Với các kết quả nghiên cứu được, đề tài cũng đã đưa ra một số khuyến nghị nhằm thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế cho khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long, trong đó nhấn mạnh cần thực hiện các c
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
PHẠM VĂN ĐỰNG
VAI TRÒ CỦA GIÁO DỤC VÀ Y TẾ
ĐỐI VỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ ĐỒNG BẰNG
SÔNG CỬU LONG GIAI ĐOẠN 2005-2013
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ HỌC
Tp Hồ Chí Minh, 2015
Trang 2TÓM TẮT
Tác động của vốn nhân lực đối với tăng trưởng kinh tế đã trở thành mối
quan tâm đặc biệt của các quốc gia khi bước vào kỷ nguyên của các nền kinh tế
tri thức Đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này ở Việt Nam cũng như
trên thế giới, mặc dù vốn con người bao gồm nhiều khía cạnh như giáo dục, hiểu
biết, kỹ năng, kinh nghiệm, sức khoẻ, khả năng thúc đẩy… nhưng các nghiên
cứu trước đây chỉ thường tập trung vào yếu tố giáo dục làm thước đo để xem xét
ảnh hưởng của vốn nhân lực đối với tăng trưởng kinh tế
Đề tài này nghiên cứu sự ảnh hưởng của vốn nhân lực đối với tăng trưởng
kinh tế ở các tỉnh, thành phố Đồng bằng Sông Cửu Long Bằng cách sử dụng cả
hai yếu tố chính của vốn nhân lực là giáo dục và y tế để nghiên cứu mối quan hệ
giữa phát triển nguồn vốn nhân lực và tăng trưởng kinh tế của khu vực Từ đó,
đề xuất một số giải pháp thúc đẩy cho việc phát triển nguồn nhân lực và tăng
trưởng kinh tế vùng Đồng bằng Sông Cửu Long
Đề tài sử dụng phương pháp hồi quy tuyến tính đa biến để nghiên cứu các
yếu tố thành phần của vốn nhân lực đến tăng trưởng kinh tế 13 tỉnh, thành phố
Đồng bằng Sông Cửu Long trong giai đoạn 2005 – 2013 Kết quả ước lượng từ
mô hình hồi quy cho thấy các biến giải thích đại diện cho yếu tố giáo dục có tác
động đến tăng trưởng kinh tế bao gồm: số lượng học sinh trung học cơ sở, số
lượng học sinh phổ thông trung học, số lượng sinh viên đại học và cao đẳng, chi
ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục đào tạo; các biến đại diện cho yếu tố
y tế có ảnh hưởng đến tăng trưởng bao gồm: số lượng giường bệnh ở các cơ sở y
tế, số lượng cán bộ ngành y dược và chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp y tế
Với các kết quả nghiên cứu được, đề tài cũng đã đưa ra một số khuyến
nghị nhằm thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế cho khu vực Đồng bằng Sông Cửu
Long, trong đó nhấn mạnh cần thực hiện các chính sách nhằm gia tăng vốn con
người thông qua giáo dục đào tạo và chăm sóc sức khoẻ y tế
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC HÌNH VÀ ĐỒ THỊ vii
DANH MỤC BẢNG viii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT ix
CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Vấn đề nghiên cứu 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu tổng quát 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 4
1.5 Phương pháp nghiên cứu 4
1.5.1 Mẫu nghiên cứu 4
1.5.2 Phương pháp thu thập dữ liệu cho nghiên cứu 5
1.5.3 Phương pháp phân tích xử lý số liệu 5
1.6 Ý nghĩa của nghiên cứu 5
1.7 Kết cấu luận văn 6
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 7
2.1 Khái niệm vốn nhân lực 7
2.2 Nguồn gốc của vốn nhân lực 8
2.3 Lý thuyết Vốn nhân lực của Jacob Mincer 11
Trang 42.4 Mô hình lý thuyết tăng trưởng nội sinh Mankiw-Romer-Weil 12
2.5 Mô hình đi học trong xác định vốn nhân lực 15
2.6 Mối quan hệ giữa giáo dục và y tế đối với tăng trưởng kinh tế 17
2.7 Tổng quan về các nghiên cứu trước 19
2.7.1 Các nghiên cứu về vốn nhân lực 19
2.7.2 Một số nghiên cứu khác về tăng trưởng kinh tế 23
2.8 Các điểm mới của đề tài 24
2.9 Mô hình nghiên cứu đề xuất: 25
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
3.1 Quy trình nghiên cứu 28
3.2 Phương pháp nghiên cứu 30
3.3 Mô hình nghiên cứu 32
3.3.1 Xây dựng mô hình nghiên cứu 32
3.3.1 Giải thích các biến của mô hình: 33
3.4 Dữ liệu của nghiên cứu 46
3.5 Mẫu nghiên cứu 47
3.6 Kỹ thuật phân tích dữ liệu bảng 47
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 49
4.1 Tăng trưởng kinh tế ĐBSCL giai đoạn 2005-2013 49
4.2 Giáo dục ở ĐBSCL giai đoạn 2005-2013 52
4.3 Y tế ở ĐBSCL giai đoạn 2005-2013 54
4.4 Thống kê mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu 55
4.5 Phân tích tương quan 59
4.6 Kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến: 60
4.7 Mô hình hồi quy Pooled OLS 63
4.8 Mô hình hiệu ứng cố định (FEM) và hiệu ứng ngẫu nhiên (REM) 65
4.9 Hồi quy bằng phương pháp GLS 68
4.10 Phân tích kết quả nghiên cứu 69
4.10.1 Ảnh hưởng của nhóm các biến giáo dục 69
4.10.2 Ảnh hưởng của nhóm các biến y tế 74
Trang 54.10.3 Ảnh hưởng của nhóm các biến kinh tế vĩ mô khác 77
4.10.4 Biến không có ý nghĩa thống kê 79
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 82
5.1 Kết luận 82
5.2 Khuyến nghị chính sách 84
5.3 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
PHỤ LỤC 90
Phụ lục 1: Mô tả thống kê các biến trong mô hình 90
Phụ lục 2: Ma trận hệ số tương quan giữa các biến trong mô hình nghiên cứu đề xuất 91
Phụ lục 3: Ma trận hệ số tương quan sau khi loại bỏ biến lực lượng lao động đang làm việc 91
Phụ lục 4: Kết quả hồi quy Pooled OLS 92
Phụ lục 5: Kết quả hồi quy Fixed Effects Model 93
Phụ lục 6: Kết quả hồi quy Random Effects Model 94
Phụ lục 7: Kiểm định Hausman lựa chọn mô hình FEM và REM 95
Phụ lục 8: Kết quả hồi quy bằng phương pháp GLS 96
Trang 6DANH MỤC HÌNH VÀ ĐỒ THỊ
Hình 2.1 Dòng thu nhập trong Mô hình đi học 15 Hình 2.2 Mô hình nghiên cứu đề xuất 26 Hình 3.1 Sơ đồ thực hiện quy trình nghiên cứu 30 Hình 4.1 Tổng sản phẩm trên địa bàn của các tỉnh, thành phố khu vực ĐBCSL giai đoạn 2005-2013 50 Hình 4.2 Giá trị xuất nhập khẩu ĐBSCL giai đoạn 2005-2013 51 Hình 4.3 Chi ngân sách nhà nước đầu tư cho sự nghiệp giáo dục, đào tạo và dạy nghề khu vực ĐBSCL giai đoạn 2005-2013 53 Hình 4.4 Chi ngân sách nhà nước đầu tư cho sự nghiệp y tế, dân số và kế hoạch hoá gia đình ĐBSCL giai đoạn 2005-2013 55
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Tóm tắt các biến trong mô hình nghiên cứu 44
Bảng 4.1 Mô tả thống kê các biến trong mô hình nghiên cứu 56
Bảng 4.2 Hệ số tương quan giữa các biến trong mô hình nghiên cứu 60
Bảng 4.3 Kiểm tra đa cộng tuyến với hệ số VIF 61
Bảng 4.4 Ma trận hệ số tương quan sau khi loại biến LD 62
Bảng 4.5 Kiểm tra đa cộng tuyến sau khi loại biến LD 62
Bảng 4.6 Kết quả hồi quy OLS sử dụng số liệu gộp 63
Bảng 4.7 Kết quả kiểm định Breusch-Pagan 64
Bảng 4.8 Kết quả ước lượng mô hình FEM và REM 65
Bảng 4.9 Kiểm định phương sai sai số thay đổi cho mô hình FEM 67
Bảng 4.10 Kiểm định tự tương quan Wooldrige 67
Bảng 4.11 Kết quả ước lượng bằng phương pháp GLS 68
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
ĐBSCL Đồng bằng Sông Cửu Long
FDI Foreign Direct Investment - Đầu tư trực tiếp nước ngoài
FEM Fixed Effects Model - Mô hình hiệu ứng cố định
GLS Generalized Least Squares - Phương pháp hồi quy Bình phương tối
thiểu tổng quát
GDP Gross Domestic Product - Tổng sản phẩm nội địa (ở nghiên cứu này
GDP được tính là giá trị thị trường của tất cả hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong phạm vi một tỉnh, thành phố Việt Nam trong thời kỳ một năm)
ILO International Labour Organization - Tổ chức Lao động Quốc tế
OECD Organization for Economic Cooperation and Development - Tổ chức
Hợp tác và Phát triển Kinh tế
OLS Ordinary Least Squares - Phương pháp ước lượng Bình phương tối
thiểu thông thường
REM Random Effects Model - Mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên
Trang 9CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU
Chương này trình bày một cách khái quát về đề tài nghiên cứu, bao gồm các nội dung chính như: vấn đề nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa của đề tài và kết cấu của luận văn
1.1 Vấn đề nghiên cứu
Các quốc gia muốn phát triển thì cần phải có các nguồn lực của sự phát triển kinh tế như: tài nguyên thiên nhiên, vốn, khoa học - công nghệ, con người… Trong các nguồn lực đó thì nguồn lực con người là quan trọng nhất, có tính chất quyết định đến sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của mọi quốc gia từ trước đến nay Một nước cho dù có tài nguyên thiên nhiên phong phú, máy móc
kỹ thuật hiện đại nhưng không có những con người có trình độ, có đủ khả năng khai thác các nguồn lực sẵn có thì rất khó có thể đạt được sự phát triển như mong muốn
Ở nước ta, Chính phủ (2011) khẳng định mục tiêu phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011-2020 là đưa nhân lực Việt Nam trở thành nền tảng và lợi thế quan trọng nhất để phát triển bền vững đất nước, hội nhập quốc tế và ổn định xã hội, nâng trình độ năng lực cạnh tranh của nhân lực nước ta lên mức tương đương các nước tiên tiến trong khu vực, trong đó có một số mặt tiếp cận trình độ các nước phát triển trên thế giới
Muốn đạt được mục tiêu như trên, thì mỗi người dân phải được đầu tư để hình thành và tích lũy nguồn vốn nhân lực của cá nhân tương xứng với yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Trong nhiều năm qua, Chính phủ cũng
đã có nhiều nổ lực trong việc đầu tư nâng cao vốn nhân lực của người dân thông qua các chính sách về giáo dục, y tế, chăm sóc sức khỏe, dinh dưỡng, rèn luyện thể lực, thể thao…
Trang 10Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng sản xuất hàng hóa nông nghiệp trọng điểm của cả nước Mặc dù có đóng góp quan trọng về xuất khẩu nông, thủy sản và lương thực, hàng hóa cân đối cho cả nước, nhưng lại là vùng
có nhiều bất cập về chất lượng nguồn nhân lực và môi trường con người ở nông thôn (Đinh Phi Hổ và Đinh Nguyệt Bích, 2012) Cho nên, việc tăng cường đầu
tư nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở khu vực này là vấn đề cấp thiết để tăng trưởng kinh tế và cũng là thách thức lớn nhất cho mục tiêu phát triển bền vững ĐBSCL
Đánh giá được chính xác mức độ đầu tư phát triển nguồn nhân lực và tác động của nó đến sự tăng trưởng kinh tế khu vực là một vấn đề quan trọng cần được thực hiện để có những chính sách phát triển phù hợp với thực tế hơn, đó cũng chính là lý do để thực hiện đề tài nghiên cứu này Tuy nhiên, nguồn vốn nhân lực có rất nhiều mặt, nhiều khía cạnh phức tạp mà không thể dễ dàng đề cập hết một cách toàn diện cũng như hạn chế của nguồn số liệu Cho nên, trong
khuôn khổ nghiên cứu này, chỉ xem xét “Vai trò của giáo dục và y tế đối với
tăng trưởng kinh tế Đồng bằng Sông Cửu Long giai đoạn 2005-2013”, từ đó
có thể đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy thêm cho quá trình phát triển của khu vực
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu tổng quát
Nghiên cứu làm rõ bản chất và nguồn gốc của nguồn vốn nhân lực để vận dụng phân tích thực tế ở khu vực ĐBSCL Đề tài quan tâm nghiên cứu tác động của vốn nhân lực đối với tăng trưởng kinh tế của các tỉnh, thành phố ĐBSCL thông qua hai yếu tố chính là giáo dục và y tế, đồng thời xem xét mức độ ảnh hưởng của chi đầu tư công đối với tăng trưởng để từ đó có thể đề xuất một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cho khu vực
Trang 111.2.2 Mục tiêu cụ thể
(i) Phân tích vai trò của hai yếu tố chính của vốn nhân lực là giáo dục và
y tế đối với tăng trưởng kinh tế các tỉnh, thành phố ĐBSCL thông qua mô hình hồi quy tuyến tính
(ii) Phân tích mức độ ảnh hưởng của chi đầu tư công cho giáo dục và y
tế đối với tăng trưởng kinh tế của khu vực trong thời gian qua
(iii) Đề xuất các giải pháp và khuyến nghị chính sách phát triển nguồn vốn nhân lực nhằm thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế cho khu vực
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Để giải quyết vấn đề và mục tiêu nghiên cứu đặt ra, đề tài phải tập trung giải đáp được các câu hỏi nghiên cứu sau:
(i) Các yếu tố giáo dục và và y tế có tác động như thế nào đến tăng trưởng kinh tế của các tỉnh, thành phố ĐBSCL trong giai đoạn nghiên cứu (2005-2013)?
(ii) Mức độ ảnh hưởng của chi đầu tư công cho giáo dục và y tế đến sự tăng trưởng kinh tế của các tỉnh, thành phố ĐBSCL trong giai đoạn nghiên cứu (2005-2013)?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào nhiều yếu tố bao gồm cả nguồn nhân lực, nguồn tài nguyên thiên nhiên, vốn và công nghệ Để nguồn nhân lực có thể phục vụ cho tốt cho mục tiêu phát triển kinh tế thì đòi hỏi phải có sự đầu tư hình thành và tích lũy vốn nhân lực ở mỗi con người trong xã hội Nghiên cứu không xem xét hết các phương diện của vốn nhân lực mà chỉ phân tích ảnh hưởng của hai yếu tố chính là giáo dục và y tế có tác động như thế nào đến tăng trưởng kinh tế của khu vực ĐBSCL
Trang 121.4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long
Phạm vi thời gian: từ năm 2005 đến năm 2013
Giới hạn nghiên cứu: chỉ nghiên cứu vai trò của Giáo dục và Y tế đóng góp cho tăng trưởng kinh tế các tỉnh, thành phố Đồng bằng Sông Cửu Long
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong đề tài này là phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp với nghiên cứu định lượng
Quá trình nghiên cứu đề tài được chia làm 3 giai đoạn chính gồm:
Giai đoạn đầu, nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính để làm rõ mối quan hệ giữa vốn nhân lực mà chủ đạo là vai trò của giáo dục và y tế đối với sự tăng trưởng kinh tế, từ đó xác định các yếu tố đại diện cho giáo dục và y tế có tác động mạnh tới tăng trưởng làm cơ sở xây dựng nên mô hình nghiên cứu
Giai đoạn thứ hai, sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng để xử lý
số liệu của đề tài; tiến hành các mô hình hồi quy đồng thời kiểm định giả thiết thống kê nhằm tìm ra mô hình thực nghiệm phù hợp nhất để phân tích kết quả nghiên cứu
Giai đoạn cuối, tiến hành so sánh kết quả phân tích thực nghiệm với các ước đoán trong giai đoạn nghiên cứu định tính; trình bày các kết quả nghiên cứu
và trên cơ sở đó sẽ đề xuất các giải pháp, khuyến nghị chính sách phát triển
1.5.1 Mẫu nghiên cứu
Mẫu nghiên cứu được chọn từ số liệu thống kê của 13 tỉnh, thành phố ĐBSCL, mỗi địa phương lấy số liệu về chi đầu tư công của nhà nước cho sự nghiệp giáo dục và y tế; chi ngân sách cho đầu tư phát triển; số lượng học sinh trung học cơ sở, học sinh trung học phổ thông, sinh viên cao đẳng - đại học; số lượng giường bệnh, số lượng cán bộ ngành y tế; số lượng lao động đang làm
Trang 13việc, đầu tư trực tiếp nước ngoài và độ mở thương mại (thông qua tỷ trọng tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu trên GDP) liên tục 09 năm từ 2005 đến 2013
Số lượng mẫu sẽ là 13 tỉnh x 9 năm = 117 quan sát được đưa vào mô hình
để phân tích tác động của các nhân tố đối với tăng trưởng
1.5.2 Phương pháp thu thập dữ liệu cho nghiên cứu
Dữ liệu sử dụng trong phân tích đề tài là nguồn thông tin thứ cấp được lấy trực tiếp từ số liệu thống kê của Tổng Cục thống kê Việt Nam và Cục thống kê các tỉnh, thành phố trong khu vực ĐBSCL
1.5.3 Phương pháp phân tích xử lý số liệu
Số liệu thu thập được trình bày thành một bảng cân bằng gồm cả 2 yếu tố không gian và thời gian Yếu tố không gian đại diện cho đặt trưng riêng biệt của từng tỉnh, thành phố trong khu vực ĐBSCL, yếu tố thời gian là 9 thời đoạn quan sát, mỗi thời đoạn là 01 năm, liên tục từ năm 2005 đến năm 2013
Để phân tích định lượng dữ liệu bảng, tác giả lựa chọn sử dụng phần mềm Stata 13 thực hiện các ước lượng theo mô hình hồi quy phổ biến sau:
- Mô hình hồi quy OLS sử dụng số liệu gộp
- Mô hình hiệu ứng cố định (Fixed Effects Model)
- Mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên (Random Effects Model)
- Hồi quy bằng phương pháp Bình phương tối thiểu nhỏ nhất (GLS)
Tương ứng với từng phương pháp ước lượng sẽ có các kiểm định phù hợp nhằm để lựa chọn mô hình hồi quy tốt nhất với bảng dữ liệu của nghiên cứu, từ
đó mới tiến hành giải thích, phân tích kết quả và đưa ra các khuyến nghị dựa trên ước lượng hiệu quả nhất được lựa chọn
1.6 Ý nghĩa của nghiên cứu
Nghiên cứu rất có ý nghĩa cho các địa phương trong việc so sánh mức độ đầu tư phát triển nguồn nhân lực cũng như tác động của nó đến sự tăng trưởng
Trang 14kinh tế của địa phương mình so với các tỉnh, thành phố khác trong khu vực Từ
đó, có hướng điều chỉnh chính sách phù hợp hơn để tận dụng tối đa lợi thế của địa phương cho việc phát triển kinh tế Các gợi ý chính sách từ kết quả nghiên cứu cũng là nguồn tài liệu tham khảo cho các tỉnh trong việc hoạch định chính sách phát triển nguồn nhân lực trong thời gian tới
Tuy nhiên, hạn chế vẫn có thể tồn tại trong đề tài là do nguồn dữ liệu thứ cấp thống kê nên rất có khả năng chưa thể phản ánh được một cách khách quan nhất về sự phát triển và so sánh giữa các địa phương với nhau
1.7 Kết cấu luận văn
Luận văn được chia thành 5 chương gồm:
Chương 1: Mở đầu: trình bày tóm lượt về vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa của đề tài
Chương 2: Cơ sở lý thuyết: trình bày khái quát về các lý thuyết nguồn nhân lực đóng góp cho tăng trưởng kinh tế, tổng quan về học thuyết và các nghiên cứu liên quan của các tác giả trong và ngoài nước, từ đó xây dựng mô hình nghiên cứu đề xuất cho đề tài
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu: trình bày quy trình và phương pháp nghiên cứu, giải thích mô hình nghiên cứu, giới thiệu về nguồn số liệu và các kỹ thuật phân tích phù hợp với dữ liệu thống kê thu thập được
Chương 4: Kết quả nghiên cứu: phân tích mô tả về dữ liệu nghiên cứu, thực hiện các mô hình hồi quy, tiến hành kiểm định giả thiết và lựa chọn mô hình hiệu quả nhất để giải thích, phân tích kết quả nghiên cứu
Chương 5: Kết luận: khuyến nghị chính sách và các vấn đề còn hạn chế của đề tài cần được tiếp tục nghiên cứu thêm
Trang 15CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Chương này tập trung giới thiệu cơ sở lý thuyết về vốn nhân lực, bao gồm khái niệm, nguồn gốc của vốn nhân lực và các mô hình lý thuyết xác định nguồn vốn nhân lực, sau đó là phần tóm tắt một số nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến sự tác động của vốn nhân lực đối với tăng trưởng kinh tế Từ cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước có liên quan, tác giả sẽ đề xuất mô hình nghiên cứu cho đề tài này
2.1 Khái niệm vốn nhân lực
Theo Nguyễn Trọng Hoài (2007) thì vốn nhân lực là một khái niệm phức tạp hàm chứa tất cả những kỹ năng, tri thức, khả năng lao động, những giá trị của con người Thuật ngữ “vốn nhân lực” được biết lần đầu tiên qua bài nghiên cứu “Đầu tư vào vốn nhân lực” của Nhà kinh tế học được giải thưởng Nobel là Theodore W Schulz được đăng trên tạp chí Kinh tế học Hoa kỳ số 51 năm 1961 Sau đó, năm 1964, Jacob Mincer và Gray Becker đã ứng dụng ý tưởng “vốn nhân lực” để phát triển thành một lý thuyết chuẩn mực được tham khảo cho đến ngày nay
Theo đó, vốn nhân lực cũng giống như vốn vật chất, nó có thể được đầu
tư thông qua giáo dục, đào tạo, chăm sóc sức khỏe y tế … và thu nhập của loại vốn này cũng tùy thuộc vào “số lượng” mà một cá nhân sở hữu Không giống như vốn vật chất, vốn nhân lực có một số đặc điểm quan trọng như sau:
- Có khả năng tăng lên và tự sinh ra khi sử dụng: chẳng hạn, một bác sĩ có thể có thêm nhiều kinh nghiệm khi làm việc, kiến thức cơ bản của họ sẽ tăng theo thời gian và như vậy “vốn nhân lực” cũng sẽ tăng lên
- Có khả năng di chuyển và chia sẻ: tri thức rất dễ dàng di chuyển và chia
sẻ, sự chuyển giao đó không làm giảm tri thức của người sở hữu ban đầu
OECD (2001) cũng đưa ra định nghĩa về nguồn vốn nhân lực: “kiến thức,
kỹ năng, năng lực và những thuộc tính tiềm tàng trong mỗi cá nhân, góp phần
Trang 16tạo nên sự thịnh vượng kinh tế, xã hội và của bản thân người ấy” (trích bởi Trần
Lê Hữu Nghĩa, 2008) Theo đó, định nghĩa này đã ngầm bao hàm cả sức khoẻ của con người vì nếu không có nó thì các cá nhân không thể sống viên mãn để cống hiến với những phẩm chất mà họ có
Bùi Quang Bình (2009) cho rằng, vốn con người được cấu thành từ ba nhân tố chính là: một là năng lực ban đầu, nhân tố này gắn liền với yếu tố năng khiếu bẩm sinh ở mỗi người; hai là những năng lực và kiến thức chuyên môn được hình thành và tích luỹ thông qua quá trình đào tạo chính quy; ba là các kỹ năng, khả năng chuyên môn, những kinh nghiệm tích luỹ từ quá trình sống và làm việc
Có thể thấy rằng khái niệm về vốn nhân lực được các nhà kinh tế học và các tổ chức quốc tế đề cập theo nhiều khía cạnh khác nhau Nhưng chung nhất thì vốn nhân lực chính là tổng hợp các kỹ năng, kỹ xảo của người lao động; kinh nghiệm nghề nghiệp; trình độ đào tạo và những khả năng có thể khai thác của người lao động
2.2 Nguồn gốc của vốn nhân lực
Nguyễn Trọng Hoài (2007) cho rằng vốn nhân lực hàm chứa một tập hợp rất rộng nói đến năng lực của một cá nhân bao gồm cả thể chất lẫn tinh thần Năng lực đó có thể được phát triển và suy giảm từ lúc một cá nhân sinh ra, trưởng thành cho đến lúc qua đời Kiến thức và kỹ năng của con người được tích lũy trong suốt vòng đời của cá nhân ấy, đó là một quá trình học tập từ trường lớp chính thức hoặc không chính thức
Chính sự phức tạp của khái niệm về vốn nhân lực làm cho khó có một chuẩn mực đo lường nào được chấp nhận hoàn toàn cho dù các nhà kinh tế vẫn bằng cách này hay cách khác xây dựng những biến đại diện để cố gắng lý giải một vài điều gì đó có liên quan đến vốn nhân lực Thông thường có ba phương pháp mà các nhà kinh tế học hay sử dụng để đo lường “khối lượng” vốn nhân lực trong các nghiên cứu của họ
Trang 17Thứ nhất, là tính số năm học tập trung bình Đây là cách lấy số liệu dễ dàng nhất và có thể phân tích cho bất kỳ quốc gia điển hình nào hoặc so sánh giữa các quốc gia với nhau Song, số năm học tập trung bình đã không thể là biến đại diện đầy đủ cho toàn bộ ý nghĩa khái niệm vốn nhân lực
Thứ hai, thực hiện những cuộc kiểm tra trực tiếp để biết được năng lực,
kỹ năng và kiến thức có liên quan đến hoạt động kinh tế của một cá nhân tại một thời điểm nào đó Tuy nhiên, sự phức tạp ở đây là sẽ phải đo lường yếu tố nào bởi vì vốn nhân lực bao hàm khá nhiều khía cạnh, có những thuộc tính mà ta không thể đo lường thành một giá trị gộp, ví dụ như thái độ và động cơ
Thứ ba, một cách gián tiếp khác, những nhà phân tích giả định rằng thu nhập mà cá nhân có được là một biến số thể hiện giá thị trường của vốn nhân lực Một người có thu nhập cao đồng nghĩa là họ đang sở hữu khối lượng vốn nhân lực cao Với cách này, những nhà phân tích lượng hóa vốn nhân lực bằng tiền Song, điều này chỉ xảy ra với giả định rằng thu nhập khác nhau là bởi vì năng suất khác nhau, năng suất cao dẫn đến thu nhập cao và năng suất khác nhau là do giáo dục hoặc là kỹ năng khác nhau Tuy nhiên, thực tế mối quan hệ này không phải lúc nào cũng đúng
Cho dù có những quan điểm khác nhau về kỹ thuật phân tích và tìm kiếm biến đại diện giữa các nhà kinh tế học, nhưng ở khía cạnh chính sách có hai nhóm yếu tố quan trọng mà các chính phủ thường nhắm đến như là một công cụ
để tăng vốn nhân lực đó là giáo dục và y tế Đây là hai yếu tố quyết định để hình thành nên vốn nhân lực
Giáo dục và đào tạo
Trong lịch sử phát triển của nhân loại chưa bao giờ giáo dục bị xem nhẹ Mọi thể chế chính trị đều coi giáo dục có một tầm quan trọng nhất định đến sự phồn vinh kinh tế và ổn định chính trị trong ngắn và dài hạn Các chính phủ ở mọi nơi trên thế giới đều giả định và tin tưởng rằng có một hệ thống giáo dục tốt
là nguồn gốc dẫn đến sự thịnh vượng cho quốc gia
Trang 18Ngày nay, thông điệp “cung cấp giáo dục cho tất cả mọi người” là một trong những mục tiêu trụ cột của Mục tiêu Phát triển thiên niên kỷ của Liên Hiệp Quốc Giáo dục thúc đẩy tăng vốn nhân lực phải được hiểu ở cấp bậc như sau (OECD, 2001, trích bởi Nguyễn Trọng Hoài, 2007):
- Học tập ở gia đình từ giai đoạn trẻ thơ
- Giáo dục và đào tạo chính thức ở trường ở mọi cấp học như tiểu học, trung học, đại học, những khóa đào tạo nghề nghiệp…
- Đào tào không chính thức qua những hoạt động đặc biệt như nghiên cứu, sáng tạo, tham gia trong một nhóm nghề nghiệp…
- Học tập không chính thức theo kiểu “nghề dạy nghề” và những trải nghiệm trong cuộc sống
Giáo dục được hiểu là một tập hợp các yếu tố như trên thì rõ ràng ở khía cạnh chính sách, tức là vai trò của nhà nước chỉ có thể tham gia một phần nào
đó, trực tiếp hoặc gián tiếp để phát triển vốn nhân lực Chính phủ chỉ có thể góp phần quan trọng trong việc cải thiện giáo dục của một cá nhân thông qua hệ thống giáo dục và đào tạo chính thức; hoặc tạo ra một định chế, một môi trường tốt nhất để thúc đẩy một xã hội hướng đến và có điệu kiện học tập suốt đời
Y tế và sức khỏe
Đầu tư vào sức khỏe, cũng giống như đầu tư vào giáo dục, sẽ cải thiện vốn nhân lực – một đầu vào quan trọng của tăng trưởng kinh tế Sức khỏe tốt là một nhân tố hết sức quan trọng của vốn nhân lực, nó làm tăng năng suất lao động Sức khỏe tốt làm tăng khả năng làm việc vừa ở khía cạnh thể chất lẫn tinh thần Ngược lại, một khi mất cân bằng dinh dưỡng, bệnh tật thường xuyên sẽ làm suy giảm khả năng học tập, sản xuất hàng hóa và dịch vụ không những cho chính một cá nhân mà nó còn có thể suy giảm năng suất cho những người xung quanh và thế hệ con cháu (Nguyễn Trọng Hoài, 2007)
Trang 192.3 Lý thuyết Vốn nhân lực của Jacob Mincer
Lý thuyết vốn con người là nền tảng của nhiều phát triển của các lý thuyết kinh tế Những đóng góp này có thể được tóm tắt như sau: “Vốn con người đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế: (1) đó là các kỹ năng được tạo ra bởi giáo dục và đào tạo, vốn con người là yếu tố của quá trình sản xuất kết hợp với vốn hữu hình và các lao động “thô” (không có kỹ năng) để tạo ra sản phẩm; (2) đó là kiến thức để tạo ra sự sáng tạo, một yếu tố cơ bản của phát triển kinh tế” (Mincer, 1989, trích bởi Bùi Quang Bình, 2008)
Mincer (1974) đã xây dựng nên mô hình thu nhập như sau:
lnYt = β0 + β1S + β2t + β3t2 + ε
Với Yt là mức thu nhập ròng trong năm t, được xem là mức thu nhập của
dữ liệu quan sát được
S: là số năm đi học của quan sát cá nhân có mức thu nhập Yt
t: là số năm biểu thị kinh nghiệm tiềm năng, với giả định kinh nghiệm là liên tục và có ngay khi bắt đầu đi học, t = A – S – b (với A: tuổi hiện tại, b là tuổi bắt đầu đi học)
β1: hệ số ước lượng suất sinh lợi của việc đi học, giải thích phần trăm tăng thêm của thu nhập khi tăng thêm 1 năm đi học
β2: giải thích phần trăm thu nhập tăng thêm khi có thêm 1 năm kinh nghiệm
β3: biểu thị mức độ suy giảm của thu nhập biên theo thời gian làm việc Hầu hết các công trình nghiên cứu thực nghiệm ước lượng hiệu quả của giáo dục ở các quốc gia đều dựa trên mô hình hàm thu nhập của Mincer, và do vậy sẽ thuận lợi khi so sánh hiệu quả giữa các quốc gia với nhau
Trang 202.4 Mô hình lý thuyết tăng trưởng nội sinh Mankiw-Romer-Weil
Mô hình lý thuyết tăng trưởng nội sinh của Mankiw-Romer-Weil (trích bởi Nguyễn Trọng Hoài, 2007) nhằm mục đích giải thích sự chênh lệch thu nhập giữa các quốc gia, được phát triển vào năm 1992 là một trong những mô hình căn bản nhất chứng minh vai trò của vốn nhân lực
Đây cũng là mô hình mở rộng từ mô hình tăng trưởng của Solow Thay vì đơn giản như mô hình Solow là lao động và công nghệ quyết định tăng trưởng, các nhà kinh tế học Mankiw-Romer-Weil đã đưa thêm biến số đại diện cho vốn nhân lực vào mô hình với hàm số tăng trưởng Cobb-Douglas (với giả thiết hiệu suất không đổi theo qui mô và sản phẩm biên đối với vốn, lao động và vốn nhân lực vẫn đúng như giả thiết là tăng nhưng giảm dần, trong điều kiện tất cả thị trường là cạnh tranh hoàn hảo):
Y(t) = Kα(t) Hβ(t) [A(t)L(t)]1-α-β [2.1] Trong đó: 0 <α + β< 1, bởi giả thiết hiệu suất không đổi theo qui mô nên hàm Cobb-Douglas trên phải thỏa mãn: α+ β + (1- α- β) = 1; t chỉ yếu tố thời gian khi quan sát các biến số trong hàm sản xuất và có tính rời rạt; Y: tổng sản phẩm quốc nội (GDP); K: lượng vốn vật chất; H: lượng vốn nhân lực; AL: lao động hiệu dụng; L: lượng lao động thô
Gọi sK, sH là tỉ lệ tiết kiệm của K và H, giả sử rằng cả K và H đều có tỉ lệ khấu hao theo thời gian như nhau là và đây là những biến ngoại sinh (cho trước) Vì thế sự thay đổi theo thời gian của K và H có thể được viết như sau:
Trang 21Phương trình [2.1] có thể được viết lại bằng cách chia hai về cho A(t)L(t) như sau:
∆𝑘̃ = 𝑠𝐾 Y(t) – K(t)
𝐴(𝑡)𝐿(𝑡) − 𝐾(𝑡)
𝐴(𝑡)𝐿(𝑡)[∆𝐴(𝑡)𝐿(𝑡)+𝐴(𝑡)∆𝐿(𝑡)
𝐴(𝑡)𝐿(𝑡) ] Tiếp tục thay [2.4] và [2.5] vào phương trình trên và biến đổi ta được:
∆𝑘̃ = 𝑠𝐾𝑦̃ − 𝛿𝑘̃(𝑡) − 𝑘̃(𝑡)[𝑔 + 𝑛] = 𝑠𝐾𝑦̃ − 𝑘̃(𝑡)[𝑔 + 𝑛 + 𝛿] [2.9] Biến đổi tương tự cho ℎ̃(𝑡):
∆ℎ̃ = ∆𝐻(𝑡)
𝐴(𝑡)𝐿(𝑡)− 𝐻(𝑡)
[𝐴(𝑡)𝐿(𝑡)] 2[∆𝐴(𝑡)𝐿(𝑡) + 𝐴(𝑡)∆𝐿(𝑡)] [2.10] Thay [2.3] vào [2.10] và biến đổi:
∆ℎ̃ = 𝑠𝐻 Y(t) – H(t)
𝐴(𝑡)𝐿(𝑡) − 𝐻(𝑡)
𝐴(𝑡)𝐿(𝑡)[∆𝐴(𝑡)𝐿(𝑡)+𝐴(𝑡)∆𝐿(𝑡)
𝐴(𝑡)𝐿(𝑡) ] Thay [2.4] và [2.5] vào phương trình trên và biến đổi ta được:
∆ℎ̃ = 𝑠𝐻𝑦̃ − 𝛿ℎ̃(𝑡) − ℎ̃(𝑡)[𝑔 + 𝑛] = 𝑠𝐻𝑦̃ − ℎ̃(𝑡)[𝑔 + 𝑛 + 𝛿] [2.11] Tại trạng thái dừng, tỉ lệ vốn vật chất trên mỗi lao động hiệu dụng và tỉ lệ vốn nhân lực trên mỗi lao động hiệu dụng phải không đổi Điều này có nghĩa là
∆𝑘̃ và ∆ℎ̃ phải bằng không Hay là tổng đầu tư vừa đủ bù đắp vào khấu hao tăng
Trang 22trưởng dân số Phương trình [2.9] và [2.11] được viết lại thành điều kiện cân bằng tại điểm dừng như sau:
𝛼 1−𝛽
Thay kết quả trên vào phương trình [2.12] ta được giá trị 𝑘̃(𝑡) ∗
𝑘∗
̃(𝑡) = [ 𝑠𝐾
𝑔+𝑛+𝛿]
1−𝛽 1−𝛼−𝛽[ 𝑠𝐻
𝑔+𝑛+𝛿]
𝛼
Sản lượng trên mỗi lao động hiệu dụng tại điểm dừng 𝑦̃(𝑡): ∗
Thay [2.14] và [2.15] vào phương trình: 𝑦̃(𝑡) = 𝑘∗ ̃(𝑡)∗ 𝛼ℎ̃(𝑡)∗ 𝛽 ta được:
𝑦∗
̃(𝑡) = [ 𝑠𝐾
𝑔+𝑛+𝛿]
𝛼 1−𝛼−𝛽[ 𝑠𝐻
Trang 23của phương trình Hệ số này cho biết mức tích lũy của vốn nhân lực, nếu β càng lớn thì thu nhập bình quân trên mỗi lao động hiệu dụng, hay mở rộng ra là thu nhập bình trên đầu người càng cao
2.5 Mô hình đi học trong xác định vốn nhân lực
Chúng ta đều biết rằng giáo dục làm giảm khả năng bị thất nghiệp và giúp tăng thu nhập, vậy tại sao tất cả mọi người lao động không học để có học vị cao hay một bằng cấp chuyên nghiệp khác Nói một cách khác là nhân tố nào thúc đẩy một số người lao động duy trì việc học tập trong các trường trong khi những người lao động khác lại rời bỏ trường học trước khi kết thúc bậc trung học phổ thông Borjas (1996) đã giải thích vấn đề này bằng “Mô hình đi học” (trích bởi Hoàng Xuân Hiệp, 2013) như sau:
Xét một tình huống được đưa ra cho một người 18 tuổi, vừa mới nhận bằng tốt nghiệp trung học phổ thông và đang suy ngẫm xem nên tham gia vào thị trường lao động ngay hay hoãn lại việc đi làm 4 năm nữa để học đại học
Hình 2.1 Dòng thu nhập trong Mô hình đi học
Nguồn: Borjas, 1996 trích bởi Hoàng Xuân Hiệp, 2013
Một người kết thúc việc học tập sau khi có bằng trung học phổ thông có mức thu nhập WHS từ 18 tuổi cho đến lúc về hưu (65 tuổi) Nếu người đó quyết
Trang 24định học đại học thì sẽ phải từ bỏ thu nhập này và chịu thêm chi phí H (tính bằng Đô la) trong 4 năm, sau đó sẽ có mức thu nhập WCOL cho đến lúc nghỉ hưu
Giá trị hiện tại của dòng thu nhập theo tuổi:
Giá trị hiện tại của dòng thu nhập nếu người lao động chỉ có bằng trung học phổ thông là:
PV𝐻𝑆= w𝐻𝑆+ w𝐻𝑆
(1 + r)+
w𝐻𝑆(1 + r) 2 + ⋯ + w𝐻𝑆
(1 + r) 46 = ∑ wHS
(1 + r) t 46
t=0
+ ∑ wCOL(1 + r) t 46
t=4
Khi so sánh lợi ích, người lao động sẽ theo học đại học nếu giá trị hiện tại của tổng thu nhập trong quãng đời làm việc sau khi tốt nghiệp đại học lớn hơn giá trị hiện tại của tổng thu nhập trong quãng đời làm việc sau khi tốt nghiệp phổ thông, nghĩa là PVCOL> PVHS
Như vậy, ta có thể thấy được các nhà lý thuyết kinh tế học đều cho rằng nguồn vốn nhân lực có đóng góp quan trọng trong việc phát triển của các nền kinh tế Vốn nhân lực là động cơ thúc đẩy cho tăng trưởng và nó được tạo ra thông qua quá trình giáo dục, đào tạo và chăm sóc sức khỏe y tế Mặc dù các chuẩn mực đo lường vẫn còn là đề tài đang tranh luận, nhưng người ta cũng có thể xác định được số lượng “vốn nhân lực” của một cá nhân đến cả một quốc gia bằng các mô hình thực nghiệm được các nhà kinh tế học xây dựng và phát triển
Chi phí trực tiếp của việc học đại học
Dòng thu nhập sau khi tốt nghiệp đại học
Trang 252.6 Mối quan hệ giữa giáo dục và y tế đối với tăng trưởng kinh tế
Đời sống kinh tế - xã hội là hình thức biểu hiện cao nhất, tiến bộ nhất của con người, khác xa với các hoạt động khác có trong thế giới tự nhiên ở chỗ con người nhận thức được thực tại khách quan và các quy luật tự nhiên Để phát triển kinh tế - xã hội thì yếu tố quyết định phải chính là con người và mục tiêu của phát triển kinh tế - xã hội phải hướng tới duy trì sự tồn tại, phát triển của con người Muốn vậy, con người phải có được một thể lực và trí lực thích hợp nhất, trong đó thể lực lại là tiền đề cho tạo ra và nâng cao trí lực
Trí lực là năng lực của trí tuệ, quyết định phần lớn khả năng lao động sáng tạo của con người Trí tuệ được xem là yếu tố quan trọng hàng đầu của nguồn lực con người bởi tất cả những gì thúc đẩy con người hành động tất nhiên phải thông qua đầu óc của họ Khai thác và phát huy tiềm năng trí tuệ trở thành yêu cầu quan trọng nhất của việc phát huy nguồn lực con người (Lê Thị Thuý, 2012) Giáo dục và đào tạo là một phương pháp hữu hiệu nhất để phát triển trí lực con người, đó là quá trình nâng cao trình độ dân trí, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, sức sáng tạo và kỹ năng, kỹ xảo của người lao động
Thể lực là trạng thái sức khoẻ của con người, là điều kiện đảm bảo cho con người phát triển, trưởng thành một cách bình thường, hoặc có thể đáp ứng được những đòi hỏi về sự hao phí sức lực, thần kinh, cơ bắp trong lao động Trí lực ngày càng đóng vai trò quyết định trong sự phát triển nguồn nhân lực, song, sức mạnh trí tuệ của con người chỉ có thể phát huy được lợi thế trên nền thể lực khoẻ mạnh (Lê Thị Thuý, 2012) Các hoạt động y tế với mục tiêu chăm sóc sức khoẻ là một nhiệm vụ rất cơ bản để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo tiền đề phát huy có hiệu quả tiềm năng con người
Một quốc gia mạnh, có vị thế trên thương trường quốc tế thì quốc gia ấy phải có nền kinh tế phát triển vượt bậc Mà để cho sự phát triển ấy vươn đến tầm cao thì không thể nào thiếu được nguồn nhân lực có chất lượng, với đầy đủ thể lực và trí tuệ Cho đến nay, các nhà kinh tế đều đồng ý rằng, đầu tư cho con người thông qua các hoạt động giáo dục - đào tạo, chăm sóc sức khỏe, các
Trang 26chương trình bảo đảm việc làm và an sinh xã hội… được xem là hoạt động đầu
tư có hiệu quả nhất, quyết định khả năng tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững của một quốc gia
Nhiều nghiên cứu thực nghiệm về tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam và trên thế giới đã chứng minh rằng vốn con người đóng vai trò quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế, trong đó giáo dục và y tế chính là những cách thức cơ bản để tích lũy vốn con người
Nghiên cứu của Trần Thọ Đạt và các cộng sự (2007) đánh giá tác động của giáo dục đối với tăng trưởng kinh tế 63 tỉnh, thành phố Việt Nam chỉ ra rằng nếu mọi yếu tố khác không thay đổi thì sự gia tăng 1% của số năm đi học bình quân sẽ làm mức GDP tăng thêm 0,16%/năm Nghiên cứu của Nguyễn Đăng Khoa (2013) cũng cho kết quả tương tự nếu có sự gia tăng 1% của số năm đi học bình quân sẽ làm mức sản lượng của các tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ tăng thêm 0,43%/năm
Nghiên cứu của Lawanson Olukemi (2009) về vai trò của giáo dục và y tế đối với tăng trưởng kinh tế của Nigeria cho thấy các yếu tố đại diện cho giáo dục bao gồm chi tiêu của chính phủ cho giáo dục, tỉ lệ học sinh trung học và tỉ lệ sinh viên đại học có tác động tích cực đối với tăng trưởng GDP Nghiên cứu của Adelakun và Ojo Johnson (2011) cũng cho kết quả là các yếu tố đại diện cho giáo dục gồm chi tiêu của chính phủ cho giáo dục, số lượng sinh viên đại học, số lượng học sinh tiểu học có tác động dương đến tăng trưởng kinh tế Negeria trong khi yếu tố đại diện cho y tế là chi tiêu của chính phủ về y tế lại có tác động tiêu cực đến tăng trưởng
Mặc dù có sự khác biệt trong việc lựa chọn các yếu tố đại diện trong các
mô hình thực nghiệm nhưng các nghiên cứu đều đưa ra kết luận rằng vốn con người có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế, trong đó vai trò của giáo dục
và y tế là những yếu tố cơ bản nhất của vốn nhân lực có tác động trực tiếp đến tăng trưởng
Trang 272.7 Tổng quan về các nghiên cứu trước
2.7.1 Các nghiên cứu về vốn nhân lực
Tác động của vốn nhân lực đối với tăng trưởng kinh tế đã được nhiều học giả trong và ngoài nước nghiên cứu với nhiều khía cạnh khác nhau, trong
đó vai trò của giáo dục và y tế được đề cập ở một số nghiên cứu sau:
Trần Thọ Đạt và các cộng sự (2007),“Những nhân tố tác động đến tăng
trưởng kinh tế các tỉnh, thành phố Việt Nam giai đoạn 2000-2006”, đề tài
nhằm phân tích các tác động của vốn con người đến quá trình tăng trưởng kinh tế thông qua việc xem xét các nền kinh tế cấp tỉnh, thành phố của Việt Nam Mặc dù vốn con người bao gồm cả giáo dục, sức khỏe, cũng như nhiều khía cạnh khác của “vốn xã hội”, nhưng nghiên cứu chỉ tập trung vào giáo dục, như là nhân tố cơ bản nhất của vốn con người
Đề tài áp dụng một hàm sản xuất Cobb-Douglas mở rộng để kiểm chứng vai trò của vốn con người đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam:
𝑌𝑖𝑡 = 𝐴0𝐾𝑖𝑡𝛽𝐾𝐻𝑖𝑡𝛽𝐻𝐿𝛽𝑖𝑡𝐿𝑒𝜃𝑍𝑖𝑡 +𝑢𝑖𝑡 , 𝑍 = (𝐹, 𝐺, 𝑆𝑂𝐸, 𝐴𝐺𝑅)
trong đó i biểu thị tỉnh, thành phố và t biểu thị thời gian Yit là mức sản lượng; A0 là nhân tố công nghệ; Kit là mức vốn vật chất; Hit là mức vốn con người và Lit là số lao động Cuối cùng, Z là tập hợp các biến số đóng góp vào sản lượng gồm độ mở của nền kinh tế trong nước (F), tỷ trọng chi tiêu của chính phủ trong nền kinh tế (G), tỷ trọng của khu vực nhà nước trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp (SOE), và tỷ trọng của ngành nông nghiệp trong tổng sản phẩm quốc nội (AGR)
Tác giả đã chuyển về dạng mô hình hệ số không thay đổi bằng lấy logarit hai vế hàm sản xuất để thực hiện các ước lượng bằng các phương pháp hồi quy như: hồi quy OLS sử dụng số liệu gộp, FEM, REM, GLS và lựa chọn mô hình hồi quy thích hợp là FEM
Trang 28Với 3 thước đo vốn con người là: thước đo dựa trên số năm đi học bình quân, thước đo dựa trên chi phí cho giáo dục và thước đo dựa trên thu nhập Kết quả nghiên cứu cho thấy có 2 thước đo vốn con người là số năm đi học bình quân và chi phí giáo dục có thể giải thích được tăng trưởng kinh tế của các tỉnh, thành phố Việt Nam Nếu đo bằng số năm đi học bình quân thì sự gia tăng 1% của số năm đi học bình quân sẽ làm mức GDP tăng thêm 0,16%/năm trong điều kiện mọi yếu tố khác không thay đổi Khi đo bằng chi phí giáo dục thì kết quả 1% gia tăng của chi phí giáo dục bình quân lao động
sẽ khiến thu nhập của tỉnh tăng thêm 0,11%/năm trong điều kiện các yếu tố khác không thay đổi
Ngoài ra, kết quả nghiên cứu còn cho thấy sự đóng góp tích cực của vốn vật chất (K), lực lượng lao động (L) và ảnh hưởng của khu vực nhà nước trong nền kinh tế (SOE) cho tăng trưởng kinh tế; trong khi các yếu tố khác là
độ mở của nền kinh tế (F: được đo bằng tỷ trọng của FDI trên tổng đầu tư), tỷ trọng chi tiêu của chính phủ trong nền kinh tế (G) và tỷ trọng của ngành nông nghiệp trong GDP (AGR) có tác động âm đến sự tăng trưởng
Bùi Quang Bình (2008), “Vốn con người và thu nhập của hộ sản xuất
cà phê ở Tây Nguyên”, tác giả cho rằng trong sản xuất cà phê thì vai trò của
chủ hộ là rất quan trọng, đây là người đưa ra các quyết định kinh doanh của
hộ Trình độ mọi mặt (hay là vốn con người) của chủ hộ sẽ ảnh hưởng tới tính đúng đắn của các quyết định Nghiên cứu sử dụng mô hình lý thuyết của Mincer để ước lượng mức độ ảnh hưởng của yếu tố vốn con người tới thu nhập của hộ sản xuất cà phê ở Tây Nguyên như sau:
logW = 0 + 1S + 2t +3t2 + biến khác
Trong đó: W là mức thu nhập của hộ được đại diện bằng doanh thu của hộ; S là số năm đi học - hay trình độ học vấn sẽ được tính số lớp học phổ thông đã hoàn tất, nếu người chủ hộ nào tốt nghiệp trung cấp, cao đẳng và đại học thì số năm đi học sẽ bằng số năm phổ thông cộng với số năm học trung
Trang 29cấp hay cao đẳng đại học; t cho biết số năm kinh nghiệm của chủ hộ thực tế tham gia kinh doanh cà phê; t2 là bình phương về kinh nghiệm
Biến khác: biến giả về giới tính để đánh giá ảnh hưởng của yếu tố giới tính của chủ hộ đối với thu nhập của hộ
Kết quả từ mô hình cho thấy thu nhập của hộ sản xuất phụ thuộc vào trình độ học vấn của chủ hộ (hệ số tương quan là 0,0246), số năm kinh nghiệm kinh doanh (hệ số tương quan 0,577) và giới tính của chủ hộ là nam (hệ số tương quan 0,237) Nghiên cứu đã chỉ ra sự ảnh hưởng tích cực của vốn con người tới thu nhập của hộ sản xuất cà phê ở Tây Nguyên và khuyến nghị tạo mọi điều kiện để lao động kinh doanh cà phê có thể đầu tư tích lũy tăng vốn con người của họ sẽ góp phần tăng thu nhập cho họ đồng thời góp phần phát triển kinh tế của khu vực
Nguyễn Đăng Khoa (2013), với nghiên cứu “Vai trò vốn con người đối
với tăng trưởng kinh tế các tỉnh, thành phố Duyên hải Nam Trung Bộ giai đoạn 2000-2011” Nghiên cứu cũng áp dụng mô hình tăng trưởng tân cổ điển
với hàm sản xuất Cobb-Douglas mở rộng gồm các biến: sản lượng, vốn vật chất, lực lượng lao động, vốn con người và các biến vĩ mô khác ảnh hưởng đến nền kinh tế Dữ liệu gồm 96 quan sát của 8 tỉnh, thành phố Duyên hải Nam Trung Bộ giai đoạn 2000 đến 2011
Kết quả ước lượng bằng Mô hình hiệu ứng cố định (FEM, có tuỳ chọn Robust) cho thấy yếu tố vốn con người đo bằng số năm đi học bình quân của lực lượng lao động có hiệu ứng ước lượng gần 0,43% trên mỗi phần trăm tăng thêm của số năm đi học bình quân Ngoài ra, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng vốn vật chất, lực lượng lao động và độ mở nền kinh tế (do bằng tỷ trọng vốn đầu tư nước ngoài FDI trên tổng vốn đầu tư) có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ; trong khi tỷ trọng chi tiêu của chính phủ trong GDP và tỷ trọng nông nghiệp trong GDP là có tác
âm đến tăng trưởng
Trang 30Lawanson Olukemi (2009), trong nghiên cứu “Đầu tư vốn nhân lực và phát
triển kinh tế Nigeria: vai trò của giáo dục và y tế” đã sử dụng mô hình hồi quy đa
biến để giải thích mối tương quan giữa đầu tư cho vốn nhân lực và tăng trưởng kinh tế như sau:
GDP = β0 + β1GEH+ β2GEE + β3PER + β4SER + β5TER + µ
Trong đó: Sự tăng trưởng kinh tế (GDP) phụ thuộc vào chi tiêu của Chính phủ về y tế (GEH), chi tiêu của Chính phủ về giáo dục (GEE), tỉ lệ học sinh nhập học trường tiểu học (PER), tỉ lệ học sinh nhập học trường trung học (SER) và tỉ lệ sinh viên nhập học trường đại học (TER)
Kết quả phân tích hồi quy cho thấy: biến chi tiêu của chính phủ cho giáo dục GEE, tỉ lệ sinh viên đại học TER, tỉ lệ học sinh trung học SER có mối tương quan tích cực với tăng trưởng GDP; trong khi biến tỉ lệ học sinh tiểu học PER có tác động nghịch biến với GDP và biến chi tiêu của chính phủ cho y tế GEH lại không có ý nghĩa thống kê
Adelakun và Ojo Johnson (2011), trong nghiên cứu “Phát triển vốn nhân
lực và tăng trưởng kinh tế ở Nigeria”, đã xây dựng mô hình nghiên cứu dựa trên
lý thuyết kinh tế và sử dụng, chỉnh sửa lại các công thức từ các công trình của Lucas (1988), Mankiw và cộng sự (1992), Gemmell (1996) và Ncube (1999) Tác giả xây dựng phương trình hồi quy như sau:
Ln RGDPGRt = α0 +α1 Ln It +α2LnEMPt + α3LnHt + ut Với: α1, α2, α3 > 0Trong đó: RGDPGR là tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước; I là tỉ
lệ đầu tư trên GDP; EMP là tỉ lệ việc làm; và H là nguồn nhân lực được đại diện bởi tổng chi phí đầu tư cho y tế và giáo dục Cả ba biến giải thích được kỳ vọng có tác động tích cực vào mức độ tăng trưởng Tác giả đã tham chiếu thành các biến quan tâm để nghiên cứu:
GDP = f (TGVTEE, TGVTEH, TSE, SCSE, PRYSE, U)
Trong đó: GDP là tổng sản phẩm quốc gia; TGVTEE là tổng chi tiêu chính
Trang 31lượng sinh viên học đại học; SCSE là tố lượng học sinh trung học; PRYSE là số lượng học sinh tiểu học
Kết quả phân tích hồi quy của mô hình trên từ bộ số liệu của Nigeria cho thấy các biến giải thích gồm: tổng chi tiêu chính phủ cho giáo dục TGVTEE, số lượng sinh viên đại học TSE, số lượng học sinh tiểu học PRYSE có tác động tích cực đến GDP, trong khi các biến tổng chi tiêu của chính phủ cho y tế TGVTEH và
số lượng học sinh trung học SCSE lại có tác động tiêu cực đến GDP
2.7.2 Một số nghiên cứu khác về tăng trưởng kinh tế
Hoàng Thị Chinh Thon, Phạm Thị Hương và Phạm Thị Thuỷ (2010), với
nghiên cứu “Tác động của chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế tại các địa
phương ở Việt Nam”, đã tiến hành đánh giá, phân tích chi tiêu cấp tỉnh và cấp
huyện tác động như thế nào đến tăng trưởng của địa phương Mô hình thực nghiệm với dữ liệu của 31 tỉnh, thành phố năm 2004 – 2005 gồm biến phụ thuộc là tốc độ tăng GDP bình quân đầu người, các biến giải thích là: tỷ trọng chi tiêu chính phủ trên GDP, tốc độ thay đổi của chỉ số giá tiêu dùng, lượng vốn tích luỹ các doanh nghiệp ở địa phương, GDP địa phương, chi cho đầu tư phát triển, chi thường xuyên và chi khác của cấp tỉnh, cấp huyện
Kết quả hồi quy cho thấy nguồn chi cho đầu tư cấp huyện cần được tăng cường, nên cắt giảm khoản chi cho đầu tư phát triển cấp tỉnh để tăng cường chi cho khoản đầu tư cấp huyện và các khoản chi khác của tỉnh nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của địa phương
Phạm Duy Quang (2014), nghiên cứu “Tác động của chi tiêu công đến
tăng trưởng kinh tế tại các địa phương của Việt Nam” với số liệu của 63 tỉnh,
thành phố Việt Nam giai đoạn 2009-2012 Biến phụ thuộc trong mô hình nghiên cứu là GDP của các địa phương, được giải thích bởi các biến: chi đầu tư phát triển cấp tỉnh, chi thường xuyên cấp tỉnh, chi bổ sung ngân sách cho cấp huyện, vốn đầu tư khu vực nhà nước, vốn đầu tư khu vực ngoài nhà nước, vốn đầu tư
Trang 32trực tiếp của nước ngoài, lao động tốt nghiệp trung học cơ sở và số thuê bao điện thoại trên một nghìn dân
Kết quả hồi quy cho thấy trong các thành phần của chi tiêu công thì chỉ có chi thường xuyên của cấp tỉnh có tác động tích cực đối với tăng trưởng, chi đầu
tư phát triển và chi bổ sung ngân sách cấp huyện không ý nghĩa thống kê Đối với các biến kiểm soát khác thì: vốn đầu tư khu vực nhà nước, khu vực ngoài nhà nước, số thuê bao điện thoại có tác động dương đến tăng trưởng; trong khi vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và lao động tốt nghiệp trung học cơ sở không có
ý nghĩa thống kê
Nguyễn Minh Tiến (2014), với nghiên cứu “Đầu tư trực tiếp nước ngoài
và tăng trưởng kinh tế ở các vùng của Việt Nam”, với bộ số liệu của 43 tỉnh,
thành phố Việt Nam trong giai đoạn 1997-2012, nghiên cứu xem xét mức độ tăng trưởng kinh tế (GDP bình quân đầu người) bị tác động như thế nào dựa vào các biến giải thích: đầu tư tư nhân, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), đầu tư công, lực lượng lao động, thu thuế, chi thường xuyên, độ mở thương mại (đo bằng tổng kim ngạch xuất nhập khẩu/GDP), cơ sở hạ tầng (tính bằng số thuê bao điện thoại), chỉ số giá tiêu dùng, khoảng cách công nghệ, đặc tính địa phương (loại đô thị, kinh tế địa phương) và sự phát triển của địa phương (đo bằng sự điều tiết nguồn thu của địa phương về trung ương)
Kết quả nghiên cứu cho thấy dòng vốn FDI, đầu tư tư nhân, lực lượng lao động, thu thuế, chi thường xuyên, cơ sở hạ tầng, độ mở thương mại có tác động cùng chiều với tăng trưởng, trong khi đầu tư công có tác động âm đến tăng trưởng kinh tế trên tổng vùng của Việt Nam
2.8 Các điểm mới của đề tài
Đề tài này áp dụng mô hình nghiên cứu của Lawanson Olukemi vào điều kiện thực tiễn ở khu vực ĐBSCL của Việt Nam Điểm mới của đề tài là nghiên cứu tác động của vốn con người bao gồm cả 2 yếu tố đại diện là giáo dục và y tế đối với sự tăng trưởng kinh tế của các tỉnh, thành phố ĐBSCL
Trang 33Mô hình nghiên cứu của đề tài vẫn là mô hình hồi quy tuyến tính nhưng được bổ sung thêm nhiều biến giải thích hơn so với mô hình gốc Đại diện cho vốn con người là giáo dục (gồm 4 biến giải thích, trong đó tác giả đề xuất thêm 01 biến mới) và y tế (gồm 3 biến giải thích, trong đó tác giả đề xuất thêm 2 biến mới), ngoài ra còn có 4 biến số kinh tế vĩ mô khác được tác giả lựa chọn đưa vào mô hình nghiên cứu như là các biến kiểm soát
Dữ liệu được sử dụng ở mô hình gốc là dữ liệu chuỗi thời gian trong khi đề tài này sử dụng dữ liệu bảng cân bằng bao gồm cả 2 yếu tố không gian và thời gian Phạm vi không gian là 13 tỉnh, thành phố ĐBSCL, thời gian là 9 thời đoạn quan sát từ năm 2005 đến năm 2013
2.9 Mô hình nghiên cứu đề xuất:
Qua trình bày trên, ta có thể thấy rằng tác động của nguồn vốn nhân lực đối với tăng trưởng kinh tế đã được nhiều tác giả trong và ngoài nước tham gia nghiên cứu Tuy nhiên các nghiên cứu thực nghiệm ở Việt Nam như Trần Thọ Đạt và cộng sự (2007), Bùi Quang Bình (2008), Nguyễn Đăng Khoa (2013) thường tập trung phân tích vai trò của giáo dục - như là nhân tố cơ bản nhất của nguồn vốn nhân lực, trong khi còn nhiều yếu tố khác của vốn nhân lực chưa được đề cập đến
Đề tài này quan tâm nghiên cứu tác động của cả 2 yếu tố cơ bản nhất của vốn nhân lực là giáo dục và y tế đối với sự tăng trưởng kinh tế Nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy của Lawanson Olukemi (2009) với biến phụ thuộc là tổng sản phẩm trên địa bàn (GDP của tỉnh/thành phố) và các biến giải thích đại diện cho vốn nhân lực bao gồm: số lượng học sinh trung học phổ thông (PT), số lượng sinh viên đại học cao đẳng (DH), chi tiêu của nhà nước cho giáo dục (NSGD), chi tiêu của nhà nước cho y tế (NSYT)
Để phù hợp với điều kiện thực tế của khu vực nghiên cứu là ĐBSCL của Việt Nam, tác giả bổ sung thêm 3 biến khác đại diện cho vốn nhân lực bao gồm:
số lượng học sinh trung học cơ sở (CS), số lượng giường bệnh ở các cơ sở y tế (GB), số lượng cán bộ của ngành y và dược (CBY)
Trang 34Ngoài ra, như chúng ta đã biết, tăng trưởng kinh tế còn phụ thuộc vào nhiều
yếu tố khác nên cần phải bổ sung các biến kiểm soát để tăng mức độ phù hợp cho
mô hình nghiên cứu Kế thừa từ các kết quả nghiên cứu trước đã được trích dẫn ở
trên, tác giả bổ sung vào mô hình thêm 4 biến kiểm soát gồm: lực lượng lao động
đang làm việc (LD), đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), độ mở thương mại (TM)
và chi ngân sách nhà nước cho đầu tư phát triển (NSPT)
Hình 2.2 Mô hình nghiên cứu đề xuất
Trang 35Tóm tắt chương 2:
Chương 2 đã trình bày khái niệm và nguồn gốc hình thành vốn nhân lực, khái quát về lý thuyết vốn nhân lực của Jacob Mincer, mô hình lý thuyết tăng trưởng nội sinh của Mankiw-Romer-Weil, xác định vốn nhân lực bằng mô hình
đi học của Borjas Chương này cũng đã trình bày tóm lược một số nghiên cứu trước về nguồn vốn nhân lực và tăng trưởng kinh tế của các học giả trong và ngoài nước, trên cơ sở đó tác giả đã xây dựng nên mô hình nghiên cứu đề xuất nhằm đánh giá tác động của vốn nhân lực mà trọng tâm là vai trò của giáo dục
và y tế đối với tăng trưởng kinh tế các tỉnh, thành phố ĐBSCL
Trang 36CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chương này trình bày quy trình và phương pháp nghiên cứu, xây dựng
mô hình nghiên cứu để đánh giá các yếu tố của vốn nhân lực ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế các tỉnh, thành phố ĐBSCL; mô tả các biến giải thích của
mô hình, cách thu thập số liệu và các kỹ thuật phân tích định lượng
3.1 Quy trình nghiên cứu
Để đảm bảo tính thống nhất và hiệu quả, đề tài được thực hiện từng bước theo quy trình nghiên cứu như sau:
Bước 1: Xác định vấn đề và mục tiêu nghiên cứu ĐBSCL là vùng
nông nghiệp trọng điểm của cả nước có đóng góp quan trọng trong việc xuất khẩu nông, thủy sản và lương thực, hàng hóa cân đối cho cả nước, nhưng lại là vùng có nhiều bất cập về chất lượng nguồn nhân lực và môi trường con người ở nông thôn Việc đầu tư nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở khu vực này là vấn đề cấp thiết để tăng trưởng kinh tế và cũng là thách thức lớn nhất cho mục tiêu phát triển bền vững ĐBSCL Trong các yếu tố của nguồn vốn nhân lực thì vai trò của giáo dục và y tế đối với tăng trưởng kinh tế là một vấn đề quan trọng cần được nghiên cứu để có những chính sách phát triển phù hợp, đó chính là lý
do để thực hiện đề tài này
Bước 2: Xây dựng cơ sở lý thuyết cho nghiên cứu Xuất phát từ vấn
đề cần giải quyết và mục tiêu đặt ra, tiến hành sưu tầm, tập hợp tài liệu có liên quan và vận dụng kiến thức đã học để xây dựng nên cơ sở lý thuyết cho nghiên cứu Chọn lọc tình bày các khái niệm, lý thuyết kinh tế, mô hình thực nghiệm
và các công trình nghiên cứu trước có liên quan để làm cơ sở đề xuất mô hình nghiên cứu cho đề tài
Bước 3: Xây dựng mô hình nghiên cứu Căn cứ trên cơ sở lý thuyết đã
chọn lọc tiến hành xử lý vấn đề nghiên cứu và mục tiêu nghiên đã đặt ra Từ kết quả nghiên cứu định tính và thừa kế thành quả của các công trình nghiên
Trang 37cứu trước có liên quan tiến hành xây dựng mô hình hồi quy thể hiện tác động của vốn nhân lực đối với tăng trưởng kinh tế các tỉnh, thành phố ĐBSCL; lựa chọn các biến đại diện cho yếu tố giáo dục, y tế và các biến kiểm soát khác phù hợp với mục tiêu và khung phân tích của đề tài
Bước 4: Thu thập và xử lý số liệu Tiến hành thu thập số liệu của các
biến có trong mô hình nghiên cứu đề xuất từ các nguồn tin cậy; chọn lọc và trình bày dữ liệu phù hợp với mô hình nghiên cứu; xử lý chuyển đổi đơn vị, tính toán biến đổi số liệu theo yêu cầu của các biến có trong mô hình
Bước 5: Kiểm tra dữ liệu Thực hiện kiểm tra độ phù hợp của dữ liệu
với mô hình nghiên cứu, phân tích tương quan giữa các biến giải thích với biến phụ thuộc và giữa các biến độc lập với nhau; kiểm tra và xử lý hiện tượng đa cộng tuyến có thể xuất hiện trong dữ liệu
Bước 6: Thực hiện các mô hình hồi quy Sử dụng các phương pháp
phân tích phù hợp với loại dữ liệu bảng đã thu thập để tiến hành ước lượng mô hình nghiên cứu đề xuất Trình bày các kết quả của từng mô hình cụ thể để phục vụ cho việc kiểm định và lựa chọn mô hình nghiên cứu phù hợp nhất
Bước 7: Kiểm định lựa chọn mô hình phù hợp Thực hiện các phương
pháp kiểm định giả thiết thống kê tương ứng với các mô hình hồi quy; phân tích các hạn chế, khuyết tật có thể tồn tại cũng như các ưu điểm của từng mô hình, kiểm định lựa chọn mô hình hồi quy tốt nhất với bộ dữ liệu để trình bày
và giải thích kết quả nghiên cứu
Bước 8: Trình bày, giải thích kết quả nghiên cứu Sử dụng mô hình
nghiên cứu hiệu quả đã chọn để tiến hành trình bày, giải thích, mô tả các kết quả thu được So sánh với cơ sở lý thuyết và các kỳ vọng đặt ra cho từng biến
để cố gắng tìm hiểu, giải thích các kết quả khác biệt với quy luật tự nhiên
Bước 9: Kết luận, khuyến nghị chính sách Tiến hành xem xét, đánh
giá lại quá trình nghiên cứu đã giải quyết được vấn đề và mục tiêu đặt ra hay chưa Căn cứ vào kết quả thu được có thể đề xuất các giải pháp, khuyến nghị
Trang 38chính sách để thúc đẩy tăng trưởng cho khu vực nghiên cứu, đánh giá các hạn chế của đề tài và gợi mở các hướng nghiên cứu tiếp theo
Hình 3.1 Sơ đồ thực hiện quy trình nghiên cứu
3.2 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết vấn đề đặt ra thì phương pháp nghiên cứu được triển khai
áp dụng là sử dụng kết hợp cả phương pháp định tính lẫn định lượng Quá trình nghiên cứu được chia làm 3 giai đoạn:
Trong giai đoạn đầu, sử dụng kỹ thuật của phương pháp định tính như thảo luận nhóm, tham khảo ý kiến của chuyên gia, nghiên cứu các tài liệu có
Bước 1: Xác định vấn đề và mục tiêu nghiên cứu
Bước 2: Xây dựng cơ sở lý thuyết cho nghiên cứu
Bước 3: Xây dựng mô hình nghiên cứu
Bước 4: Thu thập và xử lý số liệu
Bước 5: Kiểm tra dữ liệu
Bước 6: Thực hiện các mô hình hồi quy
Bước 7: Kiểm định lựa chọn mô hình phù hợp
Bước 8: Trình bày, giải thích kết quả nghiên cứu
Bước 9: Kết luận, khuyến nghị chính sách
Trang 39sẵn để từ đó định hình được bản chất của vấn đề nghiên cứu, cụ thể là xác định được các yếu tố chính của vốn nhân lực gồm vai trò của giáo dục và y tế
có ảnh hưởng đến sự tăng trưởng kinh tế của các tỉnh, thành phố trong khu vực nghiên cứu ĐBSCL Bằng cách nghiên cứu cơ sở lý thuyết về nguồn vốn nhân lực, tiếp cận với các công trình thực tế và thu thập phân tích các dữ liệu có được, phương pháp định tính còn cho phép ta xây dựng nên mô hình nghiên cứu đề xuất và dự đoán (kỳ vọng) các kết quả có được từ mô hình theo các quy luật tự nhiên
Giai đoạn thứ hai là sử dụng các phương pháp định lượng để lượng hoá các thông tin nghiên cứu Bằng cách sử dụng các mô hình hồi quy dữ liệu bảng
để xác định ảnh hưởng của các biến giải thích đến sự tăng trưởng kinh tế của các tỉnh, thành phố ĐBSCL Các biến độc lập trong mô hình nghiên cứu bao gồm: (1) nhóm các biến đại diện cho vai trò của giáo dục gồm: số lượng học sinh trung học cơ sở, số lượng học sinh phổ thông trung học, số lượng sinh viên cao đẳng đại học, chi tiêu ngân sách cho sự nghiệp giáo dục; (2) nhóm các biến đại diện cho vai trò của y tế gồm: số lượng giường bệnh, số lượng cán bộ ngành y, chi tiêu ngân sách cho sự nghiệp y tế; (3) nhóm các biến số kinh tế vĩ
mô khác gồm: số lượng lao động đang làm việc, đầu tư trực tiếp nước ngoài,
độ mở thương mại, chi tiêu ngân sách cho đầu tư phát triển Biến phụ thuộc là
sự tăng trưởng kinh tế của các tỉnh, thành phố ĐBSCL (đại diện là GDP: tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh/thành phố) Đây là mô hình nghiên cứu các yếu tố ngoại sinh và dữ liệu là loại bảng cân bằng kết hợp giữa yếu tố không gian, thời gian nên có thể áp dụng các mô hình hồi quy dữ liệu bảng phổ biến để phân tích và kiểm định lựa chọn mô hình tối ưu nhất cho nghiên cứu
Giai đoạn cuối là trình bày, diễn giải, mô tả các kết quả có được từ mô hình nghiên cứu Bằng cách so sánh với các kỳ vọng trong giai đoạn đầu nhằm xem xét kết quả nghiên cứu có phù hợp với lý thuyết hay không, tìm hiểu và giải thích các sự khác biệt với quy luật tự nhiên để từ đó đưa ra các khuyến nghị chính sách phù hợp cũng như gợi mở các hướng nghiên cứu tiếp theo
Trang 403.3 Mô hình nghiên cứu
3.3.1 Xây dựng mô hình nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy bội để xem xét mối quan hệ tuyến tính giữa nhiều biến độc lập và một biến phụ thuộc, mô hình nghiên cứu có k biến độc lập có công thức tổng quát như sau:
Xây dựng phương trình hồi quy có dạng như sau: