi hànhchính sách mở cõi về phía Nam Tuy nhiên, nhìn chung, trong quan hệ với Chân Lạp,các triều Đại Việt luôn thi hành nhất quán chính sách ngoại giao hòa hiếu, thân thiện,tránh xung đột và giải quyết xung đột bằng biện pháp hòa bình

Quan hệ của Đại Việt với Chân Lạp thời điểm này còn gắn liền với mối quan hệđối với Champa - quốc gia cũng có tham vọng xâm chiếm Đại Việt Vì vậy, Đại Việtcần có Chân Lạp thân thiện nhằm tránh mối đe dọa một khi Champa liên kết với ChânLạp để đối phó mình

Quan hệ Đại Việt với Chân Lạp đến thế kỉ XVIII diễn ra trên nhiều lĩnh vựcnhưng chủ yếu là trong lĩnh vực ngoại giao và quân sự Trong lĩnh vực ngoại giao,quan hệ của Đại Việt với Chân Lạp được ghi nhận khá đơn giản, chủ yếu là việcChân Lạp sang triều cống Đại Việt

Quan hệ trong lĩnh vực quân sự diễn ra thường xuyên hơn, chủ yếu là sau thế kỉ

X, nhiều cuộc xung đột lớn nhỏ đã xảy ra ở biên giới Đại Việt mà nước chủ độnggây chiến, xâm lấn là Chân Lạp Có nhiều nguyên nhân dẫn đến hành động này,nhưng nguyên nhân chính là do tham vọng bá quyền của các vương triều Chân Lạp.Trong khi đó, từ thế kỉ X đến XVI, các vua Chân Lạp vì để rảnh tay đối phó với

Trang 12

các nước láng giềng đã nhanh chóng thiết lập quan hệ hữu hảo với Trung Hoa Dướithời Suryavacman II, Chân Lạp đã tìm cách nối lại quan hệ bang giao với Trung Hoa.Suryavacman II đã hai lần cử sứ sang nhà Tống vào năm 1116 và 1120 để tỏ tình hòahiếu và để rảnh tay gây chiến với hai nước láng giềng là Champa và Đại Việt Mặc dùkhông có tài liệu nào ghi nhận việc Trung Hoa xúi dục Chân Lạp tấn công Đại Việtnhưng rất có thể các vua Trung Hoa đã khích động hoặc làm ngơ trước những hànhđộng xâm lấn Đại Việt của Chân Lạp Có trường hợp, quân Chân Lạp đã phối hợp vớiTrung Hoa tấn công Đại Việt (1075 - 1077).

Lịch sử đã cho ta thấy, từ khi hai nước có quan hệ cho đến thế kỉ XVIII, ChânLạp là nước chủ động tấn công Đại Việt, còn Đại Việt luôn ở thế đối phó để bảo vệbiên giới quốc gia Mỗi khi tình hình Đại Việt lục đục, suy yếu thì Chân Lạp lạiphái quân sang xâm lấn Thời điểm này, Chân Lạp vẫn liên tục tiến hành các hoạtđộng xâm chiếm Đại Việt và kết quả đều bị quan quân Đại Việt đánh bại Đây đượcxem là hành động phản công tự vệ

Bên cạnh quan hệ ngoại giao - quân sự, quan hệ của Đại Việt với Chân Lạp trêncác lĩnh vực kinh tế - văn hóa cũng được thiết lập và theo xu hướng ngày càng pháttriển Dưới thời nhà Lý, hai nước đã tiến hành giao lưu văn hóa Phật giáo thông quacác cuộc tiếp xúc ngoại giao Mỗi khi Chân Lạp có biến, người Khơme lại lánh nạnkhắp nơi Đại Việt cũng là nơi được họ tìm đến nương nhờ Các vua Đại Việt đã tạođiều kiện giúp đỡ để họ định cư, tạo dựng cuộc sống nơi vùng đất mới

Giao lưu kinh tế cũng ngày càng phát triển Nhân dân hai nước đã có nhữnghoạt động buôn bán, trao đổi sản phẩm với nhau Quan hệ kinh tế thời kì này diễn ramột cách tự phát, chưa có sự tham gia quản lí của chính quyền phong kiến Đại Việt

và Chân Lạp

1.2 Quan hệ Đại Việt - Chân Lạp dưới triều Lý - Trần – Lê:

Trong quan hệ với Chân Lạp, từ thế kỉ XI đến trước thế kỉ XVI, các vươngtriều Đại Việt đều cố gắng thi hành chính sách ngoại giao hòa hiếu, thân thiệnnhưng kiên quyết chống trả những hành động xâm nhiễu biên giới của Chân Lạp.Trong giai đoạn này, Chân Lạp là nước chủ động xâm chiếm nhưng đã không thể tiêudiệt được Đại Việt Càng về sau, Đại Việt càng phát triển hưng thịnh; trong khi đó,

Trang 13

Chân Lạp ngày càng suy yếu Từ những cuộc tấn công tự vệ, phòng thủ, sau khi sápnhập Champa, các triều Đại Việt lại tiếp tục chính sách Nam tiến trên vùng đất ChânLạp Đó là quy luật chung của lịch sử thời Trung đại Chính sách đối ngoại của ĐạiViệt với Chân Lạp không chỉ giúp mở mang bờ cõi mà còn quyết định đến sự an nguy,tồn vong của quốc gia Đại Việt.

Trong quan hệ với các nước láng giềng từ thế kỉ XI đến thế kỉ XVI, Đại Việtchủ trương thi hành chính sách ngoại giao tích cực: hòa hiếu, thân thiện, mở rộng mốiquan hệ giao hảo tốt đẹp Chính sách này cũng được áp dụng một cách nhất quán và

đã đem lại hiệu quả trong quan hệ với Champa và Chân Lạp

Bên cạnh đó, để bảo vệ độc lập, chủ quyền dân tộc, chống lại các tham vọngbành trướng, nô dịch của các nước láng giềng, các vương triều Đại Việt đã phải tiếnhành nhiều cuộc chiến với Trung Hoa, Champa và Chân Lạp Người Việt đã kiênquyết đánh trả những cuộc xâm lấn để bảo vệ đất nước, bảo vệ nền độc lập của dân tộc.Đại Việt đã đánh bại những kẻ xâm lược mạnh hơn mình về quân sự Truyền thốngnày được lưu giữ và phát huy ở những thế kỉ tiếp theo

Với những thắng lợi trong các cuộc kháng chiến chống Tống, chống MôngNguyên, chống Champa, Chân Lạp, sức mạnh và uy thế của Đại Việt ngày càngđược nâng cao Nó khiến mối quan hệ giữa Đại Việt với các nước láng giềng cũng bắtđầu có những thay đổi đáng kể

Do ảnh hưởng tư tưởng của Trung Hoa, các triều Đại Việt khi phát triển vữngmạnh đã xem các nước nhỏ lân bang ở phía Nam và phía Tây là chư hầu của mình Từnhững điều kiện lịch sử nhất định, Đại Việt thay đổi từng bước chính sách đối ngoạivới các nước Đây cũng là quy luật tất yếu của quan hệ “mạnh được yếu thua” trongthời kì phong kiến

Về phía Chân Lạp, Dưới thời Xuryavacman I, đế chế Ăng-co hình thành Nềnthống trị được mở rộng đến tận hạ lưu sông Mênam Là một quốc gia hùng mạnh vàhiếu chiến, Chân Lạp tiến xa hơn trong việc chinh phạt các quốc gia láng giềng nontrẻ hơn mình, trong đó có Đại Việt Dưới thời Xuryavacman II, chiến dịch tấn côngĐại Việt bắt đầu Vốn là ông vua khôn ngoan và có nhiều tham vọng, Xuryavacmancủng cố quyền lực bằng cách nối lại mối quan hệ bang giao với Trung Hoa (cử sứ

Trang 14

thần sang Tống để tỏ tình hòa hiếu vào các năm 1116 và 1120) nhằm rảnh tay gâychiến với hai nước láng giềng là Champa và Đại Việt.Năm 1128, hơn hai vạn quânChân Lạp tấn công vùng Nghệ An Không thu được kết quả, năm 1129, một cuộctấn công mới với lực lượng gồm 700 chiến thuyền, đổ bộ lên bờ biển Thanh Hóa đãdiễn ra Cũng giống như lần đầu, quân Chân Lạp bị quân nhà Lý truy đuổi, gâynhiều thiệt hại nặng nề Năm 1138, Xuryavacman II lại tiếp tục tổ chức chiến dịchmới chống Đại Việt Tuy nhiên, mọi nỗ lực của các vương triều Chân Lạp trongviệc xâm chiếm Đại Việt đều không có kết quả Các cuộc hành quân xâm chiếmđều nhanh chóng bị quân dân Đại Việt đánh bại Từ đây, chính sách đối ngoại củaChân Lạp với các nước bắt đầu thu hẹp dần Chân Lạp chủ yếu thụ động đối phóthường xuyên trước các cuộc tấn công liên tục của người Thái vào các năm 1295, 1353,

1394, 1430…

Như vậy, xuyên suốt trong khoảng từ thế kỉ XI đến thế kỉ XIV, đặc điểm chínhsách đối ngoại của Chân Lạp là hiếu chiến, tiến hành nhiều cuộc chiến tranh xâmlược và cướp bóc các quốc gia, bộ lạc láng giềng; mở rộng không ngừng lãnh thổ vàphạm vi ảnh hưởng

Cũng từ thế kỉ XI, hoàn cảnh lịch sử đã quyết định đến đường lối nội trị vàngoại giao của Đại Việt với các nước láng giềng Đại Việt vừa ra khỏi thời kì Bắcthuộc Nhiệm vụ hàng đầu của các triều đại cầm quyền là đấu tranh để bảo vệ nềnđộc lập Nhiệm vụ ấy càng phải được coi trọng, nhất là khi biên giới phía Bắc lạitiếp giáp với một đế chế lớn luôn nuôi tư tưởng bành trướng, nô dịch các quốc giadân tộc khác Ngoài ra, biên giới phía Nam cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ không kémkhi tiếp giáp với quốc gia láng giềng Champa - một vương quốc đã xây dựng đượcnhà nước độc lập hùng mạnh trong khu vực và luôn có xu hướng mở rộng lãnh thổ.Chính điều đó đòi hỏi các triều Đại Việt đã phải thực hiện phương châm xử thế vàsách lược bang giao mềm dẻo, khôn khéo và có hiệu quả

Trong thời kì này, quan hệ của Đại Việt với Chân Lạp chủ yếu là quan hệ tronglĩnh vực ngoại giao và quân sự Nhiều cuộc xung đột mà Chân Lạp là nước chủ độnggây chiến đã diễn ra thường xuyên ở biên giới phía Tây của Đại Việt

Bên cạnh việc kiên quyết đánh trả các hành động xâm lấn, các triều Đại Việt

Trang 15

luôn thể hiện tinh thần hòa hiếu trong quan hệ với Chân Lạp Tuy nhiên, đến đầu thờiTrần, Chân Lạp bước vào giai đoạn suy yếu, thường xuyên đối phó với những áp lực

và các cuộc hành quân xâm chiếm của Xiêm; quan hệ của Đại Việt với Chân Lạp cólúc bị gián đoạn Khi quân Mông Nguyên kéo xuống xâm chiếm, cuộc kháng chiếnchống ngoại xâm của Đại Việt thắng lợi không những giữ vững chủ quyền dân tộc

mà còn ngăn chặn được bước chân tàn phá của quân Mông Nguyên xuống các nướcphía Nam

1.2.1 Về ngoại giao

Quan hệ ngoại giao giai đoạn này tương đối đơn giản nhưng cũng chứng tỏ hainước đã bắt đầu có quan hệ ngoại giao chính thức Tuy nhiên, đó là mối quan hệmang tính một chiều, chủ yếu của Chân Lạp đối với Đại Việt được phản ánh qua việcChân Lạp thường xuyên sai sứ giả sang Đại Việt triều cống

Nước Chân Lạp bước vào giai đoạn thịnh đạt dưới triều Giayavacman VII đã tiếnhành giao hảo với các nước láng giềng và cho sứ sang Đại Việt giao hiếu lần đầutiên Đây có lẽ là hoạt động ngoại giao chính thức đầu tiên của hai nước được thư tịch

cổ Đại Việt ghi chép lại Đại Việt sử kí tiền biên ghi nhận: “Năm 1012, nước Chân

Lạp đến cống Nước Chân Lạp ở phía Nam nước Chiêm Thành, cách quận Nhật Nam

đi bằng thuyền 60 ngày mới đến, cách đặt huyện, trấn và phong tục của nước Chân Lạpcũng giống như nước Chiêm Thành Tục của nước đó hướng Đông là trên, tay phải làtay sạch Sau đời Thần Nghiêu nhà Đường chia làm hai, nửa phía Bắc nhiều núi đồigọi là Lục Chân Lạp, nửa phía Nam sát biển nhiều đầm hồ gọi là Thủy Chân Lạp Đấtcủa Thủy Chân Lạp là 800 dặm Vua ở thành Bà La Đề Bạt Đất Lục Chân Lạp là 700dặm, quốc hiệu là Hạ Khuất” [26, tr.119] Như vậy, vào thời điểm này, Đại Việt vàChân Lạp cách nhau bởi quốc gia láng giềng Champa nằm chắn giữa

Dưới triều Lý, Chân Lạp tổng cộng đã có 13 lần sứ bộ đến cống tại Đại Việt.Sau năm 1012, Chân Lạp đều đặn sai sứ sang Đại Việt triều cống theo thông lệ ba nămmột lần Sách Phương Đình địa chí ghi: “Từ nước ta dựng nước, đến năm thứ ba niênhiệu Thuận Thiên triều vua Lý Thái Tổ (1013) nước Chân Lạp mới vào cống ba nămmột lần” [12, tr.140] Tuy nhiên, thông lệ này không mang tính cố định mà có sự giaođộng về mặt thời gian

Trang 16

Các tư liệu trên dù ghi chép về mặt thời gian không thống nhất nhưng đều giốngnhau về mặt nội dung, đó là “nước Chân Lạp sang triều cống” Điều này cho thấy, ChânLạp luôn cố gắng thiết lập mối quan hệ bang giao tốt đẹp với Đại Việt Về phía ĐạiViệt, chưa thấy tài liệu nào đề cập đến việc ngoại giao ngược lại Tuy nhiên, chúng tôithấy cần nhìn nhận lại vấn đề, có phải những lần Chân Lạp sai sứ sang Đại Việt là để

“triều cống” theo kiểu thần thuộc hay chỉ đơn thuần là cho sứ giả mang lễ vật giao hảotheo kiểu ngoại giao thông thường?

Để giải đáp điều này, cần phải quay về bối cảnh lịch sử - xã hội của hai nước Thế

kỉ X - XIV, Chân Lạp đang ở giai đoạn huy hoàng của thời đại Ăng- co Sức mạnhđược thể hiện qua nhiều lĩnh vực, trong đó có việc mở rộng cương vực và ảnh hưởngtrên khắp khu vực Đông Nam Á Trong khi đó, Đại Việt mới bước đầu thoát khỏi lệthuộc của phong kiến phương Bắc, đang từng bước phát triển đất nước So sánh vềtiềm lực, Chân Lạp nổi bật hơn hẳn Đại Việt Có lẽ nào Chân Lạp lại đi “triều cống”một quốc gia thua kém mình về nhiều mặt? Hơn thế nữa, việc “triều cống” thôngthường chỉ xảy ra đối với những nước thắng trận trong những cuộc xâm chiếm sử dụngsức mạnh quân sự; nhưng các tài liệu chính sử của Đại Việt không hề ghi nhận bất cứ

sự kiện quân sự nào chứng tỏ Đại Việt đem quân đánh chiếm Chân Lạp Vì vậy, việcChân Lạp “triều cống” Đại Việt trong giai đoạn này chỉ đơn giản đó là hành động tỏ

rõ tình giao hiếu thân thiện mà thôi

Trong những lần sứ Chân Lạp sang chầu, triều cống, Đại Việt luôn đón tiếpniềm nở và không quên thể hiện uy thế vững mạnh của mình Tháng 2 năm 1118, vàodịp sứ nước Chân Lạp đến Thăng Long, gặp lúc triều đình Đại Việt “đặt lễ yến tiệcmùa xuân và mở hội khánh thành 7 bảo tháp (Vua Lý) Bấy giờ xuống chiếu choHữu ty bày nghi trượng ở điện Linh Quang, dẫn sứ giả đến xem” [10, tr.443] Đây làhành động khôn khéo của vua tôi triều Lý Một mặt thể hiện việc đón tiếp sứ thần nướcláng giềng long trọng, thân tình; mặt khác làm cho các sứ thần thấy được sự giàu đẹp,vững vàng của đất nước

Bên cạnh đó, Chân Lạp từng gửi thư xin Đại Việt cho sứ giả sang nước mìnhthông sứ Điều này cho thấy, cho đến thời điểm này ngoài việc tiếp đãi nồng hậu sứChân Lạp, Đại Việt vẫn chưa cho sứ sang thiết lập quan hệ với Chân Lạp Điều này

Trang 17

hoàn toàn phù hợp với tình hình thực tế: thư tịch cổ Đại Việt giai đoạn này không hề

có bất kì ghi chép nào về việc Đại Việt cho sứ sang Chân Lạp Tháng 11 năm 1128,người châu Nghệ An chạy trạm tâu dâng một phong thư của nước Chân Lạp, xin sai sứsang nước ấy nhưng vua Lý không trả lời Điều này có thể lí giải, vì lúc này Đại Việtđang bước đầu xây dựng, củng cố nền độc lập và hai nước lại cách xa nhau nên chưa

có điều kiện cử sứ sang Chân Lạp; hoặc cũng có thể Đại Việt chưa nắm bắt rõ tìnhhình Chân Lạp nên còn e ngại

Thế kỉ XII, Đại Việt đang trên đà phát triển, từng bước khẳng định địa vị củaquốc gia dân tộc Một số tộc ít người hoặc những nước nhỏ thường đem người về quyphục trong đó có người Chân Lạp Chân Lạp dù trong giai đoạn thịnh đạt nhưngtrong nước vẫn thường xảy ra các cuộc nội loạn, một số người Chân Lạp vì tránh nộiloạn nên đến Đại Việt xin cư trú Nhà Lý đã không ngần ngại tiếp nhận và tạo điều kiện

cho họ ở lại định cư, làm ăn sinh sống trên lãnh thổ Đại Việt Đại Việt sử kí tiền biên

và Đại Việt sử kí toàn thư đều ghi: “Quý Mão năm thứ 4 (1123) (Tống Tuyên Hòa

năm thứ 5), mùa hạ, tháng 4, người Chân Lạp đến theo ta (năm này, năm người ChânLạp đến theo ta)” [26, tr.256] Đến tháng 4 năm 1124, “người nước Chân Lạp là KimĐinh A Truyền cùng bốn người gia đồng sang quy phục” [10, tr.450]

Bên cạnh những nét chấm phá còn sơ lược về quan hệ ngoại giao, quan hệ của ĐạiViệt với Chân Lạp trên lĩnh vực quân sự diễn ra một cách thường xuyên và cụ thể hơn.Những sự kiện này đều được các nguồn sử liệu của Đại Việt ghi nhận khá đồng nhất

1.2.2 Quan hệ trên lĩnh vực quân sự

Tình hình nổi bật về quan hệ quân sự giữa hai nước giai đoạn này là việc ChânLạp thường xuyên đem quân xâm phạm biên giới Đại Việt Trong chính sách ngoạigiao, Chân Lạp thực thi chính sách hai mặt Mặc dù vẫn theo lệ cho sứ triều cốngnhưng Chân Lạp thường lợi dụng sơ hở, đôi lúc còn liên kết với Trung Hoa hayChiêm Thành đem quân cướp phá vùng biên cương của Đại Việt

Năm 1075 - 1077, dưới thời nhà Lý, Chân Lạp bị nhà Tống xúi giục đã liênminh với Tống để chống Đại Việt Sau lần thất bại năm 981, nhà Tống vẫn nuôi ý đồxâm lược nước ta Năm 1005, lợi dụng Lê Hoàn chết, triều đình diễn ra cảnh tranhquyền đoạt vị giữa các vị hoàng tử Nhà Tống muốn nhân cơ hội này đem quân xâm

Trang 18

lược Đại Việt Tuy nhiên, ý đồ này chưa thể thực hiện vì nhà Tống đang gặp nhiều khókhăn về nội trị và ngoại giao Năm 1068, Tống Thần Tông lên cầm quyền Vương AnThạch được cử làm Tể tướng Để mong vượt qua những khó khăn chồng chất về đốinội (ngân khố cạn kiệt, tài chính nguy ngập, nội bộ mâu thuẫn), đối ngoại (hai nướcLiêu, Hạ thường xuyên uy hiếp)”, nhà Tống quyết định xâm lược Đại Việt Tống ThầnTông đã trắng trợn tuyên bố “sau khi Giao Chỉ thua, hãy đặt thành quận huyện màcai trị và hãy sung công của cải… Nếu thắng được thì thế Tống sẽ tăng và các nướcLiêu, Hạ sẽ phải kiêng nể” [17, tr.124] Bên cạnh việc ráo riết chuẩn bị lực lượng, cắtđứt quan hệ bang giao, nhà Tống còn xúi giục Champa đánh phá vùng biên giới phíaNam của Đại Việt nhằm làm cho Đại Việt suy yếu, tạo thế “hai gọng kìm”

Ở Chân Lạp, đây là giai đoạn trị vì của vua Hacxavacman III Quân Champa vàquân Khơme đã liên kết với nhau theo yêu cầu của nhà Tống đem quân đánh nướcĐại Việt (nhà Lý), phối hợp ở phía Nam” Chân Lạp hoặc bị xúi bẩy hoặc cũng cóthể là nhà Tống dùng sức ép của “Thiên triều” buộc Chân Lạp phải tham gia; nhưngnguyên nhân lớn nhất khiến Chân Lạp đồng ý là vì Chân Lạp cũng có ý đồ đối vớiĐại Việt Như vậy, việc Chân Lạp và Champa chấp nhận yêu cầu trên của nhà Tống

là một việc làm dễ hiểu bởi cả hai đều thần phục nhà Tống và đều có mưu đồ xâmchiếm Đại Việt

Đại Việt sử kí toàn thư ghi nhận sự kiện này như sau: “Tháng 3 năm 1076, nhàTống sai tuyên phủ sứ Quảng Nam là Quách Quỳ làm Chiêu thảo sứ, Triệu Tiết làmphó, đem quân 9 tướng, hợp với Chiêm Thành và Chân Lạp sang xâm lấn nước ta Vuasai Lý Thường Kiệt đem quân đón đánh, đến sông Như Nguyệt đánh tan được” [10,tr.428] Sau thắng lợi oanh liệt tại sông Như Nguyệt, vua tôi nhà Lý đã buộc quânTống cùng Chiêm Thành, Chân Lạp phải rút quân ra khỏi bờ cõi Đại Việt; đồng thờiphá tan âm mưu thâm độc của nhà Tống

Những hoạt động quân sự của Chân Lạp và Champa ngay sau đó đã chứng tỏquan điểm trên

Đầu thế kỉ XII, lợi dụng nhà Lý bước vào giai đoạn suy vong, vuaXuryavacman II đã năm lần đem quân đánh Đại Việt bằng đường biển và đường bộ.Cũng cần nhấn mạnh thêm, từ năm 1113 đến 1220, Chân Lạp đã đem quân xâm lược,

Trang 19

chiếm đóng và biến Champa thành thuộc địa của mình Hoàng thân Chân Lạp trực tiếpcai trị và biến Champa thành một tỉnh của Chân Lạp Vì thế, thời điểm này, có thểxem biên giới Đại Việt tiếp giáp với Chân Lạp Đây là điều kiện thuận lợi để ChânLạp cùng với quân Champa (lúc bấy giờ bị Chân Lạp ép buộc) nhiều lần đem quânxâm phạm biên giới của Đại Việt Những cuộc chiến tranh giữa Champa - Chân Lạp,giữa Chân Lạp với các nước láng giềng đã đẩy những người dân nghèo của hai nướcvào vùng lửa đạn Để tránh vùng chiến sự “may ít rủi nhiều”, tránh nạn bắt lính…một số bộ phận dân Chân Lạp và Champa đã tìm cách xiêu tán Đại Việt - quốc gialáng giềng cận kề lúc bấy giờ đang trên đà phát triển, tình hình chính trị ổn định trởthành nơi “đất lành chim đậu” cho nhiều bộ phận dân xiêu tán Triều đình Đại Việtvới tư tưởng “từ bi, bác ái, cứu độ chúng sinh” của đạo Phật đã mở cửa đón nhận, tạođiều kiện thuận lợi cho những lưu dân này sinh cơ lập nghiệp trên vùng đất mới Lợidụng điều đó, Chân Lạp tiến hành cuộc chiến xâm lấn, cướp bóc vùng biên giới củaĐại Việt vào năm 1128 Lấy cớ Đại Việt chứa chấp người Chân Lạp và Champa lưuvong, hơn hai vạn quân của vua Xuryavacman II đã vượt qua dãy núi Trường Sơn vàoxâm lấn vùng biên giới Nghệ An của Đại Việt Quân dân Đại Việt đã kiên quyếtđánh bại quân Chân Lạp, khiến âm mưu của chúng nhanh chóng thất bại Sự kiện nàyđược sử Đại Việt ghi lại: “Tháng 1 năm 1128, hơn hai vạn người Chân Lạp vàocướp bến Ba Đầu ở châu Nghệ An Vua ban chiếu cho Nhập nội Thái phó là Lý CôngBình đem các quan chức đô cùng người châu Nghệ An đi đánh” [10, tr.460] Cuộcchiến diễn ra ròng rã trong vòng một tháng Đến tháng 2, Lý Công Bình đã đánh bạiquân Chân Lạp tại bến Ba Đầu, bắt được chủ tướng và quân lính Chiến thắng khảihoàn, Lý Công Bình đem quân trở về và bắt được tổng cộng 169 tù binh Tin thắngtrận báo về, Vua đã ngự giá đến hai cung Thái Thanh, Cảnh Linh cùng các chùa quántrong thành làm lễ tạ ơn Phật đã giúp cho quân Đại Việt thắng trận.

Tuy thất bại nhưng Chân Lạp không từ bỏ ý đồ với Đại Việt Chưa được nửanăm, vua Chân Lạp lại tổ chức cuộc tấn công lần thứ hai với một lực lượng hùng hậuhơn mong tìm kiếm một chiến thắng sau nhiều lần thảm bại trước một thế lực yếuhơn mình Lần này, một hạm đội gồm bảy trăm chiến thuyền đi theo đường biển đã

đổ bộ lên bờ biển Thanh Hóa “Tháng 8 năm 1128, Chân Lạp vào cướp phá hương ĐỗGia (Hà Tĩnh), châu Nghệ An, chúng có đến hơn 700 chiếc thuyền” [10, tr.463] Hạm

Trang 20

đội này đã đổ bộ lên bờ biển Thanh Hóa và cướp phá sạch cả một vùng Trước tìnhhình đó Vua (Đại Việt) đã ban lệnh cho tướng Nguyễn Hà Viêm ở phủ Thanh Hóa vàDương Ổ ở châu ấy đem quân đến đánh Kết quả quân Chân Lạp lại một lần nữa đạibại Sau sự kiện này, tháng 11 năm ấy, Chân Lạp đã dâng thư xin Đại Việt thông sứnhưng vua Lý không trả lời Điều này cho thấy, Đại Việt chưa có đối sách cụ thể nàotrong quan hệ với Chân Lạp ngoài việc phòng ngừa, chủ động kiên quyết đánh trả mỗikhi Chân Lạp đem quân sang xâm lấn.

Sau hai lần tấn công Đại Việt thất bại, vua Chân Lạp lúc này là Xuryavacman IIvẫn quyết tâm xâm lược Đại Việt, cho nên tháng 8 năm 1132, Chân Lạp và ChiêmThành đến cướp phá châu Nghệ An (Vua) xuống chiếu cho Thái úy Dương Anh Nhĩđem người ở phủ Thanh Hóa và châu Nghệ An đi đánh quân Chiêm Thành và ChânLạp

Đại Việt thời Lý - Trần luôn tạo mối bang giao hòa hiếu với các nước lánggiềng, trong đó có Champa Tuy vậy, Champa vẫn luôn tìm cơ hội xâm phạm lãnh thổĐại Việt Nắm bắt được điều đó, Chân Lạp đã tìm cách phối hợp, liên kết với quânChampa để đánh phá nước ta Tuy nhiên, việc năm 1132, Champa phối hợp với ChânLạp đánh Đại Việt có lẽ không nằm trong bối cảnh đó Từ năm 1113 đến năm 1220vương quốc Chân Lạp trên bước đường mở rộng quyền lực của đế chế Ăng-co, tranh

bá quyền trong khu vực Sau khi hoàn thành việc chinh phục phía Tây liền chuyểnhướng sang chinh phục phía Đông, và Champa là đối tượng đầu tiên Nhiều cuộcchiến tranh xâm lấn lẫn nhau đã xảy ra mà các sử gia phương Tây thường gọi là “cuộcchiến trăm năm” Chân Lạp thường xuyên mang quân quấy phá biên giới Champa; trởthành kẻ thù trực tiếp nguy hiểm nhất của Champa Vậy tại sao Champa lại liên kết vớiChân Lạp tấn công Đại Việt trong khi Champa đang rất cần Đại Việt giúp sức hay đơngiản hơn là giữ thái độ trung lập trong việc chống Chân Lạp? Hơn nữa, quan hệ Việt -Chăm giai đoạn này khá êm thấm bằng chứng là đến năm 1130, vua Champa vẫn sai

sứ sang cống Đại Việt Có lẽ Chân Lạp đã dùng sức mạnh quân sự uy hiếp Champabuộc Champa phải cử binh đánh Đại Việt Quân Đại Việt đã đánh tan liên quân hainước năm 1132

Dù chưa lần nào giành thắng lợi nhưng Chân Lạp vẫn luôn nuôi ý định với Đại

Trang 21

Việt Lợi dụng việc phòng ngự biên giới của Đại Việt lỏng lẻo; hơn nữa Chân Lạpcàng có điều kiện dòm ngó Đại Việt khi lúc bấy giờ, bức tường ngăn cách giữa hainước là Champa đang bị Chân Lạp thường xuyên đem quân xâm chiếm Các tướngcủa Chân Lạp đã đem quân cướp phá vùng biên giới Đại Việt vào năm 1137 Vua Lýlại xuống chiếu cho Thái úy Lý Công Bình đem quân đi đánh Phá Tô Lăng đại bạiphải rút quân về nước Sau lần này, tình hình biên giới ở vùng Nghệ An tạm yên ổntrong hơn mười năm Sau khi hạ thành Vijaya của Champa năm 1145, tháng 9 năm

1150, người Chân Lạp lại chuẩn bị đem quân đến cướp châu Nghệ An; nhưng khi đếnnúi Vụ Thấp gặp điều kiện tự nhiên không thuận lợi, nắng nóng ẩm thấp, binh línhmắc nhiều bệnh tật, phần nhiều chết vì lam chướng nên tự tan vỡ Kế hoạch xâm chiếmĐại Việt một lần nữa gặp thất bại

Trong khoảng thời gian tiếp theo gần 70 năm, quan hệ hai nước được ghi nhậnbằng những lần triều cống của Chân Lạp mà không xảy ra một cuộc xâm lấn nào Mãi cho đến năm 1216, lợi dụng nội bộ triều đình nhà Lý của Đại Việt đangtrong thời kì suy yếu, nội bộ tranh quyền đoạt lợi, trong nước nổi dậy khắp nơi,quân Chân Lạp và Champa dưới sự chỉ huy của các tướng Chân Lạp đã tổ chức cáccuộc tấn công mới Vào thời điểm này, Chiêm Thành đã trở thành “thuộc địa” củaChân Lạp, nên việc quân Chiêm Thành buộc phải liên kết với Chân Lạp để đánh pháĐại Việt là điều dễ hiểu Kết quả liên quân hai nước đã bị Châu bá châu Nghệ An là

Lý Bất Nhiễm đánh bại

Từ 1216 cho đến trước thế kỉ XVI, lịch sử Đại Việt không ghi nhận thêm mộtquan hệ nào về mặt quân sự của hai nước Việc Chân Lạp rút lui, từ bỏ quyền lực củamình ở Champa đồng nghĩa với việc từ bỏ tham vọng bá quyền đối với Đại Việt.Ngược lại đến thế kỉ XVI, Chân Lạp phải từng bước nương nhờ và phụ thuộc vào ĐạiViệt

Thế kỉ XIII, đế chế Mông - Nguyên thành lập, đe dọa độc lập chủ quyền của cácdân tộc ở Đông Nam Á Cuộc kháng chiến chống ngoại xâm thắng lợi của nhân dân ĐạiViệt không những bảo vệ độc lập của dân tộc mình mà còn gián tiếp bảo vệ các nướcphía Nam trong đó có Chân Lạp thoát khỏi bước chân tàn phá của vó ngựa Mông Cổ

Sự khủng hoảng, suy tàn của Chân Lạp trong các thế kỉ XIV - XVI là nguyên

Trang 22

nhân chủ yếu khiến quan hệ hai nước bị gián đoạn

Bên cạnh quan hệ quân sự - ngoại giao, quan hệ kinh tế - văn hóa của Đại Việt vớiChân Lạp giai đoạn này dù không được sử sách ghi lại nhiều nhưng qua một vài sự kiệntrong các tài liệu thư tịch cổ cũng chứng tỏ đã được thiết lập và bước đầu phát triển.Nhân dân hai nước đã có những hoạt động giao lưu, buôn bán, trao đổi sản phẩm vàgiao lưu văn hóa với nhau dù có sự ngăn cách về mặt địa lí

Theo nguồn thư tịch cổ, mối quan hệ thông thương giữa Đại Việt và Chân Lạp đã

có từ rất lâu đời và liên tục phát triển trong quá trình lịch sử Dưới thời Lý - Trần,thương cảng Vân Đồn nổi tiếng của Đại Việt là nơi thu hút thuyền buôn các nước đếnbuôn bán, trong đó có thuyền buôn của Chân Lạp

Trong tác phẩm Vân đài loại ngữ Lê Quý Đôn cho biết, đời nhà Trần, thuyềnbuôn các nước thông thương đến Đại Việt Nhiều sản vật của các nước láng giềngxuất hiện ở Đại Việt Gấm, chim ưng, cá sấu, ngà voi, trầm hương, bạch đàn củaMiên - Lào, không thiếu thứ gì; đều là những thứ đời sau ít có Thương nhân cácnước Chân Lạp, Lào mang những sản vật ấy sang Đại Việt để đổi lấy những sảnphẩm nổi tiếng của nhà Lý - Trần như: nón Ma Lôi, vải Cát Bá, sứ Bát Tràng Ngoài

ra, họ còn dùng vàng bạc để làm vật trung gian trao đổi [5, tr.157] Vùng Thạch Hà(Hà Tĩnh), ngày xưa thường họp chợ phiên theo chu kì 10 ngày một lần; nhân dịp này,các lái buôn Chân Lạp mang trâu bò sang bán cho người Việt rồi mua những đồ dùngbằng sắt và vũ khí mang về

Lê Quý Đôn còn cho biết: “phía tây trấn Nghệ An của Đại Việt thông sang cácnước Bồn Man, Lão Qua, Cao Miên Dân các nước ấy cũng thường đem trâu bòsang bán cho dân Đại Việt” [5, tr.157]

Những sự kiện trên ít nhiều cho thấy, từ rất sớm, cư dân Đại Việt và Chân Lạp đã

có sự thông thương, trao đổi, buôn bán với nhau

Bên cạnh đó, giữa hai nước cũng từng có mối quan hệ giao lưu về mặt văn hóa

- tư tưởng Giai đoạn này, cả Đại Việt và Chân Lạp đều sùng chuộng đạo Phật Ở ĐạiViệt, Phật giáo được du nhập vào từ thời Bắc thuộc Trong các thế kỉ XI - XIV, Phậtgiáo trở thành quốc giáo Giao lưu văn hóa Phật giáo giữa hai nước được xúc tiến songsong với các hoạt động ngoại giao Trong các đoàn sứ giả ngoại giao của Chân Lạp

Trang 23

sang Đại Việt thường có các nhà sư đạo Balamôn đi theo để giao lưu văn hóa.

Như vậy, nhìn chung quan hệ của Đại Việt với Chân Lạp giai đoạn này tương đốiđơn giản và mang tính một chiều nghiêng về phía Chân Lạp Mối quan hệ đó diễn ratrên nhiều lĩnh vực nhưng chủ yếu vẫn là mối quan hệ trên lĩnh vực quân sự và ngoạigiao Dù sử Đại Việt không ghi lại nhiều việc quan hệ của Đại Việt với Chân Lạpnhưng qua những sự kiện trên, chúng ta có thể thấy: một mặt Đại Việt luôn duy trìmối quan hệ bang giao hòa hảo, thân thiện với Chân Lạp, mặt khác luôn kiên quyếtchống trả những hành động xâm phạm chủ quyền lãnh thổ, đánh bại mọi cuộc hànhquân xâm lấn của Chân Lạp Lịch sử cho thấy, Đại Việt dù khước từ việc cử sứ giảsang Chân Lạp thông sứ nhưng lại tiếp nhận tất cả những lần Chân Lạp cử sứ giảsang giao hảo, triều cống Đại Việt luôn đối đãi thân tình, đón tiếp trọng hậu với các

sứ thần Chân Lạp

Ngược lại, trong quan hệ với Đại Việt, Chân Lạp thi hành chính sách hai mặt:một mặt giữ quan hệ triều cống láng giềng thân thiện, mặt khác lợi dụng mọi cơhội, thường xuyên đem quân vào quấy phá, cướp bóc, bắt dân ở vùng biên giới của ĐạiViệt Từ thế kỉ XI đến thế kỉ XIII, có lúc phối hợp với Chiêm Thành, Chân Lạp đãnhiều lần đem quân đánh phá vùng châu Nghệ An nhưng kết quả đều thất bại

Tóm lại, quan hệ Đại Việt với Chân Lạp đến thế kỉ XVI tương đối đơn giản Cáctriều Đại Việt thi hành nhất quán chính sách hòa hiếu nhưng kiên quyết chống trả cáchành động chống phá của Chân Lạp Hai nước diễn ra nhiều cuộc tiếp xúc ngoại giao,trao đổi tặng vật cho nhau Mặc dù Chân Lạp có nhiều hoạt động quân sự đối với ĐạiViệt nhưng nhìn chung đó là những cuộc tấn công có quy mô nhỏ, mục đích là cướpphá vùng biên giới của Đại Việt Các triều Đại Việt đã kiên quyết đánh bại các cuộcxâm lược của Chân Lạp nhằm bảo vệ vùng biên giới của quốc gia và khẳng định sứcmạnh của mình trước một nước láng giềng hùng mạnh Quan hệ của Đại Việt với ChânLạp đến thế kỉ XVI nhìn chung diễn ra tốt đẹp

1.3 Quan hệ Đại Việt - Chân Lạp dưới thời Trịnh - Nguyễn

Từ thế kỉ XVI - XVIII, Đại Việt rơi vào tình trạng chia cắt bởi các cuộc nộichiến của các tập đoàn phong kiến: Lê - Mạc, Trịnh - Nguyễn Khi chính quyền cácChúa Nguyễn được thành lập ở Đàng Ngoài, quan hệ với Chân Lạp được các Chúa tiếp

Trang 24

nối một cách thường xuyên, liên tục và thể hiện chặt chẽ trên tất cả các mặt Nó thểhiện theo một quá trình: từ quan hệ hòa hiếu, thân thiện, Chân Lạp ngày càng phụthuộc chặt chẽ vào Đại Việt, thần phục Đại Việt; trong khi đó Đại Việt dần trở thànhtôn chủ đối với Chân Lạp và cuối cùng là bảo hộ luôn Chân Lạp.

Thế kỉ XVII, quan hệ của hai nước chính thức được nối lại sau cuộc hôn nhânchính trị của vua Chey Chettha II và công nương Ngọc Vạn năm 1620 Từ đây, quan

hệ của Đại Việt (chủ yếu là quan hệ của các chúa Nguyễn và vua Nguyễn) với ChânLạp diễn ra một cách thường xuyên, liên tục và diễn ra trên nhiều lĩnh vực

Chính sách ngoại giao hòa hiếu được tiếp tục duy trì Đại Việt đã nhiều lầngiúp Chân Lạp chống lại Xiêm La, ổn định tình hình nội trị Tuy vậy, do hoàn cảnh lịch

sử hai nước và tác động của bối cảnh khu vực lúc bấy giờ, quan hệ Đại Việt vớiChân Lạp cũng đã có sự thay đổi Nhiều yếu tố mới phát sinh, chi phối mạnh mẽ mốiquan hệ này Đó là chính sách mở đất của các chúa Nguyễn, là sự suy yếu trầm trọngcủa Chân Lạp và chính sách bá quyền của phong kiến Xiêm La

Sau một thời gian gián đoạn, mối quan hệ của Đại Việt với Chân Lạp được nốilại bắt đầu bằng cuộc hôn nhân chính trị của hai quốc gia Vào năm 1620, chúa NguyễnPhúc Nguyên đã gả con gái của mình là công nương Ngọc Vạn cho Quốc vươngChân Lạp Chey Chettha II (1618 - 1628) Đối với Chân Lạp, việc kết thâm giao vớichúa Nguyễn nhằm mục đích dựa vào lực lượng quân sự của người Việt lúc này đangrất mạnh làm giảm sức ép từ phía Xiêm Nhờ đồng minh với chúa Nguyễn, vua ChânLạp đã đẩy lui được hai cuộc xâm lăng của Xiêm La vào các năm 1621 và 1623 Vớichúa Nguyễn, quan hệ hữu hảo này tạo điều kiện thuận lợi cho người Việt, vốn đã cómặt từ trước, được tự do khai khẩn đất hoang và làm ăn sinh sống trên vùng đất phíaNam Dưới sự bảo trợ của hoàng hậu Ngọc Vạn, cư dân Việt từ vùng Thuận - Quảngvào sinh sống làm ăn ở lưu vực sông Đồng Nai ngày một đông thêm Chỉ ba nămsau, năm 1623, một phái đoàn sứ thần của triều đình Huế đã tới kinh đô Udong yếtkiến vua Chey Chettha II, dâng lễ vật trọng hậu và xin nhà vua cho phép dân Việtđược mở rộng địa bàn khai phá trên những vùng đất thưa dân ở Prey Kôr Nhờ có sựgiúp sức của hoàng hậu Ngọc Vạn, lời thỉnh cầu của chúa Nguyễn đã được vuaChey Chettha chấp thuận Thành công ngoại giao đầu tiên này có ý nghĩa hết sức to

Trang 25

lớn Về phía nhân dân, trên danh nghĩa người Việt được phép sinh sống tại khu vựcPrey Kôr, song thực tế nó đã khởi đầu cho một cuộc di dân xâm thực không ngừng củangười Việt vào vùng đất hứa bao la, tài nguyên phong phú, sông ngòi chằng chịt,giao thông thuận lợi và quan trọng hơn là không gặp khó khăn trở ngại nào lớn từphía chính quyền và nhân dân Chân Lạp Về phía chính quyền Đại Việt, mối lươngduyên của công nương Ngọc Vạn và vua Chey Chettha đã bước đầu khẳng định thếmạnh của các chúa Nguyễn, thiết lập một mối quan hệ hữu hảo đồng minh - lánggiềng và quan trọng nhất là tạo điều kiện thuận lợi cho việc Nam tiến của mình.

Năm 1674, Chân Lạp bị chia thành hai khu vực với hai vị vua cai trị: Chính QuốcVương (đóng ở U Đông) và Phó Quốc Vương (đóng ở Sài Gòn) Cả hai đều tỏ ra cungthuận và triều cống Chúa Nguyễn Tình trạng một nước hai vua, một xứ hai mặt trờicủa Chân Lạp kéo theo một mối quan hệ chằng chéo mới của hai thế lực phong kiếnđều đang có tham vọng bành trướng thế lực tại đây, đó là Đại Việt và Xiêm La Từnăm 1674 đến năm 1688, cuộc tranh giành quyền lực giữa Nặc Ông Nộn và Nặc ÔngThu kéo Đại Việt và Xiêm La vào cuộc Nặc Ông Nộn được chúa Nguyễn và lưu dânViệt trợ giúp, còn Nặc Ông Thu dựa vào quân Xiêm Mối quan hệ tay ba Việt - Xiêm -Chân Lạp chính thức bắt đầu

Đầu năm 1679, chúa Nguyễn Phúc Tần cho lập “đồn dinh” ở Tân Mỹ (giữa SàiGòn ngày nay) để bảo vệ lưu dân và yểm trợ cho phó vương Nặc Ông Nộn Cùng thờigian này, vì không muốn thần phục nhà Thanh, một số trung thần của triều Minh làDương Ngạn Địch, Hoàng Tiến, Trần Thượng Xuyên, Trần An Bình đã đưa 3000quân cùng gia quyến trên 50 chiếc tàu sang xin làm con dân chúa Nguyễn, vì dân Namcũng để tóc dài và trung thành với đạo Khổng Mạnh như họ Chúa Nguyễn rơi vàotình trạng khó xử, nhưng cuối cùng đã cho nhóm Dương Ngạn Địch và Hoàng Tiếnlên sinh sống ở Mỹ Tho; nhóm của Trần Thượng Xuyên lên vùng Đồng Nai Họ chỉ làthiểu số tới sau nhưng mau chóng hòa nhập với đa số người Việt đã tới trước và cùngnhau đổ mồ hôi, xương máu khai phá vùng đất mới này

Việc xuất hiện của những trung thần triều Minh góp phần giúp cho việc mởmang bờ cõi của chúa Nguyễn thêm nhiều thuận lợi, vì lúc này triều đình đương để ýđến đất Đông Phố nước Chân Lạp Để việc định cư của những thuyền nhân này

Trang 26

không gặp sự trở ngại, chúa Nguyễn yêu cầu Chân Lạp chia cấp đất đai cho họ Trên

lí thuyết, việc Đại Việt yêu cầu Chân Lạp phải cấp đất đai là không hợp lí; nhưng vớimối quan hệ trên thực tại, yêu cầu này mang tính mệnh lệnh của kẻ bề trên mà kẻ bềdưới phải thực hiện Chân Lạp chấp nhận để Trần Thượng Xuyên, Dương NgạnĐịch… vào sinh sống trên vùng đất của mình vì có lẽ không dám trái mệnh chúaNguyễn; hơn nữa với tình hình hiện tại, họ cũng không có đủ sức để quản lí nó Nhưthế, trên danh nghĩa, Dương Ngạn Địch và Trần Thượng Xuyên đã nhận quan tước

và được chúa Nguyễn giao nhiệm vụ chứ không phải thuần túy là những người bỏ xứ

ra đi tỵ nạn Họ đã góp phần đẩy nhanh quá trình xác lập chủ quyền của chúa Nguyễn

trên vùng đất Nam Bộ Theo sách Đại Nam nhất thống chí, căn cứ vào các dấu tích

hoạt động cụ thể đã cho biết nhóm Trần Thượng Xuyên đến Biên Hòa “mở đất, lậpphố”, còn nhóm Dương Ngạn Địch đến Mỹ Tho dựng nhà cửa, họp người Kinh, người

Di, kết thành làng xóm

Có thể thấy, cùng với Sài Gòn - Gia Định, Biên Hòa và Mỹ Tho cũng dần dầntrở thành những trung tâm kinh tế quan trọng với nhiều làng mạc trù phú, phố phườngsầm uất, hải cảng nhộn nhịp có thuyền buôn Trung Quốc, Nhật Bản, Tây Dương,Chà Và… tới buôn bán, phát triển dưới quyền cai quản của chúa Nguyễn ở miềnĐông và cả miền Tây Nam Bộ

Như vậy, vào cuối thế kỷ XVII chúa Nguyễn đã xác lập được quyền lực củamình tại vùng trung tâm của Nam Bộ, khẳng định chủ quyền của người Việt trênvùng đất mà trên thực tế, Chân Lạp chưa khi nào thực thi một cách đầy đủ chủ quyềncủa mình Việc làm của chúa Nguyễn không gặp phải sự kháng cự nào của Chánhquốc vương Nặc Ông Thu Nói cách khác, việc mở đất Biên Hòa - Gia Định diễn ramột cách êm thắm, tốt đẹp và không gặp phải một sự trở ngại nào từ phía triều đình

và cả nhân dân Chân Lạp

1.4 Quan hệ Đại Việt - Chân Lạp trong buổi đầu giao thời Nhà Nguyễn

Từ năm 1771 trở đi, tính chất mối quan hệ của Đại Việt đối với Chân Lạp đãthay đổi Đó không còn là quan hệ bình đẳng giữa hai nước Quan hệ Đại Việt vớiChân Lạp bắt đầu mang tính chất “nước nhỏ - nước lớn”, một mô hình quan hệ đượcảnh hưởng từ Trung Hoa Chân Lạp phụ thuộc vào Đại Việt; phải triều cống, nhận sắc

Trang 27

phong… Trong khi đó, Đại Việt bắt đầu thi hành chính sách “bảo hộ” đối với ChânLạp.

Quan hệ này được xác lập trong bối cảnh Đại Việt ngày càng vững mạnh, cónhững ảnh hưởng quan trọng, chi phối đời sống chính trị của một bộ phận giai cấpcầm quyền Chân Lạp Trong khi đó, Chân Lạp ngày càng suy yếu, quyền lực không còntập trung, không còn khả năng tự chủ và đứng trước nguy cơ bị ngoại xâm xâm chiếmbất cứ lúc nào Các vị Phiên vương không có khả năng lãnh đạo đất nước cũng nhưkhông đủ sức bảo vệ ngai vàng của chính họ Triều chính mục nát, những cuộc chiếntương tàn tranh giành quyền lực liên tiếp nổ ra Để bảo vệ quyền lợi của mình, triệt hạđối thủ, giới cầm quyền chia làm hai phe dựa vào hai thế lực phong kiến láng giềng làĐại Việt và Xiêm La

Việc hình thành đường lối đối ngoại của Đại Việt với Chân Lạp giai đoạn nàycòn chịu sự tác động của nhân tố khách quan quan trọng khác; đó là từ phong kiếnXiêm La với chính sách đối ngoại bành trướng phản động Vì muốn giữ ảnh hưởngtrên vùng đất Chân Lạp và sâu xa hơn là bảo vệ chính mình trước sự nguy hiểm củaphong kiến Xiêm La, Đại Việt cần có một Chân Lạp thân thiện, làm thành trì chốnglại âm mưu của Xiêm Chính sách bảo hộ là giải pháp tốt nhất cho một Chân Lạpkhông còn khả năng chống cự và hơn nữa lại có một bộ phận cầm quyền luôn muốndựa vào Xiêm để chống lại Đại Việt

Bấy giờ, nước Chân Lạp khổ vì quân Xiêm thường xuyên cướp phá, trong nướctúng thiếu “Vua nước ấy là Nặc Tôn bị anh em hiếp chế, phải chia quyền ra làm ba,

để cho Nặc Vinh làm vua đầu, mình làm vua thứ hai, em là Nặc Thâm làm vua thứ ba.Được ít lâu Nặc Vinh giết cả Nặc Tôn và Nặc Thâm giữ lấy quyền làm vua một mình.Nặc Vinh thấy nước ta có chiến tranh, không chịu nạp cống nữa Chúa Nguyễn saiChưởng sứ Nguyễn Phúc Ánh cùng phó tiết chế Nguyễn Cửu Tuấn, chưởng cơTrương Phúc Thuận đi đánh Chân Lạp Nặc Vinh xin hàng, thế lực của Chúa Nguyễnlại được củng cố” [19, tr.188]

Từ khi Nặc Vinh giết Nặc Thâm, Nặc Tôn đau buồn rồi chết Chân Lạp nộiloạn không yên Bề tôi là Chiêu Chùy Mô và Đê Đô Luyện giữ phong Xuy đểchống Nặc Vinh; Vị Bôn Xuy giữ La Bích để hưởng ứng và cầu viện dinh Long Hồ

Trang 28

Chúa Nguyễn thấy rằng, Nặc Vinh lên ngôi không chính đáng, không thu phục đượcnhân tâm dẫn đến quân tướng bất mãn, chống đối, gây cuộc nội loạn Điều này dễtạo điều kiện cho Xiêm La dấy binh; vì vậy cần phải nhanh chóng ổn định tình hìnhChân Lạp Năm 1779, chúa Nguyễn (Nguyễn Ánh) sai Đỗ Thanh Nhân, Hồ Văn Lân

và Dương Công Trừng đem quân đi đánh Chân Lạp, bắt Nặc Vinh giết đi, lập conNặc Tôn là Nặc Ấn lên làm vua bấy giờ mới có 8 tuổi và lưu Hồ Văn Lân ở lại bảohộ

Năm 1780, Mạc Thiên Tứ từ trần, không con nối hậu Đất Hà Tiên từ đây sápnhập hẳn vào cơ đồ của chúa Nguyễn

Thời gian này, khởi nghĩa Tây Sơn liên tiếp thắng lợi, chính quyền chúaNguyễn bị tiêu diệt Đầu năm 1775, chúa Nguyễn Phúc Thuần cùng gia quyến vượtbiển vào Gia Định Sau cuộc tấn công của Nguyễn Lữ tại Gia Định, quân Nguyễn lầnlượt bị đánh bại Nguyễn Phúc Thuần, Nguyễn Phúc Dương đều bị giết NguyễnÁnh trốn thoát dựa vào tầng lớp địa chủ ở Gia Định tiếp tục chống trả Chớp lấy thời

cơ, tháng 10 năm 1781, Xiêm La cho quân xâm lấn Chân Lạp theo lệnh của quốcvương Trịnh Quốc Anh Hai tướng Chất Tri và Sô Xi điều khiển binh sĩ kéo vào đấtcủa Nặc Ấn khi đó đặt dưới quyền bảo hộ của chúa Nguyễn Tháng 1 năm 1782,Nguyễn Ánh liền sai Giám quân Trung dinh là Chưởng Cơ là Nguyễn Hữu Thụy đem3.000 quân sang Chân Lạp cứu nguy Tại Chân Lạp, bọn tướng Xiêm hòa với tướngViệt rồi đem quân trở về gây cuộc đảo chính Cũng năm này, Nguyễn Huệ mang quânthủy bộ Nam tiến, phá tan quân Nguyễn, giết chết Cai cơ người Pháp là Manuel (MạnHòe) Nguyễn Ánh bỏ chạy về Hậu Giang Quân Tây Sơn chiếm lại Nam Bộ, saingười giao hảo với Chân Lạp và đề nghị hợp tác đánh Nguyễn Ánh Chân Lạp chiaquân đón bắt được đoàn cầu viện Xiêm La của Ánh và suýt bắt được Nguyễn Ánh.Nguyễn Ánh trốn ra đảo Phú Quốc Khi mang quân vào đánh bật Nguyễn Ánh ra hảiđảo, Nguyễn Huệ cũng cho quan quân sang bảo hộ Chân Lạp tiếp tục thay cho quanquân của Nguyễn Ánh

Nguyễn Ánh từ khi chiếm lại được Gia Định, nhiều lần sai sứ sang Xiêm giaohiếu, hẹn cho Nặc Ấn về nước làm vua Đến tháng 2 năm 1794, người Xiêm đưa vuanước Chân Lạp là Nặc Ấn về nước và rút Chiêu Chùy Biện về giữ Bắc Tầm Bôn

Trang 29

Nặc Ấn sai sứ đến tạ ơn Đại Việt Tháng 11 năm 1797, vua nước Chân Lạp là Nặc Ấnchết, con là Nặc Chăn nối ngôi Vua Xiêm La sai sứ sang phong Như vậy, Nặc Chănphải chấp nhận thần phục vua Xiêm La Đến năm 1807, Nặc Chăn lại bỏ Xiêm La, saibầy tôi là Ốc nha Vị Bôn Rạch đến xin phong và xin về thần phục Đại Việt; theo lệcống tiến, cứ ba năm một lần.

Chương 2 QUAN HỆ ĐẠI VIỆT CHÂN LẠP TRONG THẾ KỈ XIX

2.1 Hoàn cảnh lịch sử

Từ thế kỉ XI, Đại Việt bước vào giai đoạn xây dựng, củng cố, phát triển quốcgia dân tộc Là một quốc gia hình thành muộn, lãnh thổ lại tiếp giáp với những quốcgia hùng mạnh, có tư tưởng bành trướng như: Trung Hoa, Champa, Chân Lạp nên việcđảm bảo an ninh quốc phòng, giữ vững độc lập dân tộc trở thành nhu cầu bức thiết,thường xuyên của các vương triều Đại Việt

Để phát triển ổn định và vững mạnh, các nước nói chung và Đại Việt nói riêng mộtmặt ra sức phát triển nội lực trong nước về mọi mặt: xóa bỏ tình trạng cát cứ, tản

Trang 30

quyền, xây dựng bộ máy nhà nước theo hướng tập quyền, quản lí chặt chẽ từ trungương đến địa phương, phát triển nền kinh tế vững chắc, xây dựng hệ thống quân độiđáp ứng nhu cầu phòng thủ của đất nước…; mặt khác kiến tạo mối quan hệ đaphương hữu hảo, tốt đẹp, đặc biệt là với các quốc gia láng giềng Bởi những mối quan

hệ tốt đẹp với các nước láng giềng không chỉ tạo điều kiện giúp đỡ nhau cùng pháttriển mà đó còn là “chìa khóa” để đảm bảo một nền an ninh quốc phòng ổn định, đặcbiệt là khu vực biên giới Như vậy, sự phát triển của quốc gia Đại Việt đòi hỏi phải tiếnhành song song với việc đảm bảo an ninh và thiết lập tốt mối quan hệ với các nước lánggiềng, trong đó có Chân Lạp

Trong quá trình phát triển của đất nước, xu hướng mở rộng lãnh thổ trở thành mộtnét chủ đạo của các quốc gia trong khu vực Quốc gia Đại Việt cũng thế Đất nướcphát triển, dân số ngày càng tăng Đại Việt có nhu cầu khai khẩn nhiều vùng đất mới.Tuy nhiên, với vị trí địa lí: phía Đông giáp biển, phía Tây giáp núi cao, phía Bắcgiáp đế chế Trung Hoa hùng mạnh, Đại Việt chỉ còn một hướng có thể thực hiệnđược, đó là hướng Nam Nơi đây, Đại Việt vấp phải nước Champa hiếu chiến và đangnuôi mộng bành trướng Đại Việt Những cuộc xâm lược của Champa đã kích thích ý đồNam tiến của các triều Đại Việt Kết quả mối quan hệ Đại Việt - Champa là lãnh thổĐại Việt mở rộng về phía Nam trên toàn bộ lãnh thổ Champa trước đây Như vậy,yêu cầu, chính sách mở rộng lãnh thổ về phía Nam trở thành một nhân tố chi phốiquan hệ Đại Việt với Chân Lạp; đặc biệt là sau thế kỉ XVII, biên giới Đại Việt tiếpgiáp với Chân Lạp

Là một nước nhỏ, trong suốt thời kì phong kiến, Đại Việt phải thần phục TrungHoa Đại Việt đã tiếp thu, ảnh hưởng từ Trung Hoa nhiều phương diện; trong đó có thái

độ hành xử với các nước láng giềng Đây sẽ là một nhân tố tác động đến chính sách đốingoại của Đại Việt với các nước, trong đó có Chân Lạp

Bên cạnh đó, những cuộc di dân tự phát, hòa bình của người Việt trên vùng đấtThủy Chân Lạp từ thế kỉ XVII đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi, chi phối quan hệ củaĐại Việt với Chân Lạp Thực tế cho thấy, các chính quyền Đại Việt tìm cách thiết lậpchính quyền, thể hiện vai trò “tôn chủ” của mình trên vùng Thủy Chân Lạp khi ngườiViệt đã định cư, làm ăn sinh sống, phát triển kinh tế ổn định tại đây

Trang 31

2.2 Những nhân tố thúc đẩy quan hệ hòa hảo Đại Việt - Chân Lạp

2.2.1 Chính sách đối ngoại của Triều Nguyễn

Chiến thắng Bạch Đằng năm 938 của Ngô Quyền đã đánh bại quân Nam Hán, kếtthúc thời Bắc thuộc, mở ra trang sử mới cho lịch sử dân tộc - thời kì xây dựng và bảo

vệ nền độc lập của quốc gia Đại Việt thống nhất

Sau khi thoát khỏi ách thống trị của phong kiến phương Bắc, bên cạnh việc ổnđịnh, xây dựng và phát triển nội lực đất nước, các triều đại Đại Việt xuyên suốt từ thế

kỉ XI đến thế kỉ XIX đã thi hành chính sách ngoại giao tích cực; mở rộng việc banggiao với Trung Hoa và các nước láng giềng Đây là một trong những yếu tố quantrọng giúp cho việc phát triển đất nước vững mạnh, đảm bảo độc lập chủ quyền và anninh quốc gia

Ứng xử với người láng giềng là việc vô cùng quan trọng trong chính sách đối ngoạicủa quốc gia Người ta chỉ có thể thay đổi được bạn thù, song không ai thay đổi đượcláng giềng Trung Quốc luôn là người láng giềng lớn mạnh của Việt Nam Trung Quốcphong kiến lại có tư tưởng bành trướng, bá quyền đối với nước ta và nhiều lần xâm lượcViệt Nam Cũng như các triều đại trước đó, ứng xử với Trung Quốc luôn là sợi chỉ đỏtrong chính sách đối ngoại quốc gia Nhà Nguyễn cũng vẫn phải thực hiện chính sáchthần phục Mãn Thanh, nhận phong tước của nhà Thanh, thậm chí thời kỳ đầu phải raThăng Long để thụ phong, vì sứ thiên triều không chịu vào Huế Mặt khác, nhà Nguyễnvẫn có ý thức đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, giữ vững biên giới quốc gia Đồngthời, thúc đẩy quan hệ thương mại Đại Việt - Trung Quốc Đó là chính sách ngoại giaođúng đắn, mềm mỏng nhằm bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia

Trong quan hệ với các nước láng giềng như Chân Lạp, Lào, chính sách của triềuNguyễn là luôn tìm cách phát huy ảnh hưởng, buộc họ thần phục, cống nạp, khi có cơ hộithì sát nhập vào lãnh thổ nước mình, khi không có cơ hội thì gây ảnh hưởng Chính sáchtrên có điều kiện thuận lợi để triển khai do nội bộ các nước đó luôn có chia rẽ, xung đột

và thường có lực lượng tìm đến Đại Việt, cũng như nước Xiêm láng giềng để nhờ cậy vớimục đích thoán đoạt quyền lực và được bảo hộ Đó cũng là bản chất của giai cấp phongkiến nói chung, trong đó có phong kiến Việt Nam, là đặc điểm “cá lớn nuốt cá bé” củaquan hệ quốc tế lúc bấy giờ

Trang 32

2.2.2 Chính sách đối ngoại của Chân Lạp

Trước thế kỉ VII, Chân Lạp vốn là thuộc quốc của đế chế cổ Phù Nam Nhờđiều kiện tự nhiên thuận lợi và nhờ tiếp xúc với văn minh Ấn Độ thông qua PhùNam, cư dân Khơme đã lập nước vào cuối thế kỉ V Thư tịch cổ Trung Hoa gọi nướccủa người Khơme là Chenla - tức Chân Lạp

Khoảng giữa thế kỉ VI - VII, lợi dụng sự suy yếu của Phù Nam, Chân Lạp đã tấncông Phù Nam, phá bỏ sự lệ thuộc và bắt Phù Nam thần phục lại mình Từ đây, ChânLạp dần phát huy sức mạnh của mình qua việc xây dựng chế độ quân chủ chuyênchế cao độ, quân đội hùng mạnh và chinh phục một vùng đất đai rộng lớn

Bên cạnh đó, Chân Lạp nhanh chóng thiết lập quan hệ ngoại giao với nhiềunước láng giềng Một mặt, Chân Lạp thi hành chính sách ngoại giao hòa hiếu với cácnước láng giềng hùng mạnh; mặt khác thi hành chính sách đối ngoại bành trướng,hiếu chiến với những nước yếu hơn ở khu vực lân cận Tuy nhiên, chính sách đốingoại của Chân Lạp với từng quốc gia riêng, trong từng thời điểm khác nhau có sựthay đổi Chính sách chiến tranh bành trướng đã khiến lãnh thổ của Chân Lạp mởrộng không ngừng mở rộng nhưng đồng thời cũng là một trong những nguyên nhânchủ yếu dẫn đến sự suy tàn của quốc gia này

2.3 Quan hệ Đại Việt - Chân Lạp trên các lĩnh vực

2.3.1 Chính trị

Sắc phong và triều cống là hai nội dung quan trọng trong quan hệ đối ngoạicủa Đại Việt với Chân Lạp Hai vấn đề này là kết quả của mối quan hệ được thiết lậpgiữa hai nước từ trước đó

2.3.1.1 Vấn đề sắc phong

Đại Việt sắc phong cho Chân Lạp được thực hiện lần đầu tiên vào năm 1714.Như đã trình bày ở phần đầu, kết thúc cuộc nội chiến của hai anh em Nặc Thâm và NặcYêm, chúa Nguyễn phong cho Nặc Yêm làm vua Chân Lạp và giúp khí giới để phòng

vệ Năm 1757, Nặc Nguyên qua đời Vua kế là Nặc Nhuận hiến đất Trà Vang (TràVinh, Bến Tre) và Ba Thắc (Sóc Trăng, Bạc Liêu) để được chúa Nguyễn phong vương.Thực chất việc chúa Nguyễn phong vương cho Nặc Yêm và Nặc Nhuận giai đoạnnày chỉ mang tính chất hình thức Lúc bấy giờ, Chân Lạp nội loạn liên miên Các thế

Trang 33

lực đua nhau tranh giành quyền bính Vì vậy, các vị vua Chân Lạp khi lên ngôi,muốn thể hiện sự hợp pháp của mình thì cần có thế lực đủ mạnh để nâng đỡ Quan hệsắc phong của Đại Việt với Chân Lạp giai đoạn này mang tính chất tương tự như thế.Tuy nhiên, đến khi nhà Nguyễn ở Đại Việt thành lập, quan hệ sắc phong của ĐạiViệt với Chân Lạp cũng bắt đầu có sự thay đổi Chân Lạp là “nước nhỏ” nhận sự “bảohộ” của Đại Việt và phải thực hiện một nghĩa vụ trong quan hệ với Đại Việt là xinsắc phong và triều cống, để hợp với danh xưng và hình thức “phụng thờ nước lớn”.Năm 1807, vua Chân Lạp là Nặc Chăn sai bầy tôi là Ốc Nha Vị Bôn Rạch đến xinphong, xưng thần với vua Nguyễn

Đây là sự kiện ngoại giao quan trọng, do vậy, triều Nguyễn thông báo cho ChânLạp biết thời gian sứ Đại Việt sang để Chân Lạp chuẩn bị tiếp rước Số lượng sứ bộ ĐạiViệt khá đông, quân lính là 150 người, kèm theo một long đình, bốn tán vàng, mộtthuyền lê, hai thuyền hậu, năm thuyền sai… Sứ bộ Đại Việt được Chân Lạp đón đợingay đầu địa giới, được rước vào thành La Bích nghỉ ngơi trong thời gian chờ làm lễtuyên phong

Đồng thời để mừng việc vua Chân Lạp được sắc phong, vua Gia Long cũng sai

sứ đoàn ban thưởng cho quốc vương Cao Miên: duy màu, hoàn màu, vải đen, vảitrắng mỗi thứ 40 tấm, vải the thơm, quyến tàu mỗi thứ 20 tấm Cho hai viên chánhphó sứ mỗi người bạc 20 lượng, áo gấm lót lụa mỗi người 1 cái, trừu sa màu lam 1tấm, hoàn màu vải trắng vải đen mỗi thứ 10 tấm, the thơm 2 tấm, … Việc triều đìnhHuế tấn phong cho quốc vương Chân Lạp đã đánh dấu một quan hệ mới trong quan

hệ hai nước Đại Việt - Chân Lạp Giai đoạn mà nhà nước phong kiến Đại Việt vìnhững mục đích chính trị và quyền lợi quốc gia đã “bảo hộ” Chân Lạp mô phỏng theonguyên tắc đối ngoại “nước lớn - nước nhỏ” Điều đó làm cho quan hệ hai nước trảiqua biết bao thăng trầm trong lịch sử tồn tại và phát triển của hai quốc gia láng giềng cócùng biên giới

Năm 1813, vua Chân Lạp sai sứ sang dâng biểu tạ ơn và xin sắc phục Năm

1816, vua Gia Long ban phẩm phục thường triều cho quan Phiên vì họ xin đổi sắcphục theo Đại Việt Vua sai nhà đồ chế mũ áo Thập phẩm, Cửu phẩm 23 bộ cho 23người quan Phiên; lại sai chế mũ áo Bát phẩm, Thất phẩm 4 bộ làm mẫu Từ đây, y

Trang 34

phục đồ dùng của người chân Lạp phần nhiều mộ theo phong cách của người Việt.Năm 1835, Nặc Chăn băng hà Sự kiện này đánh dấu mốc quan trọng trong lịch

sử quan hệ của Đại Việt với Chân Lạp Thấy ngôi vua Chân Lạp bị bỏ trống, để thuậntiện cho việc quản lí đất nước, Minh Mạng dụ bộ Lễ chuyển giao ấn triện của vuaPhiên cho quan Phiên là chưởng cơ Trà Long và Vệ úy Trà Kiên, làm việc theo sựđiều kiển của Trương Minh Giảng và Lê Đại Cương Đồng thời ngay sau đó, MinhMạng cũng chuẩn cho Thứ bố chính tỉnh An Giang là Trương Phúc Cương sung chứcKhâm sứ tiến hành sách phong cho con gái thứ hai của Nặc Chăn là công chúaNgọc Vân làm quận chúa Cao Miên quyền nhiếp chính công việc Lễ tuyên phongcho công chúa Ngọc Vân cũng được tiến hành như khi phong cho Nặc Chăn trước đó

Sự kiện đổi phong này đưa quan hệ của Đại Việt với Chân Lạp bước sang thời kìmới Vua Minh Mạng cho rằng cần phải sắp xếp ổn thỏa việc Chân Lạp, chia đặt huyện,đặt lưu quan để cai trị đất ấy để đối phó với âm mưu của Xiêm La, khiến cho ngườiXiêm sợ hãi không dám đến xâm lấn Thực tế hành động này đồng nghĩa với việc MinhMạng cho sáp nhận Chân Lạp vào lãnh thổ Đại Việt Hiện trạng này được sử Chân Lạpxác nhận từ năm 1841 đến 1845, ngôi vua Cao miên không có người, nước Cao Miênsáp nhập vào Việt Nam, việc triều chính hoàn toàn do tướng Trương Minh Giảng quyếtđoán [2, tr.125]

Tháng 12 năm 1846, Nặc Ông Đôn cho sứ đem bài biểu đồ và đồ phẩm nghi đếntriều đình Đại Việt ở Trấn Tây dâng biểu xưng thần và xin triều cống Vua Thiệu Trịchấp nhận Tháng 7 năm 1847, vua Thiệu Trị cử hai sứ bộ ngoại giao sang ChânLạp: một sứ bộ do Lê Khắc Nhượng và Nguyễn Tiến Hội dẫn đầu làm nhiệm vụ sáchphong cho Nặc Ông Đôn và sứ bộ thứ hai sang sách phong cho Ngọc Vân làm CaoMiên Quận chúa Lễ tuyên phong cho Nặc Ông Đôn làm Cao Miên Quốc vương diễn

ra tại thành Udong Trong lễ sách phong, vua Thiệu Trị cũng ban cho Nặc Ông Đônchiếc ấn bằng bạc, cái núm hình lạc đà mạ vàng, đường kính, bề mặt và cao đầy phântấc đều y như ấn cũ, trên khắc 6 chữ “Cao Miên Quốc vương chi ấn”

Sau năm 1847 cho đến khi thực dân Pháp xâm lược Đại Việt và Chân Lạp, lịch

sử quan hệ hai nước không diễn ra lần sách phong nào nữa

2.3.1.2 Vấn đề triều cống

Trang 35

Trước khi Đại Việt tiến hành “bảo hộ” Chân Lạp và Chân Lạp thực thi nghĩa vụtriều cống theo danh phận “nước nhỏ - nước lớn”, giữa Đại Việt và Chân Lạp diễn ranhiều cuộc thông sứ để trao tặng các sản vật địa phương cho nhau.

Từ năm 1807, dưới thời trị vì của vua Gia Long, triều cống của Chân Lạp đối vớiĐại Việt được định ba năm một lần Triều cống của Chân Lạp gồm hai lễ: lễ cốngchính (ba năm một lần) và lễ thường cống vào các dịp như lễ tạ ơn sách phong, lễmừng các sự kiện trong đời sống chính trị - xã hội như lễ tiến hương, lễ khánh hạ Cống phẩm bao gồm có voi đực cao 5 thước (2 con), sừng tê giác (2 chiếc), ngà voi(2 cái), hột sa nhân (50 cân), đậu khấu (50 cân), cánh kiến (50 cân), sơn đen (20 lọ).Mỗi khi sứ Chân Lạp sang, Đại Việt chuẩn bị tiếp đón rất chu đáo và không quênphô trương thực lực quốc gia nhằm làm cho Chân Lạp ý thức được sự giàu mạnh củamình Tháng 6 năm 1822, Minh Mạng “chuẩn định từ nay về sau sứ thần các nướcChân Lạp, Xiêm La, Vạn Tượng… đến kinh mà gặp lễ tế Giao và Miếu hưởng thìđều cho phép chờ xa giá ở trước cửa Tả Đoan mà chiêm ngưỡng” [19, tr.222]

Con đường tiến cống của sứ Chân Lạp phải qua Gia Định thành, chờ Tổng trấnGia Định thành bẩm báo về kinh đô Huế, có lệnh từ kinh đô cho phép tiến cống thì

sứ bộ đi cống mới lên đường về kinh Số lượng người trong sứ bộ Chân Lạp đượcquy định dưới thời Gia Long gồm 1 chánh sứ, 1 phó sứ; cứ tháng 4 tới Gia Định,thành thần ủy người đưa đến kinh, số người đi theo đường bộ 10 người, đường biển 20người

Năm 1816, Chân Lạp dâng biểu xin hằng năm sai sứ sang chầu một lần Vua GiaLong chuẩn y và truyền rằng “Gia Định hằng năm có lệ thường, vận tải đường biểnnhân đó mà hộ tống sứ giả thì trong không mệt mà ngoài không mất lòng trông đợi củangười xa Lệnh cho sứ giả hằng năm đi cùng thuyền chở của Gia Định” [19, tr.936].Nước Chân Lạp chầu hằng năm bắt đầu từ đấy Phẩm vật gồm sừng tê 2 cái, ngà voi

1 cặp, sơn đen 10 ghè, đậu khấu, sa nhân, sáp ong, cánh kiến, trần hoàng đều 50 cân.Tại những địa điểm mà sứ giả Chân Lạp đi qua trên đường tiến cống Đại Việt,triều đình đều chỉ thị cho các địa phương đó cung đốn chu tất Sự cung đốn cho sứ bộChân Lạp không chỉ là lương thực thực phẩm, mà còn có tiền cho các thành viên trong

sứ bộ ngoại giao Chân Lạp

Ngày đăng: 26/04/2016, 10:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Phan Huy Chú (1974), Lịch triều hiến chương loại chí, Bộ Văn hóa Giáo Dục và Thanh Niên xuất bản, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều hiến chương loại chí
Tác giả: Phan Huy Chú
Năm: 1974
4. Lê Quý Đôn (1997), Phủ biên tạp lục, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phủ biên tạp lục
Tác giả: Lê Quý Đôn
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 1997
5. Lê Quý Đôn (1962), Vân Đài Loại Ngữ, NXB Văn Hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vân Đài Loại Ngữ
Tác giả: Lê Quý Đôn
Nhà XB: NXB Văn Hóa
Năm: 1962
6. Trần Văn Giàu (1958), Sự khủng hoảng của chế độ phong kiến nhà Nguyễn trước 1958, NXB Văn hóa cục xuất bản bộ Văn hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự khủng hoảng của chế độ phong kiến nhà Nguyễntrước 1958
Tác giả: Trần Văn Giàu
Nhà XB: NXB Văn hóa cục xuất bản bộ Văn hóa
Năm: 1958
7. Nguyễn Hữu Hiếu (2002), Chúa Nguyễn và các giai thoại mở đất phương Nam, NXB Trẻ, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chúa Nguyễn và các giai thoại mở đất phươngNam
Tác giả: Nguyễn Hữu Hiếu
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 2002
8. Khuyết danh (1993), Đại Việt sử lược, Nguyễn Gia Tường dịch, NXB TP. Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt sử lược
Tác giả: Khuyết danh
Nhà XB: NXB TP. HồChí Minh
Năm: 1993
9. Trần Trọng Kim (2002), Việt Nam sử lược, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam sử lược
Tác giả: Trần Trọng Kim
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
Năm: 2002
10. Ngô Sĩ Liên (1972), Đại Việt sử kí toàn thư (toàn tập), NXB KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt sử kí toàn thư (toàn tập)
Tác giả: Ngô Sĩ Liên
Nhà XB: NXB KHXH
Năm: 1972
11.Phan Ngọc Liên (chủ biên) (1997), Lược sử Đông Nam Á, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lược sử Đông Nam Á
Tác giả: Phan Ngọc Liên (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1997
12. Nguyễn Thế Long (2005), Bang giao Đại Việt - tập 4, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bang giao Đại Việt - tập 4
Tác giả: Nguyễn Thế Long
Nhà XB: NXB Văn hóa thôngtin
Năm: 2005
13. Trường Lưu (1993), Văn hóa người Khơme ở đồng bằng sông Cửu Long, NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa người Khơme ở đồng bằng sông Cửu Long
Tác giả: Trường Lưu
Nhà XB: NXB Văn hóa dân tộc
Năm: 1993
14. Trần Thị Mai (1997), Lịch sử bang giao Việt Nam - Đông Nam Á, Đại học Mở - Bán công TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử bang giao Việt Nam - Đông Nam Á
Tác giả: Trần Thị Mai
Năm: 1997
15. Đỗ Văn Ninh (chủ biên) (2001), Lịch sử Việt Nam từ khởi thủy đến thế kỉ X, Viện sử học, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Việt Nam từ khởi thủy đến thế kỉ X
Tác giả: Đỗ Văn Ninh (chủ biên)
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 2001
16. Lương Ninh (2004), Vương quốc Phù Nam Lịch sử và Văn hóa, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vương quốc Phù Nam Lịch sử và Văn hóa
Tác giả: Lương Ninh
Nhà XB: NXB Văn hóaThông tin
Năm: 2004
17. Lương Ninh (chủ biên) (2005), Lịch sử Việt Nam giản yếu, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Việt Nam giản yếu
Tác giả: Lương Ninh (chủ biên)
Nhà XB: NXB Chính trịquốc gia
Năm: 2005
18. Nguyễn Phan Quang (1971), Lịch sử Việt Nam (1427 - 1858), NXB Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Việt Nam (1427 - 1858)
Tác giả: Nguyễn Phan Quang
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 1971
19. Quốc sử quán triều Nguyễn (2004), Đại Nam thực lục, tập 1, NXB Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Nam thực lục
Tác giả: Quốc sử quán triều Nguyễn
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 2004
20. Quốc sử quán triều Nguyễn (2004), Đại Nam thực lục, tập 2, NXB Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Nam thực lục
Tác giả: Quốc sử quán triều Nguyễn
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 2004
21. Quốc sử quán triều Nguyễn (2004), Đại Nam thực lục, tập 3, NXB Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Nam thực lục
Tác giả: Quốc sử quán triều Nguyễn
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 2004
22. Quốc sử quán triều Nguyễn (2004), Đại Nam thực lục, tập 4, NXB Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Nam thực lục
Tác giả: Quốc sử quán triều Nguyễn
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 2004

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng tóm tắt các sự kiện quan hệ Đại Việt với Chân Lạp đến trước thế kỉ XVI - KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC LỊCH SỬ QUAN HỆ ĐẠI VIỆT CHÂN LẠP TỪ THẾ KỶ XI ĐẾN THẾ KỶ XIX
Bảng t óm tắt các sự kiện quan hệ Đại Việt với Chân Lạp đến trước thế kỉ XVI (Trang 68)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w