Đề tài “Các yếu tố tác động đến việc thuê lao động của hộ kinh doanh ởBình Thuận” nhằm mục tiêu đánh giá sâu và toàn diện về vai trò của các hộ kinh doanh trong việc tham gia tạo việc là
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- -TRƯƠNG TÔN TOẠI
CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC THUÊ LAO ĐỘNG CỦA HỘ KINH DOANH Ở BÌNH THUẬN
Chuyên ngành: Kinh tế học
Mã số chuyên ngành: 60 03 01 01
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Minh Hà
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 11 năm 2015
Trang 2Đề tài “Các yếu tố tác động đến việc thuê lao động của hộ kinh doanh ở
Bình Thuận” nhằm mục tiêu đánh giá sâu và toàn diện về vai trò của các hộ kinh
doanh trong việc tham gia tạo việc làm và giải quyết việc làm ở địa phương, cũng nhưphân tích làm rõ các yếu tố tác động đến việc thuê lao động của loại hình kinh doanhnày, từ đó đề xuất một số cơ chế, chính sách để tháo gỡ khó khăn và khắc phục có hiệuquả các thách thức gặp phải nhằm phát huy đúng mức vai trò của các hộ kinh doanhtrong thu hút lao động trên địa bàn tỉnh
Để thực hiện mục tiêu trên, đề tài đã sử dụng dữ liệu thứ cấp từ cuộc điều tra
cơ sở sản xuất, kinh doanh cá thể trên địa bàn tỉnh Bình Thuận năm 2014, do CụcThống kê tỉnh Bình Thuận tiến hành và xử lý theo đúng quy định; trong đó căn cứ vàomục tiêu nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu để chọn mẫu nghiên cứu với quy mô phùhợp, gồm 350 quan sát trong tổng thể
Trong đề tài này, thông qua việc sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính vàphương pháp nghiên cứu định lượng; đồng thời ứng dụng phần mềm SPSS 18.0 để xử
lý số liệu trong mô hình hồi quy đa biến OLS để phân tích các yếu tố tác động đếnviệc thuê lao động của các hộ kinh doanh ở tỉnh Bình Thuận
Ngoại trừ 2 yếu tố chưa đủ cơ sở để kết luận (trình độ chuyên môn của ngườitrực tiếp quản lý, điều hành SXKD và khu vực địa lý nơi mà hộ kinh doanh đang hoạtđộng) Thông qua kết quả thu được đã tìm thấy 9 yếu tố có tác động đến việc thuê laođộng của hộ kinh doanh (tiền lương, vốn SXKD, doanh thu từ hoạt động SXKD bìnhquân năm, giới tính của người trực tiếp quản lý, điều hành hoạt động SXKD, số nămhoạt động của hộ kinh doanh, ngành nghề SXKD, tính chất của địa điểm kinh doanh,mức độ hoạt động và việc ứng dụng CNTT vào quá trình SXKD của hộ)
Trong số đó, về chiều hướng tác động, có 3 yếu tố có mối quan hệ nghịch biếnvới biến phụ thuộc là tiền lương, tính chất của địa điểm kinh doanh, mức độ hoạt độngSXKD; còn quan hệ đồng biến với biến phụ thuộc gồm 6 biến: vốn SXKD, doanh thubình quân năm, giới tính của người trực tiếp quản lý, điều hành hoạt động SXKD, sốnăm hoạt động, ngành nghề SXKD, việc ứng dụng CNTT vào SXKD của hộ
iii
Trang 3SXKD, giới tính của người trực tiếp quản lý, điều hành hoạt động SXKD, ngành nghềSXKD của hộ kinh doanh; tác động khá tích cực gồm 2 yếu tố: tiền lương của ngườilao động, tính chất của địa điểm kinh doanh; các yếu tố còn lại tuy có tác động, nhưngmức độ ảnh hưởng không đáng kể là: vốn SXKD, doanh thu từ hoạt động SXKD bìnhquân năm, mức độ hoạt động SXKD, số năm hoạt động của hộ kinh doanh.
Mặc dù còn nhiều hạn chế cần phải tiếp tục được nghiên cứu nhằm bảo đảmtính khái quát, toàn diện, đồng bộ và thuyết phục hơn, nhưng đề tài nghiên cứu nàycũng có ý nghĩa thực tiễn của nó Có thể một số giải pháp, khuyến nghị được đưa ratrong luận văn này dựa trên kết quả tìm được trong quá trình nghiên cứu sẽ là hàm ý
về cơ chế, chính sách trong phát triển loại hình hộ kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi
để các đối tượng này phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động, từ đó phát huy tốt vai tròcủa mình trong tham gia tạo việc làm và giải quyết việc làm, góp phần thúc đẩy pháttriển kinh tế-xã hội, xây dựng nông thôn mới và thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa,hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở địa phương
iv
Trang 4LỜI CAM ĐOAN………i
LỜI CẢM ƠN……….ii
TÓM TẮT LUẬN VĂN………iii
MỤC LỤC……… v
DANH MỤC BẢNG……… ix
DANH MỤC HÌNH VÀ ĐỒ THỊ……… x
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT……….xi
CHƯƠNG 1: PHẦN MỞ ĐẦU 1
1.1 Lý do nghiên cứu 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.4 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu 4
1.4.1 Giới hạn nghiên cứu 4
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 4
1.5 Đối tượng nghiên cứu 4
1.6 Phương pháp nghiên cứu 4
1.6.1 Phương pháp nghiên cứu định tính 4
1.6.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng… 5
1.7 Ý nghĩa thực tiễn của luận văn 5
1.8 Một số điểm khác biệt căn bản so với các nghiên cứu trước 5
1.9 Kết cấu của luận văn 6
v
Trang 52.1 Các khái niệm của đề tài 8
2.1.1 Về hộ kinh doanh 8
2.1.2 Về việc làm và giải quyết việc làm 9
2.1.3 Cầu lao động 11
2.2 Sơ lược về một số cơ sở lý thuyết 12
2.2.1 Theo trường phái kinh tế chính trị học 12
2.2.2 Lý thuyết về cần bằng thị trường lao động 13
2.2.3 Lý thuyết về cầu lao động trong ngắn hạn và dài hạn 14
2.2.4 Lý thuyết về cầu lao động khi một số yếu tố đầu vào thay đổi 17
2.2.5 Lý luận về độ co giãn của cầu lao động 18
2.2.6 Các mô hình lý thuyết tạo việc làm cho người lao động 18
2.2.7 Lý luận về các yếu tố ảnh hưởng đến cầu lao động 21
2.3 Sơ lược về một số nghiên cứu trước 23
2.3.1 Nghiên cứu nước ngoài 23
2.3.2 Nghiên cứu trong nước 25
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU… 34
3.1 Quy trình nghiên cứu 34
3.1.1 Nghiên cứu sơ bộ 34
3.1.2 Nghiên cứu chính thức 34
3.2 Phương pháp nghiên cứu 34
3.2.1 Nghiên cứu định tính 34
3.2.2 Nghiên cứu định lượng 37
Trang 63.3.1 Mô hình tổng quát 37
3.3.2 Sơ đồ về mối quan hệ giữa các biến độc lập với biến phụ thuộc 38
3.3.3 Mô tả các biến 38
3.3.4 Nội dung các biến đưa vào mô hình nghiên cứu 43
3.4 Dữ liệu nghiên cứu 44
3.4.1 Dữ liệu sử dụng để nghiên cứu 44
3.4.2 Chọn mẫu nghiên cứu 44
3.5 Phương trình cụ thể của mô hình nghiên cứu 45
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU…… 46
4.1 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu 46
4.1.1 Một số đặc điểm nổi bật về tự nhiên, kinh tế, xã hội 46
4.1.2 Một số điểm khái quát về kinh tế-xã hội, giai đoạn 2010-2015 48
4.2 Vấn đề dân số và lao động 48
4.3 Thực trạng tạo việc làm và giải quyết việc làm của các hộ kinh doanh 51
4.3.1 Tình hình phát triển hộ kinh doanh 51
4.3.2 Tình hình giải quyết việc làm của các hộ kinh doanh 52
4.4 Phân tích kết quả hồi quy các yếu tố tác động đến việc thuê lao động 56
4.4.1 Thống kế mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu 56
4.4.2 Kiểm tra đa cộng tuyến 58
4.4.3 Kết quả hồi quy mô hình nghiên cứu 59
4.4.4 Kiểm định mô hình bằng kiểm định t và kiểm định F 59
4.4.5 Kiểm định các điều kiện (giả định cần thiết) của mô hình nghiên cứu 60
vii
Trang 74.4.7 Phân tích các biến không có ý nghĩa thống kê 66
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 69
5.1 Kết luận 69
5.2 Khuyến nghị chính sách 70
5.3 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu mới 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO… 72
PHỤ LỤC 1.1 Nội dung phỏng vấn chuyên gia 78
PHỤ LỤC 1.2 Ý kiến chuyên gia 79
PHỤ LỤC 2.1 Thống kê mô tả các biến giả trong mô hình nghiên cứu 86
PHỤ LỤC 2.2 Kết quả hồi quy mô hình nghiên cứu 87
PHỤ LỤC 2.3 Kiểm định mức độ phù hợp của mô hình nghiên cứu 88
PHỤ LỤC 2.4 Một số kiểm định các điều kiện trong mô hình nghiên cứu 88
Trang 8Bảng 3.1: Nội dung các biến đưa vào mô hình nghiên cứu 43
Bảng 4.1: Cơ cấu lao động đang làm việc phân theo khu vực kinh tế 50
Bảng 4.2: Cơ cấu lao động đang làm việc phân theo khu vực địa lý 50
Bảng 4.3: Cơ cấu lao động đang làm việc trong hộ kinh doanh phân theo ngành nghề 54
Bảng 4.4: Cơ cấu lao động đang làm việc trong hộ kinh doanh phân theo khu vực 55
Bảng 4.5: Kết quả thống kê mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu 56
Bảng 4.6: Ma trận tương quan giữa các biến trong mô hình nghiên cứu… 58
Bảng 4.7: Hệ số nhân tử phóng đại (VIF) 58
Bảng 4.8: Kết quả hồi quy mô hình nghiên cứu 59
Bảng 4.9: Kiểm định F 60
Bảng 4.10: Kiểm định phương sai đồng nhất 61
ix
Trang 9Hình 2.1: Mô hình về lượng cầu lao động tối đa hóa lợi nhuận 13
Hình 2.2: Mô hình về cân bằng thị trường lao động 14
Hình 2.3: Mô hình cầu lao động trong ngắn hạn của hãng cạnh tranh hoàn hảo 15
Hình 2.4: Mô hình cầu lao động trong ngắn hạn của hãng độc quyền 15
Hình 2.5: Mô hình về cầu lao động khi một số yếu tố đầu vào thay đổi 17
Hình 3.1: Mô hình về mối quan hệ giữa các biến độc lập với biến phụ thuộc 38
Hình 4.1: Bản đồ ranh giới hành chính tỉnh Bình Thuận 46
Hình 4.2: Tình hình dân số và lao động đang làm việc, giai đoạn 2010-2014 49
Hình 4.3: Cơ cấu ngành nghề hoạt động của hộ kinh doanh 51
Hình 4.4: Số lượng và tốc độ gia tăng về hộ kinh doanh theo địa bàn hành chính 52
Hình 4.5: Lao động đang làm việc trong hộ kinh doanh so với cả khu vực ngoài nhà nước……… 53
Hình 4.6: Lao động đang làm việc trong hộ kinh doanh phân theo cơ cấu ngành nghề……… 54
Hình 4.7: Lao động đang làm việc trong hộ kinh doanh phân theo cơ cấu khu vực 55
Trang 10CNTT : Công nghệ thông tin
TMDV : Thương mại-dịch vụ
WB : The Worldbank (Ngân hàng Thế giới)
xi
Trang 11CHƯƠNG 1: PHẦN MỞ ĐẦU 1.1 Lý do nghiên cứu
Chính sách việc làm và giải pháp thực hiện mục tiêu giải quyết việc làm, pháttriển thị trường lao động, góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị, tăng tỷ lệ sửdụng thời gian lao động ở nông thôn là một trong những chính sách cơ bản nhất nhằmgiải quyết thoả đáng nhu cầu việc làm để cho mọi người có khả năng lao động đều có
cơ hội có việc làm, góp phần đảm bảo an toàn, ổn định và phát triển xã hội Do vậy,vấn đề việc làm và giải quyết việc làm luôn được đặt trong chiến lược, kế hoạch pháttriển kinh tế-xã hội không những ở tầm quốc gia, mà của cả từng địa phương; theo đó,phải có giải pháp khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia tạo việc làm và tự tạo việclàm; trong đó các hộ kinh doanh đóng vai trò khá quan trọng
Trên phạm vi toàn cầu, WB (2014) cho rằng: Việc làm đóng góp nhiều cho
tăng trưởng, giúp tăng thu nhập, làm cho các thành phố vận hành tốt hơn, kết nối nềnkinh tế thị trường toàn cầu, bảo vệ môi trường và giúp cho mỗi người đều có quyền lợichung trong xã hội Tổ chức này khẳng định: Khu vực tư nhân đã tạo ra 90% việc làm
và trong số khoảng 3 tỷ người đang làm việc trên thế giới, có gần một nửa làm việctrong khu vực nông nghiệp, doanh nghiệp nhỏ của gia đình (thực chất là hộ kinhdoanh), nhưng công việc của họ không thường xuyên hoặc thời vụ, thu nhập rất thấp;đồng thời chỉ rõ vấn đề đáng quan tâm nhất hiện nay là có khoảng 620 triệu thanh niênthiếu việc làm, đặc biệt khủng hoảng kinh tế toàn cầu và các sự kiện gần đây đã làmcho việc làm trở thành vấn đề trung tâm; từ đó đề nghị chính phủ các nước phải đưaviệc làm trở thành trọng tâm của việc thúc đẩy sự thịnh vượng và chống đói nghèo
Ở Việt Nam, quyền lao động và đảm bảo việc làm của người lao động đã được
khẳng định trong Hiến pháp và cụ thể hoá trong Bộ luật Lao động Vấn đề việc làm vàgiải quyết việc làm là một trong những lĩnh vực ưu tiên hàng đầu của chính sách pháttriển kinh tế-xã hội Theo Nguyễn Thúy Hà (2013): Sau 25 năm thực hiện công cuộcđổi mới đất nước, vấn đề việc làm ở nước ta đã từng bước được giải quyết theo hướngtuân thủ quy luật khách quan của kinh tế hàng hóa và thị trường lao động, góp phầnđưa nền kinh tế Việt Nam phát triển đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch
sử Tuy nhiên, thực trạng vấn đề việc làm ở nước ta hiện nay vẫn còn có nhiều bất cập,
Trang 12chưa đáp ứng kịp yêu cầu phát triển của nền kinh tế Tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị giảmchậm, tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn thấp, chỉ đạt trên dưới 70% Sốdoanh nghiệp trên đầu dân số còn thấp nên khả năng tạo việc làm và thu hút lao độngcòn hạn chế, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn Tình trạng thiếu việclàm cao, chính sách tiền lương, thu nhập chưa động viên được người lao động gắn bó,tận tâm với công việc Cơ cấu các loại hình kinh tế trong những năm gần đây hầu nhưkhông thay đổi: Khu vực cá nhân/ hộ SXKD cá thể chiếm tới 77,8% (tương ứng 39,2triệu lao động); kinh tế tập thể hiện chỉ còn một tỷ trọng rất nhỏ (0,3%); loại hình kinh
tế tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tuy năng động, nhưng tỷ trọng lao độngđang làm việc trong hai loại hình này khá khiêm tốn (8,1% và 3,4%)
Hiện nay, doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ chiếm số lượng chủ yếu, trong đónhóm siêu nhỏ (sử dụng 10 lao động trở xuống-thực chất là hộ kinh doanh) chiếm đến67% và đóng vai trò quan trọng với khả năng tạo việc làm, tăng thu nhập cho ngườilao động, giúp huy động các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển, xóa đói giảmnghèo Bộ phận không nhỏ loại hình này sẽ là nền tảng phát triển doanh nghiệp vừa
và nhỏ trong tương lai Năm 2014, theo các chuyên gia kinh tế vẫn là năm khó khăn,nhất là đầu ra của sản phẩm và khả năng hấp thụ nguồn vốn của những doanh nghiệplớn, nên loại hình này bị thu hẹp Đây là thời điểm mà các hình thức kinh doanh nhỏ lẻ
có cơ hội bật lên, như ý kiến của Tiến sỹ Trần Du Lịch-Ủy viên Ủy ban Kinh tế củaQuốc hội, đó là: “Nền kinh tế đất nước trụ vững, tồn tại được qua khó khăn phụ thuộckhông nhỏ vào những thành phần kinh doanh nhỏ lẻ” (Hoàng Phương trích dẫn, 2014)
Còn tại Bình Thuận, công tác giải quyết việc làm cho người lao động trong 10
năm qua (2004-2013) có chuyển biến tích cực, đã giải quyết việc làm cho 230.970 laođộng; các chương trình, dự án phát trển kinh tế -xã hội đã thu hút được nhiều lao động,khơi dậy tiềm năng, thúc đẩy sản xuất phát triển, tạo nhiều việc làm mới trên các lĩnhvực; lao động thất nghiệp, thiếu việc làm giảm (Tỉnh ủy Bình Thuận, 2014) Trong đó,các hộ kinh doanh ngày càng khẳng định vai trò trong tham gia giải quyết việc làm;giai đoạn 2007-2012, số lượng tăng nhanh, nên đã thu hút mạnh mẽ lao động trên địabàn tỉnh, kể cả vùng sâu, vùng xa; lao động sử dụng chiếm tỷ trọng khá lớn, tốc độtăng trưởng bình quân tương đối nhanh (4,37%/năm) Tuy nhiên, do hoạt động của hầu
Trang 13hết hộ kinh doanh thường rất nhỏ, mang tính cách gia đình, kỹ năng SXKD chưa đápứng yêu cầu, hiệu quả thấp, nên lao động sử dụng trong từng hộ kinh doanh chủ yếu lànhỏ lẻ (bình quân chỉ khoảng hơn 3 lao động/ hộ), nhưng chưa có cơ chế, chính sáchphù hợp nhất để khuyến khích phát triển, mở rộng nhằm phát huy đúng mức vai tròcủa loại hình hộ kinh doanh trong tham gia tạo việc làm và giải quyết việc làm cho laođộng ở địa phương (Nguyễn Xuân Thi và cộng sự, 2014).
Thực tế đó cho thấy, vai trò giải quyết việc làm của các cơ sở SXKD cá thể phinông nghiệp là rất quan trọng Nhưng bên cạnh thuận lợi cơ bản thì vẫn còn không ítvướng mắc trong việc tạo việc làm và giải quyết việc làm của các hộ kinh doanh nênviệc nghiên cứu, đánh giá thực trạng giải quyết việc làm, phân tích rõ những yếu tố tạothuận lợi, cũng như gây trở ngại trong thu hút lao động là rất cần thiết
Do vậy, tác giả chọn vấn đề Các yếu tố tác động đến việc thuê lao động của hộ kinh doanh ở Bình Thuận để nghiên cứu nhằm làm rõ vai trò tạo việc làm và giải
quyết việc làm của loại hình kinh doanh này và khuyến nghị chính sách tháo gỡ vướngmắc trong thu hút lao động thuê ngoài của các hộ kinh doanh ở địa phương
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Thông qua việc nghiên cứu nhằm:
- Chỉ rõ những yếu tố tác động đến việc thuê lao động của các hộ kinh doanh ởtỉnh Bình Thuận
- Đánh giá mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố đến việc thuê lao động của các
hộ kinh doanh ở địa phương
- Đề xuất, kiến nghị một số giải pháp nhằm phát huy vai trò tạo việc làm vàgiải quyết việc làm cho người lao động của các hộ kinh doanh trên địa bàn tỉnh
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Đề tài sẽ tập trung giải quyết 03 câu hỏi sau đây:
(1) Những yếu tố nào tác động đến việc thuê lao động của các hộ kinh doanh ởtỉnh Bình Thuận?
Trang 14(2) Mức độ tác động của từng yếu tố như thế nào đến việc thuê lao động của các
hộ kinh doanh trên địa bàn tỉnh?
(3) Làm gì để phát huy vai trò tạo việc làm và giải quyết việc làm cho lao độngcủa các hộ kinh doanh tại địa phương?
1.4 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Giới hạn nghiên cứu:
Trong phạm vi đề tài này, chỉ tập trung nghiên cứu làm rõ các yếu tố tác độngđến việc thuê lao động của các hộ kinh doanh ở tỉnh Bình Thuận tại thời điểm nghiêncứu (năm 2014)
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Trên địa bàn tỉnh Bình Thuận
- Về thời gian: Năm 2014
1.5 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu trong đề tài này là các yếu tố tác động đến việc thuê laođộng của loại hình hộ kinh doanh
Chủ thể nghiên cứu là các hộ kinh doanh đang hoạt động SXKD trên địa bàntỉnh Bình Thuận tại thời điểm nghiên cứu
1.6 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng bao gồm cả nghiên cứu định tính vànghiên cứu định lượng, cụ thể là:
1.6.1 Nghiên cứu định tính
Tiến hành phỏng vấn chuyên gia là lãnh đạo và cán bộ chuyên trách một sốngành chức năng ở Bình Thuận có am hiểu sâu về vấn đề lao động, việc làm nhằm tìmhiểu, tham vấn về những vấn đề có liên quan đến đề tài nghiên cứu, nhất là các yếu tốtác động đến việc thuê lao động và việc thực hiện cơ chế, chính sách khuyến khích tổchức, cá nhân tham gia tạo việc làm và giải quyết việc làm cho lao động ở địa phương
Trang 151.6.2 Nghiên cứu định lượng
Sử dụng mô hình nghiên cứu định lượng (hồi quy đa biến OLS) để phân tích,đánh giá rõ các yếu tố tác động đến việc thuê lao động của các hộ kinh doanh ở tỉnhBình Thuận
Dữ liệu được xử lý bằng chương trình SPSS và sử dụng các kiểm định thíchhợp để có kết quả đáng tin cậy nhất
1.7 Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Vận dụng các kiến thức cơ bản về kinh tế học, như: kinh tế chính trị học, kinh
tế vi mô, kinh tế vĩ mô, kinh tế lao động và mô hình kinh tế lượng nhằm phân tích,đánh giá những yếu tố tác động đến việc thuê lao động của các hộ kinh doanh trên địabàn tỉnh Bình Thuận Trên cơ sở đó, chỉ ra các yếu tố quan trọng ảnh hưởng hoặckhông có tác động đến việc thuê lao động của các hộ kinh doanh
Thông qua việc nhận rõ đặc điểm mang tính đặc thù của loại hình hộ kinhdoanh trên phạm vi cả nước và tỉnh Bình Thuận để hiểu sâu hơn vai trò của hộ kinhdoanh trong việc tham gia tạo việc làm và giải quyết việc làm ở địa phương
Trên cơ sở phân tích thực trạng áp dụng và triển khai thực hiện các cơ chế,chính sách khuyến khích các hộ kinh doanh tham gia tạo việc làm và giải quyết việclàm để tìm ra các vấn đề phù hợp, chưa phù hợp; từ đó đưa ra hàm ý chính sách khắcphục có kết quả những khó khăn, thách thức, để phát triển loại hình hộ kinh doanh,phát huy đúng mức vai trò của các cơ sở SXKD này trong thu hút lao động ngoàiphạm vi gia đình, góp phần thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế-xã hội, xây dựng nôngthôn mới của tỉnh theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
1.8 Một số điểm khác biệt căn bản so với các nghiên cứu trước
(1) Về vấn đề nghiên cứu:
Vai trò tạo việc làm và giải quyết việc làm của các hộ kinh doanh trên thế giới,trong nước và từng địa phương được các học giả, nhà kinh tế, chính phủ các quốc gia,chính quyền địa phương khẳng định là rất quan trọng Do vậy, thông qua nghiên cứunày nhằm chỉ rõ các yếu tố tác động đến việc thuê lao động của hộ kinh doanh ở tỉnh
Trang 16Bình Thuận, qua đó đề xuất giải pháp khắc phục vấn đề bức xúc hiện nay của loại hìnhkinh doanh này trong tham gia tạo việc làm và giải quyết việc làm ở địa phương.
(2) Về dữ liệu nghiên cứu:
Mẫu điều tra khoa học (do Tổng cục Thống kê quy định thống nhất trên phạm
vi cả nước) và đại diện được cho địa phương tỉnh Bình Thuận (điều tra toàn bộ địa bànhành chính 10 huyện, thị xã, thành phố và tất cả nhóm ngành phi nông nghiệp, gồmCNXD và TMDV)
Đối tượng điều tra là các hộ SXKD cá thể phi nông nghiệp, cũng chính là chủthể nghiên cứu trong đề tài này
Mặt khác, đây là số liệu mới được cập nhật (năm 2014) nên bảo đảm tính kịpthời, thể hiện đầy đủ những biến động ở tỉnh Bình Thuận theo yêu cầu nghiên cứu;đồng thời đã được cơ quan chức năng (Cục Thống kê tỉnh Bình Thuận) xử lý từ cuộcđiều tra hộ SXKD cá thể phi nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Thuận trong năm
2014, nên có độ tin cậy cao
(3) Về phương pháp nghiên cứu:
Trong phạm vi nghiên cứu này, sử dụng cả phương pháp nghiên cứu định tính
và phương pháp nghiên cứu định lượng
(4) Về mô hình nghiên cứu:
Sử dụng mô hình hồi quy đa biến (OLS); trong đó có xây dựng thêm một sốbiến độc lập mới theo thực tế tình hình của nguồn dữ liệu và dựa trên cơ sở lý thuyết,nghiên cứu trước, cũng như ý kiến các chuyên gia
1.9 Kết cấu của luận văn
Ngoài mục lục, tài liệu tham khảo, các mô hình, bảng biểu…, bố cục của đề tàinày bao gồm 5 chương, cụ thể như sau:
Chương 1: Phần mở đầu.
Đề cập đến lý do nghiên cứu, đặt vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câuhỏi nghiên cứu, giới hạn và phạm vi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phương pháp
Trang 17nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn của luận văn, những điểm khác biệt căn bản so với cácnghiên cứu trước và kết cấu luận văn.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết.
Trình bày tóm lược các khái niệm của đề tài về hộ kinh doanh, việc làm và giảiquyết việc làm, cầu lao động
Cùng với đó sẽ giới thiệu tổng quan cơ sở lý thuyết, trọng tâm là về các vấn đềviệc làm, cung cầu lao động, tạo việc làm và giải quyết việc làm, hạn chế thất nghiệp
Ngoài ra, cũng giới thiệu sơ lược một số nghiên cứu trước về những nội dung
có liên quan đến đề tài, nhất là các yếu tố tác động đến cầu lao động trên phạm vi xãhội, cũng như của khu vực kinh tế tư nhân, khu vực kinh tế phi chính thức, các loạihình doanh nghiệp và cơ sở SXKD
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu.
Trọng tâm của chương này là đề xuất phương pháp nghiên cứu; đồng thời dựatrên cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước, cũng như ý kiến chuyên gia và thực tếtình hình về nguồn dữ liệu nghiên cứu để xây dựng mô hình nghiên cứu phù hợp vớimục tiêu nghiên cứu Bên cạnh đó, cũng sẽ nêu rõ cách thức thu thập và phương pháp
xử lý dữ liệu nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu.
Tập trung phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện các cơ chế, chính sáchkhuyến khích tạo việc làm và giải quyết việc làm vừa qua ở địa phương
Đặc biệt sẽ đi sâu mô tả cụ thể và phân tích làm rõ các kết quả từ các nghiêncứu định tính và nghiên cứu định lượng; từ đó nêu bật ý nghĩa thực tiễn của các kếtquả thu được
Chương 5: Kết luận và khuyến nghị.
Tóm lược các kết quả thu được và đề xuất, khuyến nghị về cơ chế, chính sáchtrên cơ sở kết quả nghiên cứu Đồng thời chỉ rõ một số điểm hạn chế của đề tài và đềxuất những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu
Trang 18CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Chương này tập trung giới thiệu các khái niệm, trình bày cơ sở lý thuyết và sơlược về một số nghiên cứu trước có liên quan đến vấn đề nghiên cứu, cụ thể như sau:
2.1 Các khái niệm của đề tài
2.1.1 Hộ kinh doanh
Về khái niệm, theo Ngô Huy Cương (2009): Trong Pháp luật Anh, thương nhân
đơn lẻ (sole trader) là một người tiến hành kinh doanh với tài khoản của mình; tự lựachọn nơi thích hợp để hoạt động; có hoặc không có sự trợ giúp của người làm côngtrong kinh doanh; vốn góp ban đầu là nguồn vốn cá nhân do tiết kiệm hoặc vay mượn(Abdul Kadar và ctg, 1985) Còn pháp luật Hoa Kỳ cho rằng, doanh nghiệp cá thể(sole proprietorship) là một thương nhân (a business) được vận hành bởi một ngườinhư một tài sản cá nhân của người đó và doanh nghiệp (enterprise) này là một sự mởrộng đơn thuần của chủ sở hữu cá nhân (individual owner) (Jame, 1991) Các quanđiểm này hoàn toàn trùng hợp với quan niệm của các luật gia Việt Nam ở các chế độcũ; xem thương nhân thể nhân là cá nhân (có hình hài, cốt nhục) kinh doanh khác biệthẳn với các thương nhân pháp nhân là các tổ chức hay đoàn thể được tạo lập bởi sựgóp vốn của các nhà đầu tư mong muốn tìm kiếm lợi nhuận Trong khi quan niệm vềthương nhân thể nhân (Lê Tài Triển, Nguyễn Vạng Thọ và Nguyễn Tân, 1972) dựa vàoĐiều 1-Luật Thương mại Pháp 1807; theo đó, cá nhân trở thành thương nhân là mộtvấn đề thực tế được xác định bởi tòa án; nếu tên cá nhân xuất hiện trong sổ đăng kýthương mại tại tòa án thương mại thì người đó được xem là thương nhân, trừ khi cóchứng cứ ngược lại (Philippe và ctg, 1993)
Trong pháp luật Việt Nam, tên gọi để chỉ hộ kinh doanh có nhiều thay đổi theothời gian, như: “hộ cá thể”, “hộ tiểu thủ công nghiệp”, “hộ kinh doanh cá thể” Cònhiện nay, Nghị định số 43/2010/NĐ-CP, ngày 15/4/2010 của Chính phủ xác định là “hộkinh doanh” Theo đó: Hộ kinh doanh do một cá nhân là công dân Việt Nam hoặc mộtnhóm người hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địađiểm, sử dụng không quá mười lao động, không có con dấu riêng và chịu trách nhiệmbằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh Hộ gia đình sản xuất
Trang 19nông, lâm, ngư nghiệp, làm muối và những người bán hàng rong, quà vặt, buônchuyến, kinh doanh lưu động, làm dịch vụ có thu nhập thấp không phải đăng ký, trừkhi kinh doanh các ngành nghề có điều kiện Hộ kinh doanh có sử dụng thường xuyênhơn mười lao động phải chuyển đổi sang hoạt động theo hình thức doanh nghiệp Nhưvậy, có thể xem đây là khái niệm về hộ kinh doanh ở nước ta hiện nay.
Về đặc điểm pháp lý: (1) Hộ kinh doanh không có tư cách pháp nhân vì là thực
thể không tách biệt với người thành lập và mọi tài sản của cá nhân tạo lập nó, nênhưởng toàn bộ lợi nhuận và gánh chịu mọi nghĩa vụ (2) Hộ kinh doanh là hình thứckinh doanh quy mô rất nhỏ, sử dụng dưới 10 lao động và chỉ có thể có một cửa hànghoặc một cơ sở SXKD đặt tại một địa phương nhất định (3) Chủ hộ kinh doanh chịutrách nhiệm vô hạn đối với các khoản nợ của hộ; nếu do một cá nhân làm chủ, thì phảichịu trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ ngoài việc đưa tài sản kinh doanh ra để trảnợ; trường hợp một hộ gia đình làm chủ, thì ngoài việc đưa tài sản kinh doanh ra để trả
nợ, hộ gia đình phải chịu trách nhiệm bằng tài sản chung và nếu không đủ thì cácthành viên phải chịu trách nhiệm liên đới bằng tài sản riêng của mình; còn một nhómngười làm chủ thì các thành viên trong nhóm phải chịu trách nhiệm liên đới và vô hạnđịnh về các khoản nợ của hộ kinh doanh (Ngô Huy Cương, 2009)
Việc thành lập, đăng ký và chấm dứt kinh doanh (1) Việc thành lập hộ kinh
doanh rất đơn giản Nghị định số 43/2010/NĐ-CP, ngày 15/4/2010 của Chính phủ, quyđịnh: Công dân Việt Nam đủ 18 tuổi, có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sựđầy đủ; các hộ gia đình có quyền thành lập hộ kinh doanh và có nghĩa vụ đăng ký hộkinh doanh theo quy định (2) Thủ tục đăng ký kinh doanh như sau: Cá nhân hoặc đạidiện hộ gia đình gửi hồ sơ, thủ tục đến cơ quan chức năng và trong thời hạn năm ngàylàm việc sẽ được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (nếu hồ sơ hợp lệ); hộ kinhdoanh hoạt động ngay sau khi được cấp Giấy chứng nhận và quá trình hoạt động, cóthể thay đổi nội dung hoặc ngừng kinh doanh theo quy định của pháp luật (3) Hộchấm dứt kinh doanh khi cá nhân thành lập chết hoặc theo ý muốn của họ hay bởi hiệulực của pháp luật thông qua việc bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
2.1.2 Việc làm và giải quyết việc làm
Để hiểu rõ khái niệm việc làm phải liên hệ đến phạm trù lao động, vì chúng có
Trang 20mối quan hệ mật thiết với nhau Kinh tế học chính trị Mác-Lê nin quan niệm: “Laođộng là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm tạo ra các sản phẩmphục vụ các nhu cầu của đời sống con người” và “Lao động là điều kiện cơ bản đầutiên của toàn bộ đời sống con người, đến một mức và trên ý nghĩa nào đó, chúng taphải nói rằng: Lao động đã tạo ra chính bản thân con người” (Chu Thanh Hưởng tríchdẫn, 2013) Còn theo Đồng Văn Tuấn (2011): “Lao động là hoạt động có mục đích củacon người, thông qua hoạt động đó con người tác động vào giới tự nhiên, cải biếnchúng thành những vật có ích phục vụ nhu cầu của con người” Trong khi NguyễnThúy Hà (2013) cho rằng: Lao động là một yếu tố tất yếu không thể thiếu được củacon người, nó là hoạt động cần thiết và gắn chặt với lợi ích của con người.
Từ cơ sở trên để tìm hiểu sâu vấn đề việc làm Cũng theo Nguyễn Thúy Hà(2013): Việc làm là những công việc mà người lao động nhận được tiền công, thu lợinhuận cho bản thân và gia đình, nhưng phải được pháp luật thừa nhận Còn theo LuậtViệc làm 2013: Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luậtnghiêm cấm” (Khoản 2, Điều 3); việc làm công là việc làm tạm thời có trả công đượctạo ra thông qua việc thực hiện các dự án hoặc hoạt động sử dụng vốn nhà nước gắnvới các chương trình phát triển kinh tế-xã hội trên địa bàn xã, phường, thị trấn”(Khoản 5, Điều 3) Có thể xem đây là khái niệm về việc làm ở nước ta hiện nay
Phân loại việc làm: Theo Nguyễn Thúy Hà (2013), tùy theo các mục đích
nghiên cứu khác nhau mà người ta phân chia việc làm ra thành nhiều loại Theo mức
độ sử dụng thời gian làm việc gồm: việc làm chính là công việc mà người thực hiệngiành nhiều thời gian nhất hoặc có thu nhập cao hơn công việc khác và việc làm phụ làcông việc mà họ giành nhiều thời gian nhất sau công việc chính Ngoài ra, có thể chiathành: việc làm toàn thời gian chỉ một công việc làm 8 tiếng/ ngày và 5 ngày/ tuần;việc làm bán thời gian mô tả công việc làm không đủ thời gian hành chính như trên;việc làm thêm mô tả một công việc không chính thức, không thường xuyên bên cạnhmột công việc chính thức và ổn định Trong hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay, ILOcòn khuyến cáo và đề cập tới việc làm nhân văn và việc làm bền vững
Vai trò của việc làm, WB (2014) khẳng định: Việc làm có vai trò quan trọng
trong quá trình giảm nghèo, giúp các thành phố vận hành và giúp lớp trẻ tránh được
Trang 21bạo lực; tại các nước đang phát triển, việc làm là nền tảng căn bản cho phát triển,mang lại nhiều lợi ích to lớn hơn nhiều so với thu nhập đơn thuần nên có thể xem: việclàm là hy vọng, việc làm là hòa bình, việc làm có thể làm cho các nước dễ bị tổnthương trở nên vững mạnh Còn Nguyễn Thúy Hà (2013) cho rằng, việc làm là nhucầu cơ bản của con người để đảm bảo cuộc sống và sự phát triển toàn diện; nó có vaitrò quan trọng trong đời sống xã hội, không thể thiếu đối với từng cá nhân và toàn bộnền kinh tế, là vấn đề cốt lõi và xuyên suốt trong các hoạt động kinh tế, có mối quan
hệ mật thiết với kinh tế và xã hội, chi phối toàn bộ hoạt động của cá nhân và xã hội
Về chính sách việc làm: Vai trò của việc làm đối với từng cá nhân, kinh tế, xã
hội là rất quan trọng nên để đáp ứng được nhu cầu việc làm của toàn xã hội, đòi hỏiNhà nước phải có những chiến lược, kế hoạch cụ thể Theo gợi ý của WB (2014): Cácnhà hoạch định chính sách cần hiểu rõ những thách thức về việc làm để có ưu tiênchính sách phù hợp; trong đó lưu ý hướng tiếp cận theo ba bước, đó là: (1) Cần có ổnđịnh kinh tế vĩ mô, một môi trường kinh doanh thuận lợi, nguồn lực con người và thựcthi pháp luật, vì đây là nền tảng vững chắc; (2) Chính sách lao động không nên gây trởngại cho việc tạo ra việc làm mà nên hỗ trợ tiếng nói và bảo đảm an sinh xã hội chonhóm người dễ bị tổn thương nhất; (3) Cần xác định rõ việc làm nào có lợi nhất chophát triển trong hoàn cảnh đặc thù của mỗi nước và phải xóa bỏ hoặc bù đắp cho đượcnhững cản trở đối với khu vực tư nhân trong quá trình tạo việc làm
Còn Luật Việc làm (2013) và Nghị định 05 của Chính phủ (2015), quy địnhchính sách việc làm bao gồm: (1) Phát triển kinh tế-xã hội nhằm tạo việc làm, xác địnhmục tiêu giải quyết việc làm trong chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội; bố trínguồn lực để thực hiện chính sách việc làm; (2) Khuyến khích tổ chức, cá nhân thamgia tạo việc làm và tự tạo việc làm; (3) Hỗ trợ tạo việc làm, phát triển thị trường laođộng và bảo hiểm thất nghiệp; (4) Đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia gắnvới nâng cao kỹ năng nghề; (5) Ưu đãi ngành, nghề sử dụng lao động có trình độchuyên môn kỹ thuật cao hoặc sử dụng nhiều lao động; (6) Hỗ trợ việc sử dụng nhiềulao động khuyết tật, lao động nữ, lao động là người dân tộc thiểu số
2.1.3 Cầu lao động
Khái niệm: Trên thị trường lao động, cầu lao động là lượng lao động mà người
Trang 22thuê có thể thuê ở các điều kiện nhất định Tổng cầu lao động là cầu về sức lao độngcủa nền kinh tế ở một thời kỳ nhất định, trong những điều kiện nhất định Khi bán sứclao động, ngoài tiền lương, người lao động còn quan tâm đến số lượng lao động màdoanh nghiệp cần thuê và mức tiền lương mà họ nhận được ở các khía cạnh và mức độkhác nhau Ngoài ra, khi quyết định thuê lao động, người lao động và người sử dụnglao động cần chú ý đến chất lượng lao động để xác định giá cả sức lao động và cácquyết định về quan hệ lao động (Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh trích dẫn, 2012).
Về cơ sở xác định cầu lao động, theo Robert S Pindyck và Daniel L.Rubinfeld
(1999): Nhu cầu về sản phẩm xuất hiện làm phát sinh nhu cầu về lao động để sảnxuất ra sản phẩm đó nên nó được coi là cầu dẫn xuất hoặc cầu gián tiếp; tức làlượng cầu một loại lao động nào đó sẽ được xác định trên cơ sở giá trị sản phẩm biêncủa lao động (là mức sản lượng tăng thêm khi thuê thêm mỗi công nhân) Với điềukiện tiền công bằng giá trị sản phẩm biên của lao động thì nhu cầu thuê lao động sẽtăng thêm khi giá trị sản phẩm biên của lao động còn lớn hơn mức thuê (tiền công);nếu giá trị biên của lao động nhỏ hơn tiền công thì cầu lao động sẽ bị thu hẹp
2.2 Sơ lược về cơ sở lý thuyết
2.2.1 Theo trường phái kinh tế chính trị học
C.Mác và Ph.Ăngghen khẳng định, để vận dụng một lượng tư liệu sản xuất
nhất định, bao giờ cũng cần một khối lượng sức lao động như trước Rõ ràng lượngcầu về sức lao động (thực chất là cầu lao động) và quỹ sinh hoạt của công nhân (thựcchất là tiền lương) sẽ tăng lên một cách tỷ lệ với vốn đầu tư Tuy nhiên, nhà sản xuấtluôn tính toán sao cho tốc độ gia tăng vốn nhanh hơn tốc độ gia tăng tiền lương nênđầu tư cải tiến kỹ thuật công nghệ là biện pháp tốt nhất để tăng NSLĐ , nên sự gia tăngviệc làm không tăng cùng tỷ lệ với sự gia tăng đầu tư, mà có xu hướng giảm tương đối(Đinh Ái Minh, Vũ Cẩm Tú và cộng sự, 2005) Do đó, xét trên tổng thể, tiền lương vàcầu sức lao động giảm tương đối, số lượng việc làm tăng chậm hơn toàn bộ vốn củanền sản xuất xã hội (Đỗ Thế Tùng và cộng sự, 2000) Đây là những luận cứ khoa học
cơ bản để nghiên cứu về các nền kinh tế trên thế giới và các vấn đề phát sinh trong xâydựng, phát triển kinh tế của các quốc gia (Chu Văn Cấp và cộng sự, 2007)
Trang 23Tuy nhiên, vấn đề tạo việc làm không chỉ liên quan tới vốn và sức lao động
mà còn hàng loạt yếu tố khác Dưới dạng tổng quát, có thể biểu thị mối quan hệ nàythông qua hàm số sau: Y = f (x, j, l, w n) Trong đó, Y: Số lượng việc làm đượctạo ra; x: Vốn đầu tư mua sắm máy móc, thiết bị, công nghệ, nhà xưởng; j: Nguyên,nhiên, vật liệu, năng lượng ; l: Số và chất lượng lao động, w: Nhu cầu của thịtrường đối với loại sản phẩm nào đó (Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh, 2012)
Sismondi cho rằng, khủng hoảng kinh tế là do sản xuất vượt quá so với tiêu
dùng Để khắc phục, trước mắt tăng tiêu dùng, xuất khẩu hàng hoá dư thừa và lâu dài,cần phát triển mạnh sản xuất nhỏ để mọi người đều có tư liệu sản xuất và việc làm,công bằng và bình đẳng, sẽ không có khủng hoảng kinh tế và thất ng hiệp (NguyễnĐức Thành, 2009) Mặc dù đi ngược lại v ới quy luật phát triển, nhưng đây cũng là gợi
ý về chính sách giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động thông qua việckhuyến khích phát triển kinh tế hộ, trong đó có hộ kinh doanh (Đồng Văn Tuấn, 2011)
2.2.2 Lý thuyết về cân bằng thị trường lao động
Thị trường lao động có những điểm khác biệt so với hầu hết thị trường khác vìcầu lao động là cầu gián tiếp Phần lớn dịch vụ lao động không phải là hàng hóa tiêudùng cuối cùng, mà là đầu vào của quá trình sản xuất hàng hóa khác Người sản xuấtphải tối đa hóa lợi nhuận nên quan tâm đến số tiền kiếm được hơn là sản lượng sảnxuất ra và việc thuê nhân công phụ thuộc vào lợi nhuận tăng thêm mà mỗi lao độngđược thuê tạo ra (N.Gregory Mankiw, 1997)
Hình 2.1: Mô hình về lượng cầu lao động tối đa hóa lợi nhuận
Giá trị sản lượng biên
Mức lương thị trường Giá trị sản lượng biên
Trang 24Để tối đa hóa lợi nhuận, nhà sản xuất sẽ tuyển dụng nhân công với số lượng tạigiao điểm giữa đường mức tiền lương thị trường và đường cầu tối đa hóa lợi nhuận;hay nói cách khác là tại điểm sản lượng biên của lao động bằng với mức lương Theo
đó, mức lương được xác định trên thị trường lao động cạnh tranh được thiết lập bằnghai cách thức: thay đổi để cân bằng giữa cung cầu lao động và bằng với giá trị sảnlượng biên của lao động
Hình 2.2: Mô hình về cân bằng thị trường lao động
Mức lương (giá lao động) Cung lao động
Mức lương cân bằng
Cầu lao độngLượng lao động cân bằng Số lao động
(Nguồn: N.Gregory Mankiw, 1997)
Như vậy, bất kỳ yếu tố nào làm thay đổi cung và cầu lao động phải làm thay đổimức lương cân bằng và giá trị sản lượng biên với một mức tương ứng, bởi vì những sựthay đổi này luôn luôn bằng nhau
2.2.3 Lý thuyết về cầu lao động trong ngắn hạn và dài hạn
Trong ngắn hạn, theo David Begg (2012), có một số yếu tố sản xuất cố định.
Dưới đây sẽ xét trong điều kiện tư bản là cố định, cụ thể trong hai trường hợp như sau:
(1) Nếu hãng là cạnh tranh hoàn hảo, sản phẩm giá trị cận biên của một laođộng (MVPL) bổ sung là sản phẩm hiện vật cận biên nhân với giá bán (không đổi) củahàng hóa tăng thêm, từ doanh thu bổ sung của lao động bổ sung trừ chi phí tiền lương(W0) bổ sung Hãng sẽ thuê thêm (hoặc giảm) lao động nếu MVPL lớn (hoặc nhỏ) hơn
W0 Nếu lao động có thể được điều chỉnh dần dần, cầu lao động phải thỏa điều kiện:
W0 = MVPL.Giả định năng suất cận biên giảm dần ở tất cả mức độ thuê lao động thìMVPL sẽ giảm dần Hãng có thể thuê lao động ở mức lương không đổi W0 Dưới mức
L*, lợi nhuận sẽ tăng lên bằng cách thuê thêm lao động, vì MVPL lớn hơn W0 Khi laođộng lớn hơn L*sẽ có lợi hơn nếu thuê ít lao động, do W0 lớn hơn MVPL Vì thế L*làlượng lao động tối đa hóa lợi nhuận
Trang 25Hình 2.3: Mô hình cầu lao động trong ngắn hạn của hãng cạnh tranh hoàn hảoTiền công, sản phẩm giá trị biên của lao động
W0 E Mức lương
MVPL
L* Số lượng lao động
(Nguồn: David Begg, 2012)
(2) Nếu hãng có sức mạnh độc quyền bán trên thị trường sản phẩm hoặc độcquyền mua trên thị trường đầu vào: Cả hai đường MVPL và MRPL của hai hãng cócùng công nghệ đều dốc xuống, nhưng MRPL dốc hơn do hãng đối mặt với đường cầusản phẩm dốc xuống Tương tự, mặt dù W0 là chi phí cận biên của lao động đối vớ ihãng cạnh tranh, nhưng hãng độc quyền mua nhận thấy thuê thêm lao đ ộng sẽ đẩy tiềnlương lên; nếu tất cả lao động được trả lương như nhau, chi phí cận biên của lao động
bổ sung còn là sự tăng lên trong tiền lương phải trả cho số lao động được thuê trước
đó Chi phí cận biên của lao động trong độc quyền mua lớn hơn tiền lư ơng và tăng lêncùng với mức thuê lao động (được minh họa bằng đường MCL)
Hình 2.4: Mô hình cầu lao động trong ngắn hạn của hãng độc quyền
Tiền công, sản phẩm giá trị biên của lao động
MCL
W0
MVPLMRPL
L4 L3L2 L1 Số lượng lao động
(Nguồn: David Begg, 2012)
Bất kỳ hãng nào cũng tối đa hóa lợi nhuận khi doanh thu cận biên và chi phí cận
Trang 26biên của lao động tăng thêm bằng nhau Một hãng chấp nhận giá trên thị trường laođộng đầu vào và đầu ra, thuê L1 lao động ở mức W0 = MVPL Nếu chấp nhận giá trênthị trường lao động, nhưng không chấp nhận giá trên thị trường sản phẩm, thuê L3 laođộng ở mức MRPL = W0 Còn chấp nhận giá trên thị trường đầu ra, nhưng không chấpnhận giá trên thị trường lao động sẽ thuê L2 lao động ở mức MVPL = MCL Nếu vừađộc quyền bán vừa độc quyền mua sẽ thuê L4 lao động ở mức MRPL = MCL Trongtất cả các trường hợp này, hãng thuê lao động tới mức chi phí cận biên của lao độngngang bằng sản phẩm doanh thu cận biên của lao động: MCL = MRPL.
Về sự thay đổi của cầu lao động trong ngắn hạn, David Begg (2012) chỉ rõ:
Sự tăng lên của tiền lương W0 làm chi phí lao động tăng lên Năng suất lao động giảmdần làm cho đường MVPL dốc xuống nên hãng cần ít lao động để sản phẩm giá trị cậnbiên của lao động bằng với chi phí cận biên tăng lên Giả định hãng cạnh tranh đối mặtvới mức giá sản phẩm cao hơn MPL (sản phẩm hiện vật cận biên của lao động) khôngthay đổi, nhưng thu về nhiều tiền hơn Đường MVPL dịch chuyển lên trên ở tất cả cácmức lao động Vì vậy, ở hình 2.3 và 2.4, đường nằm ngang ở mức tiền lương W0 cắtđường MVPL mới ở mức thuê lao động lớn hơn Với chi phí cận biên của lao độngkhông đổi và doanh thu cận biên từ lao động tăng lên, sản lượng đầu ra và số lao độngđược thuê tăng lên tới khi năng suấ t cận biên giảm dần làm cho MVPL giảm xuốngbằng với mức tiền lương W0 Nếu hãng bắt đầu sản xuất với vốn tư bản lớn hơn Mỗilao động sẽ làm việc với máy móc nhiều hơn và tạo nhiều sản phẩm hơn Mặc dù tiềnlương và giá không thay đổi, MPL tăng lên ở mỗi mức lao động Đường MVPL dịchchuyển lên trên, do MVPL bằng MPL nhân với giá sản phẩm Giống như khi giá sảnphẩm tăng lên, sự dịch chuyển lên trên của đường MVPL dẫn đến hãng thuê th êm laođộng và tăng sản lượng Đối với một hãng cạnh tranh, có một cách k ết hợp 2 kết quảđầu tiên này rất rõ ràng MVPL bằng giá sản phẩm nhân với MPL, điều kiện tối đa hóalợi nhuận của hãng là tiền lương W = P * MPL; chia 2 vế cho P, ta có: W/P = MPL
Trong dài hạn, David Begg (2012) cho rằng, tất cả các đầu vào có thể được
điều chỉnh Khi sản xuất ở bất kỳ một mức sản lượng nào đó với kỹ thuật sẵn có rẻ tiềnnhất, thì một sự tăng lên trong giá của lao động so với giá của tư bản sẽ khiến hãngchuyển sang một kỹ thuật sản xuất theo hướng tăng cường tư bản Ngược lại, nếu tư
Trang 27bản trở nên tương đối đắt hơn lao động, thì kỹ thuật có chi phí thấp nhất để sản xuất ramột mức sản lượng nhất định bây giờ sẽ là kỹ thuật sử dụng nhiều lao động Có mộthiệu ứng thay thế thuần túy ở một mức sản lượng cho trước Giá lao động cao hơn sovới giá tư bản dẫn tới hãng lấy tư bản thay cho lao động Nhưng còn có một hiệu ứngsản lượng, do làm tăng chi phí cận biên của sản xuất sản phẩm, giá lao động tăng dẫntới sản lượng thấp hơn Trong dài hạn, tiền lương tăng sẽ làm giảm lượng cầu laođộng Hiệu ứng thay thế dẫn tới cầu lao động ít đi ở mỗi mức sản lượng và hiệu ứngsản lượng làm giảm cầu đối với tất cả các đầu vào.
2.2.4 Lý thuyết về cầu lao động khi một số yếu tố đầu vào thay đổi
Khi hãng đồng thời chọn hai hoặc nhiều hơn các yếu tố đầu vào biến đổi, vấn
đề thuê lao động trở nên khó khăn vì sự thay đổi giá của một yếu tố đầu vào sẽ làmthay đổi cầu các yếu tố khác Và khi đó cầu lao động phụ thuộc vào sản phẩm do anhthu biên của cả hai yếu tố (Robert S Pindyck và Daniel L.Rubinfeld, 1999) Giả sử cảlao động và vốn thay đổi, khi mức tiền công giảm, cầu lao động sẽ nhiều hơn, thậm chíngay cả nếu đầu tư cho máy móc không thay đổi Khi lao động rẻ hơn, có thể hãng sẽđầu tư thêm máy móc để mở rộng năng lực sản xuất Việc tăng cường sử dụng máymóc sẽ làm cho đường sản phẩm doanh thu biên của lao động dịch chuyển về bên phải
và làm cho lượng cầu về lao động tăng lên
Hình 2.5: Mô hình về cầu lao động khi một số yếu tố đầu vào thay đổi
Tiền lương MRPL1 MRPL2
DLL1 L2 Số giờ làm việc
(Nguồn: Robert S Pindyck và Daniel L.Rubinfeld, 1999)
Khi mức tiền công là W1 thì hãng thuê L1 giờ công (điểm A); lúc giảm xuống
W2, hãng sẽ có cầu nhiều hơn về lao động Nhưng MRPL1(sản phẩm doanh thu biên)
Trang 28biểu thị cầu về lao động khi sử dụng máy móc không đổi Tiền công thấp hơn sẽ thúcđẩy hãng thuê nhiều máy móc hơn, cũng như lao động nên sản phẩm biên của lao động
sẽ tăng lên và đường sản phẩm doanh thu biên dịch chuyển về bên phải tới đườngMRPL2 Rõ ràng, mức tiền công giảm, hãng sẽ sử dụng L2 giờ lao động (điểm C), chứkhông phải B Và bây giờ A và C là hai điểm trên đường cầu của hãng về lao động D L(với máy móc biến động) Như vậy, khi đầu vào về vốn biến động trong dài hạn thì độ
co giãn của cầu lớn hơn vì hãng có thể dùng vốn để thay cho lao động trong sản xuất
2.2.5 Lý luận về độ co giãn của cầu lao động
Co giãn theo lương của cầu lao động cho biết phần trăm thay đổi trong mức
cầu lao động khi tiền lương thay đổi một phần trăm, biểu hiện qua công thức: δD =
%∆E / %∆W = ∆E / ∆W * W / E Vì đường cầu lao động có độ dốc đi xuống nên độ
co giãn theo lương của cầu lao động là một số âm Với đường cầu lao động co giãntheo lương, tổng tiền lương của các cá nhân sẽ giảm và ngược lại Mặt khác, một hãngthường sử dụng nhiều loại lao động nên cầu về loại lao động này cũng chịu ảnh hưởngcủa việc thay đổi tiền lương các loại lao động khác; đây chính là co giãn chéo theolương của cầu lao động (Tạ Đức Khách trích dẫn, 2009)
Còn quy luật Marshall về cầu dẫn xuất chỉ rõ mối quan hệ giữa co giãn của
cầu lao động trong ngành với các yếu tố khác, đó là: Cầu lao động của ngành là cogiãn hơn khi (1) Loại lao động này có thể dễ dàng thay thế bởi loại lao động khác (haynhân tố khác); (2) Cầu sản phẩm là co giãn hơn; (3) Cung các lao động khác (hay nhân
tố khác) là co giãn hơn và (4) Tỷ lệ chi phí về lao động lớn hơn tổng chi phí
2.2.6 Các mô hình lý thuyết tạo việc làm cho người lao động
Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh (2012) giới thiệu 06 mô hình lý thuyết cơbản về tạo việc làm cho lao động đã được các học giả, nhà kinh tế đề cập như sau:
(1) Mô hình cổ điển tạo việc làm: Mức lương và việc làm do quy luật cung
cầu lao động quyết định Khi cung lớn hơn cầu lao động, người lao động cạnh tranhnhau để bán sức lao động và có việc làm nên giá nhân công (tức mức lương) giảmxuống; còn khi cung nhỏ hơn cầu lao động, các chủ sản xuất cạnh tranh nhau để thuêlao động làm cho giá nhân công tăng lên Do đó, tự do cạnh tranh mua và bán sức lao
Trang 29động trên thị trường, các mức lương linh hoạt được hình thành như có sức mạnh củabàn tay vô hình, thất nghiệp không xảy ra, mọi người có khả năng lao động và có nhucầu được làm việc đều có việc làm Hạn chế của mô hình là các mức lương thườngkhông linh hoạt, nên không có toàn dụng lao động; mặt khác, trong kinh tế thị trường,chỉ có thể giảm tỷ lệ thất nghiệp, chứ không loại bỏ hoàn toàn nó.
Chính những hạn chế của mô hình lại là gợi mở chính sách về tạo môi trườngkinh doanh thuận lợi, quy định mức lương phù hợp nhằm khuyến khích phát triểndoanh nghiệp, cơ sở SXKD để tạo thêm nhiều việc làm, hạn chế tình trạng thất nghiệp.Ngoài ra, mô hình này cũng là cơ sở để nghiên cứu sự tác động của tiền lương đến thuhút lao động của doanh nghiệp, cơ sở SXKD
(2) Mô hình tạo việc làm, giảm thất nghiệp của Keynes: Mô hình này cho
rằng, ở tầm vĩ mô, việc làm tăng cùng với tăng tổng sản phẩm quốc dân Thất nghiệpphát sinh do tổng cầu hàng hóa, dịch vụ của người tiêu dùng, của doanh nghiệp và chitiêu của chính phủ không đủ để tổng sản phẩm quốc dân đạt mức đủ việc làm Để giảmthất nghiệp, tạo việc làm cho người lao động phải tăng tổng cầu thông qua tăng trựctiếp chi tiêu của chính phủ hoặc khuyến khích đầu tư tư nhân Nhưng mô hình nàykhông có tác dụng thiết thực đối với các nước chậm phát triển vì một số hạn chế, đó là:Tình trạng thiếu vốn, nguyên vật liệu, nguồn lực ; mặt khác, việc thu hút nhiều laođộng từ nông thôn làm tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị tăng lên Do đó, “Các chính sáchcủa Keynes nhằm tăng sản lượng và tạo thêm việc làm thực ra lại có thể làm giảm toàn
bộ mức việc làm và sản lượng quốc gia” (Michael P.Todaro, 1999)
Đây là căn cứ quan trọng để nghiên cứu tác động từ yếu tố vốn SXKD đến việcthuê lao động; đồng thời cũng là vấn đề mà các nước đang pháp triển và chậm pháttriển lưu ý khi đưa ra chính sách kích cầu đầu tư, để tránh không gây ra hậu quả tiêucực, mà Việt Nam không phải là ngoại lệ
(3) Mô hình tập trung vào mối quan hệ giữa tích lũy vốn, phát triển công nghiệp và tạo công ăn việc làm: “Trường phái kinh tế học Tân cổ điển phát triển mô
hình của Keynes đã tập trung vào những chính sách nhằm tăng nhanh mức sản lượngquốc dân thông qua việc tăng cường tích lũy vốn” (Michael P.Todaro, 1999) Tăngtrưởng kinh tế là kết quả tổng hợp của tích lũy vốn (mức tiết kiệm) và NSLĐ (tỷ lệ
Trang 30vốn/sản lượng) Do đó, với một tỷ lệ tổng vốn/sản lượng nhất định, tốc độ tăng sảnlượng quốc dân và việc làm có thể được tối đa hóa bằng cách tối đa hóa mức tiết kiệm
và đầu tư Với mức năng suất nhất định, tăng cường tích lũy vốn, mở rộng đầu tư tăngsản lượng công nghiệp nhanh sẽ tạo ra nhiều việc làm hơn
Thông qua mô hình này có thể nhận thấy, các yếu tố vốn SXKD và ngành nghềSXKD có ảnh hưởng đến cầu lao động của doanh nghiệp, cơ sở SXKD
(4) Mô hình lựa chọn công nghệ phù hợp, khuyến khích giá, tạo việc làm:
Quan điểm cơ bản của mô hình này cho rằng, để sản xuất ra một mức sản lượng mongmuốn, các nhà sản xuất đứng trước hai lựa chọn lớn: một là, có nhiều mức giá khácnhau để mua vốn, lao động, nguyên vật liệu phải lựa chọn mức giá nhân tố nào để chiphí sản xuất thấp nhất và hai là, để tối đa hóa lợi nhuận phải lựa chọn công nghệ phùhợp (sử dụng nhiều vốn hay nhiều lao động) Nếu giá vốn quá cao so với giá nhâncông thì nhà sản xuất sẽ lựa chọn công nghệ sử dụng nhiều lao động và ngược lại, khigiá nhân công tương đối cao so với giá vốn, sẽ chọn công nghệ sử dụng nhiều vốn
Mô hình trên đã chỉ rõ, các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất, nhất là vốnSXKD và tiền lương có tác động trực tiếp và mạnh mẽ đến cầu lao động, nên cần vậndụng để nghiên cứu và khuyến nghị chính sách phù hợp
(5) Mô hình phát triển của Lewis: Theo Ông, một nền kinh tế kém phát triển
bao gồm hai khu vực: nông nghiệp tự cung tự cấp truyền thống, lao động dư thừa cónăng suất rất thấp và công nghiệp thành thị hiện đại có năng suất cao mà lao độngnông nghiệp có xu hướng chuyển dần sang Tăng sản lượng trong khu vực hiện đại dẫnđến lao động di cư từ nông thôn ra thành thị và gia tăng áp lực việc làm ở thành thị.Tuy có tác dụng nhất định, nhưng không thể áp dụng máy móc mô hình Lewis vào cácnước đang phát triển, vì nó dựa vào ba giả định không phù hợp với các nước này: (1)Tốc độ tăng trưởng của khu vực hiện đại ở thành thị và tăng việc làm có thể trái ngượcnhau; (2) tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị luôn cao hơn nông thôn, chứ không phải toàndụng lao động được; (3) mức lương thực tế ở thành thị sẽ không đổi cho đến khi nguồncung cấp lao động dư thừa ở khu vực nông thôn trở nên cạn kiệt
Mô hình Levis có thể là hàm ý chính sách thiết thực đối với các nước đang phát
Trang 31triển, trong đó có Việt Nam Theo đó, không nên chú trọng quá mức đến việc phát triểnkhu vực đô thị với kỳ vọng thu hút mạnh mẽ lao động từ khu vực nông thôn đến làmviệc để qua đó góp phần nâng cao NSLĐ xã hội.
(6) Mô hình thu nhập dự kiến về sự di cư nông thôn-thành thị của Todaro: Đô thị hóa diễn ra đồng thời với quá trình công nghiệp hóa Do đó, tình trạng
Haris-di dân từ nông thôn ra thành thị là xu hướng tất yếu khách quan của các nước trongquá trình phát triển Quyết định di cư được thực hiện nếu thu nhập dự kiến/thu nhập kỳvọng cao hơn thu nhập thực tế Thu nhập dự kiến của lao động di chuyển tùy thuộcvào khả năng có thể kiếm được việc làm và mức lương ở thành thị, độ tuổi của người
di cư Todaro đề xuất các chính phủ giảm mức lương ở thành thị, tăng cường việc làm
ở nông thôn, áp dụng công nghệ, có chính sách phù hợp sẽ là biện pháp tạo việc làm
Mô hình này là cơ sở để có thể nghiên cứu và đề xuất cơ chế, chính sách thu hútlao động thông qua việc áp dụng mức lương phù hợp ở đô thị, đồng thời chú trọngphát triển sản xuất ở khu vực nông thôn để thu hút lao động tại chỗ, hạn chế tình trạng
di dân đến các đô thị để tìm kiếm việc làm
2.2.7 Lý luận về các nhân tố ảnh hưởng đến cầu lao động
Cầu sản phẩm Khi các nhân tố khác cố định thì sự thay đổi về cầu một loại
sản phẩm đang sản xuất sẽ làm thay đổi cầu lao động theo cùng xu hướng Nhu cầutiêu dùng của khách hàng về một loại hàng hóa nào đó tăng làm cầu sản phẩm, giá trịsản phẩm biên tăng và cầu lao động tăng Ngược lại, cầu sản phẩm giảm làm giá sảnphẩm giảm nên giá trị sản phẩm biên giảm và cầu lao động cũng giảm
Năng suất lao động thay đổi làm cầu lao động thay đổi theo hai xu hướng khác
nhau Khi NSLĐ tăng làm sản phẩm biên và giá trị sản phẩm biên tăng, doanh nghiệp
sẽ thuê thêm lao động làm cho cầu lao động tăng và ngược lại sẽ làm cầu lao độnggiảm Trình độ người lao động tăng, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệmới, cải thiện điều kiện làm việc làm tăng năng suất và ảnh hưởng đến cầu lao động
Tình hình phát triển kinh tế thay đổi kéo theo sự thay đổi của cầu lao động vì
các yếu tố nguồn lực như vốn, tài nguyên, công nghệ được huy động và phối hợp hợp
lý sẽ tạo điều kiện cho đầu tư phát triển, nhiều nhà đầu tư, doanh nghiệp mới tham gia
Trang 32thị trường lao động làm tăng cầu lao động Ngược lại, khi kinh tế suy sụp, các doanhnghiệp, nhà đầu tư giảm sản lượng hoặc rút khỏi thị trường làm giảm cầu lao động.
Tiền lương giảm làm giảm chi phí biên để sản xuất sản phẩm, kích thích doanh
nghiệp tăng sản lượng và thuê thêm lao động; đồng thời khuyến khích áp dụng kỹthuật sản xuất sử dụng nhiều lao động để tranh thủ lao động rẻ Khi tiền lương tănglàm cho lợi nhuận không đạt như mong muốn, doanh nghiệp sẽ lựa chọn sự kết hợpgiữa lao động và vốn ở mức thấp hơn nên cầu lao động giảm Ngoài ra, lương tối thiểucũng tác động đến cầu lao động; khi cao hơn mức cân bằng trên thị trường lao động sẽkhiến cho người sử dụng lao động có xu hướng giảm cầu lao động và ngược lại, nếugiảm tiền lương tối thiểu xuống dưới mức cân bằ ng sẽ có thể làm giảm thất nghiệp
Sự thay đổi giá cả các nguồn lực sẽ làm cầu lao động thay đổi theo hai xu
hướng khác nhau Nếu là hai nhân tố bổ sung hoàn toàn thì khi giá của vốn giảm sẽlàm cho cầu lao động tăng; còn thay thế hoàn toàn, nếu giá của vốn giảm, cầu lao độngcũng giảm Mở rộng ra trong nền kinh tế, nếu sản xuất ra các sản phẩm là thay thế chonhau, thì cầu về sản phẩm của ngành này giảm thì làm cho cầu lao động của ngành sảnxuất sản phẩm kia tăng Ngược lại, nếu sản phẩm của hai ngành là bổ sung cho nhau,thì cầu sản phẩm của ngành này giảm làm cho cầu lao động của ngành kia cũng giảm
Các chi phí điều chỉnh lực lượng lao động Muốn điều chỉnh quy mô lực
lượng lao động (thay đổi cầu lao động) sẽ phải thay đổi chi phí Nếu duy trì quy mô
mà lợi nhuận thu được lớn hơn khi điều chỉnh thì doanh nghiệp sẽ giữ nguyên lựclượng lao động và ngược lại Do vậy, các chi phí điều chỉnh lao động cũng quyết địnhđến tăng, giảm cầu lao động của doanh nghiệp
Chế độ, chính sách, quy định của Nhà nước có tác động làm tăng hoặc giảm
cầu lao động Nếu tạo thuận lợi sẽ kích thích doanh nghiệp thuê thêm lao động, còngây khó khăn sẽ khiến doanh nghiệp hạn chế việc thuê lao động
Chất lượng cầu lao động Bên cạnh những nhân tố tác động đến số lượng còn
có các nhân tố tác động đến chất lượng cầu lao động Nó phụ thuộc vào quy mô, trình
độ kỹ thuật, trình độ quản lý, quan hệ kinh tế quốc tế, tình hình phát tri ển kinh tế, cácchính sách của Nhà nước, chất lượng của cung lao động
Trang 332.3 Sơ lược về một số nghiên cứu trước
2.3.1 Nghiên cứu nước ngoài
The Worldbank (2014) tiến hành 800 cuộc khảo sát và điều tra dân số để có
cái nhìn tổng quan đối với những thách thức về việc làm, từ đó đưa ra một số hàm ýchính sách cho chính phủ các quốc gia Qua phân tích kết quả điều tra, khảo sát, họ đãđưa ra một số kết luận thiết thực: (1) Có sự khác biệt trong cơ cấu việc làm giữa cácvùng, các giới và các nhóm tuổi rất nổi bật Ở những khu vực có sự phát triển thì cầu
về lao động phi nông nghiệp sẽ cao và ngược lại Yếu tố tiền lương, tiền công và cầulao động phi nông nghiệp có quan hệ nghịch biến (2) Các chính phủ đóng vai trò quantrọng trong việc tạo ra môi trường kinh doanh mà trong đó cầu về lao động được cảithiện Các nước nông nghiệp chú trọng tăng NSLĐ cho nông hộ nhỏ; các nước đô thịhóa cần nâng cấp hạ tầng, sự kết nối, nhà ở và quy hoạch đô thị vì đây là nơi có điềukiện hình thành các cơ sở kinh doanh để thu hút lao động (3) Cùng với kỹ năng kinhdoanh, có thể tăng cường tinh thần doanh nhân trong các doanh nghiệp vi mô
Như vậy, tiền lương, trách nhiệm xã hội, kinh nghiệm và trình độ chuyên môncủa người trực tiếp quản lý, điều hành hoạt động SXKD có tác động đến cầu lao động
Mavin J Cetron và Owen Davies (2001) nghiên cứu về “Việc làm, quản trị
và các thể chế: Những xu hướng làm thay đổi thế giới” thông qua việc phân tích số
liệu của nhiều nước phương Tây đã đề cập đến tất cả các mặt then chốt của nền kinh
tế, kinh doanh và xã hội, cụ thể là: (1) Chuyên môn hóa đang mở rộng trong côngnghiệp và các ngành nghề Xu hướng này tạo ra nhiều thị trường manh mún do cácdoanh nghiệp nhỏ đảm nhiệm và cũng tạo ra nhiều cơ hội lựa chọn nghề nghiệp hơnkhi những công việc đặc thù trước đây trở nên lạc hậu, còn những công việc đặc thùmới ra đời thậm chí còn nhanh hơn (2) Dịch vụ phát triển nhanh nhất trong nền kinh
tế toàn cầu hóa Nhiều công việc dịch vụ đã thay thế cho số được trả lương cao đã mấttrong lĩnh vực sản xuất, vận tải và nông nghiệp, tuy thường chỉ là một phần thời gian.Mặt khác, lương cho các dịch vụ liên quan đến máy tính được trả nhiều hơn lương tốithiểu của những công việc đòi hỏi có giáo dục, đào tạo tốt; bằng việc tạo ra áp lựccạnh tranh về lương trong những khu vực công nghiệp hóa, xu hướng này sẽ giúp tạothêm nhiều việc làm mới (3) Việc có thêm nghề thứ hai đang phổ biến; thay đổi công
Trang 34nghệ nhanh khiến những nghề nghiệp cũ lỗi thời, đúng lúc nghề nghiệp mới được tạo
ra để thay thế (4) Công nhân mới vào nghề và hưởng lương thấp sẽ khan hiếm; thiếunhân lực có thể ảnh hưởng đến các hoạt động công nghiệp nào phụ thuộc vào lao động
kỹ năng thấp trong một số thị trường có nhu cầu cao (5) Hệ thống quản lý máy tính vàthông tin giúp mở rộng phạm vi kiểm soát có hiệu quả của nhà quản lý nên cơ cấu sẽđiều chỉnh lại và biên chế cắt giảm là tất yếu (Lê Văn Toan trích dẫn, 2007)
Do vậy, có thể nhận định: Trong tương lai gần, các doanh nghiệp nhỏ, nhất làhoạt động dịch vụ, sẽ có vai trò rất quan trọng trong giải quyết việc làm, nhưng cũngđối mặt với tình trạng khan hiếm nhân công do áp dụng mức lương thấp Để giảm bớt
áp lực thuê nhiều lao động, các doanh nghiệp phải đẩy mạnh ứng dụng CNTT
Michael P Todaro (1999) nghiên cứu về “Kinh tế học cho thế giới thứ ba”
trên cơ sở điều tra, phân tích số liệu về lao động, việc làm ở nhiều nước nghèo, nướcđang phát triển trên toàn cầu và đưa ra một số kết luận quan trọng như sau: (1) Ở nhiềunước chậm phát triển, tốc độ tăng sản lượng công nghiệp tương đối cao, nhưng tốc độtăng công ăn việc làm lại tụt hậu khá xa, trong một số trường hợp thậm chí không tăng,
vì NSLĐ tăng nhanh, tức tiết kiệm hao phí lao động, đã làm cho tổng sản lượng sảnxuất ra tăng lên không cần bổ sung lao động Không thể quá chú trọng đến việc mởrộng và phát triển công nghiệp hiện đại để giải quyết vấn đề việc làm ở thành thị, vì ởhầu hết các nước, khu vực này chỉ thu hút 10-20% lao động Hiện tượng cơ hội việclàm ở thành thị tăng lên chậm chạp trong bối cảnh tốc độ công nghiệp hóa khá nhanh
và dòng người lao động không có tay nghề không ngừng đổ ra thành thị cũng có nghĩa
là tốc độ công nghiệp hóa chậm hơn nhiều so với đô thị hóa (2) Các nước chậm vàđang phát triển thường có nguồn lao động dồi dào, nhưng ít vốn thì sẽ thiên về sử dụngnhiều lao động nhằm tận dụng tối đa nguồn nhân lực này nên việc hạ thấp giá nhâncông sẽ góp phần không chỉ tạo nhiều việc làm mà còn sử dụng tốt hơn các nguồn lựckhan hiếm nhờ áp dụng công nghệ phù hợp Kết quả cho thấy, ở hầu hết các nước này,việc giảm mức lương xuống tương đối (chẳng hạn 10%) hoặc giữ không đổi và để giávốn tăng thì việc làm sẽ tăng 5-10% Do vậy, các chính sách nhằm loại bỏ những sailệch về giá vốn, nhân công đóng vai trò quan trọng trong các chiến lược phát triển địnhhướng tạo việc làm (Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh trích dẫn, 2012)
Trang 35Đây thực sự là hàm ý chính sách cần thiết đối với Việt Nam Theo đó cầnkhuyến khích hình thành các doanh nghiệp nhỏ, cũng như hộ kinh doanh ở nông thônnhằm thu hút lao động tại chỗ, hạn chế di dân ra thành thị Mặt khác, các chính sách vềmức lương đối với người lao động phải phù hợp để phát huy vai trò của các cơ sởSXKD trong tạo việc làm và giải quyết việc làm.
Nghiên cứu về “Khu vực kinh tế phi chính thức tại khu vực Antananarivo, Madagasca” của Faly Hery Rakotomanana (2013) nhằm phân tích mức độ hiệu quả
kỹ thuật của các cơ sở SXKD phi chính thức và các yếu tố quyết định hiệu quả ở khuvực này bằng cách sử dụng cơ sở dữ liệu từ một loạt cuộc điều tra 1-2-3 tiến hànhtrong khu vực phi chính thức vào năm 2001 và 2004 Kết quả cho thấy: (1) Hiệu quảcủa cơ sở SXKD phi chính thức là rất thấp và không có cải thiện đáng kể, đồng thờikhác nhau trong từng ngành, thấp nhất là thương mại (2) Công nghiệp và thương mại
có mối quan hệ ngược chiều giữa hiệu quả và vốn/giờ làm việc (3) Hiệu quả của một
cơ sở phụ thuộc vào số vốn ban đầu, kinh nghiệm của người quản lý; còn độ tuổi của
cơ sở phi chính thức và một số đặc điểm liên quan của nó không có tác động lớn (4)Đặc điểm về nhân khẩu học của người quản lý có tác động như nhau, bất kể ngànhnào; các đơn vị có người đứng đầu là nam giới có hiệu quả cao hơn do phụ nữ trực tiếpđiều hành, bởi mục đích của các hoạt động này chỉ tạo ra thu nhập phụ, trong khi phụ
nữ vẫn trông nom việc gia đình; việc quản lý chặt chẽ và chuyên nghiệp thể hiện qua
sự tồn tại của nhân viên ăn lương và việc đăng ký chính thức có tác động tới hiệu quả,nhất là ngành dịch vụ (Nguyễn Thanh Bình trích dẫn, 2014)
2.3.2 Nghiên cứu trong nước
Trần Đình Triết (2015) nghiên cứu về “Các yếu tố ảnh hưởng đến tạo việc làm ròng trong các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Gia Lai” dựa trên dữ liệu từ
Cục Thống kê tỉnh này trong các cuộc điều tra doanh nghiệp từ năm 2006 đến 2013.Nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy với biến phụ thuộc là tăng trưởng lao động (tạoviệc làm ròng = tổng số lao động tăng thêm và giảm đi) của doanh nghiệp với 8 biếnđộc lập, nhưng biến doanh nghiệp nhà nước (yếu tố về hình thức sở hữu vốn) không
đủ 30 quan sát nên đưa ra khỏi mô hình Kết quả nghiên cứu cho thấy: (1) Ba yếu tố làquy mô doanh nghiệp (tính theo số lượng lao động), mức độ thâm dụng vốn (tỷ lệ giữa
Trang 36vốn cố định và số lượng lao động) và thu nhập của người lao động (tiền lương) tácđộng ngược chiều; còn hai yếu tố, bao gồm: độ tuổi của doanh nghiệp (số năm hoạtđộng) và NSLĐ thì tác động cùng chiều đến tạo việc làm ròng (2) Riêng hai yếu tố làkhu vực địa lý (Đông và Tây Trường Sơn-thay cho khu vực thành thị và nông thôntrong một số nghiên cứu trước) và khu vực, ngành kinh tế (nông nghiệp, CNXD,TMDV) không có ý nghĩa thống kê.
Lê Thị Hồng Dự (2013) nghiên cứu về “Cầu lao động và các giải pháp kích cầu ở Việt Nam” thông qua đánh giá thực trạng cầu lao động để chỉ rõ kết quả đạt
được, hạn chế và nguyên nhân; từ đó đề ra các biện pháp kích cầu lao động hợp lý,đúng đắn nhất nhằm đạt hiệu quả cao trong sử dụng nguồn nhân lực quốc gia Phạm vinghiên cứu là tình hình cầu lao động ở Việt Nam (1996-2003) Các phương phápnghiên cứu được sử dụng gồm: phân tích, so sánh, thống kê, tổng hợp từ các nguồn dữliệu thu thập qua báo, tạp chí, mạng internet, sách tham khảo, giáo trình các môn cóliên quan như: kinh tế vi mô, kinh tế lao động, phân tích lao động xã hội Kết quảnghiên cứu cho thấy: (1) Cầu lao động khu vực tư nhân cao hơn khu vực nhà nước dotiền lương thường có xu hướng cao hơn Đồng thời khu vực này chủ yếu tạo ra sảnphẩm không đòi hỏi chất lượng cao, công nghệ sản xuất thủ công nên yêu cầu về chấtlượng lao động thấp (lao động thủ công, lao động chưa qua đào tạo) và mặt khác cầnnhiều lao động hơn, từ đó góp phần gia tăng về cầu lao động (2) Có sự khác biệt vềgiới tính và khu vực địa lý, cụ thể là: Cầu lao động nam ở thành thị cao hơn nôngthôn, cũng như cao hơn cầu lao động nữ ở thành thị (3) Quá trình đẩy mạnh sự nghiệpcông nghiệp hóa, hiện đại hóa, chắc chắn làm cho cầu về lao động trong khu vựcCNXD và TMDV sẽ tăng mạnh trong tương lai
Như vậy, cầu lao động chịu ảnh hưởng từ các yếu tố như: Tiền lương, ngànhnghề kinh doanh và khu vực địa lý mà doanh nghiệp hoạt động (thành thị, nông thôn)
Nghiên cứu về “Chính sách giải quyết việc làm: Thực trạng và giải pháp” của Nguyễn Thúy Hà (2013) thông qua việc tổng hợp, phân tích số liệu về dân số, lao
động việc làm trên cả nước, giai đoạn 2007-2013 do Tổng cục Thống kê công bố nhằmchỉ rõ kết quả, hạn chế của chính sách giải quyết việc làm ở nước ta và đưa ra một sốhàm ý về chính sách Qua nghiên cứu đã có một số kết quả liên quan đến nhu cầu về
Trang 37lao động, đó là: (1) Có mối liên hệ rõ ràng giữa tiền lương và số lượng lao động làmviệc trong các ngành kinh tế theo hướng cùng chiều, cụ thể như sau: Các ngành phinông nghiệp đang thu hút mạnh mẽ lao động nông nghiệp vào làm việc do ở đó ngườilao động sẽ có thu nhập cao hơn Do vậy, phải có chính sách phát triển mạnh khu vựcdân doanh, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ để nhanh chóng tạo ra việc làm vàkhả năng thu hút lao động vào sản xuất (2) Yếu tố vốn sản xuất tác động cùng chiềuvới nhu cầu lao động Vì vậy, nhà nước cần có chính sách cho vay ưu đãi để các doanhnghiệp, cơ sở SXKD mở rộng quy mô, tạo thêm nhiều việc làm (3) Việc ứng dụng tiến
bộ kỹ thuật tiên tiến sẽ giảm nhu cầu lao động phổ thông, lao động chưa qua đào tạo
và ngược lại Vấn đề đặt ra là trong điều kiện hiện nay cần giải quyết tốt mâu thuẫngiữa đổi mới công nghệ để nâng cao NSLĐ với áp dụng công nghệ sử dụng nhiều laođộng để tạo việc làm và giải quyết việc làm
Thông qua nghiên cứu trên đã giúp nhận rõ về các yếu tố tác động đến cầu laođộng, đó là: Tiền lương, vốn sản xuất và công nghệ
Đề tài nghiên cứu về “Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng việc làm của người lao động trong các cơ sở SXKD phi chính thức ở Hà Nội” của Chử Thị Lân
và Quyền Đình Hà (2014) nhằm phân tích đặc điểm việc làm, xác định các thang đo
chất lượng việc làm, phân tích các nhân tố đánh giá chất lượng việc làm, đề xuất giảipháp nâng cao chất lượng việc làm trong các cơ sở SXKD phi chính thức trên địa bànthành phố Hà Nội Phương pháp nghiên cứu sử dụng gồm định tính và định lượng.Phân tích được thực hiện thông qua kiểm định thang đo hệ số tin cậy Cronbach'sAlpha, phân tích nhân tố khám phá-EFA, hồi quy các yếu tố tác động đến mức độ đánhgiá của người lao động về việc làm của mình Kết quả nghiên cứu cho thấy, ngoài một
số lý do khác thì cầu về lao động của các cơ sở SXKD phi chính thức chịu tác động từcác nhân tố, đó là: (1) Giá cả của lao động (tiền lương, tiền công); (2) Môi trường kinhtế-xã hội; (3) GTSX được tạo ra từ hoạt động SXKD và (4) Mức độ hoạt động của cơ
sở SXKD
Có thể xem đây là gởi mở về chính sách khuyến khích phát triển các ngànhnghề phi nông nghiệp, tạo điều kiện hình thành các hộ kinh doanh ở khu vực nôngthôn nhằm thu hút lực lượng lao động tại chỗ
Trang 38Hồ Đức Hùng và cộng sự (2012) nghiên cứu vấn đề “Từ việc làm trong khu vực kinh tế phi chính thức đến việc làm phi chính thức ở Việt Nam” đã tập trung
vào các đặc điểm của việc làm trong khu vực kinh tế phi chính thức đến việc làm phichính thức của người lao động ở Việt Nam Nghiên cứu sử dụng Bộ dữ liệu điều tramức sống dân cư 2008 (VHLSS2008) của Tổng cục Thống kê để nêu ra các đặc điểmcủa người lao động tham gia việc làm phi chính thức Xác định các nhân tố tác độngđến quyết định làm việc trong khu vực phi chính thức và việc làm phi chính thức; từ
đó nêu lên một số hàm ý chính sách phát triển thị trường lao động theo chiến lược dàihạn và cải cách khung pháp lý để nâng cao chất lượng và việc làm của khu vực kinh tếphi chính thức Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng (xử lý thống kê mô tả và
mô hình logit) để giải quyết 2 mục tiêu của nghiên cứu: Nhận diện các đặc điểm củađối tượng làm việc phi chính thức và các yếu tố tác động đến việc làm trong khu vựcphi chính thức và việc làm phi chính thức Kết quả cho thấy ngoài một số lý do khác,còn có các yếu tố tác động đến khả năng có việc làm trong khu vực phi chính thức đólà: (1) Những người là công chức nhà nước có xác suất tham gia việc làm phi chínhthức thấp hơn những người không phải là công chức (2) Những người tham gia làmthêm công việc 2 là người có làm việc trong khu vực chính thức (3) Người ở thànhthị có xác suất làm việc trong khu vực chính thức cao hơn nông thôn
Từ kết quả trên có thể gợi mở chính sách về khuyến khích phát triển các cơ sởSXKD phi chính thức, kể cả hộ kinh doanh để tạo thêm việc làm, nhất là cho số người
có nhu cầu làm thêm ngoài thời gian chính thức và lao động ở đô thị nhưng không cóchỗ làm chính thức do trình độ tay nghề thấp
Trần Thị Minh Phương và Nguyễn Thị Minh Hiền (2014) nghiên cứu về
“Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng có việc làm phi nông nghiệp ở nông thôn
Hà Nội” bằng mô hình phân tích định lượng để xem xét khả năng có việc làm phi
nông nghiệp ở Hà Nội Ước lượng mô hình hồi quy xác suất probit với số liệu điều tramức sống hộ gia đình (VHLSS) lặp lại giữa hai năm 2010 và 2012 Kết quả ước lượng
mô hình chỉ ra rằng, ngoài các yếu tố về trình độ lao động, chương trình tạo việclàm có tác động tích cực đến khả năng có việc làm phi nông nghiệp của người laođộng ở khu vực nông thôn Hà Nội, thì tăng tưởng kinh tế kéo theo sự gia tăng của các
Trang 39doanh nghiệp ở khu vực nông thôn cũng tác động đến khả năng có việc làm phi nôngnghiệp Theo đó, tác giả kết luận: Số doanh nghiệp trên địa bàn nông thôn đóng vai tròquan trọng tạo ra việc làm mới cho lao động ở khu vực này, kinh tế tăng trưởng tốt, ổnđịnh và môi trường kinh doanh lành mạnh giúp các doanh nghiệp hoạt động có hiệuquả và tạo nhu cầu về lao động ở nông thôn Từ đó đề xuất giải pháp về huy độngnguồn lực đầu tư tạo nhiều việc làm, phát triển doanh nghiệp và chuyển dịch cơ cấulao động, đó là: Chú trọng phát triển những ngành, lĩnh vực có khả năng thu hút nhiềulao động dựa trên lợi thế cạnh tranh của từng nơi và từng ngành.
Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn quốc gia (2000) nghiên cứu về
“Chi phí tạo việc làm ở Việt Nam” thông qua việc khảo sát thực tế và trên cơ sở tổng
hợp, so sánh, đánh giá để có cái nhìn tổng quan về mức chi phí tạo việc làm ở nước
ta Kết quả nghiên cứu cho thấy một số vấn đề có ý nghĩa thực tiễn sau đây: (1) Đầu tưtạo việc làm qua chương trình vốn vay quỹ quốc gia hỗ trợ tạo việc làm có hiệu quảcao, chi phí vốn vay thấp, nhưng tạo được nhiều chỗ làm và để có một chỗ làm việc thìđầu tư vào địa bàn huyện sẽ ít tốn kém hơn địa bàn quận; còn đầu tư ở khu vực ngoạithành và nông thôn sẽ thấp hơn khu vực nội thành (2) Phát triển các ngành nghềtruyền thống, tận dụng nguồn nguyên liệu sẵn có của địa phương có hệ số việc làmcao, chi phí tạo ra một chỗ làm việc thấp (3) Phát triển kinh tế tư nhân, doanh nghiệpngoài khu vực nhà nước quy mô vừa và nhỏ, siêu nhỏ, cũng như ngành nghề sản xuấtthuộc khu vực phi chính thức và khuyến khích tự tạo việc làm cho người lao động, cóchi phí tạo một chỗ làm việc thấp, thu hút nhiều người vào làm việc, đặc biệt là laođộng nữ Thực tế cho thấy, để tạo việc làm mới, so với khu vực tư nhân thì khu vựcnhà nước cần đầu tư gấp từ 1,5 đến 4 lần và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài phảiđầu tư gấp 10 lần nữa; còn đối với hộ gia đình thì chỉ cần đầu tư bằng 3/8 so với khuvực nhà nước và bằng 3/80 so với khu vực có vốn đầu tư nước ngoài
* Trên cơ sở các nghiên cứu trước thấy rằng:
Các đặc tính liên quan đến sử dụng lao động của hộ kinh doanh có thể có sựtương quan với nhau Do đó, cần thực hiện hồi quy đa biến các yếu tố tác động đếnviệc thuê lao động của hộ kinh doanh để đánh giá mức độ ảnh hưởng và chiều hướngtác động của từng đặc tính khác nhau
Trang 40Mặt khác, trong thực tế, thường có sự tương đồng về các đặc điểm của doanhnghiệp và hộ kinh doanh nên có thể sử dụng đối tượng doanh nghiệp suy rộng ra đốivới hộ kinh doanh.
Tương tự như vậy, tạo việc làm ròng và số lao động sử dụng theo nhu cầu của
cơ sở SXKD cũng cơ bản thống nhất với nhau; do vậy, có thể vận dụng vấn đề thuê laođộng để thay cho chỉ tiêu tăng trưởng việc làm ròng
Các yếu tố tác động đến sử dụng lao động của hộ kinh doanh có thể là:
Tiền lương, tiền công: Chi phí phải trả cho mỗi lao động đi thuê được xem
xét nhiều nhất khi nghiên cứu về sử dụng lao động của các cơ sở SXKD Các nghiêncứu của Lê Thị Hồng Dự (2003), Nguyễn Thúy Hà (2013), Chử Thị Lân và QuyềnĐình Hà (2014), cũng như của Trần Đình Triết (2015) đều cho thấy, khi tiền lương trênthị trường tăng, sẽ làm cho cầu lao động giảm và ngược lại Điều đó có nghĩa là, việcthuê lao động của các doanh nghiệp và cơ sở SXKD có xu hướng ngược chiều vớimức tiền lương, tiền công
Vốn SXKD là một nhân tố quan trọng để tiến hành hoạt động SXKD của
mọi doanh nghiệp, cơ sở SXKD Nguyễn Thúy Hà (2003) cho rằng, vốn có tác độngcùng chiều với cầu lao động; Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn quốc gia (2010)khẳng định, đầu tư qua chương trình vốn vay quỹ quốc gia hỗ trợ tạo việc làm có hiệuquả cao, chi phí vốn vay thấp, nhưng tạo được nhiều chỗ làm việc; theo trích dẫn củaNguyễn Thanh Bình (2014) về nghiên cứu của Faly Hery Rakotomanana (2013) chothấy, hiệu quả của một cơ sở SXKD phụ thuộc vào số vốn ban đầu; còn Trần Thị MinhPhương và Nguyễn Thị Minh Hiền (2014) thì đề xuất giải pháp huy động nguồn lựcđầu tư để tạo nhiều việc làm Ngược lại, theo Michael P Todaro (1999) thì khi vốn ít sẽthiên về sử dụng nhiều lao động
GTSX được tạo ra từ hoạt động SXKD có tác động đến cầu lao động của
chính doanh nghiệp, cơ sở SXKD đó Vì để tăng GTSX thì phải mở rộng quy mô vàphạm vi hoạt động và khi đó buộc doanh nghiệp, cơ sở SXKD phải thuê thêm lao độngnhằm đáp ứng yêu cầu SXKD mới Do vậy, khi GTSX tăng thì cầu lao động sẽ tăng(Chử Thị Lân và Quyền Đình Hà, 2014)