1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

mối quan hệ giữa tỷ lệ lạm phát và tính không chắc chắn của tỷ lệ lạm phát tại việt nam

89 352 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 1,85 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, việc tìm ra tác động của tính không chắc chắn trong tỷ lệ lạm phát đến tỷ lệ lạm phát và ngược lại ở Việt Nam vẫn còn ít được đề cập đến, mặc dù đây lại là một vấn đề cần phải

Trang 1

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ HỌC

Người hướng dẫn khoa học: Tiến sĩ Lê Văn Chơn

Thành Phố Hồ Chí Minh, năm 2015

Trang 2

Lạm phát là một hiện tượng kinh tế vĩ mô phổ biến, có ảnh hưởng sâu rộng đến mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội Nước ta kể từ khi tiến hành cải cách nền kinh tế đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng tuy nhiên, bên cạnh đó cũng còn những vấn đề tồn đọng đối với nền kinh tế nước ta mà một trong những vấn đề đó chính là tình trạng lạm phát Chính điều này đã gây ảnh hưởng không nhỏ tới mọi mặt của nền kinh tế Mối quan hệ giữa tỷ lệ lạm phát và tính không chắn chắn của

tỷ lệ lạm phát đã được thế giới quan tâm nghiên cứu từ rất lâu tuy nhiên tại Việt Nam việc tìm ra mối quan hệ giữa hai biến số này vẫn còn ít được đề cập đến Do vậy đây chính là lý do tác giả quyết định chọn đề tài này để nghiên cứu Với chuỗi dữ liệu chỉ số giá tiêu dùng, tốc độ tăng trưởng cung tiền M2 và Giá trị Sản xuất Công nghiệp của Việt Nam so với cùng kỳ năm trước theo tháng từ tháng 01 năm 2003 đến tháng

12 năm 2014 được lấy từ Tổng Cục Thống Kê, đề tài sử dụng mô hình EGARCH (1,1) để kiểm tra mối quan hệ giữa tỷ lệ lạm phát và tính không chắn chắn của tỷ lệ lạm phát ở Việt Nam Kết quả của bài nghiên cứu cho thấy tồn tại mối quan hệ giữa

tỷ lệ lạm phát và tính không chắc chắn của tỷ lệ lạm phát ở Việt Nam giai đoạn

2003-2014 Thứ nhất, tỷ lệ lạm phát càng cao càng làm gia tăng tính không chắc chắn của

tỷ lệ lạm phát Thêm vào đó, tính không chắc chắn của tỷ lệ lạm phát ở Việt Nam không dễ dàng bị triệt tiêu nhanh chóng Thứ hai, tính không chắc chắn của tỷ lệ lạm phát càng cao thì tác động ngược trở lại làm gia tăng tỷ lệ lạm phát trong tương lai

Từ những phân tích trên, tác giả đưa ra một số khuyến nghị chính sách nhằm kiểm soát lạm phát và mức độ không chắc chắn của tỷ lệ lạm phát trong tương lai

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN trang i LỜI CẢM ƠN trang ii TÓM TẮT trang iii MỤC LỤC trang iv DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ HÌNH ẢNH trang vii DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT trang x Chương 1 Giới thiệu trang 1 1.1 Đặt vấn đề và lý do nghiên cứu trang 1 1.2 Mục tiêu nghiên cứu trang 4 1.3 Câu hỏi nghiên cứu trang 4 1.4 Ý nghĩa nghiên cứu trang 4 1.5 Cấu trúc của bài viết trang 5 Chương 2 Cơ sở lý thuyết trang 6 2.1 Lý thuyết về lạm phát trang 6 2.1.1 Khái niệm trang 6 2.1.2 Cách tính trang 7 2.1.3 Tác động của lạm phát trang 9 2.1.4 Nguyên nhân gây ra lạm phát trang 11 2.1.5 Các biện pháp hạn chế lạm phát trang 17 2.2 Khái niệm về các biến giải thích khác trong mô hình trang 20

Trang 4

2.2.2 Giá trị sản xuất Công nghiệp trang 21 2.3 Lý thuyết về tính không chắc chắn của tỷ lệ lạm phát trang 22 2.3.1 Khái niệm và tác động của tính không chắc chắn của tỷ lệ lạm phát trang 22 2.3.2 Phương pháp đo lường trang 24 2.4 Mối quan hệ giữa lạm phát và tính không chắc chắn của tỷ lệ lạm phát trang 25 2.5 Các nghiên cứu trước trang 30 Chương 3 Phương pháp nghiên cứu trang 33 3.1 Quy trình nghiên cứu trang 33 3.2 Phương pháp nghiên cứu trang 35 3.3 Mô hình nghiên cứu và định nghĩa biến trang 35 3.3.1 Lý thuyết về mô hình EGARCH trang 35 3.3.2 Mô hình nghiên cứu trang 37 3.3.3 Định nghĩa biến trang 40 3.4 Dữ liệu nghiên cứu trang 41 3.4.1 Cách lấy dữ liệu trang 41 3.4.2 Mẫu nghiên cứu trang 41 3.4.3 Cách xử lý số liệu trang 42 3.5 Giả thuyết nghiên cứu trang 42 Chương 4 Trình bày kết quả nghiên cứu trang 43

Trang 5

4.2 Phân tích tương quan trang 50 4.3 Trình bày kết quả nghiên cứu trang 51 4.3.1 Kết quả nghiên cứu trang 51 4.3.2 So với các nghiên cứu trước trang 64 Chương 5: Kết luận và khuyến nghị trang 68 5.1 Kết luận trang 68 5.2 Khuyến nghị trang 69 5.3 Giới hạn của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo trang 70 Tài liệu tham khảo trang 72 Phụ lục 1 trang 81 Phụ lục 2 trang 82

Trang 6

Hình 1: Tỷ lệ lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 1996-2013 trang 2 Hình 2: Tỷ lệ nợ xấu tại các tổ chức tín dụng của Việt Nam trang 3 Bảng 1: Hiệu suất sinh lời trên tài sản và doanh thu của Doanh nghiệp

trang 3 Bảng 2: Quyền số sử dụng trong tính chỉ số giá tiêu dùng (2009-2014)

trang 8 Hình 3: Lạm phát và mức độ độc lập của NHTW trang 16 Hình 4: Trò chơi giữa chính phủ và Liên đoàn Lao động trang 16 Hình 5: Giảm lạm phát ngay tức khắc trang 18 Hình 6: Giảm lạm phát dần dần trang 19 Hình 7: Mối quan hệ giữa lạm phát và tính độc lập của NHTW trang 20 Bảng 3: Mối quan hệ giữa lạm phát và tính không chắc chắn của nó trang 28 Hình 8: Khung phân tích trang 29 Hình 9: Quy trình nghiên cứu trang 34 Bảng 4: Các trường hợp trong kiểm định Granger về mối quan hệ nhân quả trang 38 Bảng 5: Tổng hợp đo lường các biến trong mô hình trang 41 Hình 10: Tỷ lệ lạm phát các Quốc gia Đông Nam Á giai đoạn 2000-2013

trang 44 Hình 11: Tỷ lệ lạm phát Việt Nam so với các quốc gia Đông Nam Á năm 2009 trang 45

Trang 7

Hình 13: Chỉ số giá tiêu dùng các tháng trong năm 2011 trang 47 Hình 14: Chỉ số giá tiêu dùng CPI so với cùng kỳ năm trước theo tháng

trang 48 Hình 15: Tốc độ tăng trưởng cung tiền M2 theo tháng trang 48 Hình 16: Giá trị Sản xuất Công nghiệp so với cùng kỳ năm trước theo tháng

trang 49 Bảng 6: Thống kê mô tả các biến trong mô hình trang 49 Bảng 7: Ma trận tương quan các biến độc lập trong mô hình trang 50 Hình 17: Mối quan hệ giữa Cung tiền và Giá trị Sản xuất Công nghiệp

trang 51 Bảng 8: Kiểm định tính dừng của biến CPI trang 52 Bảng 9: Kiểm định tính dừng của biến Cungtien trang 52 Bảng 10: Kiểm định tính dừng của biến GTSXCN trang 52 Bảng 11: Lựa chọn độ trễ tối ưu trong mô hình VAR trang 54 Bảng 12: Kết quả chạy mô hình VAR trang 55 Bảng 13: Kiểm định hiệu ứng Arch ở phần dư trang 56 Bảng 14: Kiểm quả chạy mô hình EGARCH trang 56 Hình 18: Tốc độ tăng trưởng Cung tiền và tăng trưởng GDP hàng năm giai đoạn 2001-2013 trang 59 Hình 19: Ước lượng sản lượng tiềm năng tiếp cận theo phương pháp hàm sản xuất trang 60

Trang 8

Hình 21: Tăng trưởng Cung tiền (M2) giai đoạn 2007-2012 trang 63 Hình 22: Mối quan hệ giữa CPI và GDP trang 64 Bảng 15: So với các nghiên cứu trước trang 65

Trang 9

CPI: Chỉ số giá tiêu dùng

CSTT: Chính sách tiền tệ

DAD: Đường tổng cầu trong ngắn hạn

GDP: Tổng sản phẩm quốc nội

GTSXCN: Giá trị Sản xuất Công nghiệp

IMF: Quỹ tiền tệ quốc tế

MA: Trung bình trượt

NHNN: Ngân hàng nhà nước

NHTW: Ngân hàng Trung ương

NC: Nghiên cứu

PPI: Chỉ số giá sản xuất

SAS: Đường tổng cung trong ngắn hạn

TW: Trung ương

VAR: Vectơ tự hồi quy

Trang 10

CHƯƠNG 01: GIỚI THIỆU 1.1 Đặt vấn đề và lý do nghiên cứu

Lạm phát là một hiện tượng kinh tế vĩ mô phổ biến, có ảnh hưởng sâu rộng đến mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội Sự tác động này bao gồm cả tích cực và tiêu cực, tùy thuộc vào khả năng thích ứng với sự thay đổi của lạm phát và mức độ tiên liệu về lạm phát Đối với nhà sản xuất, tỷ lệ lạm phát cao làm cho giá đầu vào

và đầu ra biến động, gây ra sự mất ổn định trong quá trình sản xuất Đối với lĩnh vực lưu thông, lạm phát thúc đẩy quá trình đầu cơ tích trữ dẫn đến khan hiếm hàng hóa Đối với lĩnh vực tín dụng, lạm phát làm rối loạn hoạt động của hệ thống ngân hàng

Cụ thể là lượng tiền gửi vào ngân hàng sẽ giảm do sự điều chỉnh lãi suất tiền gửi không đủ làm an tâm những người đang có tiền nhàn rỗi, trong khi đó những người

đi vay lại được lợi lớn nhờ vào sự mất giá của đồng tiền Trong điều kiện các nhân

tố khác không đổi, lạm phát xảy ra sẽ làm tăng tỷ giá hối đoái, và do đó tăng cường tính cạnh tranh của hàng xuất khẩu nhưng đồng thời cũng gây bất lợi cho hoạt động nhập khẩu Lạm phát còn gây thiệt hại cho Ngân sách Nhà nước bằng việc bào mòn giá trị thực của những khoản công phí Ngoài ra, tình trạng lạm phát cao kéo dài và không đoán trước được sẽ làm cho nguồn thu Ngân sách Nhà nước giảm sút do sản xuất suy thoái Vì “lạm phát là một căn bệnh mãn tính, những lúc ngớt cơn chỉ là thời kỳ ủ bệnh và khi phát cơn thì như một ngọn lửa bùng” (Maurice Flamant, 1992, trích bởi Nguyễn Minh Sáng và ctg, 2015) nên việc ổn định và kiểm soát lạm phát luôn là một trong những mục tiêu quan trọng hàng đầu trong việc điều hành kinh tế

vĩ mô của mỗi quốc gia

Nước ta kể từ khi tiến hành cải cách nền kinh tế đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng với giá trị tổng sản phẩm trong nước thể hiện xu hướng tăng dần qua từng năm Cụ thể, theo số liệu từ Tổng Cục Thống Kê thì giá trị tổng sản phẩm trong nước tăng từ 41.955 tỷ đồng năm 1990 lên 3.584.262 tỷ đồng vào năm 2013 Tuy nhiên,

Trang 11

bên cạnh đó cũng còn những vấn đề tồn đọng đối với nền kinh tế nước ta mà một trong những vấn đề đó chính là tình trạng lạm phát Cụ thể, theo số liệu của Ngân hàng Thế giới về tỷ lệ lạm phát của Việt Nam giai đoạn từ năm 1996 đến năm 2013 thì tỷ lệ lạm phát của nước ta đạt đỉnh điểm vào năm 2008 với con số là 23,11% Chính điều này đã gây ảnh hưởng không nhỏ tới mọi mặt của nền kinh tế mà trong

số đó là tỷ lệ nợ xấu của các Tổ chức tín dụng, cụ thể theo số liệu từ Ngân hàng Nhà nước thì tỷ lệ nợ xấu của các tổ chức tín dụng đã tăng từ 2,0% vào tháng 12/2007 lên 4,67% vào tháng 04/2013 Thêm vào đó tình hình kinh doanh của Doanh nghiệp cũng gặp không ít khó khăn do bởi mức giá chung của nền kinh tế tăng cao và do vậy mà ảnh hưởng tới sức mua của người tiêu dùng Cụ thể, theo Tổng Cục Thống

Kê (2013a) thì hiệu suất sinh lời trên tài sản và doanh thu của Doanh nghiệp năm

2011 thể hiện xu hướng giảm so với năm 2006

Hình 1: Tỷ lệ lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 1996-2013

(Nguồn Ngân hàng Thế Giới, www.worldbank.org)

Trang 12

Hình 2: Tỷ lệ nợ xấu tại các tổ chức tín dụng của Việt Nam

(Nguồn Ngân hàng Nhà nước, www.sbv.com.vn)

Bảng 1: Hiệu suất sinh lời trên tài sản và doanh thu của Doanh nghiệp

(Nguồn Tổng Cục Thống Kê, 2013)

Mối quan hệ giữa lạm phát và tính không chắc chắn của tỷ lệ lạm phát đã được thế giới quan tâm và nghiên cứu với Okun (1971) là người đầu tiên nêu ra ý tưởng này trong tác phẩm “Inflation and Unemployment” Sau đó, đã có nhiều nghiên cứu tiếp theo nhằm phát triển ý tưởng này của Okun và hiện nay có hai trường phái đối với vấn đề nghiên cứu này Một là, tỷ lệ lạm phát sẽ tác động tới tính không chắc chắn của tỷ lệ lạm phát Cụ thể, trong công trình nghiên cứu của Friedman (1977)

và Ball (1992) hai ông cho rằng tỷ lệ lạm phát càng cao thì sẽ dẫn tới sự gia tăng trong tính không chắc chắn của tỷ lệ lạm phát; tuy nhiên, Pourgerami và Maskus (1987); Ungar và Zilberfarb (1993) lại phản bác ý tưởng này khi cho rằng tỷ lệ lạm

Trang 13

phát càng cao thì càng làm giảm tính không chắc chắn trong tỷ lệ lạm phát Hai là, tính không chắc chắn của tỷ lệ lạm phát sẽ có tác động tới tỷ lệ lạm phát mà đại diện cho trường phái này là công trình nghiên cứu của Cuckierman và Melzel (1986) và Holland (1995)

Trước những tác động của tình hình lạm phát cao đến kinh tế Việt Nam như vậy đã có nhiều nghiên cứu được thực hiện: nhằm tìm ra các yếu tố tác động đến lạm phát ở Việt Nam; các ảnh hưởng của cú sốc trong chính sách đến lạm phát; thời gian

để lạm phát phản ứng lại một chính sách mới; và tác động ngược trở lại của một cú sốc trong lạm phát đến các yếu tố khác Ngoài ra còn có nghiên cứu nhằm tìm ra tỷ

lệ lạm phát tối ưu của Việt Nam và sử dụng mô hình ARIMA để dự báo tỷ lệ lạm phát của Việt Nam Tuy nhiên, việc tìm ra tác động của tính không chắc chắn trong

tỷ lệ lạm phát đến tỷ lệ lạm phát và ngược lại ở Việt Nam vẫn còn ít được đề cập đến, mặc dù đây lại là một vấn đề cần phải xem xét đến của các nhà điều hành chính

sách tiền tệ và tài khóa của nước ta Do vậy, đây là lý do tác giả chọn đề tài “Mối quan hệ giữa tỷ lệ lạm phát và tính không chắc chắn của tỷ lệ lạm phát tại Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu của mình

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là đo lường mối quan hệ giữa tỷ lệ lạm phát ở Việt Nam và tính không chắc chắn của tỷ lệ lạm phát

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

Câu hỏi nghiên cứu của đề tài là có tồn tại mối quan hệ giữa tỷ lệ lạm phát ở Việt Nam và tính không chắc chắn của tỷ lệ lạm phát hay không?

1.4 Ý nghĩa nghiên cứu

Việt Nam chúng ta kể từ khi tiến hành cải cách nền kinh tế cho đến nay đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể trong tăng trưởng và phát triển kinh tế với mức tăng

Trang 14

trưởng GDP bình quân đạt khoảng 6,5%/năm Tuy nhiên, bên cạnh đó vấn đề lạm phát đang trở thành một bài toán nan giải đối với nền kinh tế nước ta trong thời gian gần đây Do vậy, kết quả nghiên cứu của đề tài với việc ước lượng mối quan hệ giữa

tỷ lệ lạm phát và tính không chắc chắn của tỷ lệ lạm phát ở Việt Nam sẽ trở thành một công cụ hữu hiệu đối với các nhà hoạch định chính sách tài khóa và tiền tệ nhằm

ổn định tỷ lệ lạm phát và duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế trong những năm tiếp theo

1.5 Cấu trúc của bài viết

Bài viết được chia thành năm phần Chương 1 giới thiệu vấn đề, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu Chương 2 trình bày cơ sở lý thuyết về lạm phát, tính không chắn chắn của tỷ lệ lạm phát và mối quan hệ giữa tỷ lệ lạm phát và tính không chắc chắn của tỷ lệ lạm phát Chương 3 trình bày phương pháp và nguồn dữ liệu phục vụ cho

đề tài Chương 4 trình bày kết quả nghiên cứu Chương 5 trình bày giải pháp và kiến nghị

Trang 15

CHƯƠNG 02: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Ở chương trước, tác giả đã trình bày những lý do vì sao nghiên cứu đề tài này, mục tiêu, câu hỏi và ý nghĩa nghiên cứu Chương này, tác giả sẽ trình bày những cơ

sở lý thuyết và các nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài

2.1 Lý thuyết về lạm phát

2.1.1 Khái niệm

Vai trò của lạm phát trong nền kinh tế đã trở thành trọng tâm nghiên cứu của các nhà kinh tế học và cũng có rất nhiều tranh cãi cho vấn đề này trong một thời gian dài Có khá nhiều định nghĩa về lạm phát, Vane và Thompson (1979); Bronfenbrenner và Holzman (1965) định nghĩa lạm phát là sự gia tăng mức giá chung, cái mà vì vậy tương đương với một sự sụt giảm liên tục giá trị đồng tiền Flemming (1976) định nghĩa tỷ lệ lạm phát như là một sự thay đổi trong tỷ lệ mức giá chung của nền kinh tế Theo Samuelson (1999) thì lạm phát là hiện tượng khi mà mức giá chung của nền kinh tế tăng lên

Theo David Begg và ctg (2008) thì “Lạm phát là sự gia tăng của mức giá Lạm phát thuần nhất là mức giá của hàng hóa và nhân tố đầu vào tăng theo cùng tỷ lệ Theo Mankiw (1997), lạm phát là một hiện tượng kinh tế mà tại đó mức giá chung của nền kinh tế tăng lên theo thời gian

Theo Friedman (1970) thì “Lạm phát là một hiện tượng tiền tệ tạo nên sự dư cầu về hàng hóa, tức là do lượng tiền trong nền kinh tế quá nhiều để theo đuổi một khối lượng hàng hóa có hạn” “Lạm phát được định nghĩa là sự tăng lên liên tục của mức giá chung hoặc tương đương, lạm phát là sự giảm giá liên tục của giá trị đồng tiền” (Laidler và ctg, 1975)

Trang 16

Theo Nguyễn Như Ý và Trần Thị Bích Dung (2009) thì lạm phát là tình trạng

mà tại đó mức giá chung của nền kinh tế tăng lên trong một khoảng thời gian nhất định

2.1.2 Cách tính

Theo Mankiw (2009) thì hiện nay có hai cách tính thông dụng dùng để tính tỷ

lệ lạm phát đó là chỉ số giá tiêu dùng (CPI) và chỉ số GDP khử lạm phát (GDP Deflator)

Theo Nguyễn Như Ý và ctg (2009) thì “Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) là một chỉ tiêu thống kê phản ánh mức độ biến động qua thời gian về giá cả của các loại hàng hóa và dịch vụ chi tiêu CPI là giá của giỏ hàng hóa và dịch này so với giá của giỏ hàng hóa và dịch vụ như vậy trong một năm cơ sở nào đó.”

Danh mục các mặt hàng đại diện và quyền số chi tiêu cuối cùng để tính chỉ số giá tiêu dùng sẽ được Tổng Cục Thống Kê cập nhật ở các năm 2000, 2005 và tháng

10 năm 2009 Công thức tính chỉ số tiêu dùng ở Việt Nam hiện nay được tính theo công thức Laspeyres cụ thể như sau:

𝐼𝑡→0 = ∑𝑛𝑖=1𝑝𝑖𝑡𝑞𝑖0

∑𝑛𝑖=1𝑝𝑖0𝑞𝑖0 = ∑𝑛𝑖=1𝑤𝑖0(𝑝𝑖𝑡

𝑝𝑖0)Trong đó:

𝐼𝑡→0: Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) kỳ báo cáo t so với kỳ gốc

𝑝𝑖𝑡: giá của mặt hàng i kỳ báo cáo t

𝑝𝑖0: giá của mặt hàng i ở kỳ gốc

𝑞𝑖0: hàng hóa thứ i ở năm gốc

𝑤𝑖0: quyền số cố định năm 2000, 2005 và 2009

Trang 17

Bảng 2 Quyền số sử dụng trong tính chỉ số giá tiêu dùng (2009-2014)

04 IV- Nhà ở, điện nước, chất đốt và VLXD 10,01

Trang 18

Theo Nguyễn Như Ý và ctg (2009) thì chỉ số GDP khử lạm phát cho thấy giá của một đơn vị sản lượng so với giá của nó trong năm cơ sở Theo Mankiw (2009) thì có ba sự khác biệt chính giữa chỉ số giá tiêu dùng và chỉ số GDP khử lạm phát Thứ nhất, trong khi chỉ số giá tiêu dùng phản ánh sự biến động giá qua thời gian của một rổ hàng hóa cố định thì chỉ số GDP khử lạm phát lại cho thấy sự biến động của tất cả hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra trong nền kinh tế Thứ hai, chỉ số GDP khử lạm phát chỉ tính đến những hàng hóa được sản xuất nội địa mà không tính đến những hàng hóa nhập khẩu trong khi chỉ số giá tiêu dùng lại quan tâm đến những hàng hóa này vì chúng được tiêu dùng trong nền kinh tế Cuối cùng, chỉ số giá tiêu dùng được tính toán dựa trên một rổ hàng hóa cố định trong khi chỉ số GDP khử lạm phát lại cho phép rổ hàng hóa thay đổi theo hằng năm như là thành phần của những thay đổi trong GDP

Ngoài ra, theo Nguyễn Thái Thảo Vy (2008) thì bên cạnh hai chỉ số trên thì còn có một chỉ số nữa dùng để đo lường tỷ lệ lạm phát đó là chỉ số giá sản xuất (PPI) – đo lường sự biến động của một nhóm nguyên vật liệu thô quan trọng trong năm hiện hành so với năm gốc Theo Phạm Thế Anh (2011) thì thước đo lạm phát ở Việt Nam hiện nay được tính toán theo sự thay đổi của chỉ số giá tiêu dùng (CPI) Do vậy, bài viết này sử dụng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) như là tiêu chí để đo lường lạm phát ở Việt Nam

Trang 19

trong trường hợp này, không phải là nền kinh tế không chịu tổn thất nào hết mà thực

tế là nó phải gánh chịu “chi phí mòn giày” và “chi phí thực đơn”

Cũng theo M Gärtner (2009), trong trường hợp lạm phát xảy ra đúng như dự đoán, lãi suất danh nghĩa sẽ tăng theo cùng tỷ lệ so với tỷ lệ lạm phát sao cho lãi suất thực không đổi, mà lãi suất chính là chi phí cơ hội của việc giữ tiền Do đó, khi lãi suất danh nghĩa tăng lên, chi phí cơ hội của việc nắm giữ tiền tăng, do vậy mà người dân sẽ tăng cường gửi tiền vào ngân hàng Giả sử bình thường, để thực hiện 1000 giao dịch một tuần người này phải có một lượng tiền mặt nhất định để thực hiện giao dịch Tuy nhiên, do lãi suất danh nghĩa tăng lên, lượng tiền mặt nắm giữ của người này sẽ ít đi do gửi tiền vào ngân hàng, vì vậy mà để thực hiện 1000 giao dịch một tuần như trước đây, người này phải thường xuyên tới ngân hàng để rút tiền Lúc này, người ta nói chi phí mà người này gánh chịu là “chi phí hao mòn giày”, tức là ám chỉ thời gian và nỗ lực của người dân bỏ ra thêm để thực hiện các giao dịch khi nền kinh tế có lạm phát Đồng thời khi lạm phát xảy ra, giá cả hàng hóa dịch vụ tăng lên, người ta phải tốn thêm chi phí để in lại giá cả các hàng hóa dịch vụ; chi phí đó được gọi là “chi phí thực đơn”

Bên cạnh đó, theo Nguyễn Thái Thảo Vy (2008), khi lạm phát xảy ra không đúng như dự đoán, tác động quan trọng nhất là tác động phân phối lại thu nhập giữa các chủ thể trong nền kinh tế Thu nhập của một người tăng lên hay giảm xuống tùy thuộc vào tốc độ tăng của thu nhập danh nghĩa so với tỷ lệ lạm phát Thêm vào đó, theo Choi và ctg (1996), nếu lạm phát tăng cao sẽ làm giảm mức lãi suất thực tế mà người đi vay phải trả cho người cho vay, thậm chí âm Tình huống đó dẫn tới có nhiều người muốn trở thành người đi vay hơn là người tiết kiệm, do đó tạo ra sự mất cân bằng trong thị trường vốn và tín dụng

Ví dụ, nếu bạn có một số tiền, đem gửi có kỳ hạn 1 năm tại ngân hàng với lãi suất 9,25%/năm Nếu tỷ lệ lạm phát của Việt Nam là 6,6%/năm, trong trường hợp

Trang 20

này thu nhập thực của bạn sẽ tăng lên 2,65%/năm Điều này đồng nghĩa với việc bạn

là người có lợi trong khi ngân hàng là người chịu thiệt, tuy nhiên nếu lạm phát của Việt Nam tăng lên 9,5%/năm thì lúc này thu nhập thực của bạn sẽ là -0,25%, tức là bạn là người bị thiệt trong khi ngân hàng là người có lợi

Ngoài ra, cũng theo Nguyễn Thái Thảo Vy (2008) thì khi lạm phát xảy ra không đúng như dự đoán, nó sẽ luôn đặt mọi người vào tình thế không chắc chắn Người ta không biết chắc rằng ngày mai, tháng sau hay năm sau chỉ số CPI, tỷ lệ lạm phát sẽ như thế nào, tăng hay giảm Một khi, không dự đoán được, người dân sẽ

dễ mắc sai lầm trong khi thực hiện các giao dịch, từ đó nguồn lực có thể bị phân bổ một cách không hiệu quả Fischer (1993) cho rằng lạm phát làm sai lệch trong việc phân phối các nguồn tài nguyên do những thay đổi bất lợi đối với giá cả tương quan Khi nền kinh tế xảy ra lạm phát, giá của các hàng hóa thay đổi khác nhau dẫn tới giá tương đối của chúng cũng thay đổi, các quyết định của người tiêu dùng bị biến dạng

và thị trường mất khả năng phân bổ nguồn lực hiệu quả

Đồng thời, nếu ở trong một tình thế không chắc chắn, điều này có nghĩa là người dân sẽ gặp nhiều rủi ro hơn Rủi ro tăng lên có thể làm doanh nghiệp ngại đầu

tư, kết quả là đầu tư sẽ giảm ở một chừng mực nào đó Điều này sẽ làm tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm đi Bên cạnh đó, lạm phát cao còn làm biến dạng thuế (Romer

và ctg, 1996) làm suy giảm động cơ tiết kiệm của các chủ thể trong nền kinh tế mà tiết kiệm lại là một nguồn vốn quan trọng của đầu tư

2.1.4 Nguyên nhân gây ra lạm phát

Hiện nay có hai trường phái chính giải thích về các nhân tố gây ra lạm phát Đầu tiên, đó là cách tiếp cận theo hướng tiền tệ mà đại diện cho nó là Milton Friedman Friedman và Schwartz (1970) người mà viết một cuốn sách có ảnh hưởng tới lịch sử tiền tệ của nước Mỹ, đã phát biểu rằng “Lạm phát luôn luôn và mọi nơi

là một hiện tượng tiền tệ” Các nhà Kinh tế học theo trường phái Cổ điển (David

Trang 21

Hume, Adam Smith, David Ricardo và John Stuart Mill) và Tân Cổ điển (Leon Walras, Afred Marshall và Athur C.Pigou) đều sử dụng Lý thuyết về lượng cung tiền (Quantity theory of money) để giải thích lạm phát (Kibritçioğlu, A, 2002) Cụ thể như sau: ta có đẳng thức MV = PT với M là lượng cung tiền của nền kinh tế, V

là tốc độ vòng quay của tiền, P là mức giá chung của nền kinh tế và T là đại diện số lượng các giao dịch trong nền kinh tế Với giả định là trong ngắn hạn thì V và T là

cố định do vậy mà theo cách giải thích của Lý thuyết về lượng cung tiền thì tỷ lệ lạm phát xảy ra xảy ra là do tình trạng gia tăng cung tiền trong nền kinh tế Tuy nhiên, Milton Friedman cũng dựa trên Lý thuyết về lượng Cung tiền để giải thích về lạm phát của nền kinh tế như sau: lạm phát xảy ra là do tình trạng tốc độ tăng cung tiền tăng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng sản lượng của nền kinh tế (Kibritçioğlu, A, 2002)

Ngoài ra, theo Mishkin (1989) thì một sự gia tăng cung tiền trong nền kinh tế

sẽ dẫn tới sự gia tăng tổng cầu của nền kinh tế điều này dẫn tới sự gia tăng sản lượng,

sự sụt giảm tỷ lệ thất nghiệp về mức dưới tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên trong nền kinh

tế và tiền lương của nền kinh tế sẽ tăng lên Sự gia tăng tiền lương trong nền kinh tế

sẽ dẫn tới sụt giảm cầu về lao động do vậy dẫn tới đường cung dịch sang trái do vậy

mà dẫn tới mức giá chung của nền kinh tế tăng lên

Trong khi Blinder (2002) một người đại diện cho trường phái thứ hai, một nhà Kinh tế học theo trường phái Keynes đã chỉ ra rằng nhân tố chính của lạm phát là tổng cầu của nền kinh tế hơn là cung tiền Theo các nhà Kinh tế học trường phái Keynes thì mức độ tự nhiên của tổng sản phẩm quốc nội là mức độ của GDP mà tại

đó nền kinh tế ở trạng thái toàn dụng Nếu GDP tăng cao hơn mức độ này thì lạm phát sẽ gia tăng do bởi nhà cung cấp sẽ gia tăng mức giá của họ Nếu GDP tăng thấp hơn mức độ này thì lạm phát sẽ giảm do bởi nhà cung cấp sẽ cố gắng lấp đầy sản lượng dư thừa bằng cách giảm giá Đồng thời nếu GDP bằng với GDP tiềm năng thì lúc này tỷ lệ thất nghiệp sẽ bằng với tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên và do vậy mà tỷ lệ

Trang 22

lạm phát trong nền kinh tế sẽ không đổi Keynes tranh cãi rằng tiền tệ không có mối quan hệ ý nghĩa nào với lạm phát nhưng lạm phát lại là kết quả đầu ra của thị trường hàng hóa Tuy nhiên, Pigou (1949) lại phản bác ý tưởng này, khi ông cho rằng lạm phát xảy ra là do tình trạng giá cả của nền kinh tế tăng nhanh hơn thu nhập của người lao động

Thêm vào đó, lạm phát có thể được gây ra bởi sự gia tăng tổng cầu hay tổng cung và điều này dẫn tới hai nguồn gây ra lạm phát là lạm phát cầu kéo và lạm phát chi phí đẩy Theo các nhà Kinh tế học trường phái Keynes cận đại như Gordon (1988), lạm phát cầu kéo sẽ là tình huống khi mà sự thiếu hụt được tạo ra bởi sự gia tăng tổng cầu Lạm phát chi phí đẩy là kết quả được tạo ra từ sự thiếu hụt của nền kinh tế do bởi sự sụt giảm tổng cung, cái mà thường xuyên là nguồn gốc từ việc gia tăng chi phí sản xuất Theo Frish (1990) lạm phát xuất hiện là do có sự dịch chuyển sang phải của đường tổng cầu mà phát sinh từ sự gia tăng nào đó trong tổng chi tiêu

và lạm phát chỉ thực sự xảy ra khi có sự gia tăng giá cả mà không có sự mở rộng của sản lượng và đây gọi là tình trạng lạm phát do cầu kéo Theo Bronfenbrenner (1976) trích bởi Frish (1990) thì lạm phát chi phí đẩy xảy ra khi đường tổng cung dịch sang trái do chi phí sản xuất tăng nhanh hơn năng suất lao động điều này đồng nghĩa với việc tiền lương tăng trước trong khi chưa tăng năng suất lao động hay mức giá chung

Nhà Kinh tế học nổi tiếng nhất mà phê phán trường phái Keynes là Lucas, người mà tranh cãi rằng chính sự kỳ vọng duy lý đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế do bởi nó tác động đến hành vi của các cá nhân trong nền kinh tế Cụ thể, người tiêu dùng sẽ quyết định sản lượng tiêu thụ của mình phụ thuộc vào kỳ vọng thu nhập tương lai của họ và công ty quyết định sẽ đầu tư bao nhiêu tiền dựa trên sự

kỳ vọng vào tương lai Và một sự dịch chuyển nào đó trong kỳ vọng của người tiêu dùng sẽ dẫn tới sự thay đổi trong nhu cầu hàng hóa và do vậy mà có thể dẫn tới sự gia tăng mức giá chung trong nền kinh tế Đồng thời, ông cũng lập luận rằng chính

Trang 23

sự kỳ vọng duy lý sẽ đánh bại chính sách tài khóa và tiền tệ (Lucas, 1976, trích bởi Mohamad Rahimi và ctg, 2009) Cụ thể nếu nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái thì nhà sản xuất sẽ nhanh chóng nhận ra điều này và điều chỉnh hành vi của mình nhằm thu hút khách hàng do vậy mà thị trường sẽ nhanh chóng hồi phục bất chấp có

sự can thiệp của chính phủ hay không Các nhà Kinh tế học theo trường phái hậu Keynes giả định rằng người tiêu dùng và hộ gia đình cũng có sự kỳ vọng duy lý tuy nhiên do bởi tồn tại sự cạnh tranh không hoàn hảo trong việc xác định giá và lương điều này giải thích lý do vì sao giá và lương trở nên cứng nhắc và do vậy mà chúng

sẽ không thể điều chỉnh nhanh chóng theo các điều kiện kinh tế Chính điều này và những sự thất bại thị trường khác trong mô hình hậu Keynes là nguyên nhân giải thích tại sao mà nền kinh tế không chỉ thất bại trong việc đạt được trạng thái toàn dụng lao động mà còn tồn tại tình trạng lạm phát Do vậy mà theo các nhà kinh tế học theo trường phái này thì chính sách ổn định nền kinh tế thông qua chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ sẽ tốt hơn so với sự không can thiệp gì cả

Ngoài ra, theo Samuelson và Solow (1960) trong mô hình đường cong Phillip

𝜋𝑡 = 𝜋𝑡∗ − 𝑏(𝑢𝑡 − 𝑢∗) + 𝜀𝑡 thì tỷ lệ lạm phát phụ thuộc vào ba yếu tố: tỷ lệ lạm phát

kỳ vọng (𝜋𝑡∗), độ lệch của tỷ lệ thấy nghiệp so với tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên ((𝑢𝑡− 𝑢∗)) và các cú sốc cung (𝜀𝑡) Theo Nguyễn Như Ý và ctg (2009) thì “Khi giá

cả hàng hóa cứ tăng lên theo một tỷ lệ khá ổn định trong thời gian dài thì tỷ lệ lạm phát này gọi là tỷ lệ lạm phát ỳ Khi đó nền kinh tế không có những thay đổi lớn nào

về cung cầu hàng hóa Loại lạm phát này là lạm phát dự đoán trước, tỷ lệ lạm phát này sẽ được hoạch toán vào tất cả các hợp đồng của nền kinh tế” Theo Nguyễn Đại Lai (2008) thì nguyên nhân gây ra tình trạng lạm phát trong nền kinh tế là do tình trạng “nhập khẩu” lạm phát từ nước ngoài chuyển vào nền kinh tế một cách bất khả kháng và/hoặc tự phát Cụ thể, theo Nguyễn Thị Thu Hằng ctg (2010), trong quy luật một giá P = SP* (với P là giá trong nước, P* là giá thế giới và S là tỷ giá) thì lạm

Trang 24

phát chịu ảnh hưởng từ giá nhập khẩu cao hơn hay từ sự gia tăng cầu trong nước Theo Vương Thị Thảo Bình (2008) thì khi nhu cầu xuất khẩu hàng hóa tăng thì điều này sẽ ảnh hưởng làm giảm lượng cung hàng hóa trong nước và do vậy trở thành nguyên nhân gây ra tình trạng lạm phát Thêm vào đó, khi nhu cầu xuất khẩu hàng hóa tăng thì dẫn đến sự gia tăng luồng vốn chảy vào trong nước và do vậy sẽ gây ra tình trạng lạm phát đối với những quốc gia theo chế độ tỷ giá hối đoái cố định

Bên cạnh đó, theo M.Gärtner (2009) một nguyên nhân khác gây ra hiện tượng lạm phát chính là mức độ phụ thuộc của ngân hàng trung ương nơi nắm giữ các hoạt động liên quan đến chính sách tiền tệ Các chính phủ luôn luôn muốn nhận được sự ủng hộ cao nhất của dân cư và đường cong bàng quan của chính phủ thể hiện những

sự kết hợp lạm phát và thu nhập mà tại đó chính phủ nhận được cùng một sự ủng hộ của người dân Nếu ngân hàng trung ương độc lập với chính phủ thì họ sẽ kiểm soát cung tiền do lo sợ lạm phát và vì vậy mà lạm phát được kiểm soát một cách ổn định Tuy nhiên nếu ngân hàng trung ương phụ thuộc chính phủ thì họ sẽ tìm mọi cách gia tăng tổng cầu để chính phủ nhận được sự ủng hộ của người dân do đó mà lạm phát

sẽ gia tăng Chúng ta có thể hình dung điều này thông qua trò chơi như sau: Đây là trò chơi giữa chính phủ và tổ chức công đoàn Chính phủ luôn luôn muốn có được

số phiếu bầu cao nhất còn các tổ chức công đoàn luôn luôn muốn tăng lương Tuy nhiên ở trò chơi này các tổ chức công đoàn sẽ là những người chơi trước vì họ với sức mạnh sẽ tổ chức các cuộc bãi công, đình công và buộc chính phủ phải là người chơi theo trò chơi của họ Nếu chính phủ không tăng lương cho công nhân thì họ chỉ nhận được 38% phiếu bầu còn nếu thực hiện thì họ nhận được 42% Do vậy họ sẽ chấp nhận yêu sách đó do đó mà sản lượng không đổi mà lạm phát thì tăng lên

Trang 25

Hình 3: Lạm phát và mức độ độc lập của NHTW

(Nguồn M.Gärtner, 2009)

Hình 4: Trò chơi giữa chính phủ và Liên đoàn Lao động

(Nguồn M.Gärtner, 2009)

Trang 26

Qua những phân tích trên cho thấy có khá nhiều lý thuyết giải thích về các nhân tố gây ra lạm phát Tuy nhiên, ở góc độ bài viết này, tác giả giải thích về lạm phát theo hướng hướng tiền tệ và trường phái Keynes Do vậy, các biến mà tác giả

sử dụng trong bài nghiên cứu này bao gồm biến tỷ lệ lạm phát, tốc độ tăng trưởng cung tiền M2 và Giá trị sản xuất công nghiệp

2.1.5 Các biện pháp hạn chế lạm phát

Phần trước tác giả đã trình bày nguyên nhân gây ra lạm phát, với những nguyên nhân như vậy thì giải pháp nào để kiểm soát lạm phát trong nền kinh tế Giải pháp đầu tiên, đó chính là giảm tổng cầu trong nền kinh tế và để thực hiện chuyện này theo M.Gärtner (2009) thì có hai cách như sau:

Cách đầu tiên đó là giảm ngay tức thì, chẳn hạn để giảm lạm phát từ 9% xuống còn 3%, chính phủ thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ điều này làm cho đường DAD dịch xuống dưới thành DAD1 kết quả là lạm phát giảm từ 9% xuống còn 3%

và sản lượng giảm từ 100 xuống còn 94

Cách thứ hai đó là giảm dần dần, chẳng hạn để đạt mục tiêu như trên thì lúc này cách thực hiện sẽ bao gồm ba giai đoạn Giai đoạn 1 giảm từ 9% xuống còn 7%: chính phủ thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ điều này làm cho đường DAD dịch xuống dưới thành DAD1 kết quả là lạm phát giảm từ 9% xuống còn 7% và sản lượng

từ 100 giảm thành 98 Giai đoạn 2 giảm từ 7% xuống còn 5%: khi lạm phát giảm thì điều này làm cho người lao động sẵn sàng chấp nhận việc giảm tiền lương và do đó chi phí sản xuất của doanh nghiệp giảm và điều này làm cho doanh nghiệp tăng cường mở rộng sản xuất và làm cho đường SAS dịch sang phải thành SAS2 Đồng thời chính phủ thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ điều này làm cho đường DAD1

dịch xuống dưới thành DAD2 kết quả là lạm phát giảm từ 7% xuống còn 5% Giai đoạn 3 giảm từ 5% xuống còn 3%: khi lạm phát giảm thì điều này làm cho người lao động sẵn sàng chấp nhận việc giảm tiền lương và do đó chi phí sản xuất của doanh

Trang 27

nghiệp tiếp tục giảm và điều này lại làm cho doanh nghiệp tăng cường mở rộng sản xuất và làm cho đường SAS dịch sang phải thành SAS3 Đồng thời chính phủ thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ điều này làm cho đường DAD2 dịch xuống dưới thành DAD3 kết quả là lạm phát giảm từ 5% xuống còn 3% và sản lượng vẫn giữ nguyên là 98

Hình 5: Giảm lạm phát ngay tức khắc

(Nguồn M.Gärtner, 2009)

Trang 28

Hình 6: Giảm lạm phát dần dần

(Nguồn M.Gärtner, 2009)

Ngoài ra, theo Nguyễn Thái Thảo Vy (2008) ta có thể thực hiện các chính sách nhằm làm gia tăng tổng cung để kiểm soát lạm phát Việc này có thể thực hiện thông qua việc cắt giảm lương hay các biện pháp khuyến khích doanh nghiệp áp dụng công nghệ mới nhằm cắt giảm chi phí và tăng sản lượng, điều này sẽ làm tổng cung của nền kinh tế tăng lên và kết quả là lạm phát giảm xuống và đồng thời sản lượng của nền kinh tế tăng lên Bên cạnh đó, theo M.Gärtner (2009) thì một giải pháp khác đó là tăng cường tính độc lập của NHTW nhằm kiểm soát cung tiền và từ

đó kiểm soát lạm phát của nền kinh tế Chúng ta có thể thấy điều này thông qua hình

vẽ bên dưới, cụ thể nước Mỹ với mức độ độc lập của NHTW cao hơn Anh và do vậy

mà tỷ lệ lạm phát của Mỹ thấp hơn so với Anh rất nhiều

Trang 29

Hình 7: Mối quan hệ giữa lạm phát và tính độc lập của NHTW

(Nguồn M.Gärtner, 2009)

2.2 Khái niệm về các biến giải thích khác trong mô hình

2.2.1 Cung tiền

Theo Mankiw (2009) thì tiền là tất cả các hàng hóa mà có thể được sử dụng

để giao dịch trong nền kinh tế Theo Samuelson và ctg (1999) định nghĩa “tiền là vật chấp nhận như là một phương tiện trung gian để trao đổi hay còn gọi là phương tiện thanh toán” Theo Davig Begg và ctg (2011) thì tiền là một phương tiện bất kỳ được chấp nhận chung để thanh toán cho việc mua hàng hoặc trả nợ

Cũng theo Mankiw (2009) thì Cung tiền là tổng trữ lượng của tất cả các hàng hóa sẵn có trong nền kinh tế mà có thể được sử dụng để giao dịch Theo Theo Đỗ Thị Anh Thư (2014) định nghĩa “Cung tiền thể hiện tổng lượng tiền sẵn có trong nền kinh tế tại thời điểm cụ thể, có thể bao gồm ngoại tệ trong lưu thông và tiền gửi tiết kiệm của các tổ chức tài chính Cung tiền được đo lường bằng nhiều cách khác nhau

và cách phân loại này còn phụ thuộc vào mỗi quốc gia M0 và M1 được gọi là tiền theo nghĩa hẹp thông thường bao gồm tiền mặt trong lưu thông và các khoản tương

Trang 30

đương tiền có thể chuyển thành tiền mặt” Theo Nguyễn Như Ý và ctg (2009) thì cung tiền M2 được gọi là tiền rộng được đo lường bằng cung tiền M1 cộng với tiền gửi tiết kiệm tại ngân hàng trong ngắn hạn Ngoài ra, khối tiền tệ còn được định nghĩa rộng hơn nữa thông qua M3, M4…Tuy nhiên trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng tiền rộng M2 làm biến độc lập trong mô hình nghiên cứu

2.2.2 Giá trị sản xuất Công nghiệp

Theo Tổng Cục Thống Kê (2013b) thì “Giá trị sản xuất ngành công nghiệp là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh kết quả sản xuất kinh doanh của ngành công nghiệp được sản xuất ra trong một thời kỳ nhất định, là cơ sở để đánh giá tình hình phát triển công nghiệp của cả nước cũng như của từng vùng, miền, địa phương; phục vụ việc đề ra các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển công nghiệp cho từng thời kỳ Giá trị sản xuất công nghiệp bao gồm giá trị của các ngành công nghiệp khai thác mỏ; công nghiệp chế biến; sản xuất và phân phối điện, khí đốt và nước, bao gồm: (1) Doanh thu công nghiệp (doanh thu bán sản phẩm, dịch vụ công nghiệp, bán phế liệu, phế phẩm và doanh thu cho thuê máy móc, thiết bị có kèm theo người điều khiển); (2) Chênh lệch cuối kỳ, đầu kỳ thành phẩm tồn kho, hàng gửi bán, sản phẩm dở dang Giá trị sản xuất công nghiệp bao gồm Giá trị sản xuất công nghiệp theo giá thực tế

và theo giá so sánh Trong đó, Giá trị sản xuất công nghiệp theo giá thực tế là toàn

bộ giá trị sản phẩm do hoạt động sản xuất công nghiệp tạo ra tính theo giá tại thời

kỳ tính giá trị sản xuất Trong khi, Giá trị sản xuất theo giá so sánh có nội dung tương

tự như giá trị sản xuất theo giá thực tế, nhưng được tính trên cơ sở cố định giá của người sản xuất để làm gốc so sánh”

Cũng theo Tổng Cục Thống Kê (2013b) thì “chỉ tiêu đánh giá tốc độ phát triển sản xuất ngành công nghiệp được tính hàng tháng, quí, năm Chỉ số được tính dựa trên khối lượng sản phẩm sản xuất, nên còn được gọi là “chỉ số khối lượng sản phẩm công nghiệp”; là một chỉ tiêu quan trọng phản ánh nhanh tình hình phát triển toàn

Trang 31

ngành công nghiệp nói chung và tốc độ phát triển của từng sản phẩm, nhóm ngành sản phẩm nói riêng; đáp ứng nhu cầu thông tin của các cơ quan quản lý Nhà nước, các nhà đầu tư và các đối tượng dùng tin khác Chỉ số sản xuất công nghiệp có thể tính với nhiều kỳ gốc khác nhau tuỳ thuộc vào mục đích nghiên cứu Ở nước ta hiện nay thường chọn kỳ gốc so sánh là cùng kỳ năm trước và kỳ trước liền kề; ít sử dụng gốc so sánh là một tháng cố định của một năm nào đó” Do vậy bài nghiên cứu này, tác giả sử dụng chỉ số sản xuất công nghiệp so với cùng kỳ năm trước làm biến độc lập trong mô hình nghiên cứu

2.3 Lý thuyết về tính không chắc chắn của tỷ lệ lạm phát

2.3.1 Khái niệm và tác động của tính không chắc chắn của tỷ lệ lạm phát

Tính không chắc chắn về tỷ lệ lạm phát trong tương lai là một trong những chi phí quan trọng của tỷ lệ lạm phát, do bởi nó bao phủ quá trình ra quyết định của các nhà kinh tế Theo Grier và Perry (1998) thì tính không chắc chắn của biến kinh

tế nào đó được định nghĩa là sự biến động của phần không thể dự đoán được của nó, trong đó bao gồm phần có thể và không thể dự đoán được Evans và Watchel (1993) tranh cãi rằng có hai nguồn của tính không chắc chắn của tỷ lệ lạm phát đó là “regime uncertainty” và “certainty equivalence” Hãy xét sự phân loại thứ nhất, tỷ lệ lạm phát trong tương lai có thể không chắc chắn vì người đại diện không chắc về tính chất của khung chính sách hiện tại hay là khung chính sách trong tương lai, nếu ở đây có một khả năng là khung chính sách sẽ thay đổi Thậm chí nếu như người đại diện có thông tin về khung chính sách hiện tại (certainty equivalence), sẽ vẫn có sự không chắc chắn về cấu trúc của tiến trình lạm phát trong tương lai Sự phân tách này dẫn tới hai giả định quan trọng: tính không chắc chắn của tỷ lệ lạm phát sẽ thay đổi theo thời gian ở từng quốc gia do bởi người đại diện sử dụng thông tin mới để cập nhật khái niệm của họ về khung chính sách hiện tại Điều này đồng nghĩa rằng mức độ không chắc chắn trong thời kỳ chuyển giao đến sự ổn định giá sẽ khác so với mức

Trang 32

độ không chắc chắn ở khung chính sách ổn định giá Thêm vào đó, một giả định khác là sự khác biệt quốc tế về mức độ của tính không chắc chắn sẽ dẫn tới sự khác nhau ở khung chính sách tiền tệ (Crawford và Kasumovich, 1996)

Ngoài ra, theo Golob (1994) thì tính không chắc chắn của lạm phát là trạng thái mà tại đó ta không biết trước diễn biến tương lai của lạm phát là như thế nào

Và sự không chắc chắn này sẽ ảnh hưởng xấu tới hành vi tiêu dùng của người dân trong nền kinh tế, hành vi của doanh nghiệp, lãi suất của Ngân hàng và vì thế mà tác động tới sản lượng của nền kinh tế Tính không chắc chắn của tỷ lệ lạm phát (inflation uncertainty) được định nghĩa là “một tình huống trong đó giá cả trong tương lai là không thể đoán trước và công chúng không biết liệu lạm phát sẽ tăng hay giảm trong tương lai” (Asghar và ctg, 2011)

Tính không chắc chắn của tỷ lệ lạm phát sẽ dẫn tới hai tác động đó là tác động

“ex ante” và “ex post” mà tại đó làm cho các nhà đại diện kinh tế đưa ra quyết định khác so với cái mà họ mong muốn Ở tác động đầu tiên thì tính không chắn chắn của

tỷ lệ lạm phát có thể có tác động bất lợi lên sự tiên liệu của nền kinh tế do bởi nó tác động thị trường tài chính bằng cách làm gia tăng lãi suất dài hạn do vậy mà làm giảm hoạt động đầu tư (Golob, 1993, được trích từ Hakan Berument và ctg, 2009) Vì vậy nhà đầu tư sẽ cảm thấy khó khăn hơn để đưa ra một quyết định chắc chắn trong việc đầu tư những công cụ tài chính dài hạn Boyd và ctg (2001) cho rằng tỷ lệ lạm phát càng cao thì có thể làm suy yếu chức năng hiệu quả của thị trường tài chính, thậm chí ở quốc gia có tỷ lệ lạm phát thấp và trung bình The “ex post effect” thì ngược lại diễn ra khi mà tỷ lệ lạm phát khác so với mong đợi, điều này sẽ dẫn tới tình trạng chuyển nhượng tài sản khi mà các khoản chi trả trong hợp đồng đều được định nghĩa theo con số danh nghĩa

Trang 33

2.3.2 Phương pháp đo lường

Nhằm tìm ra mối quan hệ giữa tỷ lệ lạm phát và tính không chắc chắn của tỷ

lệ lạm phát thì việc đo lường tính không chắc chắn của tỷ lệ lạm phát là một việc làm cần thiết Do bởi việc đo lường mức độ không chắc chắn của tỷ lệ lạm phát là mục tiêu và có sự giới hạn về lượng thông tin về mức độ kỳ vọng lạm phát trong dài hạn vì vậy mà những biến đại diện sẽ được sử dụng Những nghiên cứu trước đây

sử dụng chỉ tiêu thống kê đó là phương sai của tỷ lệ lạm phát trung bình trong dài hạn như là một biến đại diện cho tính không chắc chắn của tỷ lệ lạm phát (Fischer,

1981, được trích từ Hakan Berument và ctg, 2009) Những chỉ trích dành cho phương pháp này là rằng sự biến động càng cao thì không cần thiết ám chỉ tính không chắc chắn càng cao mà đây sẽ là tình huống mà chỉ khi các nhà đại diện không sở hữu thông tin thích hợp để tiên đoán một phần của việc gia tăng mức độ biến động Một phương pháp đo lường thay thế sẽ là sự phân tán trong dự báo tỷ lệ lạm phát trong dài hạn từ cuộc khảo sát của các nhà dự báo, kinh doanh hay hộ gia đình (Johnson, 2002) Tính hợp pháp của phương pháp này bị suy yếu do bởi thực tế rằng họ không thể kiểm soát được mức độ không chắc chắn của từng nhà dự báo cá nhân (Grier và Perry, 2000) Tuy nhiên, Zarnowitz và Lambros (1987) chú ý rằng có một mối liên

hệ cùng chiều giữa mức độ phân tán của dự báo tỷ lệ lạm phát thông qua việc khảo sát các nhóm khách hàng và mức độ không chắc chắn của từng dự báo cá nhân

Với sự phát triển của công cụ kinh tế lượng, mức độ không chắc chắn của tỷ

lệ lạm phát có thể được ủy nhiệm bằng việc ước lượng phương sai có điều kiện từ

mô hình GARCH của tỷ lệ lạm phát nhằm ước lượng mô hình của phương sai của phần không thể tiên đoán được của tỷ lệ lạm phát, hơn là chỉ đơn giản tính toán mức

độ biến động từ những kết quả trong quá khứ hay là những tranh cãi về việc dự báo của từng cá nhân Một ưu điểm của mô hình GARCH là nó đề nghị sự kiểm định trực tiếp về ý nghĩa thống kê của sự thay đổi theo thời gian của phương sai có điều

Trang 34

kiện trong khi hai phương pháp kia thì không có (Evans, 1991) Tuy nhiên, nhược điểm chính của mô hình GARCH là rằng mô hình sự biến động có điều kiện của mô hình GARCH loại trừ sự tồn tại của cấu trúc không ổn định do bởi sự thay đổi trong khung chính sách Mặc dù, nó đo lường phương sai có điều kiện của sự biến động, nhưng sự biến động không điều kiện thì vẫn cố định Hơn thế nữa, chúng mô hình hàng loạt tỷ lệ lạm phát bao gồm thành tố tạm thời và vĩnh viễn Tuy nhiên sự tách rời của những loại này mà được đề nghị bởi Ball và Cecchettti (1990) cho phép tác giả có thể nghiên cứu tác động của tính không chắc chắn của tỷ lệ lạm phát lên từng thành tố

Trong những năm gần đây, mô hình về sự biến động ngẫu nhiên đã trở thành một sự thay thế cạnh tranh đối với mô hình GARCH, mặc dù những ứng dụng về mặt lý thuyết của nó bị giới hạn Những nghiên cứu trước đây chủ yếu sử dụng phương pháp tĩnh, cụ thể trong phương trình phương sai sẽ không chứa đựng sự thay đổi và mức độ biến động sẽ thay đổi một cách xác định Tuy nhiên những cú sốc trong sự biến động có thể dẫn đến tác động động của những biến kinh tế khác do vậy bắt buộc phải có một mô hình kinh tế động, và mô hình SV cho phép phương sai là những biến ngẫu nhiên và sự biến động sẽ thay đổi một cách ngẫu nhiên hơn là được xác định trước Mô hình GARCH chỉ cho phép một sai số đơn trong khi mô hình SV cho phép sai số kép, nghĩa là mô hình SV là mô hình thích hợp để dự báo (Kim và ctg, 1998) Một lợi điểm khác là nó cho phép nhà nghiên cứu đánh giá rõ hơn mức

độ tác động của tính không chắc chắn của tỷ lệ lạm phát lên tỷ lệ lạm phát như thế nào

2.4 Mối quan hệ giữa lạm phát và tính không chắc chắn của tỷ lệ lạm phát

Okun (1971) là người đầu tiên đưa ra ý tưởng về mối quan hệ giữa tỷ lệ lạm phát và tính không chắc chắn của tỷ lệ lạm phát, cụ thể trong nghiên cứu của mình

ở 17 nước thuộc khối OECD ông đã tìm ra mối quan hệ nhân quả giữa lạm phát và

Trang 35

tính không chắc chắn của tỷ lệ lạm phát trong đó sự gia tăng mức độ lạm phát chính

là nguyên nhân làm gia tăng mức độ không chắc chắn trong tỷ lệ lạm phát ở tương lai Ý tưởng này sau đó đã được phát triển và hoàn thiện bởi Friedman (1977) Trong tác phẩm đạt giải Nobel năm 1976 mang tên “Inflation and Unemplyment” của mình, bên cạnh việc chỉ trích về mối quan hệ đường cong Phillip giữa lạm phát và thất nghiệp, ông đã chỉ ra rằng lạm phát càng cao thì càng làm gia tăng mức độ không chắc chắn và do đó mà ảnh hưởng tới các hoạt động kinh tế Mối quan hệ này có thể được giải thích như sau: Khi lạm phát trong nền kinh tế gia tăng điều này sẽ tạo áp lực thực hiện chính sách nhằm làm giảm lạm phát, tuy nhiên việc thực thi chính sách này chỉ là miễn cưỡng vì nếu thực hiện nó sẽ gây ra suy thoái trong nền kinh tế Vì vậy, phụ thuộc vào mức độ bảo thủ của những người đưa ra chính sách tiền tệ mà các chính sách của họ có thể không nhất quán, thêm vào đó mức độ hiệu quả của các chính sách này cũng còn là một dấu hỏi do đó mà tạo ra sự không chắc chắn đối với

tỷ lệ lạm phát trong tương lai

Ball (1992) đã bổ sung phát triển cho ý tưởng này trong một trò chơi phản hồi thông tin bất cân xứng, nơi mà các nhà hoạch định chính sách công đối diện với sự không chắc chắn trong chính sách tiền tệ trong thời kỳ lạm phát cao Trong nghiên cứu của mình, ông đã chỉ ra được có hai dạng những nhà hoạch định chính sách, một

là những người cực kỳ bảo thủ luôn luôn muốn giữ một tỷ lệ lạm phát thấp trong nền kinh tế Hai là những người làm chính sách theo đường lối cởi mở, tức là họ quan tâm đến cả vấn đề lạm phát và thất nghiệp Với giả định là hai dạng nhà hoạch định chính sách này diễn ra một cách ngẫu nhiên, Ball đã chứng minh rằng sự gia tăng trong tỷ lệ lạm phát sẽ càng làm gia tăng mức độ không chắc chắn về tỷ lệ lạm phát trong tương lai

Giả thuyết Friedman-Ball nhanh chóng trở nên thông dụng và nhận được sự quan tâm của các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển Tuy nhiên, giả

Trang 36

thuyết này chưa tìm ra được mối quan hệ giữa một tỷ lệ lạm phát thấp và tính không chắc chắn của tỷ lệ lạm phát Đồng thời, trong công trình nghiên cứu của Pourgerami

và Maskus (1987); Ungar và Zilberfarb (1993) đã tìm ra mối quan hệ nghịch biến giữa hai yếu tố trên, hai ông cho rằng trong một môi trường khi mà tỷ lệ lạm phát đang gia tăng thì người ta sẽ dùng nhiều nguồn lực để đầu tư cho việc dự báo tỷ lệ lạm phát tức là sẽ làm giảm mức độ không chắc chắn về tỷ lệ lạm phát trong tương lai

Cuckierman và Melzel (1986) đã sử dụng mô hình Barro - Gordon về hàng vi ứng xử của Ngân hàng Trung ương (Barro-Gordon, 1983) và đi đến kết luận rằng mức độ không chắn chắn trong tỷ lệ lạm phát tương lai càng gia tăng thì sẽ dẫn đến một tỷ lệ lạm phát cao hơn Mô hình này được giải thích trong bối cảnh kinh tế chính trị, cụ thể, sự mất ổn định trong chính trị có thể sẽ tạo ra một sự không rõ ràng trong việc thực thi chính sách tiền tệ Khi mà môi trường chính trị không ổn định, các nhà thực thi chính sách tiền tệ sẽ thực thi chính sách lạm phát bất ngờ để kích thích phát triển kinh tế Tuy nhiên, Holland (1995) lại phản đối về điều này Ông lập luận rằng, nếu mức độ không chắc chắn trong tỷ lệ lạm phát tương lai gia tăng dẫn đến sự gia tăng tỷ lệ lạm phát trong nước thì Ngân hàng TW sẽ tìm mọi cách giảm thiểu sự tổn thất này bằng cách cố gắng phá vỡ mức độ không chắc chắn này thông qua thực hiện chính sách cắt giảm cung tiền thay vì mở rộng nó Do đó mà, chúng có mối quan hệ nghịch biến với nhau

Trang 37

Bảng 3: Mối quan hệ giữa lạm phát và tính không chắc chắn của tỷ lệ lạm

phát Mối quan hệ giữa lạm phát và tính

không chắc chắn của nó

Dấu kỳ vọng

Giả thuyết 1: Tỷ lệ lạm phát cao thì sẽ

dẫn đến sự gia tăng mức độ không

Giả thuyết 2: Sự gia tăng mức độ

(Nguồn Tổng hợp từ tác giả)

Trang 38

CSTT trong tương lai

trở nên không dự đoán

được

Hiệu quả của CSTT

vẫn là dấu chấm hỏi

Tính không chắc chắn của tỷ lệ lạm phát ↑

NHTW có tính “cơ hội” tận dụng tính không chắc chắn của

tỷ lệ lạm phát này để tạo nên sự bất ngời về lạm phát (inflation surprise) – CSTT mở rộng – để kích thích tăng trưởng kinh tế

NHTW có tính

“bình ổn” giảm thiểu thiệt hại

do tính không chắc chắn của

tỷ lệ lạm phát gây ra bằng cách thực hiện CSTT thắt chặt

Trang 39

2.5 Các nghiên cứu trước

Fountas, Ioannidis và Karanasos (2004) sử dụng mô hình E-Garch để ước lượng mức độ không chắc chắn trong tỷ lệ lạm phát tương lai của sáu quốc gia thuộc khối EU và đồng thời họ tìm ra một chứng cứ mạnh ủng hộ giả thuyết của Friedman – Ball

Karanasos và ctg (2004) đã sử dụng mô hình Garch trên dữ liệu của nước Mỹ Kết quả là ủng hộ giả thuyết của Cuckierman và Melzel Fountas và ctg (2006) cũng

sử dụng mô hình GARCH đã tìm thấy sự ủng hộ giả thuyết Friedman-Ball cho các quốc gia thuộc khối G7 Ngoại trừ nước Anh nơi mà giả thuyết của Ungar và Zilberfarb (1993) được chấp nhận

Caporale, Onorante và Paesani (2010) đã sử dụng mô hình Garch cho các quốc gia thuộc khối Euro Kết quả nghiên cứu là ủng hộ giả thuyết của Friedman-Ball

Thornton (2008) sử dụng chuỗi dữ liệu thời gian kết hợp với mô hình Garch (1,1) và kiểm định Granger về mối quan hệ nhân quả để phân tích mối quan hệ giữa lạm phát và tính không chắc chắn của nó ở Rumani Kết quả là ủng hộ giả thuyết của Friedman

Keskek và Orhan (2010) sử dụng chuỗi dữ liệu thời gian giai đoạn từ 1984 đến 2005 kết hợp với phương pháp Garch-M, T-Garch, E-Garch và kiểm định Granger về mối quan hệ nhân quả để phân tích mối quan hệ giữa lạm phát và mức

độ không chắc chắn của nó ở Thỗ Nhĩ Kỳ Kết quả là ủng hộ giả thuyết của Holland

Dahmardeh Nazar và ctg (2010) sử dụng chuỗi dữ liệu thời gian giai đoạn từ

1959 đến 2009 kết hợp với E Garch và kiểm định Granger về mối quan hệ nhân quả

để phân tích mối quan hệ giữa lạm phát và mức độ không chắc chắn của nó ở Iran Kết quả là ủng hộ giả thuyết của Friedman-Ball

Trang 40

Sajid Amin Javed và ctg (2013) sử dụng chuỗi dữ liệu chuỗi thời gian kết hợp với mô hình Garch và kiểm định Granger về mối quan hệ nhân quả để phân tích mối quan hệ giữa hai biến trên ở Pakistan Kết quả là ủng hộ giả thuyết Friedman-Ball

Eric Fosu Oteng-Abayie và ctg (2013) sử dụng chuỗi thời gian kết hợp với

mô hình Garch và kiểm định Granger về mối quan hệ nhân quả để phân tích mối quan hệ giữa lạm phát và tính không chắc chắn của lạm phát ở tương lai ở Ghana Kết quả là ủng hộ giả thuyết của Cuckierman và Melzel

Izz Eddien N Ananzeh (2014) và ctg sử dụng chuỗi dữ liệu thời gian kết hợp với mô hình Garch và kiểm định Granger về mối quan hệ nhân quả để phân tích mối quan hệ giữa lạm phát và mức độ không chắc chắn của nó ở Pakistan Kết quả là ủng

hộ cả giả thuyết Friedman – Ball và giả thuyết của Cuckierman và Melzel

Nguyễn Văn Dũng (2010) sử dụng mô hình GARCH(1,1), TARCH(1,1), PARCH(1,1), EGARCH(1,1) để kiểm tra mối quan hệ giữa tỷ lệ lạm phát và tính không chắc chắn của tỷ lệ lạm phát Việt Nam giai đoạn 1995-2010 Kết quả là ủng

hộ cả giả thuyết Friedman-Ball và giả thuyết của Cuckierman và Melzel

Nguyễn Thị Liên Hoa và ctg (2013) sử dụng mô hình SVAR để phân tích các yếu tố tác động đến lạm phát ở Việt Nam; ảnh hưởng của cú sốc trong chính sách đến lạm phát; thời gian để lạm phát phản ứng lại một chính sách mới; và tác động ngược trở lại của một cú sốc trong lạm phát đến các yếu tố khác với chuỗi dữ liệu thời gian về tỷ lệ lạm phát Việt Nam và các yếu tố khác giai đoạn 2006-2011 Kết quủa cho thấy tỷ lệ lạm phát ở Việt Nam có nguồn gốc chủ yếu từ khu vực trong nước, bị tác động bởi yếu tố chi phí đẩy nhiều hơn là yếu tố cầu kéo Chính sách tiền

tệ trong nước có ảnh hưởng đáng kể đến lạm phát, đặc biệt là cung tiền M2 Tuy nhiên, tác động của cung tiền đến lạm phát trong nước có một độ trễ nhất định (khoảng 6 tháng) Tỷ giá có tác động đến lạm phát trong nước nhưng mức tác động không nhiều và chủ yếu thể hiện vai trò kênh truyền dẫn Bên cạnh đó, bài nghiên

Ngày đăng: 26/04/2016, 07:45

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Hiệu suất sinh lời trên tài sản và doanh thu của Doanh nghiệp - mối quan hệ giữa tỷ lệ lạm phát và tính không chắc chắn của tỷ lệ lạm phát tại việt nam
Bảng 1 Hiệu suất sinh lời trên tài sản và doanh thu của Doanh nghiệp (Trang 12)
Hình 3: Lạm phát và mức độ độc lập của NHTW - mối quan hệ giữa tỷ lệ lạm phát và tính không chắc chắn của tỷ lệ lạm phát tại việt nam
Hình 3 Lạm phát và mức độ độc lập của NHTW (Trang 25)
Hình 5: Giảm lạm phát ngay tức khắc - mối quan hệ giữa tỷ lệ lạm phát và tính không chắc chắn của tỷ lệ lạm phát tại việt nam
Hình 5 Giảm lạm phát ngay tức khắc (Trang 27)
Hình 6: Giảm lạm phát dần dần - mối quan hệ giữa tỷ lệ lạm phát và tính không chắc chắn của tỷ lệ lạm phát tại việt nam
Hình 6 Giảm lạm phát dần dần (Trang 28)
Hình 7: Mối quan hệ giữa lạm phát và tính độc lập của NHTW - mối quan hệ giữa tỷ lệ lạm phát và tính không chắc chắn của tỷ lệ lạm phát tại việt nam
Hình 7 Mối quan hệ giữa lạm phát và tính độc lập của NHTW (Trang 29)
Hình 8: Khung phân tích - mối quan hệ giữa tỷ lệ lạm phát và tính không chắc chắn của tỷ lệ lạm phát tại việt nam
Hình 8 Khung phân tích (Trang 38)
Hình 9: Quy trình nghiên cứu - mối quan hệ giữa tỷ lệ lạm phát và tính không chắc chắn của tỷ lệ lạm phát tại việt nam
Hình 9 Quy trình nghiên cứu (Trang 43)
Hình 12: Chỉ số giá tiêu dùng năm 2010 phân theo nhóm hàng hóa - mối quan hệ giữa tỷ lệ lạm phát và tính không chắc chắn của tỷ lệ lạm phát tại việt nam
Hình 12 Chỉ số giá tiêu dùng năm 2010 phân theo nhóm hàng hóa (Trang 55)
Hình 13: Chỉ số giá tiêu dùng các tháng trong năm 2011 - mối quan hệ giữa tỷ lệ lạm phát và tính không chắc chắn của tỷ lệ lạm phát tại việt nam
Hình 13 Chỉ số giá tiêu dùng các tháng trong năm 2011 (Trang 56)
Hình 14: Chỉ số giá tiêu dùng CPI so với cùng kỳ năm trước theo tháng - mối quan hệ giữa tỷ lệ lạm phát và tính không chắc chắn của tỷ lệ lạm phát tại việt nam
Hình 14 Chỉ số giá tiêu dùng CPI so với cùng kỳ năm trước theo tháng (Trang 57)
Hình 16: Giá trị Sản xuất Công nghiệp so với cùng kỳ năm trước theo tháng - mối quan hệ giữa tỷ lệ lạm phát và tính không chắc chắn của tỷ lệ lạm phát tại việt nam
Hình 16 Giá trị Sản xuất Công nghiệp so với cùng kỳ năm trước theo tháng (Trang 58)
Hình 17: Mối quan hệ giữa Cung tiền và Giá trị Sản xuất Công nghiệp - mối quan hệ giữa tỷ lệ lạm phát và tính không chắc chắn của tỷ lệ lạm phát tại việt nam
Hình 17 Mối quan hệ giữa Cung tiền và Giá trị Sản xuất Công nghiệp (Trang 60)
Hình 18: Tốc độ tăng trưởng cung tiền và tăng trưởng GDP hàng năm giai - mối quan hệ giữa tỷ lệ lạm phát và tính không chắc chắn của tỷ lệ lạm phát tại việt nam
Hình 18 Tốc độ tăng trưởng cung tiền và tăng trưởng GDP hàng năm giai (Trang 68)
Hình 19: Ước lượng sản lượng tiềm năng tiếp cận theo phương pháp hàm sản - mối quan hệ giữa tỷ lệ lạm phát và tính không chắc chắn của tỷ lệ lạm phát tại việt nam
Hình 19 Ước lượng sản lượng tiềm năng tiếp cận theo phương pháp hàm sản (Trang 69)
Hình 22: Mối quan hệ giữa CPI và GDP - mối quan hệ giữa tỷ lệ lạm phát và tính không chắc chắn của tỷ lệ lạm phát tại việt nam
Hình 22 Mối quan hệ giữa CPI và GDP (Trang 73)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w