Đó cũng chính là lý do mà tác giả nghiên cứu đề tài “Khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng chính thức của hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn tỉnh Bình Dương ” 1.2 Nội dung nghiên cứu Trê
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VŨ THỊ HƯỜNG NGÁT
KHẢ NĂNG TIẾP CẬN VỐN TÍN DỤNG CHÍNH THỨC CỦA HỘ KINH DOANH CÁ THỂ TRÊN
ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH DƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2015
Trang 2MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ vii
DANH SÁCH CÁC TỪ VIẾT TẮT viii
Chương 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Nội dung nghiên cứu 2
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.5 Ý nghĩa của đề tài 3
1.6 Kết cấu của luận văn 4
Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 5
2.1 Khái niệm về tín dụng 5
2.2 Tín dụng chính thức 5
2.3 Tiếp cận tín dụng 5
2.3.1 Như thế nào gọi là tiếp cận 5
2.3.2 Sự cần thiết phải mở rộng mức độ và khả năng tiếp cận vốn tín dụng 6
2.3.3 Mức độ tiếp cận tín dụng 7
2.4 Tổng quan về hộ kinh doanh cá thể 10
2.4.1 Khái niệm hộ kinh doanh cá thể 10
2.4.2 Đặc điểm kinh tế hộ 10
2.5 Lý thuyết về thông tin bất cân xứng 11
2.5.1 Khái niệm về thông tin bất cân xứng 11
Trang 32.5.2.Lựa chọn bất lợi 13
2.5.3 Rủi ro đạo đức (tâm lý ỷ lại) 15
2.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng của hộ kinh doanh cá thể 15
2.7 Các nghiên cứu trước về khả năng tiếp cận tín dụng 19
Chương 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
3.1 Phương pháp nghiên cứu 24
3.1.1 Phương pháp thu thập dữ liệu 24
3.1.2 Phương pháp phân tích số liệu 24
3.1.3 Phương pháp chọn mẫu 25
3.2 Mô hình nghiên cứu tổng quát 25
3.3 Mô hình nghiên cứu đề nghị 26
3.3.1 Giả thuyết nghiên cứu 27
3.3.2 Mô hình nghiên cứu 27
3.4 Kỹ thuật chạy mô hình 31
3.4.1 Kiểm định độ phù hợp của mô hình 32
3.4.2 Kiểm định ý nghĩa của các hệ số hồi qui 32
3.4.3 Kiểm định hiện tượng đa công tuyến 32
3.4.4 Thực hiện các kiểm định so sánh giữa hộ vay và không vay 33
Chương 4: THỰC TRẠNG CUNG CẤP VỐN TÍN DỤNG CHÍNH THỨC VÀ TIẾP CẬN VỐN TÍN DỤNG CHÍNH THỨC CỦA HỘ KINH DOANH CÁ THỂ TẠI BÌNH DƯƠNG 35
4.1 Đặc điểm địa lý và kinh tế xã hội tỉnh Bình Dương 35
4.1.1 Đặc điểm địa lý 35
4.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 36 4.2 Ảnh hưởng của đặc điểm địa lý và kinh tế - xã hội đến việc tiếp cận tín
Trang 4dụng chính thức của hộ KDCT tại Bình Dương 38
4.3 Mô tả mẫu khảo sát các hộ KDCT 40
Chương 5: PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 47
5.1 Phân tích thống kê mô tả số liệu nghiên cứu 47
5.2 Kết quả hồi quy của mô hình 49
5.2.1 Các kiểm định liên quan đến hồi quy Binary Logistic 49
5.2.2 Kết quả của mô hình 52
5.3 Phân tích mức độ tác động đến tình trạng vay vốn chính thức của từng yếu tố 56
Chương 6: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 59
6.1 Kết luận 59
6.2 Khuyến nghị 59
6.2.1 Đối với các TCTD 59
6.2.2 Đối với hộ kinh doanh cá thể 63
6.2.3 Các giải pháp từ phía Chính phủ, chính quyền địa phương và các bộ ngành liên quan 64
6.3 Hạn chế của đề tài 67
TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
PHỤ LỤC 72
Phụ lục 1: PHIẾU PHỎNG VẤN HỘ KINH DOANH CÁ THỂ VỀ TIẾP CẬN NGUỐN TÍN DỤNG 72
Phụ lục 2: THỐNG KÊ MÔ TẢ 77
Phụ lục 2.1 Kiểm định mối quan hệ giữa tuổi của chủ hộ và tình trạng vay vốn của hộ 77
Phụ lục 2.2 Kiểm định mối quan hệ giữa giới tính của chủ hộ và tình trạng vay vốn của hộ 77
Phụ lục 2.3 Kiểm định mối quan hệ giữa tình trạng giấy tờ nhà đất và tình trạng vay vốn của hộ 77
Trang 5Phụ lục 2.4 Kiểm định mối quan hệ giữa số năm kinh doanh và tình trạng vay
vốn của hộ 78
Phụ lục 2.5 Kiểm định mối quan hệ giữa doanh thu và tình trạng vay vốn của hộ 78
Phụ lục 2.6 Kiểm định mối quan hệ giữa thu nhập và tình trạng vay vốn của hộ 79
Phụ lục 2.7 Kiểm định mối quan hệ giữa vốn kinh doanh và tình trạng vay vốn của hộ 79
Phụ lục 2.8 Kiểm định mối quan hệ giữa thủ tục vay vốn và tình trạng vay vốn của hộ 79
Phụ lục 2.9 Kiểm định mối quan hệ giữa lãi suất và tình trạng vay vốn của hộ 80
Phụ lục 2.10 Kiểm định mối quan hệ giữa lãi suất và tình trạng vay vốn của hộ 80
PHỤ LỤC 3: KẾT QUẢ HỒI QUY BINARY LOGISTIC 81
Phụ lục 3.1: Omnibus Tests of Model Coefficients 81
Phụ lục 3.2: Model Summary 81
Phụ lục 3.3: Classification Tablea 81
Phụ lục 3.4: Variables in the Equation 81
Phụ lục 3.5 Correlation Matrix 82
Phụ lục 3.6: Coefficientsa 82
Trang 6DANH MỤC BẢNG - BIỂU ĐỒ
Trang
Bảng 2.1: Tiêu chuẩn đo lường mức độ tiếp cận dịch vụ ngân hàng 9
Bảng 2.2: Tổng hợp các nghiên cứu trước 21
Bảng 3.1: Các biến độc lập ảnh hưởng đến việc tiếp cận vốn tín dụng chính thức của hộ KDCT 30
Sơ đồ 1: Các yếu tố ảnh hưởng khả năng tiếp cận vốn tín dụng chính thức 31
Bảng 4.1 Tổng hợp về tuổi của chủ hộ 40
Bảng 4.2: Giới tính của chủ hộ 41
Biểu đồ 4.1 Tình trạng giấy tờ nhà đất của hộ 42
Bảng 4.3 Tình trạng giấy tờ nhà đất của hộ KDCT 42
Biểu đồ 4.2 Số năm kinh doanh của hộ 43
Bảng 4.4: Thông tin về hoạt động sản xuất kinh doanh của hộ KDCT 43
Bảng 4.5: Nhóm yếu tố liên quan đến tổ chức tín dụng 44
Bảng 5.1: Thống kê mô tả dữ liệu mẫu các biến phân tích 47
Bảng: 5.2 Kiểm định về mức độ phù hợp của mô hình tổng quát 49
Bảng 5.3 Kiểm định về mức độ phù hợp của mô hình 50
Bảng 5.4 Kiểm định tính chính xác trong dự báo của mô hình 50
Bảng 5.5 Kiểm tra đa cộng tuyến của mô hình 51
Bảng 5.6 Kết quả hồi quy Binary Logistic của mô hình nghiên cứu 52
Bảng 5.7 Ước lượng xác suất vay vốn chính thức theo tác động biên của từng yếu tố 56
Trang 8CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
Chương 1 giới thiệu tổng quan về lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa của đề tài và kết cấu của luận
văn
1.1 Lý do chọn đề tài
Theo thống kê của Tổng cục Thống kê (2014), tính đến hết năm 2014 cả nước
có tổng cộng hơn 4 triệu hộ kinh doanh cá thể (KDCT) Cuộc điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam của Tổng cục Thống kê (2007), giá trị tăng trung bình một năm của một hộ gia đình Việt Nam là 15,5 triệu đồng Theo phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam quy ra giá trị gia tăng của khu vực doanh nghiệp hộ gia đình Việt Nam tương đương với gần 13% góp vào GDP của cả nước
Lê Binh Hùng (2007), đánh giá rằng hộ KDCT có vai trò rất quan trọng trong việc phát triển kinh tế hiện tại "Không những giải quyết việc làm, tăng thu nhập, tăng nguồn thu cho ngân sách mà hộ KDCT còn là mạng lưới rộng lớn nhất, phát triển về tận những vùng xa, vùng khó khăn mà các lĩnh vực kinh doanh khác không đáp ứng được” Nhờ đó, hộ KDCT là kênh quan trọng phân phối và lưu thông hàng hóa tới vùng sâu vùng xa, vùng khó khăn, giúp cân đối thương mại và phát triển kinh tế địa phương Tuy nhiên, hiện nay khu vực này vẫn đang trong tình trạng tự phát Mặc dù trong các luật của Việt Nam thời gian qua đã đề cao vai trò và khuyến khích phát triển của kinh tế tư nhân, song những ưu đãi cũng như định hướng, hỗ trợ phát triển vẫn chỉ mới dành cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, chứ chưa hướng vào hộ kinh doanh cá thể
Theo Hiệp hội doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam (2014), Trung tâm hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ, khó khăn thách thức đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các hộ KDCT tập trung vào các vấn đề tài chính, khả năng tiếp cận vốn tín dụng, tiếp cận thị trường và nguồn thông tin, tiếp cận với cơ quan Nhà nước, công nghệ bao gồm công nghệ quản lý, kinh doanh và công nghệ thông tin Chính vì điều này hộ KDCT không được cập nhật những tiến bộ mới trong kinh doanh, mà vẫn làm theo khuynh hướng kinh tế gia đình, phát triển tự nhiên, không có khuynh hướng mở rộng quy mô,
để hưởng những điều kiện thuận lợi và có cơ hội hơn Vấn đề thiếu vốn để sản xuất và
mở rộng sản xuất kinh doanh là hiện tượng phổ biến đối với hầu hết các hộ kinh doanh
Trang 9cá thể hiện nay và được coi là một trong những rào cản lớn nhất để phát triển kinh doanh của hộ
Bình Dương là một trong những địa phương năng động trong kinh tế của cả nước, thu hút đầu tư nước ngoài Với chủ trương tạo ra một môi trường đầu tư tốt nhất hiện nay tại Việt Nam Tập trung khai thác lợi thế về vị trí địa lý, sự hợp tác của các tỉnh trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Việc hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các hộ kinh doanh phát triển khu vực kinh tế tư nhân cũng là một trong những mục tiêu phát triển kinh tế toàn tỉnh Tuy nhiên với những bất ổn về kinh tế vĩ mô đang hiện hữu đã gây ra không ít khó khăn, thách thức đối với các hộ kinh doanh Các ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh với khả năng cung ứng vốn tín dụng ổn định, mạnh và mức lãi suất phù hợp luôn là nơi mà hộ KDCT mong nhận được sự hỗ trợ Song trên thực tế không phải hộ KDCT nào cũng nhận được nguồn vốn tín dụng để đáp ứng nhu cầu kinh doanh của mình Chính vì vậy nhu cầu vốn tín dụng của các hộ kinh doanh cá thể tại Bình Dương đang trở thành vấn đề cần được quan tâm hiện nay
Từ thực tế trên với mong muốn tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến việc khó tiếp cận nguồn vốn tín dụng của hộ KDCT và từ đó đưa ra giải pháp giúp hộ KDCT tiếp cận được nguồn vốn tín dụng để mở rộng sản xuất kinh doanh phát triển kinh tế gia đình, đóng góp vào phát triển kinh tế quốc gia Đó cũng chính là lý do mà tác giả nghiên cứu
đề tài “Khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng chính thức của hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn tỉnh Bình Dương ”
1.2 Nội dung nghiên cứu
Trên cơ sở những vấn đề lí luận và thực tiễn về vốn tín dụng chính thức và nhân
tố tác động đến việc tiếp cận vốn tín dụng chính thức, từ phân tích đánh giá thực trạng tiếp cận vốn tín dụng chính thức trong những năm qua, đề tài đề xuất các định hướng, các giải pháp và kiến nghị nhằm mở rộng khả năng tiếp cận vốn tín dụng chính thức của hộ KDCT tại Bình Dương Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu đặt ra, đề tài tập trung giải quyết những nhiệm vụ chủ yếu sau:
Trang 10Nghiên cứu những vấn đề lí luận về vốn tín dụng chính thức và nhân tố tác động đến việc tiếp cận vốn tín dụng chính thức của hộ KDCT tại địa bàn tỉnh Bình Dương
Gợi ý các chính sách giúp hộ kinh doanh cá thể tại Bình Dương dễ dàng tiếp cận được nguồn vốn tín dụng chính thức
Đề xuất định hướng, các giải pháp và kiến nghị với Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước, các tổ chức tín dụng nhằm giảm rào cản tiếp cận tín dụng chính thức ở Bình Dương Khuyến nghị các giải pháp để tổ chức tín dụng chính thức hoạt động hiệu quả trong hoạt động cho vay đối với đối tượng là hộ KDCT
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
- Hộ KDCT ở Bình Dương đã tiếp cận được với nguồn vốn tín dụng chính thức nào?
- Những yếu tố quan trọng nào ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận vốn tín dụng chính thức của hộ KDCT tại Bình Dương?
1.4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận vốn tín dụng chính thức của hộ KDCT tại địa bàn tỉnh Bình Dương
- Phạm vi nghiên cứu
+ Về không gian: Trên địa bàn toàn tỉnh Bình Dương với 1 thành phố Thủ Dầu Một; 4 thị xã là: thị xã Thuận An, thị xã Dĩ An, thị xã Tân Uyên và thị xã Bến Cát; 4 huyện bao gồm: Phú Giáo, Dầu Tiếng, Bắc Tân Uyên và huyện Bàu Bàng
+ Về thời gian: Cuộc khảo sát diễn ra từ tháng 4 đến tháng 6 năm 2015
1.5 Ý nghĩa của đ ề t à i
- Vận dụng các kiến thức về kinh tế học và các mô hình kinh tế lượng để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng vay vốn tín dụng của hộ KDCT tại Bình Dương
- Từ đó đề ra được biện pháp giúp hộ KDCT tại Bình Dương tiếp cận được nguồn vốn tín dụng chính thức dễ dàng hơn
- Giúp các tổ chức tín dụng nâng cao và hoàn thiện hoạt động cho vay với đối tượng là hộ KDCT
Trang 11- Làm cơ sở cho nghiên cứu tiếp theo trong lĩnh vực này
1.6 Kết cấu của luận văn
Chương 1: Giới thiệu đề tài Chương này giới thiệu tổng quan về lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa của đề tài và kết cấu của luận văn
Chương 2: Cơ sở lý thuyết Chương này nêu ra các khái niệm về tín dụng, khái niệm về hộ kinh doanh cá thể, trình bày lý thuyết thông tin bất cân xứng và các nghiên cứu trước
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương này trình bày phương pháp thu thập dữ liệu, phương pháp phân tích số liệu, phương pháp chọn mẫu, mô hình tổng quát và mô hình nghiên cứu cụ thể
Chương 4: Thực trạng cấp tín dụng chính thức và khả năng tiếp cận vốn tín dụng chính thức của hộ KDCT tại Bình Dương
Chương 5: Phân tích kết quả nghiên cứu Chương này mô tả phân tích thống kê
dữ liệu nghiên cứu, kết quả phân tích mô hình kinh tế lượng Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng của hộ KDCT trên địa bàn tỉnh Bình Dương
Chương 6: Kết luận và kiến nghị Chương này nêu ra những kết luận thông qua kết quả nghiên cứu và kiến nghị chính sách cần thiết, cũng như nêu lên những hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo
Trang 12CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Chương 2 trình bày các khái niệm về tín dụng, tiếp cận tín dụng, khái niệm về
hộ kinh doanh cá thể, lý thuyết thông tin bất cân xứng, các yếu tố ảnh hưởng đến khả
năng tiếp cận TDCT và các nghiên cứu trước
2.1 Khái niệm về tín dụng
Tín dụng là một phạm trù kinh tế ra đời và tồn tại qua nhiều hình thái kinh
tế xã hội Trong nhiều ngôn ngữ, như tiếng Pháp và Anh, chữ crédict/credict (từ gốc La tinh credere có nghĩa là tin cậy) cũng có nghĩa là tín dụng, uy tín và tín nhiệm, dựa trên sự tin tưởng tín nhiệm đó sẽ thực hiện các quan hệ vay mượn một lượng giá trị biểu hiện dưới hình thái tiền tệ hoặc vật chất trong một thời gian nhất định, ngay cả những giá trị vô hình như tiếng tăm, uy tín để đảm bảo, bảo lãnh cho sự vận động của một lượng giá trị nào đó (Sử Đình Thành, 2006)
T h e o Sử Đình Thành (2006), đưa ra khái niệm tổng quát về tín dụng như sau:
“Tín dụng là một phạm trù kinh tế chỉ mối quan hệ vay mượn dựa trên nguyên tắc có hoàn trả cả vốn gốc và lãi sau một thời gian nhất định”
bỏ yêu cầu xin vay (Zeller, 1994)
2.3 Tiếp cận tín dụng
2.3.1 Như thế nào được gọi là tiếp cận
Cần có một quan điểm rõ ràng là bởi vì gắn liền với các giải pháp mở rộng khả năng tiếp cận tín dụng là các phản ứng từ phía chính sách sao cho phù hợp Có những
Trang 13quan điểm khác nhau về tiếp cận tín dụng Có quan điểm cho rằng tiếp cận không đồng nghĩa với sử dụng, Theo Beck (2009), “Tiếp cận với các dịch vụ tài chính không phải
là đồng nghĩa với việc sử dụng các dịch vụ tài chính Tác nhân kinh tế có thể có tiếp cận với các dịch vụ tài chính, nhưng có thể quyết định không sử dụng chúng, hoặc do các lý do văn hóa - xã hội, hoặc bởi vì chi phí cơ hội là quá cao” Như vậy, khách hàng
có nhu cầu về dịch vụ tín dụng, đã tìm hiểu về dịch vụ tín dụng của ngân hàng - có nghĩa là có tiếp cận với dịch vụ tín dụng, song do chi phí cao nên quyết định không vay ngân hàng cũng vẫn được coi là đã tiếp cận dịch vụ tín dụng Tuy nhiên trong phạm vi đề tài nghiên cứu tác giả cho rằng việc nghiên cứu tiếp cận theo quan điểm có
sử dụng vốn tín dụng sẽ có ý nghĩa hơn bởi lẽ nếu chỉ dừng ở hiểu về vốn tín dụng thì không chỉ rất khó đánh giá mà không cho biết được con số thực sự số lượng người đã tiếp cận và sử dụng vốn tín dụng để từ đó có những giải pháp phù hợp
2.3.2 Sự cần thiết phải mở rộng mức độ và khả năng tiếp cận vốn tín dụng
Việc mở rộng mức độ và khả năng tiếp cận vốn tín dụng chính thức không chỉ
có ý nghĩa đối với bản thân các tổ chức tín dụng mà còn có ý nghĩa về mặt xã hội Tiếp cận vốn tín dụng chính thức một mặt góp phần nâng cao mặt bằng dân trí và vấn đề quan trọng là mở ra cho người dân, cho các hộ gia đình, các doanh nghiệp khả năng tiếp cận với nguồn vốn chính thức với mức giá phù hợp để đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, để cải thiện và nâng cao đời sống về mặt kinh tế - xã hội Trong bài viết về
“Dân nghèo cần được tiếp cận dịch vụ ngân hàng” Beck (2009) có viết “Nghiên cứu mới nhất của Ngân hàng Thế giới (WB) cho biết 3/4 số dân nghèo trên thế giới hiện chưa tiếp cận các dịch vụ ngân hàng chủ yếu do chi phí cao, khoảng cách xa về địa lý
và các thủ tục giấy tờ liên quan đến mở tài khoản ở ngân hàng”, nghiên cứu của WB nhấn mạnh “những người nghèo không tiếp cận được các dịch vụ ngân hàng buộc phải phụ thuộc vào những người cho vay lãi suất cao, gặp khó khăn khi muốn bắt đầu công việc kinh doanh hoặc không được bảo hiểm tai nạn từ các biến cố” Mặc dù nghiên cứu không phải là mới song nó đã phản ánh hiện trạng thực tế về những khó khăn khi không tiếp cận được dịch vụ ngân hàng mà người dân gặp phải Trong một nghiên cứu của mình ông Đinh Thế Hiển, Giám đốc Viện Nghiên cứu tin học và kinh tế ứng dụng
cho biết “Mặc dù các ngân hàng trong những năm gần đây đã có nhiều nỗ lực trong
Trang 14việc đa dạng hóa các loại hình sản phẩm dịch vụ, tuy nhiên mức độ tiếp cận dịch vụ ngân hàng tại Việt Nam vẫn còn thấp so với khu vực và thế giới Mức độ phân bổ các chi nhánh, phòng giao dịch không đồng đều, chủ yếu tập trung tại thành thị, quy mô phòng giao dịch, thậm chí chi nhánh còn chưa xứng tầm Đối với khách hàng cá nhân,
tỷ lệ tiếp cận và sử dụng dịch vụ ngân hàng còn ở mức khiêm tốn Phương thức giao dịch chủ yếu vẫn là giao dịch trực tiếp tại quầy, giao dịch thông qua hệ thống điện tử chưa phổ biến Mảng kinh doanh thẻ và thanh toán không dùng tiền mặt vẫn chưa phát triển rộng rãi Các ứng dụng trong việc sử dụng thẻ chưa đa dạng, mức độ liên minh giữa các ngân hàng trong hệ thống thẻ (Smartlink) chưa cao, gây khó khăn và bất tiện cho người sử dụng” (Đinh Thế Hiển, 2011)
số lượng khách hàng tăng cả về con số tuyệt đối và tương đối, dịch vụ do TCTD cung ứng đã đạt được mức tiếp cận rộng hơn đối với khách hàng Các giá trị tăng trưởng tuyệt đối và tương đối của dư nợ tín dụng cũng cho kết luận tương tự về độ rộng tiếp cận của các dịch vụ tín dụng chính thức Không có giới hạn chuẩn cho những tiêu chí này, tùy thuộc vào từng quốc gia mà sự phát triển chiều rộng được đánh giá nếu như mọi quy mô hoạt động tăng trưởng nhanh, liên tục về số lượng
- Độ sâu tiếp cận
Nghiên cứu về độ sâu tiếp cận dịch vụ tín dụng, tác giả tham khảo các chỉ tiêu
đo lường được áp dụng trong nghiên cứu tiếp cận tín dụng chính thức của các TCTD
Độ sâu tiếp cận đo lường khả năng các khách hàng khác nhau có thể tiếp cận vốn tín dụng chính thức, cũng như giá trị ròng mà khách hàng nhận được Tuy vậy, các chỉ
Trang 15tiêu đo lường độ sâu của tiếp cận trực tiếp thông qua sự thay đổi ròng của giá trị thu nhập và tài sản khách hàng sau khi tiếp cận dịch vụ tín dụng rất khó xác định Vì vậy các chỉ tiêu gián tiếp đơn giản hơn được sử dụng để đo lường độ sâu tiếp cận tới các nhóm khách hàng mục tiêu bao gồm:
M mức vay trung bình thấp nghĩa là nhiều khách hàng có
thu nhập thấp đã được vay tại các TCTD, vì đối với các khách hàng khu vực nông thôn nhu cầu vay vốn thường có giá trị thấp Quy mô món vay trung bình/GDP bình quân đầu người được coi như một chỉ tiêu dùng để so sánh độ sâu của tiếp cận đến các khách hàng của một TCTD
Quy mô món cho vay trung bình =
Mức cho vay trung bình
GDP bình quân đầu người
Tỷ lệ này càng thấp chứng tỏ mức độ tiếp cận của TCTD càng sâu Đây là chỉ
số được ưa thích vì tính toán đơn giản và có thể sử dụng để so sánh xuyên quốc gia và được sử dụng để xác định độ sâu tiếp cận dịch vụ của các TCTD Theo chuẩn quốc tế
về độ sâu tiếp cận dịch vụ tín dụng thì tỷ lệ này dưới 20%, với tỷ lệ này TCTD đã phục
vụ tầng lớp khách hàng nghèo (tầng đáy) Nếu trong khoảng từ 20-150%, TCTD đã phục vụ các khách hàng trung bình và có mức tiếp cận rộng, và TCTD chỉ tập trung vào các khách hàng giàu có nếu tỷ lệ này lớn hơn 150%
Hai nhóm tỷ lệ này phản
ánh chất lượng hoạt động tín dụng đối với TCTD Các tỷ lệ này càng thấp, chứng tỏ chất lượng hoạt động tín dụng càng cao, độ sâu tiếp cận tốt Trong điều kiện TCTD mở rộng hoạt động tới nhiều nhóm khách hàng khác nhau với quy mô tăng trưởng, nếu tỷ
lệ nợ quá hạn cao chứng tỏ TCTD đó không đạt yêu cầu về mở rộng hoạt động Theo thông lệ quốc tế, đối với các Tổ chức tài chính nông thôn thì tỷ lệ này ở mức 5% là hợp lý Tỷ lệ nợ xấu phản ánh tốt hơn chất lượng tín dụng, vì đã xét tới khả năng thu hồi nợ của TCTD Tỷ lệ này càng nhỏ càng tốt, và thông lệ quốc tế ở mức 3% là chấp nhận được Tỷ lệ này cũng đang được áp dụng trong quản lý tín dụng đối với các TCTD của Việt Nam
Trang 16Bảng 2.1: Tiêu chuẩn đo lường mức độ tiếp cận dịch vụ ngân hàng
Độ rộng
tiếp cận
- Mạng lưới điểm giao dịch và ATM
- Số lượng dịch vụ và sản phẩm cung ứng
- Số lượng và mức tăng trưởng của khách hàng
- Số lượng và mức tăng trưởng của dư nợ tín dụng
- Số lượng và mức tăng trưởng của số dư tiết kiệm
Không có tiêu chuẩn chung
Độ sâu
tiếp cận
Mức vay trung bình/GDP bình quân đầu người
- Về í s : thể hiện mức độ quan tâm của chính phủ đến sự phát triển của
vùng nông thôn thông qua hệ thống các TCTD Các chính sách của nhà nước, các thông tư và các quy định của hệ thống ngân hàng có ý nghĩa quan trọng và là cơ sở nền tảng hỗ trợ cho các TCTD thực hiện, triển khai các sản phẩm dịch vụ của mình tới các vùng sâu, vùng xa, tới tận ấp, xã, tới các hộ gia đình
- Về m ới (Chi nhánh, PGD, điểm giao dịch, máy ATM): Việc cung cấp
dịch vụ tín dụng cần phải có một hệ thống, mạng lưới các chi nhánh, các điểm giao dịch; đây chính là nơi trực tiếp tổ chức thực hiện việc cung cấp dịch vụ tín dụng tới tận tay những đối tượng có nhu cầu, đó là các doanh nghiệp, các hộ gia đình, các cá
Trang 17nhân… Bằng việc phát triển mạng lưới giao dịch của mình các dịch vụ ngân hàng ngày càng tới gần hơn với khách hàng
- C sả p ẩm ị ụ â p ( ả ề số ) đây
là một thước đo mức độ thỏa mãn nhu cầu của khách hàng về sự đa dạng, phong phú của dịch vụ ngân hàng và nhu cầu về sự hài lòng với chất lượng dịch vụ mà các ngân hàng cung cấp Xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu của con người càng cao kể cả
về số lượng và chất lượng, các yêu cầu cũng ngày càng khắt khe hơn
2.4 Tổng quan về hộ kinh doanh cá thể
2.4.1 Khái niệm hộ kinh doanh cá thể
Theo điều 66 nghị định số 78/2015/NĐ-CP ngày 14/09/2015 định nghĩa: Hộ kinh doanh do một cá nhân hoặc một nhóm người gồm các cá nhân là công dân Việt Nam đủ 18 tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng dưới mười lao động và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh
Hộ gia đình sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, làm muối và những người bán hàng rong, quà vặt, buôn chuyến, kinh doanh lưu động, làm dịch vụ có thu nhập thấp không phải đăng ký, trừ trường hợp kinh doanh các ngành, nghề có điều kiện, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định mức thu nhập thấp áp dụng trên phạm vi địa phương
Hộ kinh doanh có sử dụng từ mười lao động trở lên phải đăng ký thành lập doanh nghiệp theo quy định
2.4.2 Đặc điểm kinh tế hộ
Theo Tạ Việt Anh (2010), Hộ là một đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là một đơn vị sản xuất, kinh doanh vừa là một đơn vị tiêu dùng Sử dụng nguồn nhân lực tự có, quy mô sản xuất kinh doanh nhỏ, ngành nghề đa dạng, phong phú, khả năng quản lý hạn chế, vốn kinh doanh từ tiết kiệm, tích lũy trong hộ Đặc điểm chung thể hiện là:
Về nhân lực: Hộ KDCT chủ yếu sử dụng nguồn lực tự có trong gia đình Đây là nguồn lực ở quy mô nhỏ, trong phạm vi gia đình, bạn bè thân thuộc được huy động để tham gia vào kinh doanh, mua bàn hàng hóa Một số hộ có quy mô vốn lớn, mặt bằng quầy sạp rộng, kinh doanh nhiều chủng loại hàng hóa trên thị trường, vào các dịp lễ,
Trang 18ngày tết có thể thuê thêm lao động để phụ giúp kinh doanh
Về quy mô kinh doanh: hộ KDCT ở quy mô nhỏ, phạm vi kinh doanh hẹp Do điều kiện về vốn, quản lý, mặt bằng quầy sạp và thị trường tiêu thụ còn nhiều hạn chế nên khó có khả năng mở rộng quy mô kinh doanh Tuy vậy, trong tương lai, khi có sự liên kết, trao đổi và hợp tác giữa các hộ kinh doanh cá thể với các công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân thì quy mô kinh doanh của hộ sẽ lớn hơn
Vốn kinh doanh: Nguồn vốn kinh doanh chủ yếu là vốn tự có của gia đình, vay mượn bàn bè, người thân hoặc mua bán thông qua hình thức gối đầu từ nhà máy, xí nghiệp và các hãng kinh doanh khác Số lượng hộ kinh doanh tiếp cận và được vay vốn chưa nhiều do thiếu các điều kiện đảm tiền vay ngân hàng
Về ngành nghề: hộ KDCT kinh doanh trên nhiều lĩnh vực, nhiều chủng loại hàng hóa đa dạng phong phú, mặt hàng nông, lâm, ngư nghiệp, hàng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, kim khí điện máy, hàng phục vụ cho sản xuất, phục vụ tiêu dùng sinh hoạt của người dân
Về quản lý kinh doanh: Khả năng quản lý của hộ nhìn chung còn nhiều hạn chế, phần lớn tổ chức kinh doanh dựa vào kinh nghiệm tích lũy từ người đi trước truyền lại cho người đi sau, cha mẹ truyền cho con, tổ chức quản lý tài chính theo gia đình, người chủ thống nhất và quyết định mọi vấn đề liên quan đến kinh doanh
Nhìn chung, từ những đặc điểm trên cho thấy các hộ KDCT hoạt động kinh doanh rất phong phú, nhạy bén với thị trường để kinh doanh hàng hóa phục vụ tốt cho sản xuất và tiêu dùng Một trong những khó khăn của các hộ kinh doanh hiện nay là thiếu vốn để mở rộng quy mô liên kết, trao đổi, mua bán hàng hóa Vì vậy, việc tạo điều kiện để các hộ kinh doanh cá thể tiếp cận tín dụng, tăng lượng vốn kinh doanh có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế hộ
2.5 Lý thuyết về thông tin bất cân xứng
2.5.1 Khái niệm về thông tin bất cân xứng
“Thông tin bất cân xứng xảy ra khi một bên đối tác nắm giữ thông tin còn bên khác thì không biết đích thực mức độ thông tin ở mức nào đó” (Nguyễn Trọng Hoài, 2006)
Trang 19Tín dụng đóng một vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế cũng như cải thiện thu nhập cho các hộ kinh doanh cá thể, nhưng thực tế cho thấy các hộ gặp không ít khó khăn khi vay tín dụng chính thức Theo các nhà nghiên cứu, nguyên nhân của hiện tượng này là vì các TCTD hạn chế cho vay do phải đối mặt với rủi ro không trả nợ và chi phí giao dịch cao xuất phát từ hiện tượng thông tin bất cân xứng và sự biến động khó lường của thời tiết, khí hậu Nói cách khác, các TCTD không cho vay tất cả mọi người mà phải sàng lọc kỹ lưỡng người vay trên cơ sở tài sản thế chấp, thu nhập, uy tín tín dụng, mục đích sử dụng vốn, quan hệ xã hội, Hệ quả của việc sàng lọc là nhiều hộ
- nhất là các hộ nghèo không thể đáp ứng được yêu cầu của các TCTD (do thiếu tài sản thế chấp, thu nhập thấp hay sử dụng vốn vay sai mục đích vì thường phải đối mặt với các chi tiêu đột xuất nhưng rất cấp thiết) nên sẽ không vay được, do đó, phải sử dụng vốn tự tích lũy hay vay tín dụng phi chính thức với lãi suất cao
Mô hình tiếp cận tín dụng bắt đầu với lý thuyết nhu cầu tín dụng trong đó cá nhân hoặc một hộ gia đình muốn tối đa hóa lợi ích từ số tiền Tất cả các đơn vị tiền có chi phí cơ hội, đó là, lãi suất, và do đó, quyết định để vay tiền xuất phát từ một sự lựa chọn có cân nhắc Tuy nhiên, việc cung cấp tín dụng không chỉ dựa trên giá thị trường hoặc lãi suất cho vay Do thông tin bất cân xứng, Stiglitz và Weiss (1981) chỉ ra rằng
lý thuyết cung cầu tín dụng không thể giải thích được thị trường tín dụng, đặc biệt là thị trường tín dụng nông thôn Vì vậy, các tổ chức tín dụng có xu hướng sàn lọc tín dụng Nói cách khác, dòng chảy tín dụng không tuân theo quy luật cung cầu, nó là phức tạp bởi một quá trình phân phối hợp cá nhân áp dụng đối với tín dụng, sau đó cho vay xác định tín dụng được phân bổ bao nhiêu, dựa trên nhận thức của họ về mức độ tín nhiệm của khách hàng vay (Aleem, 1990)
Stiglitz và Weiss (1981) cung cấp lý thuyết sàn lọc tín dụng giải thích lý do tại sao một số người được vay trong khi một số khác lại không được vay Các tổ chức tín dụng chỉ có thể đánh giá mức độ tín nhiệm của khách hàng vay dựa trên thông tin có sẵn trước khi khoản vay được cấp Nếu không có thông tin về các hành vi sau một khoản vay của người vay, thông tin bất cân xứng nâng cao nhận thức về nguy cơ đối với người cho vay Thông tin bất cân xứng tạo ra ít nhất hai vấn đề trong tín dụng vi
mô - lựa chọn b t l i và rủi đ đ c Các tổ chức tín dụng quyết định cho vay hay
Trang 20không và quyết định mức tín dụng bao nhiêu dựa trên các thông tin mà họ có được về khách hàng vay Như vậy, không phải tất cả các khách hàng vay sẽ nhận được tín dụng
mà họ áp dụng cho Do đó, khách hàng vay phải đối mặt với sàng lọc tín dụng bất kể khả năng trả nợ của họ (Armendariz de Aghion & Morduch, 2005) điều này rất dễ dẫn đến tín dụng hạn chế trong thị trường tín dụng nông thôn
Một nghiên cứu về thông tin bất cân xứng trong hoạt động tín dụng ở Việt Nam của nhóm tác giả Hu nh Thế Du, Nguyễn Minh Kiều và Nguyễn Trọng Hoài (2005) cho rằng: Ngân hàng đơn thuần chỉ là một tổ chức kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận Cấp tín dụng là một trong những nghiệp vụ kinh doanh chính của các ngân hàng Có thể hiểu cấp tín dụng một cách đơn giản là việc ngân hàng cho khách hàng "vay" một khoản tiền hoặc uy tín của mình trong một khoảng thời gian nhất định Sau đó khách hàng có nghĩa vụ hoàn trả "khoản vay" trên cho ngân hàng cộng với khoản "lãi" kèm theo Việc "vay mượn" giữa ngân hàng và khách hàng được lập thành hợp đồng tín dụng Cũng giống như các hợp đồng tài chính khác, hợp đồng tín dụng là một dạng hợp đồng không hoàn chỉnh (incomplete contract) Để một hợp đồng được thực hiện đầy đủ thì các bên liên quan trong hợp đồng phải thực hiện đúng nghĩa vụ của mình Tuy nhiên, không giống như các hợp đồng hoàn chỉnh (complete contract), việc thực hiện các hợp đồng không hoàn chỉnh gặp nhiều khó khăn hơn vì có rất nhiều tình huống có thể xảy
ra trong quá trình thực thi hợp đồng mà các bên không lường trước được Cũng do chính vấn đề này mà trong quá trình thực hiện hợp đồng, nếu một bên có nhiều thông tin hơn có thể có những hành vi gây tổn hại đến bên có ít thông tin hơn Đây cũng là vấn đề bất cân xứng về thông tin trong các hoạt động t í n dụng của các tổ chức tín dụng
2.5.2 Lựa chọn bất lợi
“Lựa chọn bất lợi là kết quả của thông tin bị che đậy, nó xảy ra trước khi thực hiện giao dịch hay nói cách khác trước khi ký hợp đồng” theo Nguyễn Trọng Hoài (2006)
Lựa chọn bất lợi phát sinh trong quá trình sàng lọc những người cho vay không phân biệt được khách hàng “tốt” và “không tốt” và vì vậy không cho những khách
Trang 21hàng tốt vay Nếu khách hàng tốt không được vay vốn, thị trường không cung cấp các khoản tín dụng đến đối tượng khách hàng mục tiêu Trong hoạt động tín dụng sự lựa chọn bất lợi xảy ra trước khi tổ chức tín dụng và người đi vay ký hợp đồng tín dụng Khi nhận hồ sơ vay vốn của khách hàng, các tổ chức tín dụng phải thu thập thông tin có liên quan đến khách hàng và khoản vay sau đó tiến hành thẩm định để đưa ra quyết định “Có nên cho khách hàng vay hay không” Trong khâu thẩm định này, việc thông tin bất cân xứng ảnh hưởng đến các cơ sở ra quyết định cấp tín dụng đã nói ở trên sẽ dấn đến sự lựa chọn bất lợi cho phía người cho vay và gây ra rủi ro cho quyết định của tổ chức tín dụng
Theo Hồ Thiện Thanh và Nguyễn Chí Đức (2012) thì lựa chọn bất lợi trong hoạt động tín dụng thể hiện ở những điểm sau:
- Mức độ tín nhiệm của khách hàng: Việc đánh giá mức độ tín nhiệm của khách
hàng là vấn đề khó khăn cho các tổ chức tín dụng khi mà các yếu tố cơ bản của tiêu chí này là mối quan hệ dài hạn, uy tín, thương hiệu, trình độ, năng lực quản lý của khách hàng… Tổ chức tín dụng chủ yếu dựa vào lịch sử quan hệ của khách hàng với tổ chức tín dụng, còn với khách hàng mới thì việc đánh giá dựa vào ý kiến chủ quan của cán bộ tín dụng khi tiếp xúc với khách hàng hoặc từ các thông tin thu thập được từ khách hàng có quan hệ với khách hàng mới này Điều này dẫn đến rủi ro lựa chọn bất lợi cho tổ chức tín dụng khi không chọn được những khách hàng tốt mà lại chọn những
khách hàng có rủi ro cao
- Năng lực tài chính: Việc đánh giá năng lực tài chính của khách hàng chủ yếu
dựa vào các báo cáo tài chính (BCTC) của khách hàng Trên thực tế thì các BCTC của các doanh nghiệp Việt Nam chưa đủ độ tin cậy, nhất là đối với các doanh nghiệp
tư nhân vừa và nhỏ Do đó , BCTC của khách hàng cung cấp chưa thật sự phản ánh đúng năng lực tài chính của khách hàng Còn đối với khách hàng là cá nhân hộ gia đình thì việc đánh giá năng lực tài chính càng khó khăn hơn và rất dễ dẫn đến vấn đề sự lựa chọn bất lợi cho các tổ chức tín dụng khi đưa ra quyết định cho vay
- Tính hiệu quả của vốn vay: Đây chính là dấu hiệu quan trọng nhất trong việc
xét duyệt có nên cho khách hàng vay vốn hay không, là nguồn trả nợ chính của khách hàng Muốn đánh giá hiệu quả của dự án vay vốn cán bộ thẩm định sẽ phải tiến hành thẩm định các yếu tố về thị trường, kỹ thuật, công nghệ, nguồn nhân lực, tài
Trang 22chính… Nhưng trong thực tế thì việc thẩm định dự án trong một môi trường thiếu thông tin đang là một trở ngại lớn cho các cán bộ thẩm định Các thông tin hiện nay được lấy sử dụng thường là các số liệu thu thập từ các nguồn thông tin không chính thức, qua Internet với hệ thống và độ chính xác không cao Việc thiếu các thông tin để xác định các thông số đầu vào, đầu ra của dự án, nhất là việc xác định về thị trường tiêu thụ sản phẩm, thị trường cung cấp nguyên vật liệu đầu vào… sẽ dẫn đến việc đánh giá không chính xác tính khả thi của phương án, dự án kinh doanh, mà đây lại là điều tiên quyết trong việc thẩm định một dự án vay vốn Do khách hàng cố ý che dấu một số thông tin về dự án nhằm làm bảng phân tích tài chính của dự án được tổ chức tín dụng đánh giá cao hơn, và nếu cán bộ thẩm định không đủ trình độ cũng như không đủ thông tin trong quá trình thẩm định thì sự lựa chọn bất lợi là một
tất yếu sẽ xảy ra cho phía tổ chức tín dụng
2.5.3 Rủi ro đạo đức (tâm lý ỷ lại)
Hệ quả thứ hai mà thông tin bất cân xứng gây ra là rủi ro đạo đức ( tâm lý ỷ lại), nó xuất hiện do hành vi bị che đậy và xuất hiện sau khi ký hợp đồng theo Nguyễn Trọng Hoài (2006)
Rủi ro đạo đức liên quan đến các cơ chế giám sát và thực thi sau khi khoản vay được chấp thuận do người vay tiền không nỗ lực để hoàn trả vốn vay vì họ biết các tổ chức tín dụng chia sẻ một phần rủi ro của khoản vay đó (Mohamed, 2003; Phạm & Lensink, 2007) Rủi ro đạo đức trong hoạt động tín dụng của các tổ chức tín dụng đến
từ phía bên đi vay, chủ yếu thể hiện ở hành vi bên đi vay sử dụng vốn vay không đúng mục đích đã cam kết trong hợp đồng tín dụng Tâm lý khách hàng thường muốn đầu tư vào những dự án có suất sinh lời cao, mà nguyên tắc là những dự án sinh lợi cao sẽ song song với rủi ro cao Khi dự án đầu tư gặp rủi ro, khách hàng sẽ không có khả năng hoàn trả vốn gốc và lãi cho tổ chức tín dụng Ngoài ra với thói quen sử dụng tiền mặt làm cho công tác kiểm tra giám sát việc sử dụng vốn của khách hàng khó khăn hơn Khi rủi ro đạo đức xảy ra mà tổ chức tín dụng không kiểm soát được thì xác suất phải đối mặt với rủi ro tín dụng là rất cao
2.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng của hộ kinh doanh
cá thể
Trang 23Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng rất đa dạng và phức tạp Các khu vực tài chính khác nhau thì các nhân tố ảnh hưởng cũng khác nhau Do đặc điểm của khu vực tài chính chính thức và khu vực tài chính phi chính thức, các nhà nghiên cứu đã đưa vào mô hình các nhân tố ảnh hưởng mang tính đặc trưng đối với từng khu vực tài chính Ngoài ra, cần phải phân tích nhóm các nhân tố chủ quan và nhóm các nhân tố khách quan ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận vốn của hộ kinh doanh Đinh Phi Hổ (2008) đưa ra các nhân tố ảnh hưởng tiếp cận tín dụng:
Nhóm các nhân tố chủ quan
Về phía khách hàng (hộ kinh doanh): Một hộ kinh doanh có tư cách đạo đức tốt,
có tình hình tài chính, có mặt bằng kinh doanh, có thu nhập thường xuyên sẽ sẵn sàng hoàn trả đầy đủ những khoản vốn vay của ngân hàng khi đến hạn, qua đó đảm bảo an toàn và nâng cao chất lượng tín dụng Nhân tố này chủ yếu là: trình độ học vấn, số lao động của hộ, vốn và doanh thu, số năm hoạt động kinh doanh, khả năng tài chính, năng lực, uy tín của khách hàng
Nhóm các nhân tố khách quan
Về môi trường pháp lý: Hoạt động tín dụng của hệ thống ngân hàng được quy định chặt chẽ bởi các văn bản qui phạm pháp luật do NHNN ban hành Các đối tượng khách hàng được vay vốn của NHTM cần được thừa nhận về mặt pháp lý Đây là điều kiện để người vay vốn yên tâm, mạnh dạn đầu tư, sản xuất, còn ngân hàng thì thuận lợi hơn khi ra các quyết định cho vay Nếu hệ thống các văn bản pháp quy không đồng bộ, việc thực thi pháp luật không nghiêm sẽ tạo ra kẻ hở trong quản lý tín dụng, gây nên những rủi ro trong hoạt động cho vay của ngân hàng như khách hàng có hành vi lừa đảo vay vốn, cán bộ ngân hàng có hành vi sai trái… ảnh hưởng đến chất lượng cho vay
Tình trạng của nền kinh tế: Tình trạng của một nền kinh tế có ảnh hưởng tới tất
cả mọi hoạt động kinh tế và tác động rõ rệt đến sức mua của người dân cũng như hoạt động kinh doanh của các hộ kinh doanh Vì vậy, việc tiếp cận vốn của hộ cũng như khả năng cho vay hộ kinh doanh của các ngân hàng cũng bị tác động Khi nền kinh tế trong trạng thái hưng thịnh thì hoạt động của các NHTM cũng trong xu hướng diễn ra mạnh mẽ, khi đó nhu cầu vay tiền của hộ kinh doanh cũng gia tăng, cùng với đó là sự
Trang 24gia tăng trong cạnh tranh giữa các NHTM càng trở nên gay gắt hơn
Hoạt động của hệ thống ngân hàng: Chính sách tín dụng, công tác tổ chức, trình
độ quản lý và chuyên môn của cán bộ ngân hàng, cơ sở vật chất, công nghệ ngân hàng… một mặt liên quan mật thiết đến hoạt động tín dụng của NH mặt khác tác động mạnh đến khả năng tiếp cận vốn của hộ kinh doanh Chính sách tín dụng chính là các chính sách, chủ trương đảm bảo cho hoạt động tín dụng của ngân hàng hoạt động đúng hướng, đúng đối tượng Một chính sách tín dụng phù hợp, đảm bảo sự kết hợp hài hòa giữa quyền lợi của người gửi tiền, người vay tiền và của chính bản thân ngân hàng sẽ thu hút nhiều khách hàng Chính sách tín dụng của Ngân hàng ảnh hưởng đến quy mô của tín dụng ở rất nhiều khía cạnh khác nhau song trực tiếp là ở ba yếu tố: lãi suất cạnh tranh, phương thức cho vay và các tài sản bảo đảm tiền vay
Về lãi suất cạnh tranh: đây là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết định vay vốn của khách hàng đối với ngân hàng Ngân hàng nào có lãi suất cho vay thấp hơn sẽ thu hút nhiều khách hàng Song các ngân hàng không thể hạ lãi suất thấp hơn hẳn so với các ngân hàng khác để thu hút khách hàng mà lãi suất cạnh tranh này phải được xác định trên cơ sở quy định chung về lãi suất của hệ thống ngân hàng
Về phương thức cho vay: phương thức cho vay đa đạng phong phú, đáp ứng nhu cầu của khách hàng tại từng thời điểm khác nhau là nhân tố quan trọng để mở rộng quy mô hoạt động tín dụng nói chung và tín dụng ngắn hạn nói riêng
Về tài sản đảm bảo tiền vay: khách hàng muốn vay vốn tại NH phải đáp ứng các điều kiện, nguyên tắc vay vốn Trong các điều kiện đó, điều kiện về tài sản đảm bảo tiền vay đóng vai trò quan trọng trong quyết định cho vay của ngân hàng
Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng hợp lý, văn hóa ứng sử trong nội bộ ngân hàng tốt sẽ góp phần đảm bảo sự hoạt động hữu hiệu trong toàn hệ thống ngân hàng, giữa ngân hàng với các tổ chức khác và được sự phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa các cán
bộ, nhân viên, các phòng ban trong ngân hàng Thông qua đó sẽ tạo điều kiện đáp ứng kịp thời yêu cầu của khách hàng, theo dõi quản lý chặt chẽ khoản vốn huy động cũng như các khoản vay, từ đó nâng cao hiệu quả tín dụng
Đội ngũ cán bộ ngân hàng có trình độ quản lý, chuyên môn nghiệp vụ cao, có đạo đức nghề nghiệp là yếu tố quyết định trong việc định giá tài sản thế chấp, quản lý
Trang 25và giám sát các khoản vay, thực hiện hiệu quả công tác thu hồi nợ vay của ngân hàng… giúp ngân hàng có thể có được những khoản tín dụng đảm bảo, ngăn ngừa được những rủi ro khi thực hiện một khoản tín dụng
Trang thiết bị đầy đủ và hiện đại cùng với công nghệ ngân hàng sẽ giúp cho ngân hàng có thể phục vụ tốt các nhu cầu của khách hàng về các nghiệp vụ thực hiện cũng như các dịch vụ bổ trợ, tạo lòng tin, sự tín nhiệm của khách hành đối với ngân hàng và do đó thu hút khách hành đến giao dịch với ngân hàng Đặc biệt, với sự phát triển như vũ bão về công nghệ thông tin như hiện nay, các trang thiết bị tin học đã giúp cho ngân hàng có được thông tin và xử lý nhanh chóng, kịp thời chính xác, trên cơ sở
đó quyết định tín dụng đúng đắn, không bỏ lỡ thời cơ trong kinh doanh, giúp cho quá trình quản lý tiền vay và thanh toán được thuận tiện, nhanh chóng, chính xác
Theo Nguyễn Phƣợng Lê, Nguyễn Mậu Dũng (2011) các yếu tố ảnh hưởng
khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng chính thức của hộ nông dân được phân tích từ hai phía là người đi vay vốn và tổ chức cung cấp tín dụng:
- Người đi vay sẽ là người trực tiếp đi tìm hiểu và tiếp cận thông tin về nguồn vốn tín dụng từ tổ chức chính thức, sau đó sẽ tiếp cận nguồn vốn tín dụng Vì vậy, các yếu tố có ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng của người đi vay gồm điều kiện kinh tế của hộ, trình độ học vấn và giới tính của chủ hộ…
+ Tuổi chủ hộ: thể hiện kinh nghiệm trong lao động sản xuất và mối quan hệ quan
hệ xã hội của chủ hộ Nó được k vọng sẽ mang lại nhiều thu nhập hơn, có ít vốn tích lũy và có tài sản, vì vậy có khả năng vay được vốn cao hơn Các nghiên cứu của Arun, Imai và Sinha (2006), Gobezie và Garber (2007) đều chỉ ra rằng tuổi của chủ hộ có mối quan hệ đồng biến với thu nhập, mức sống của hộ gia đình
+ Giới tính của chủ hộ: ở nông thôn phần lớn các chủ hộ là nam, hay tham gia các hoạt động làng xã nên có khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng chính thức hưn là nữ giới, vì nữ giới có xu hướng vay từ các chương trình dành cho phụ nữ hay vay mượn
từ bạn bè, người thân và tâm lý là không thích mắc nợ
+ Học vấn : Trình độ học vấn càng cao khả năng áp dụng kỹ thuật vào sản xuất và lao động càng tốt, điều này góp phần tăng thu nhập, chi tiêu và tiết kiệm cho hộ, sẽ trả được nợ gốc và lãi Đồng thời sẽ không gặp khó khăn trong việc làm các thủ tục vay
Trang 26vốn từ các tổ chức tín dụng, khả năng vay được vốn sẽ dễ dàng hơn những người có học vấn thấp
+ Yếu tố tài sản : gồm tài sản vốn và tài sản hữu hình Tài sản vốn thể hiện nguồn lực tài chính của hộ có thể sử dụng cho sản xuất, bao gồm vốn tự có, các nguồn vốn vay của hộ Tài sản hữu hình gồm diện tích đất sản xuất, diện tích đất ở Diện tích đất sản xuất là tài sản quan trọng đặc biệt ảnh hưởng đến thu nhập và chi tiêu của hộ Việc
sở hữu nhiều đất đai có thể giúp hộ gia tăng sản xuất, đa dạng hóa cây trồng vật nuôi qua đó cải thiện được đời sống tốt hơn, và có khả năng đóng góp cho thu nhập hay sử dụng để thế chấp ngân hàng, các tổ chức tín dụng để vay vốn
- Tổ chức cung cấp tín dụng sẽ là nơi cho người vay vốn nếu hộ đảm bảo được các yêu cầu của TCTD Và các yếu tố thuộc tổ chức cung cấp tín dụng có ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng của người đi vay là thủ tục cho vay, lãi suất, lượng vốn cho vay, trình độ chuyên môn và thái độ của cán bộ tín dụng
2.7 Các nghiên cứu trước về khả năng tiếp cận tín dụng
Theo nghiên cứu của Khandler (2003) chỉ ra rằng các yếu tố của hộ có ảnh
hưởng tới khả năng tiếp cận và lượng tín dụng nhận được của các hộ nông dân ở Bangladesh là tuổi của chủ hộ, trình độ học vấn, các đặc tính cạnh tranh về sản phẩm sản xuất-kinh doanh Tuy nhiên, đối với các hộ để vay được vốn thì trình độ học vấn
và diện tích đất sở hữu là yếu tố cốt lõi
Theo kết quả nghiên cứu cuả Okurut (2006) nghiên cứu các nhân tố tác động đến việc tiếp cận tín dụng của người da đen ở Nam Phi Nhờ vào việc sử dụng
mô hình Heckman probit, tác giả xác định được tiếp cận tín dụng chịu sự ảnh hưởng của độ tuổi, giới tính, số người trong gia đình, trình độ học vấn, việc chi tiêu của hộ và chủng tộc của nông hộ
Theo nghiên cứu của Khương Ninh và Văn Hùng (2011) về Các yếu tố quyết
đị ng vốn vay tín dụng chính th c của nông hộ ở Hậu Giang đã sử dụng mô hình
Tobit và đưa ra kết luận lượng vốn vay tín dụng chính thức của các nông hộ chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố như trình độ học vấn, nghề nghiệp của chủ hộ, thu nhập của hộ, khoảng cách đến chợ huyện hay thị tứ, số TCTD, tài sản thế chấp, số lần vay, Nói chung, các yếu tố này chính là các rào cản đối với những hộ nghèo ít học, ít đất, ít có
Trang 27quan hệ rộng và có thu nhập thấp sống ở vùng sâu, vùng xa Kết quả phân tích cũng cho thấy nếu các TCTD mở rộng hoạt động của mình bằng cách tăng số chi nhánh hay phòng giao dịch ở khu vực nông thôn thì các nông hộ sẽ được vay nhiều hơn với lãi
suất thấp, qua đó giúp hạn chế sự lệ thuộc của họ vào tín dụng phi chính thức
Trương Đông Lộc và Trần Bá Duy (2010) bằng việc sử dụng mô hình Probit
đã xác định được một số nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng chính thức của hộ nông dân trên địa bàn tỉnh Kiên Giang Cụ thể là, khả năng tiếp cận tín dụng của nông hộ có tương quan thuận với tuổi, trình độ học vấn của chủ hộ,
số thành viên và tổng tài sản của hộ Ngược lại, khả năng tiếp cận tín dụng của nông hộ có tương quan nghịch với diện tích đất và thu nhập của hộ
Nguyễn Phượng Lê và Nguyễn Mậu Dũng (2011) nghiên cứu về khả năng tiếp cận vốn tín dụng chính thức của nông hộ ngoại thành Hà Nội, điển hình tại xã Hoàng Văn Thụ, huyện Chương Mỹ Nghiên cứu này cho biết các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận nguồn vốn TDCT của hộ bao gồm trình độ văn hoá của chủ hộ, điều kiện kinh tế của hộ, giới tính chủ hộ, thủ tục lãi suất cho v a y , thời gian vay vốn và lượng vốn vay của các tổ chức TDCT Bên cạnh những yếu tố trên, thái độ và sự nhiệt tình của cán bộ tín dụng cũng được xem là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết định vay vốn của hộ
Lại Thị Thu Huyền (2012), nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng của nông hộ huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương Số liệu sử dụng trong nghiên cứu được thu thập thông qua việc phỏng vấn trực tiếp 220 hộ nông dân và
sử dụng mô hình Binary Logistic để phân tích Kết quả nghiên cứu cho thấy 6 nhân tố ảnh hưởng đến việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng của nông hộ gồm: lãi suất vay, thủ tục vay, tham gia tổ chức chính trị - xã hội, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ), số tiền vay đáp ứng nhu cầu và tuổi chủ hộ
Hoàng Đức Kiên Thế (2007), nghiên cứu về hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên phương diện mở rộng cung tín dụng nghiên cứu thực hiện tại địa bàn quận Tân Bình Sử dụng mô hình hồi quy để xem xét 3 biến độc lập là Doanh thu, lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận có ảnh hưởng đến dư nợ cho vay đối với các DNVVN Kết quả là dư nợ vay của DNVVN phụ thuộc vào doanh thu của doanh nghiệp
Trang 28Sử Ngọc Anh (2012), Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng của tiểu thương tại chợ, trung tâm thương mại trên địa bàn quận 5, thành phố
Hồ Chí Minh Nghiên cứu đã sử dụng mô hình Logit để xem xét các yếu tố tác động đến việc vay vốn của hộ Tác giả dự kiến quy mô phỏng vấn 300 hộ theo phương thức lựa chọn thuận tiện chia đều theo quy mô của các đơn vị Kết quả ước lượng mô hình hồi quy cho thấy những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng bao gồm: các nhân tố liên quan đến đặc tính chủ hộ: Dân tộc của chủ hộ, kinh nghiệm kinh doanh (năm kinh doanh), giới tính của chủ hộ, trình độ học vấn trung học cơ sở, trung học phổ thông, hợp đồng thuê quầy sạp và địa bàn kinh doanh là An Đông Các nhân tố liên quan đến kết quả kinh doanh: vốn kinh doanh,doanh thu bán hàng, phí nộp nhà nước, thuế nộp ngân sách và thu nhập
Khác biệt của đề tài so với các nghiên cứu trước là các nghiên cứu trước chủ yếu nghiên cứu về khả năng tiếp cận vốn tín dụng của hộ nông dân, hộ nghèo, doanh nghiệp vừa và nhỏ Có một số nghiên cứu về khả năng tiếp cận vốn của hộ tiểu thương tuy nhiên về qui mô cũng như hình thức sản phẩm kinh doanh nhỏ lẻ chủ yếu tập trung tại các chợ và trung tâm thương mại Chưa có nghiên cứu nào về yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng chính thức của hộ kinh doanh cá thể tại địa bàn tỉnh Bình Dương Vì vậy tác giả lựa chọn đề tài này để nghiên cứu
Bảng 2.2 Tổng hợp các nghiên cứu trước
STT Đề tài nghiên cứu Các biến có ý nghĩa
trong mô hình Tác giả
về sản phẩm sản xuất - kinh doanh
Khandler (2003)
2
Các nhân tố tác động đến việc tiếp cận tín dụng của người da đen ở Nam
Độ tuổi, giới tính,
số người trong gia đình, trình độ học
Okurut (2006)
Trang 29Phi vấn, việc chi tiêu
của hộ và chủng tộc của nông hộ
3
Các yếu tố quyết định lượng vốn vay tín dụng chính thức của nông hộ ở Hậu Giang
Trình độ học vấn, nghề nghiệp của chủ
hộ, thu nhập của hộ, khoảng cách đến chợ huyện hay thị
tứ, số TCTD, tài sản thế chấp, số lần vay
Khương Ninh
và Văn Hùng (2011)
4
Khả năng tiếp cận tín dụng chính thức của hộ nông dân trên địa bàn tỉnh Kiên Giang
Tuổi, trình độ học vấn của chủ hộ, số thành viên và tổng tài sản của hộ, diện tích đất và thu nhập của hộ
Trương Đông Lộc và Trần
Bá Duy (2010)
5
Khả năng tiếp cận vốn tín dụng chính thức của nông
hộ ngoại thành Hà Nội, điển hình tại xã Hoàng Văn Thụ, huyện Chương Mỹ
Trình độ văn hoá của chủ hộ, điều kiện kinh tế của hộ, giới t í n h chủ hộ, thủ tục lãi suất cho
v a y , thời gian vay vốn và lượng vốn vay của các tổ chức TDCT, thái độ và
sự nhiệt tình của cán
bộ tín dụng
Nguyễn Phượng Lê và Nguyễn Mậu Dũng (2011)
6 Các nhân tố ảnh hưởng đến
việc tiếp cận nguồn vốn tín
Lãi suất vay, thủ tục vay, tham gia tổ
Lại Thị Thu Huyền (2012)
Trang 30dụng của nông hộ huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương
chức chính trị - xã hội, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
7
Hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên phương diện mở rộng cung tín dụng nghiên cứu thực hiện tại địa bàn quận Tân Bình
Doanh thu, lợi nhuận
và tỷ suất lợi nhuận
Hoàng Đức Kiên Thế (2007)
8
Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng của tiểu thương tại chợ, trung tâm thương mại trên địa bàn quận 5, thành phố Hồ Chí Minh
Dân tộc của chủ hộ, Kinh nghiệm kinh doanh, giới tính của chủ hộ, trình độ học vấn, hợp đồng thuê quầy sạp, địa bàn kinh doanh, vốn kinh doanh, doanh thu bán hàng, phí nộp nhà nước, thuế nộp ngân sách và thu nhập
Sử Ngọc Anh (2012)
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
Trong chương này, một số khái niệm liên quan đến tín dụng và hộ kinh doanh
cá thể được trình bày một cách hệ thống, có chọn lọc phù hợp với mục tiêu nghiên cứu
Cụ thể là các vấn đề: Khái niệm tín dụng, tín dụng chính thức, khái niệm tiếp cận tín dụng Trong chương này tác giả cũng trình bày lý thuyết về thông tin bất cân xứng; tổng quan về hộ kinh doanh cá thể, đặc điểm kinh tế hộ Việc xem xét, phân tích những nhân tố nào ảnh hưởng tới việc tiếp cận tín dụng của hộ gia đình đã được các nhà kinh
tế trong, ngoài nước nghiên cứu Tác giả đã hệ thống lại một số nghiên cứu liên quan đến khả năng tiếp cận vốn của hộ gia đình
Trang 31CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chương 3 trình bày, phương pháp nghiên cứu, mô hình nghiên cứu và nguồn dữ
liệu nghiên cứu, phương pháp điều tra chọn mẫu, kỹ thuật chạy mô hình
3.1 Phương pháp nghiên cứu
3.1.1 Phương pháp thu thập dữ liệu
Nguồn dữ liệu sử dụng trong đề tài nghiên cứu này được lấy từ hai nguồn chính: dữ liệu sơ cấp và dữ liệu thứ cấp:
- Dữ liệu sơ cấp: Phỏng vấn trực tiếp các hộ kinh doanh KDCT bằng câu hỏi
khảo sát Sau khi thiết kế xong bảng câu hỏi, tác giả tiến hành khảo sát sơ bộ 20 hộ kinh doanh cá thể để kiểm tra mức độ phù hợp của bảng câu hỏi Việc này tạo điều kiện thuận lợi để các câu trả lời được sát với sự hiểu biết và tình hình thực tế tại địa bàn nghiên cứu, từ đó điều chỉnh lại bảng câu hỏi cho phù hợp Sau đó tiến hành khảo sát chính thức với 300 hộ KDCT trên địa bàn tỉnh Bình Dương Các khảo sát viên sẽ đến từng địa điểm kinh doanh của hộ để khảo sát trực tiếp chủ hộ hoặc người trực tiếp quản lý điều hành tình hình kinh doanh của hộ
- Dữ liệu thứ cấp: Thu thập số liệu thứ cấp từ Niên giám thống kê h à n g
n ă m của Cục Thống kê tỉnh Bình Dương, báo cáo hàng năm của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các thông tin khác được cập nhật trên báo, tạp chí chuyên ngành và các nguồn thông tin chính thức khác từ các Sở, Phòng, Ban ngành, Đoàn thể của tỉnh Bình Dương
3.1.2 Phương pháp phân tích số liệu
- Phương pháp thống kê mô tả: phương pháp này được vận dụng để mô tả phân
tích tổng quát tình hình kinh doanh cũng như nhu cầu về vốn của hộ kinh doanh cá thể
Sử dụng các chỉ tiêu: số trung bình, tỷ lệ, tần suất v.v để phân tích thực trạng tiếp cận tín dụng chính thức của các hộ KDCT trên các tiêu thức được quan tâm theo mục tiêu nghiên cứu đề ra ban đầu
- Phương pháp phân tích hồi quy: Nghiên cứu này sử dụng phần mềm SPSS
16.0 hỗ trợ cho việc phân tích dữ liệu, cụ thể là mô hình hồi quy Binary Logistic để đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận vốn tín dụng chính thức của hộ KDCT trên địa bàn tỉnh Bình Dương
Trang 323.1.3 Phương pháp chọn mẫu
Thực hiện phương pháp chọn mẫu thuận tiện, nghiên cứu đã tiến hành phỏng vấn trực tiếp 300 hộ KDCT chia đều cho các xã, p h ư ờ n g t r ê n t ấ t c ả c á c huyện, thị xã, thành phố của tỉnh Bình Dương Quá trình điều tra khảo sát này được thực hiện cho đến khi đạt được qui mô mẫu theo kế hoạch Thời gian khảo sát được thực hiện trong 2 tháng từ tháng 4 đến tháng 6 năm 2015 Kết quả sau khi điều tra, tổng số phiếu phát ra là 300 phiếu và tổng số phiếu thu về là 300 phiếu trong đó số phiếu hợp lệ là 215 phiếu và 85 phiếu không hợp lệ Phiếu hợp lệ là phiếu hộ trả lời có nhu cầu và tiếp cận vốn vay tín dụng chính thức, phiếu không hợp lệ là phiếu hộ trả lời không có nhu cầu và tiếp cận vốn vay tín dụng chính thức
3.2 Mô hình nghiên cứu tổng quát
Trong nghiên cứu này sử dụng mô hình hồi quy Binary Logistic để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận vốn tín dụng chính thức của hộ kinh doanh cá thể là hộ có vay được vốn hay không vay được vốn Theo Gujarati DN (1995), mô hình được thực hiện như sau:
Y E P
Pi là xác suất hộ vay được vốn (Y = 1); β1, β2, ….βk là các hệ số hồi quy; Xi ( i = 1,…k)
là các biến độc lập
Đặt z 0 1X1 2X2 k X k
e e
11
Mô hình được viết lại như sau:
Trang 33Sau khi ước lượng các hệ số hồi quy của mô hình, ta xem xét ý nghĩa của hệ số hồi quy đến xác suất vay được của hộ kinh doanh như sau:
1 = P(hộ vay được)/P(hộ không vay được) (3.2)
Trong đó: Po là xác suất hộ vay được vốn ban đầu, Oo là hệ số chệnh lệch vay được vốn và không vay được vốn ban đầu
Từ (3.1) và (3.2) ta có:
Oo= Po/1-Po= e β1+ β2X2+ +βkXk+ui (3.3)
Giả định khi các yếu tố khác không đổi, nếu tăng giá trị của Xk lên 1 đơn vị Thì
hệ số chênh lệch vay được và không vay được sẽ là:
3.3 Mô hình nghiên cứu đề nghị
Dựa vào cơ sở lý thuyết và các kết quả nghiên cứu trước, mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng chính thức của hộ KDCT được
đề xuất như sau:
Trang 343.3.1 Giả thuyết nghiên cứu
- Giả thuyết H1: Có mối quan hệ đồng biến giữa việc tiếp cận tín dụng của hộ với tuổi của chủ hộ
- Giả thuyết H2: Khi chủ hộ là nam thì việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng sẽ dễ hơn nữ
- Giả thuyết H3: Giấy tờ nhà đất là vật thế chấp bảo đảm nhất ở các TCTD nên việc vay vốn đối với hộ có giấy tờ nhà đất sẽ dễ dàng hơn hộ không có
- Giả thuyết H4: Số năm kinh doanh của chủ hộ càng dài thì thuận lợi trong tiếp cận tín dụng
- Giả thuyết H5: Doanh thu kinh doanh tỷ lệ thuận với khả năng tiếp cận tín dụng
- Giả thuyết H6: Thu nhập của hộ tỷ lệ thuận với khả năng tiếp cận tín dụng
- Giả thuyết H7: Hộ có vốn kinh doanh nhiều tỷ lệ nghịch với khả năng tiếp cận tín dụng
- Giả thuyết H8: Khả năng vay vốn của hộ từ các TCTD sẽ giảm khi thủ tục vay vốn rườm rà, phức tạp
- Giả thuyết H9: Có quan hệ nghịch biến giữa khả năng vay vốn tín dụng chính thức với lãi suất vay
- Giả thuyết H10: Với số tiền vay vốn không đủ đáp ứng nhu cầu về vốn của hộ
sẽ làm hạn chế nhu cầu vay vốn tín dụng chính thức của hộ
3.3.2 Mô hình nghiên cứu
Ln(Pi/1-Pi) = β0 + β1TUOI + β2GIOITINH + β3NHADAT + β4SONAMKD +
β5DOANHTHU + β6THUNHAP + β7VONKD + β8THUTUC+ β9LSUAT +
β10DAPUNG + ui
Do đó, xác suất để hộ gia đình tiếp cận tín dụng được diễn tả như sau:
Trang 35mô hình các biến độc lập có khả năng tác động đến việc tiếp vốn từ các tổ chức tín dụng chính thức của hộ như sau:
TUOI: Tuổi chủ hộ được xác định bằng cách lấy mốc thời gian hiện tại trừ
đi năm sinh Những chủ hộ lớn tuổi thường có kinh nghiệm và uy tín cũng như có trách nhiệm đối với nghĩa vụ trả nợ của mình hơn những người trẻ tuổi Biến này được
k vọng sẽ có tương quan dương với khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng chính thức
GIOITINH: Giới tính chủ hộ là biến giả (dummy), chỉ giới tính của chủ
hộ Nếu chủ hộ có giới tính là nam nhận giá trị là 1 và nếu chủ hộ là nữ nhận giá trị là
0 K vọng của nghiên cứu là biến này có quan hệ đồng biến với xác suất rơi vào hộ vay được vốn, tương quan (+)
NHADAT: Biến này là biến giả (dummy), nếu hộ kinh doanh có giấy tờ nhà đất thì NHADAT = 1, ngược lại NHADAT = 0 nếu hộ kinh doanh không có giấy
tờ nhà đất Theo qui định của hầu hết các tổ chức tín dụng chính thức thì các tổ chức,
cá nhân, hộ kinh doanh để vay được vốn thì phải có tài sản thế chấp Do đó giấy tờ nhà đất là điều kiện cần để hộ được vay vốn Nghiên cứu k vọng là biến này có quan hệ đồng biến với xác suất rơi vào hộ vay được vốn tín dụng chính thức, tương quan (+)
Trang 36SONAMKD: Là kinh nghiệm kinh doanh của hộ, biến này được tính bằng
số năm hộ hoạt động kinh doanh của hộ Thường những hộ đã hoạt động kinh doanh lâu năm thì có kinh nghiệm và tình hình kinh doanh ổn định hơn nên dễ tiếp cận vốn tín dụng chính thức hơn Vì vậy nghiên cứu k vọng biến này có quan hệ đồng biến với xác suất rơi vào hộ vay được vốn tín dụng chính thức, tương quan (+)
DOANHTHU: Là doanh thu bình quân một tháng từ hoạt động kinh doanh của hộ Những hộ kinh doanh có doanh thu thực tế cao thường dễ dàng tiếp cận vốn tín dụng chính thức hơn Nghiên cứu k vọng biến này có quan hệ đồng biến với xác suất rơi vào hộ vay được vốn tín dụng chính thức, tương quan (+)
THUNHAP: Thu nhập là khoản thu của chủ hộ kinh doanh hàng tháng sau khi trừ đi tất cả các chi phí liên quan đến hoạt động kinh doanh Nếu hộ kinh doanh cá thể có thu nhập cao thì họ có nhiều khả năng tiếp cận nhiều vốn tín dụng vì có nguồn thu để bảo đảm trả nợ vốn, lãi vay Vì vậy nghiên cứu k vọng biến này có quan hệ đồng biến với xác suất rơi vào hộ vay được vốn tín dụng chính thức, tương quan (+)
VONKD: Là khoản tiền tự có mà hộ kinh doanh bỏ ra để đầu tư vào dự án kinh doanh của mình để mua hàng hóa, đầu tư trang thiết bị phục vụ cho hoạt động kinh doanh, vốn được đo bằng triệu đồng Những hộ có vốn kinh doanh nhiều thường
ít có nhu cầu tiếp cận vốn vay nên biến này được k vọng sẽ có tương quan nghịch biến với khả năng tiếp cận các nguồn tín dụng chính thức (-)
THUTUC: Biến này là biến giả nếu người đi vay cho rằng thủ tục phức tạp, rườm rà thì nhận giá trị 1, ngược lại nếu người đi vay cảm thấy đơn giản bình thường thì nhận giá trị 0 Thường tâm lý người đi vay sợ vay vốn các tổ chức tín dụng
vì cho rằng thủ tục phức tạp rườm rà do vậy khả năng tiếp cận vốn vay cũng thấp Nghiên cứu k vọng biến này có tương quan nghịch biến với khả năng tiếp cận vốn tín dụng chính thức (-)
LAISUAT: Biến này là biến giả nếu người đi vay cho rằng lãi suất của các
tổ chức tín dụng chính thức cao thì nhận giá trị 1, còn nếu người đi vay cho rằng lãi suất của tổ chức tín dụng thấp hoặc bình thường thì nhận giá trị 0 Thường thì người đi vay sẽ muốn vay vốn nếu lãi suất thấp hoặc bình thường Vì vậy nghiên cứu k vọng biến này tương quan nghịch biến với khả năng tiếp cận vốn tín dụng chính thức (-)
Trang 37DAPUNG: Biến này cũng là một biến giả, nếu lượng vốn vay được của hộ kinh doanh cá thể đáp ứng được nhu cầu vay vốn thì nhận giá trị 1, ngược lại lượng vốn vay được không đáp ứng được nhu cầu vay vốn thì nhận giá trị 0 Nghiên cứu này
k vọng biến này có tương quan đồng biến với khả năng tiếp cận vốn chính thức của
X 2 GIOITINH Giới tính chủ hộ là biến giả với 2
giá trị: nam và nữ
1: Nam 0: Nữ
(+)
X 3 NHADAT Giấy tờ nhà đất, biến này là biến
giả với 2 giá trị: có hoặc không có
1: có giấy tờ nhà đất; 0: không có giấy tờ nhà đất
(+)
X 5 DOANHTHU Doanh thu bình quân 01 tháng Triệu
Trang 38Ký hiệu Tên biến Tên gọi đầy đủ của biến Đơn vị tính Dấu kỳ
vọng
X 9 LAISUAT Lãi suất vay của các TCTD, biến
này là biến giả: Thấp hoặc cao
1: lãi suất cao 0: lãi suất thấp (-)
X 10 DAPUNG
Đáp ứng nhu cầu vay của hộ, biến này là biến giả với 2 giá trị: đáp ứng được hoặc không đáp ứng
1: đáp ứng được nhu cầu vay;
0: không đáp ứng được nhu cầu
(+)
Sơ đồ 1: Các yếu tố ảnh hưởng khả năng tiếp cận vốn tín dụng chính thức
3.4 K thuật chạy mô hình
Hoàng Trọng, Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008) đo lường độ phù hợp của mô hình hồi qui Binary Logistic dựa trên chỉ tiêu -2LL (viết tắt của – 2 log likelihood) Quy tắc đánh giá độ phù hợp căn cứ trên – 2LL ngược với quy tắc dựa trên hệ số xác định mô hình R2, nghĩa là giá trị - 2LL càng nhỏ thể hiện độ phù hợp càng cao Giá trị
Vay được vốn hay không vay được
Tuổi
Giới tính
Số năm KD
Doanh thu Thủ tục
Đáp ứng nhu cầu
vốn
Thu nhập Vốn kinh doanh
Trang 39nhỏ nhất của – 2LL là 0 (tức là không có sai số) khi đó mô hình có một độ phù hợp
hoàn hảo
3.4 1 Kiểm định độ phù hợp của mô hình
nghĩa của kiểm định này là xem biến phụ thuộc có quan hệ tuyến tính với toàn bộ các biến độc lập hay không Theo Hoàng Trọng, Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008), giả thiết H0 được đặt ra : tất cả các hệ số hồi qui thuyết điều bằng 0, tức là biến phụ thuộc không có quan hệ tuyến tính với các biến độc lập Khi giả thuyết trên bị bác
bỏ tức là mô hình hồi qui tuyến tính phù hợp với tập dữ liệu và có thể sử dụng được Với hồi Binary Logistic để kiểm định giả thuyết này ta dùng kiểm đinh Chi-bình phương Căn cứ vào mức ý nghĩa quan sát mà SPSS đưa ra trong bảng Omnibus Tets
of Model Coefficients, với mức ý nghĩa Sig.< 0.05 có thể kết luận mô hình hồi quy tuyến tính phù hợp với tổng thể
3.4 2 Kiểm định ý nghĩa của các hệ số hồi qui
Theo Hoàng Trọng, Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008), kiểm định ý nghĩa của các hệ số hồi qui là kiểm định giúp ta biết được biến giải thích có thực sự ảnh hưởng đến biến phụ thuộc không Đại lượng Wald Chi Square được sử dụng để kiểm định ý nghĩa thống kê của hệ số hồi qui tổng thể Kiểm định giá trị Sig của các hệ số hồi qui, nếu Sig.< 0.1 cho thấy các hệ số hồi qui này có ý nghĩa trong mô hình, ngược lại nếu Sig.> 0.1 loại biến đó ra khỏi mô hình
3.4 3 Kiểm định hiện tƣợng đa cộng tuyến
Theo Hoàng Trọng, Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008), Cộng tuyến là trạng thái trong đó các biến độc lập có tương quan chặt chẽ với nhau, các thông tin do các biến độc lập cung cấp cho mô hình rất giống nhau nên khó tách rời từng biến đến biến phụ thuộc Tương quan của một biến nào đó với chính nó sẽ có hệ số tương quan là 1, hệ
số tương quan giữa các biến độc lập với nhau nếu có tương quan chặt chẽ ( hệ số Pearson correlation đạt giá trị lớn) là dấu hiệu cho thấy có thể xãy ra hiện tượng đa cộng tuyến
Độ chấp nhận của biến (Tolerance) cũng được sử dụng để đo lường hiện tượng
đa cộng tuyến theo qui tắc nếu độ chấp nhận của một biến nhỏ đó là hiện tượng của đa