iii Hàng hóa kinh doanh trên thị trường có tầm quan trọng rất lớn đối với một nền kinh tế, nó quyết định sự tăng trưởng kinh tế của một đất nước, mặt trái của việc kinh doanh hàng hóa tr
Trang 1NGUYỄN DUY THÔNG
CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC KINH DOANH HÀNG GIẢ CỦA CÁC CƠ SỞ KINH DOANH TRÊN
ĐỊA BÀN TỈNH TIỀN GIANG
Chuyên ngành: KINH TẾ HỌC
Mã số ngành: 60 03 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS-TS NGUYỄN MINH HÀ
Trang 2iii
Hàng hóa kinh doanh trên thị trường có tầm quan trọng rất lớn đối với một nền kinh tế, nó quyết định sự tăng trưởng kinh tế của một đất nước, mặt trái của việc kinh doanh hàng hóa trong nền kinh tế thị trường hiện nay chính là hàng giả, hàng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ Nhận định được tầm quan trọng này việc nghiên cứu các yếu tố tác động đến việc kinh doanh hàng giả để có biện pháp giúp giảm thiểu hàng giả
trên thị trường là rất cần thiết Do đó, đề tài nghiên cứu “Các yếu tố tác động đến việc
kinh doanh hàng giả của các cơ sở kinh doanh trên địa bàn tỉnh Tiền Giang” được
hình thành
Mục tiêu của đề tài là xác định các yếu tố tác động đến việc kinh doanh hàng giả của các cơ sở kinh doanh Đo lường mức độ tác động của các yếu tố đến việc kinh doanh hàng giả của cơ sở kinh doanh Từ đó gợi ý các chính sách để hạn chế việc kinh doanh hàng giả
Đề tài nghiên cứu theo phương pháp định lượng với hồi quy logit , chọn mẫu dữ liệu bao gồm 201 cơ sở kinh doanh đang hoạt động trên địa bàn tỉnh Tiền Giang, số liệu thu thập là năm 2015 Mô hình hồi quy gồm 12 yếu tố,kết quả nghiên cứu cho thấy việc kinh doanh hàng giả của các cơ sở kinh doanh trên tỉnh Tiền Giang bị chi phối bởi mười một yếu tố liên quan đến chủ cơ sở kinh doanh và cơ sở kinh doanh đó là: Giới tính, Trình độ, Tôn giáo, Lợi nhuận, Ngành nghề (4 nhóm ngành nghề điện tử - phụ tùng, xăng dầu – gas, Vật liệu xây dựng – Hóa chất – Đồ gỗ - Vật tư nông nghiệp, hàng
ăn thực phẩm), số lao động, thuế và địa điểm
Yếu tố tác động mạnh nhất đến việc kinh doanh hàng giả là nhóm ngành nghề dientuphutung, xangdau và thuế, kế tiếp là yếu tố giới tính (Gender), bên cạnh đó các yếu tố: trình độ học vấn (EDU), tôn giáo (RELIGION), lợi nhuận (PROFIT), ngành nghề (VLXD, thucpham), số lao động và địa điểm kinh doanh cũng có tác động
Các yếu tố trên tác động nghịch biến với kinh doanh hàng giả là Trình độ của chủ cơ sở kinh doanh càng cao thì càng ít kinh doanh hàng giả, có tôn giáo thì ít kinh
Trang 3nghề khác
Trang 4v
Lời cảm ơn ii
Tóm tắt iii
Mục lục v
Danh mục hình và bảng ix
Danh mục từ viết tắt x
CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU 1
1.1 Lý do nghiên cứu 1
1.2 Vấn đề nghiên cứu 3
1.3 Mục tiêu nghiên cứu 4
1.4 Câu hỏi nghiên cứu 4
1.5 Phạm vi nghiên cứu 5
1.6 Phương pháp nghiên cứu 5
1.7 Ý nghĩa khoa học của đề tài 6
1.8 Kết cấu luận văn 6
CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 8
2.1 Tổng quan về hàng giả 8
2.1.1 Các khái niệm về hàng giả 8
2.1.1.1 Các khái niệm trong nước 8
2.1.1.2 Các khái niệm của nước ngoài 11
2.1.2 Các hành vi vi phạm, biện pháp xử lý hành vi kinh doanh hàng giả 14
Trang 52.2 Tính chất đặc điểm của hoạt động kinh doanh hàng giả 16
2.3 Một số dấu hiệu để nhận biết hàng giả 17
2.4 Tác động của hàng giả đối với xã hội 17
2.5 Các lý thuyết liên quan 19
2.5.1 Lý thuyết cung hàng hoá 19
2.5.2 Lý thuyết về cung - cầu hàng giả 21
2.5.2.1 Giá cả cân bằng 21
2.5.2.2 Cân bằng thị trường về hàng giả 22
2.5.3 Lý thuyết về đầu tư 29
2.5.3.1 Các yếu tố quyết định đầu tư 29
2.5.3.2 Mối quan hệ giữa rủi ro và lợi nhuận 30
2.6 Các yếu tố tác động đến việc kinh doanh hàng giả 32
2.6.1 Các yếu tố về thông tin của chủ cơ sở kinh doanh 32
2.6.2 Các yếu tố về đặc điểm của cơ sở kinh doanh 34
2.7 Nghiên cứu trước có liên quan 40
2.7.1 Nghiên cứu nước ngoài 40
2.7.2 Nghiên cứu trong nước 41
2.7.3 So sánh giữa nghiên cứu đang thực hiện và nghiên cứu trước 42
CHƯƠNG III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 44
3.1 Quy trình nghiên cứu 44
3.2 Phương pháp nghiên cứu 46
Trang 6vii
3.3.2 Giải thích và đo lường các biến 48
3.3.3 Nguồn thu thập dữ liệu 52
3.3.4 Phương pháp xử lý dữ liệu 52
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 54
4.1 Thống kê mô tả 54
4.1.1 Thống kê mẫu theo các đặc tính 54
4.1.2 Thống kê cho các biến định danh 55
4.1.3 Thống kê các biến trong mô hình nghiên cứu 58
4.2 Ma trận tương quan 62
4.3 Kiểm định đa cộng tuyến mô hình 64
4.4 Phân tích hồi quy 65
4.4.1 Kết quả phân tích hồi quy Logistic 65
4.4.2 Kiểm định tổng quát độ không phù hợp của mô hình nghiên cứu 66
4.4.3 Kiểm định tính chính xác trong dự báo của mô hình 67
4.4.4 Kết quả phân tích các biến của mô hình nghiên cứu 67
4.4.4.1 Các biến có ý nghĩa thống kê 67
4.4.4.2 Các biến không có ý nghĩa thống kê 72
CHƯƠNG 5 - KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 75
5.1 Kết luận 75
5.2 Đóng góp của đề tài 76
5.3 Gợi ý chính sách 77
Trang 75.3.2 Nhóm Giải pháp đối với ngành nghề kinh doanh của cơ sở kinh
doanh 79
5.3.3 Nhóm giải pháp đối với yếu tố lợi nhuận và thuế 80
5.3.4 Nhóm giải pháp dựa trên yếu tố số lao động của cơ sở kinh doanh và địa điểm kinh doanh 80
5.4 Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
Phụ lục A 91
Phụ lục B 94
Trang 8ix
Hình 2.1 Đường cung và đường cầu 19
Hình 2.2 Đường cung dịch chuyển 20
Hình 2.3 Cân bằng thị trường 22
Hình 2.4 Mối quan hệ giữa giá, lượng cung và lượng cầu 25
Hình 2.5 Sự dịch chuyển của điểm cân bằng 28
Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu 45
Bảng 4.1 Thống kê biến định lượng 54
Bảng 4.2 Thống kê giới tính 55
Bảng 4.3 Thống kê trình độ học vấn 55
Bảng 4.4 Thống kê ngành nghề 56
Bảng 4.5 Thống kê loại thuế 56
Bảng 4.6 Thống kê mức thuế 57
Bảng 4.7 Thống kê vị trí 57
Bảng 4.8 Thống kê mô tả 58
Bảng 4.9 Ma trận tương quan 62
Bảng 4.10 Kiểm định đa cộng tuyến mô hình 64
Bảng 4.11 Kết quả phân tích hồi qui Logistic 65
Bảng 4.12 Kết quả kiểm định độ phù hợp của mô hình 66
Bảng 4.13 Kết quả kiểm định tính chính xác trong dự báo mô hình 67
Trang 9STATA : Chương trình sử dụng trong Kinh tế Lượng và thống kê (Data
Analysis and Statistical Software)
GTGT : Giá trị gia tăng
TPB : lý thuyết về hành vi có tổ chức
GENDER : Giới tính của chủ cơ sở kinh doanh
AGE : Độ tuổi của chủ cơ sở kinh doanh
EDUC : Trình độ học vấn của chủ cơ sở kinh doanh
RELIGION : Tôn giáo của chủ cơ sở kinh doanh
EXPER : Kinh nghiệm của chủ cơ sở kinh doanh
PROFIT : Lợi nhuận của cơ sở kinh doanh
REV : Doanh thu hàng tháng của cơ sở kinh doanh
CR : Ngành nghề kinh doanh của cơ sở kinh doanh
EMP : Số lao động của cơ sở kinh doanh
TAX : Thuế của cơ sở kinh doanh
LOCATION : Địa điểm của cơ sở kinh doanh
GOODS : Hàng kinh doanh của cơ sở kinh doanh là hàng nhập khẩu hay
trong nước
Trang 10xi
XANGDAU : Ngành nghề Xăng dầu – Gas
VLXD : Ngành nghề Vật liệu xây dựng – Đồ gỗ - Hóa chất – Vật tư
Trang 11CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU
1.1 Lý do nghiên cứu
Hàng giả có tác hại trực tiếp đến người tiêu dùng và các cơ sở kinh doanh, đặc biệt là thiệt hại về kinh tế; làm giảm uy tín của doanh nghiệp, một số trường hợp dẫn đến phá sản, làm giảm động lực phát triển kinh doanh của một số doanh nghiệp chân chính, gây thất thu cho ngân sách nhà nước và nguy hiểm hơn việc mua bán hàng giả có thể làm ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng người tiêu dùng Hiện nay, tình trạng hàng giả, hàng lậu ở nước ta vẫn khá phổ biến và ngày càng phức tạp
Sau khi Nghị quyết Đại hội Đảng (lần VI) năm 1986 ra đời, nền kinh tế nước
ta bước sang thời kỳ mới, với sự giao lưu mở cửa thị trường, thu hút đầu tư nước ngoài tạo động lực xây dựng một nền kinh tế thị trường năng động, đa dạng, nhiều thành phần
Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, hình thức tổ chức kinh doanh và hình thức phân phối là một tất yếu khách quan đối với Việt Nam, đặc biệt là trong điều kiện hội nhập, toàn cầu hiện nay Thực tế qua 25 năm đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã
có nhiều bước phát triển vượt bậc: sản xuất hàng hoá phát triển, tốc độ tăng trưởng cao, đời sống nhân dân không ngừng tăng lên
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực thì cơ chế thị trường cũng có mặt trái của nó Một trong những mặt tiêu cực đó là vấn nạn hàng giả, hàng nhái là sự cạnh tranh tích cực và cạnh tranh tiêu cực Một mặt là những doanh nghiệp rất nỗ lực, đầu tư không ngừng để đổi mới công nghệ, tìm tòi, sáng tạo hình thành nên những sản phẩm, hàng hóa chất lượng phù hợp và được người tiêu dùng ưa thích Mặt còn lại là vẫn còn không ít doanh nghiệp, cá nhân đã vì lợi ích trước mắt mà không từ những thủ đoạn gian dối, bất chấp đạo đức, pháp luật để sản xuất và buôn bán hàng giả
Trang 12Đất nước ta đang ra sức thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới đất nước, từng bước đưa đất nước vào thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước thì nhiệm vụ chống hàng giả rất quan trọng và có ý nghĩa thiết thực
Nói đến hàng giả thương hiệu có lẽ ai cũng biết tới, thậm chí cũng có khi mình là nạn nhân của hàng giả thương hiệu Hiện nay hàng giả thương hiệu vẫn tồn tại, xen lẫn cùng hàng thật ở mọi nơi, mọi lúc Có thể nói mọi sản phẩm hàng hóa trong đời sống xã hội đều có nguy cơ bị làm giả, từ hàng tiêu dùng, vật tư nông nghiệp, cho đến thuốc chữa bệnh Hàng giả thương hiệu không những gây tác hại trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng cho con người mà nguy hại hơn là làm mất uy tín của nhà sản xuất kinh doanh, ảnh hưởng xấu môi trường đầu tư và xa hơn là uy tín của một quốc gia (chẳng hạn Trung Quốc được xem như là nước nổi tiếng trên thế giới về làm hàng giả, hàng nhái) Do đó hàng giả thương hiệu vẫn đang là vấn đề bức xúc với các cơ quan Nhà nước, nỗi lo của nhà sản xuất kinh doanh chân chính
và sự bất bình của người tiêu dùng
Báo cáo của Chi cục Quản lý thị trường Tiền Giang trong năm 2013, tình trạng sản xuất, kinh doanh hàng giả diễn ra phức tạp và tăng đáng kể so với năm
2012 Tuy nhiên, hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng giả với số vụ vi phạm giảm
so với năm 2012 nhưng thủ đoạn, tính chất, mức độ vi phạm ngày càng tinh vi; đối tượng vi phạm phần lớn là cơ sở có trụ sở ngoài tỉnh
Nói đến hàng giả, ở Việt Nam thì ai cũng biết, nó dường như đã quá quen thuộc với người dân, có những loại hàng giả tinh vi khó nhận biết, nhưng cũng có những loại hàng hoá dù biết đó là hàng nhái nhưng người tiêu dùng vẫn chấp nhận Hiện tại có rất nhiều bài viết, bài báo viết về hàng giả, song có rất ít những nghiên cứu khoa học về vấn đề này Điều này tạo cho tôi sự thú vị khi nghiên cứu về vấn
đề này
Bên cạnh đó, hậu quả do nạn hàng giả gây ra là hết sức nghiêm trọng Điều
đó đã đặt ra cho chúng ta một yêu cầu cần thiết là phải tìm ra những giải pháp hữu
Trang 13hiệu nhất để đấu tranh, diệt trừ triệt để vấn nạn hàng giả Đây cũng chính là lý do
mà tôi chọn đề tài này để nghiên cứu
vì chạy theo lợi nhuận dẫn đến vi phạm pháp luật đặc biệt trong động thương mại
Tiền Giang là địa bàn không có biên giới trên bộ, nhưng có tuyến biển, có khu công nghiệp, Cảng Mỹ Tho và các tuyến giao thông thủy - bộ thông suốt đi các tỉnh miền Tây với Thành phố Hồ Chí Minh Phía Bắc và Đông Bắc giáp Long An
và TP Hồ Chí Minh, phía Tây giáp Đồng Tháp, phía Nam giáp Bến Tre và Vĩnh Long, phía Đông giáp biển Đông Tiền Giang nằm trải dọc trên bờ Bắc sông Tiền (một nhánh của sông Mê Kông) với chiều dài 120km Tiền Giang có diện tích tự nhiên là 2.481,77 km2, chiếm khoảng 6% diện tích Đồng bằng sông Cửu Long, 8,1% diện tích Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, 0,7% diện tích cả nước
So với các tỉnh biên giới thì tình hình buôn bán hàng giả trên địa bàn tỉnh không phổ biến công khai Tuy nhiên, do là địa bàn trung chuyển hàng hóa giữa các tỉnh (gồm các tỉnh giáp biên giới Tây Nam) đi Thành phố Hồ Chí Minh và ngược lại nên vẫn còn tình trạng sản xuất, buôn bán hàng giả, đã lợi dụng địa bàn Tiền Giang
để vận chuyển, tập kết hàng hóa bất hợp pháp
Trong những năm qua, các mặt hàng thường xuyên bị làm giả thường gặp là như: thức ăn chăn nuôi, phân bón không có giá trị sử dụng, công dụng, giả mạo
Trang 14nhãn hiệu; bột ngọt, bột gạo, bột nếp, kẹo, men nấu rượu, máy tính giả mạo nhãn hiệu, khí dầu mỏ hóa lỏng (gas)…
Theo Sở Công Thương Tiền Giang (2013), số liệu thống kê qua các năm cho thấy vi phạm về hàng giả trên tỉnh Tiền Giang vẫn tiếp tục diễn ra với những thủ đoạn ngày càng tinh vi Năm 2012 các lực lượng chức năng kiểm tra phát hiện 53
vụ vi phạm về hàng giả, thu phạt trên 1 tỷ đồng; năm 2013 phát hiện 37 vụ, thu phạt 604.167.000 đồng, tổng trị giá hàng hóa vi phạm khoảng 135 triệu đồng; năm 2014
phát hiện 39 vụ giả mạo nhãn hiệu, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ…, thu phạt
793.530.750 đồng
Đề tài nghiên cứu các yếu tố tác động đến việc kinh doanh hàng giả của các
cơ sở kinh doanh trên địa bàn tỉnh Tiền Giang
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài tập trung vào các mục tiêu nghiên cứu sau:
Tìm ra các yếu tố tác động đến việc kinh doanh hàng giả của các cơ sở kinh doanh tại địa bàn tỉnh Tiền Giang
Từ cơ sở đó, đề xuất các giải pháp, gợi ý chính sách nhằm hạn chế việc kinh doanh hàng giả, đồng thời phục vụ cho công tác phòng chống các hành vi sản xuất, kinh doanh hàng giả của các cơ quan quản lý Nhà nước
1.4 Câu hỏi nghiên cứu
Để giải quyết các vấn đề cần nghiên cứu trên đây, nhiệm vụ quan trọng của
đề tài nghiên cứu cần trả lời các câu hỏi sau đây:
Các yếu tố nào tác động đến việc kinh doanh hàng giả của các cơ sở kinh doanh trên địa bàn tỉnh Tiền Giang?
Đánh giá mức độ tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định kinh doanh hàng giả của các cơ sở kinh doanh như thế nào?
Trang 15Các giải pháp nào góp phần làm giảm tình trạng kinh doanh hàng giả tại tỉnh Tiền Giang?
1.5 Phạm vi nghiên cứu
Khảo sát trực tiếp từ các cơ sở kinh doanh trên địa bàn tỉnh Tiền Giang năm
2015 (gồm các cơ sở có kinh doanh hàng giả và các cơ sở không có kinh doanh hàng giả)
Số lượng quan sát: 201 cơ sở kinh doanh
1.6 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu của luận văn là: Tiếp cận lấy thông tin, đặc điểm liên quan đến các cơ sở kinh doanh, chủ cơ sở kinh doanh và phân tích các yếu tố tác động đến việc kinh doanh hàng giả của các cơ sở kinh doanh trên tỉnh Tiền Giang Cụ thể sử dụng các phương pháp nghiên cứu như sau:
- Sử dụng phương pháp chọn mẫu, điều tra mẫu bao gồm 201 cơ sở kinh doanh trên địa bàn tỉnh Tiền Giang nhằm khảo sát mức độ kinh doanh hàng giả của các cơ sở kinh doanh trên địa bàn Mẫu được chọn từ danh sách các cơ sở kinh doanh đã kiểm tra năm 2015, trong danh sách có cơ sở vi phạm và cơ sở không vi phạm
- Sử dụng phương pháp thống kê để đánh giá sự tương quan giữa các biến số, phương pháp so sánh giữa các nhóm cơ sở kinh doanh để rút ra những yếu tố tác động đến việc kinh doanh hàng giả và rút ra những nguyên nhân của việc kinh doanh hàng giả
Nghiên cứu này được thực hiện bằng phương pháp nghiên cứu định lượng
Sử dụng hồi quy Binary Logistic để xác định các yếu tố tác động đến việc kinh doanh hàng giả của các cơ sở kinh doanh trên địa bàn tỉnh Tiền Giang Dữ liệu được thu thập từ danh sách các cơ sở kinh doanh đã kiểm tra năm 2015 của Chi cục Quản
lý thị trường Tiền Giang Đối với biến phụ thuộc thì lấy dữ liệu từ Chi cục Quản lý
Trang 16thị trường để biết được cơ sở có kinh doanh hàng giả hay không, trong danh sách có
hộ có vi phạm kinh doanh hàng giả và có những hộ không kinh doanh hàng giả
1.7 Ý nghĩa khoa học của đề tài
Đề tài này có ý nghĩa thực tiễn cho các cơ quan thực thi pháp luật, chống hàng giả, có ý nghĩa đối với các cơ quan soạn thảo văn bản pháp luật về chống hàng giả ở Việt Nam nói chung và Tiền Giang nói riêng
Kết quả nghiên cứu tìm ra các yếu tố tác động đến việc kinh doanh hàng giả của các cơ sở kinh doanh trên địa bàn tỉnh Tiền Giang Đề tài nghiên cứu sẽ giúp cho những cơ quan làm công tác chống hàng giả có cái nhìn đầy đủ hơn, rõ ràng hơn về hàng giả Từ đó, các ngành chức năng sẽ có những biện pháp hợp lý để thực hiện đạt hiệu quả cao trong công tác chống hàng giả, góp phần bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho người tiêu dùng
Đề tài nghiên cứu giúp cho các nhà sản xuất, kinh doanh và nhập khẩu hàng hóa có chiến lược hiệu quả hơn trong việc chống giả mạo hàng hóa của họ Từ đó giúp các doanh nghiệp này thực hiện chiến lược kinh doanh hiệu quả hơn và có sự phối hợp tốt với các cơ quan chức năng
1.8 Kết cấu luận văn
Luận văn gồm 5 chương cụ thể sau:
Chương 1: Giới thiệu: Trình bày tóm lược vấn đề nghiên cứu, lý do nghiên
cứu và mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa của đề tài
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước: Trình bày sự quan trọng
của câu hỏi của nghiên cứu trước, tình trạng hiện tại của chủ đề nghiên cứu, một số dấu hiệu nhận biết hàng giả, tác động của hàng giả, các yếu tố tác động đến việc kinh doanh hàng giả các nghiên cứu trước
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu: Trình bày số liệu nghiên cứu, mô hình
nghiên cứu, giải thích và đo lường các biến
Trang 17Chương 4: Kết quả nghiên cứu: Mô tả phân tích thống kê dữ liệu nghiên
cứu, kết quả phân tích của mô hình kinh tế lượng; xác định các yếu tố tác động đến việc kinh doanh hàng giả của cơ sở kinh doanh trên địa bàn tỉnh Tiền Giang
Chương 5: Kết luận và kiến nghị: Trình bày tóm tắt kết quả nghiên cứu được
tìm ra, gợi một số chính sách Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài
Trang 18CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC
Trong bối cảnh Hội nhập kinh tế và cạnh tranh toàn cầu, vấn đề bảo vệ quyền
sở hữu trí tuệ trở nên đặc biệt quan trọng và trở thành mối quan tâm hàng đầu trong quan hệ kinh tế quốc tế Từ khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới vào tháng 11/2006, vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, chống sản xuất, buôn bán hàng giả ngày càng được quan tâm hơn
Hàng giả và hàng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ có tác hại trực tiếp đến người tiêu dùng và doanh nghiệp, đặc biệt là thiệt hại về kinh tế; làm giảm uy tín của doanh nghiệp, một số trường hợp dẫn đến phá sản, triệt tiêu động lực sáng tạo
về trí tuệ của doanh nghiệp nói riêng và cả xã hội nói chung và nguy hiểm hơn là ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng người tiêu dùng Hiện nay, tình trạng hàng giả, hàng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ ở nước ta vẫn khá phổ biến và ngày càng phức tạp, đòi hỏi phải tiếp tục có những giải pháp mạnh mẽ và có hiệu quả hơn mới làm hạn chế được tình trạng này
Những lý thuyết trình bày dưới đây cho ta biết thêm các vấn đề về hàng giả, đưa ra những cơ sở lý thuyết của đề tài, các yếu tố tác động đến việc kinh doanh hàng giả, các nghiên cứu trước liên quan đến đề tài
2.1 Tổng quan về hàng giả
2.1.1 Các khái niệm về hàng giả
2.1.1.1 Các khái niệm trong nước
Theo Quốc hội, Điều 213 Luật sở hữu trí tuệ 2005, đưa ra khái niệm về hàng
hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ như sau: i) Hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ theo quy định của Luật này bao gồm hàng hoá giả mạo nhãn hiệu và giả mạo chỉ dẫn địa
lý (sau đây gọi là hàng hoá giả mạo nhãn hiệu) quy định tại khoản 2 Điều này và hàng hoá sao chép lậu quy định tại khoản 3 Điều này; ii) Hàng hoá giả mạo nhãn hiệu là hàng hoá, bao bì của hàng hoá có gắn nhãn hiệu, dấu hiệu trùng hoặc khó
Trang 19phân biệt với nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ dùng cho chính mặt hàng
đó mà không được phép của chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc của tổ chức quản lý chỉ dẫn địa lý; iii) Hàng hoá sao chép lậu là bản sao được sản xuất mà không được phép của chủ thể quyền tác giả hoặc quyền liên quan
Khái niệm hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ trong Điều 213 Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam tương đồng với khái niệm “hàng hóa giả mạo nhãn hiệu, hàng hóa chứa đựng yếu tố xâm hại quyền tác giả” được quy định trong Hiệp định về các khía cạnh của quyền sở hữu trí tuệ có liên quan đến thương mại (Hiệp định TRIPS) của
Tổ chức thương mại thế giới (WTO) Khái niệm hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ trong Luật sở hữu trí tuệ của Việt Nam cũng tương đồng với khái niệm “Hàng hóa giả mạo nhãn hiệu và hàng hóa sao chép chứa đựng yếu tố xâm phạm quyền tác giả” được quy định trong Điều 5 của Hiệp định thương mại chống hàng giả (AntiCounterfeiting Trade Agreement - ACTA) mới được ký gần đây giữa nhiều nước công nghiệp phát triển, nhưng hiện chưa có hiệu lực Việc phân biệt giữa khái niệm hàng giả nói chung với khái niệm hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ nói riêng, cũng như với khái niệm hàng hóa có chứa đựng yếu tố xâm hại quyền sở hữu trí tuệ có ý nghĩa quan trọng Một mặt, như trên đã nêu, để đấu tranh chống lại những hàng giả về chất lượng, cần huy động trước hết vai trò của chính người tiêu dùng, những người bị thiệt hại đầu tiên và trực tiếp nhất Đối với những hàng hóa xâm hại quyền sở hữu trí tuệ, trong đó có hàng hóa giả mạo quyền sở hữu trí tuệ, vai trò pháp lý của các chủ thể có quyền sở hữu trí tuệ bị xâm hại lại cần được đặt lên hàng đầu Trên phương diện pháp luật thực định, cả trong pháp luật về xử lý vi phạm hành chính và pháp luật xử lý hình sự, các hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả được xử lý khác biệt với các hành vi xâm hại quyền sở hữu trí tuệ, trong đó có hành vi sản xuất, buôn bán hàng hóa giả mạo quyền sở hữu trí tuệ Trong Bộ luật hình sự, tách biệt với các hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả được quy định tại các điều 156, 157, 158, các hành vi tội phạm liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ được quy định lần lượt tại điều 170 (Tội vi phạm quy định về cấp văn bằng bảo hộ quyền
sở hữu công nghiệp), điều 170a (Tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan) và
Trang 20điều 171 (Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp) Với những quy định như hiện nay của Bộ luật hình sự, có thể thấy những hành vi phạm tội về hàng giả theo các điều 156, 157, 158 sẽ bị xử lý nghiêm khắc hơn rất nhiều so với các hành vi phạm tội liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ, bao gồm cả trường hợp giả mạo về sở hữu trí tuệ Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, sẽ có sự trùng lặp hoặc khó phân biệt về việc áp dụng điều luật khi một hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả (về nội dung) nhưng đồng thời xâm hại quyền sở hữu trí tuệ, chẳng hạn như giả mạo về sở hữu trí tuệ
Theo Chính phủ (2013), Khoản 8, Điều 3 Nghị định số: 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013, hàng giả gồm: i) Hàng hóa không có giá trị sử dụng, công dụng;
có giá trị sử dụng, công dụng không đúng với nguồn gốc bản chất tự nhiên, tên gọi của hàng hóa; có giá trị sử dụng, công dụng không đúng với giá trị sử dụng, công dụng đã công bố hoặc đăng ký; ii) Hàng hóa có hàm lượng định lượng chất chính hoặc trong các chất dinh dưỡng hoặc đặc tính kỹ thuật cơ bản khác chỉ đạt mức từ 70% trở xuống so với tiêu chuẩn chất lượng hoặc quy chuẩn kỹ thuật đã đăng ký, công bố áp dụng hoặc ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa; iii) Thuốc phòng bệnh, chữa bệnh cho người, vật nuôi không có dược chất; có dược chất nhưng không đúng với hàm lượng đã đăng ký; không đủ loại dược chất đã đăng ký; có dược chất khác với dược chất ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa; iv) Thuốc bảo vệ thực vật không có hoạt chất; hàm lượng hoạt chất chỉ đạt từ 70% trở xuống so với tiêu chuẩn chất lượng, quy chuẩn kỹ thuật đã đăng ký, công bố áp dụng; không đủ loại hoạt chất đã đăng ký; có hoạt chất khác với hoạt chất ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa; v) Hàng hóa có nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa giả mạo tên thương nhân, địa chỉ của thương nhân khác; giả mạo tên thương mại hoặc tên thương phẩm hàng hóa; giả mạo mã số đăng
ký lưu hành, mã vạch hoặc giả mạo bao bì hàng hóa của thương nhân khác; vi) Hàng hóa có nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa ghi chỉ dẫn giả mạo về nguồn gốc hàng hóa, nơi sản xuất, đóng gói, lắp ráp hàng hóa; vii) Hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ quy định tại Điều 213 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005; viii) Tem, nhãn, bao bì giả
Trang 21Theo Nguyễn Thị Quế Anh (2014), làm rõ nội hàm của khái niệm hàng giả
theo quy định của pháp luật hiện nay là một trong những điều kiện tiên quyết để nâng cao hiệu quả của công tác bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và chống hàng giả Dưới góc độ pháp lý, điều này không chỉ có ý nghĩa xác định giới hạn, phạm vi của hoạt động chống hàng giả, mà còn có ý nghĩa trong việc huy động, phát huy vai trò của các chủ thể tham gia vào cuộc chiến chống hàng giả, bao gồm cả các lực lượng chống hàng giả là các cơ quan nhà nước lẫn các doanh nghiệp, các cá nhân Đặc biệt, việc làm rõ khái niệm hàng giả cũng có ý nghĩa lớn trong việc quyết định các biện pháp hợp lý trong ngăn ngừa, phát hiện và áp dụng các biện pháp chế tài một cách đồng bộ, hợp lý đối với các hoạt động sản xuất, buôn bán hàng giả Thực tế áp dụng pháp luật hiện nay cho thấy khái niệm hàng giả trong pháp luật Việt Nam còn cần được hoàn thiện Khái niệm hàng giả hiện được hiểu rất rộng, có những khác biệt với thông lệ quốc tế Đặc biệt, trong nhiều trường hợp có những khó khăn trong việc phân biệt hành vi sản xuất buôn bán hành giả với các hành vi vi phạm pháp luật khác, khó khăn trong việc phân biệt các loại hàng giả với nhau Những khó khăn này thực tế tạo ra những lực cản, hạn chế hiệu quả của công tác đầu tranh phòng và chống hàng giả
2.1.1.2 Các khái niệm của nước ngoài
Hàng giả được sản xuất và bán các sản phẩm giả mạo dường như giống hệt với sản phẩm gốc, đã được lan rộng trên toàn thế giới với một tốc độ đáng báo động Mục tiêu ưa thích của các những nhà sản xuất hàng giả là các sản phẩm mang một hình ảnh thương hiệu lớn và đòi hỏi một công nghệ sản xuất tương đối đơn giản, chẳng hạn như các mặt hàng may mặc, điện tử tiêu dùng, phương tiện truyền thông, thuốc lá, đồng hồ và đồ chơi (AntiCounterfeiting Coalition, 2002) Các nhà sản xuất sản phẩm chính hãng cũng nhận thức được sự phát triển của hàng giả và có biện pháp ngăn việc khai thác hàng giả, để hạn chế thiệt hại đến thương hiệu, uy tín
và lợi nhuận của công ty họ (Green & Smith, 2002; Kay, 1990; Nash, 1989; Wee, Tân, & Cheok, 1995)
Trang 22Hàng giả xuất hiện trong hai hình thức khác nhau: lừa dối khách hàng và hàng giả không dối gạt Hàng giả lừa đảo, người tiêu dùng không nhận biết được thực tế rằng anh/chị đang mua một bản sao chứ không phải là sản phẩm gốc Chúng tôi tập trung về hàng giả không dối gạt, nơi người tiêu dùng cố tình mua sản phẩm giả (Grossman & Shapiro, 1988; Phau & Prendergast, 1998) Khi nhìn vào cơ sở lý thuyết để giải thích các nhu cầu cho các sản phẩm giả mạo, hiện tại có ba vấn đề lý giải trong nghiên cứu này Đầu tiên, hàng giả sẽ không tồn tại nếu nó không có các nhãn hiệu và những đảm bảo cho thương hiệu họ (Bloch, Bush, & Campbell, 1993; Cordell, Wongtada, & Kieschnick, 1996) Các tài liệu về nhãn hiệu và nhu cầu của người mua thương hiệu sản phẩm cung cấp cái nhìn sâu sắc vào những gì làm cho hàng giả hấp dẫn
Người tiêu dùng đang mua sản phẩm có thương hiệu về cơ bản vì hai lý do: thuộc tính vật chất của sản phẩm và sự kết hợp sản phẩm vô hình - hình ảnh thương hiệu; sự đánh giá của bản thân họ về hình ảnh và tăng cường chú ý của họ về thương hiệu qua quá trình tiếp xúc sản phẩm hàng hóa (Dornoff & họ Tatham, 1972; Onkvist & Shaw, 1987) Điều này đặc biệt đúng đối với hàng cao cấp, được mua nhiều hơn vì chúng mang lại lợi ích hơn những gì họ đang có (Dubois & Paternault, 1995; Nia & Zaichkowsky, 2000) Trong khi các sản phẩm giả mạo có thể không hoàn toàn tuân thủ với tất cả các thuộc tính vật lý sản phẩm cung cấp ban đầu, kích thước hình ảnh các sản phẩm mang nhãn hiệu ban đầu được bảo hộ Sự khác biệt giá cả tạo cho các sản phẩm giả mạo có nhiều lợi thế Điểm mấu chốt là mua các sản phẩm giả có thương hiệu uy tín mà không phải trả tiền bản quyền sản phẩm (Cordell et al., 1996; Grossman & Shapiro, 1988)
Việc cố ý mua hàng giả được coi là hành vi sai trái của người tiêu dùng, "Vi phạm các chuẩn mực chung đã được chấp nhận và mang tiếng xấu bởi các nhà tiếp thị và nhất là người tiêu dùng" (Dodge, Edwards, & Fullerton, 1996; Fullerton & Punj, 1993, p 570; 1997; Solomon, 1992; Vitell & Muncy, 1992)
Trang 23Thông thường, hành vi sai trái được tác động bởi những đặc điểm nhất định hoặc các yếu tố như giá cả, hình phạt và một số yếu yếu tố cụ thể (Dodge et al., 1996) Điều này đặc biệt đúng đối với tổ chức đối lập mà bán với giá thấp hơn nhiều so với bản gốc (Bloch et al., 1993) Những gì có thể ngăn cản người tiêu dùng tham gia vào các hành vi này là sợ bị trừng phạt Tuy nhiên sự cám dỗ lớn để các quyết định kinh doanh hàng giả đan xen với khả năng cảm thấy hợp lý của người tiêu dùng (Strutton, Vitell, & Pelton, 1994) Người tiêu dùng thường xuyên quan niệm bằng các kết luận rằng hành vi của họ không phải là "Thực sự" bất hợp pháp hoặc vô đạo đức, và họ có xu hướng ngụy biện bào chữa hợp lý, thậm chí chuyển hướng đỗ lỗi cho người khác (Gellerman, 1986) Nghiên cứu trước đây đã xác định được suy nghĩ chống lại các doanh nghiệp lớn như là vấn đề quan trọng để bào chữa cho hành vi sai trái của người tiêu dùng Hỗ trợ các nước bằng cách mua sản phẩm của họ một cách hợp lý, khi họ tính toán hợp lý hơn với tỷ suất lợi nhuận thấp hơn sản xuất hàng gốc Hơn nữa, họ được coi là chỉ đơn giản là có hiệu quả hơn trong R&D và phân phối các sản phẩm của họ hơn so với các "ông lớn" (Ang et al., Năm 2001; Tom, Garibaldi, Zeng, & Pilcher, 1998; Wee et al., 1995)
Đưa ra các kiến thức cơ bản bị chia ra trong lĩnh vực này, chúng tôi sử dụng các lý thuyết về hành vi có tổ chức (TPB) (Ajzen, 1991) cho hướng dẫn trong hệ thống hóa các kết quả nghiên cứu hiện có và bổ sung thêm biến, chẳng hạn như yếu
tố quyết định tâm lý và nhân khẩu học Nói tóm lại, TPB rằng hành vi được xác định bởi ý định để tham gia vào các hành vi như vậy, do đó, được xác định bởi thái
độ hướng đến hành vi và các chỉ tiêu chủ quan trọng kiểm soát hành vi (Ajzen, 1991) Chúng tôi đang sử dụng thái độ với hành vi chứ không phải là thái độ đối với các đối tượng (ví dụ như thái độ hướng tới một mục giả mạo), như được cho là tốt hơn dự báo về hành vi (Fishbein, 1967; Fishbein & Ajzen, 1975)
Hơn nữa, TPB kết hợp các số lượng kiểm soát một hành vi đã qua của mình
và ảnh hưởng của mình trên đó Trong trường hợp hành vi đó rất khó thực hiện, TPB đã chứng minh được áp dụng nhiều hơn hơn so với lý thuyết về lý luận hành
Trang 24dỗ tiêu thụ được mạnh mẽ cho những lợi thế về giá thường to lớn của hàng giả so với sản phẩm gốc
Thoả thuận về những khía cạnh liên quan tới thương mại về quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS) cho rằng hàng hóa giả nhãn hiệu là bao gồm bất kì hàng hóa nào
mang một nhãn hiệu nào đó trái phép mà không thể phân biệt ở những khía cạnh chính với nhãn hiệu đã được đăng ký cho hàng hóa đó
Ủy ban Thương mại Quốc tế Mỹ (1984, p.vii) xác định hàng giả là "sản phẩm sử dụng nhãn hiệu trái phép mà giống hệt hoặc tương tự với sản phẩm khác mà nhãn hiệu đã được đăng ký và sử dụng" Hàng thật bị nháy nhãn hiệu, hàng giả được sản xuất làm cho người tiêu dùng nhầm lẫn với hàng thật
2.1.2 Các hành vi vi phạm, biện pháp xử lý hành vi kinh doanh hàng giả
2.1.2.1 Hành vi vi phạm
Theo Cục Sở hữu trí tuệ (2013), hiện nay pháp luật quy định tổ chức, cá nhân
có hành vi sản xuất, buôn bán, chế biến, gia công, lắp ráp, tái chế, chế tác, phân loại, sang chiết, nạp, đóng gói, nhập khẩu hàng giả là vi phạm pháp luật Ngoài ra, các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ (viết tắt là SHTT) bao gồm sản xuất (chế tạo, gia công, lắp rắp, chế biến, đóng gói, in, sao), nhập khẩu, buôn bán, vận chuyển, quảng cáo, chào hàng, tàng trữ, cho thuê sản phẩm, hàng hóa có các yếu tố
xâm phạm quyền SHTT cũng là vi phạm pháp luật và sẽ bị xử lý theo quy định
Hành vi sản xuất, kinh doanh hàng giả, hàng lậu trên tỉnh Tiền Giang vẫn tiếp tục diễn ra, các cơ sở kinh doanh vì lợi nhuận đã bất chấp pháp luật dùng mọi thủ đoạn để thu lợi bất chính
Trang 25mức độ vi phạm mức độ sẽ bị xử lý bằng biện pháp dân sự, hành chính hoặc hình
Biện pháp hành chính được áp dụng để xử lý đối với hành vi vi phạm hành chính về hàng giả; hành vi xâm phạm quyền thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 211 của Luật Sở hữu trí tuệ, theo yêu cầu của chủ thể quyền SHTT, tổ chức, cá nhân bị thiệt hại do hành vi xâm phạm gây ra, tổ chức, cá nhân phát hiện hành vi xâm phạm hoặc do cơ quan có thẩm quyền chủ động phát hiện
Hình thức, mức phạt, thẩm quyền, thủ tục xử phạt và các biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính và Luật Sở hữu trí tuệ như: phạt cảnh cáo; phạt tiền; tịch thu tang vật, phương tiện; tước quyền
sử dụng có thời hạn hoặc không thời hạn các loại giấy phép được cấp; đình chỉ hoạt động có thời hạn; buộc loại bỏ yếu tố vi phạm trên hàng hóa; buộc tiêu hủy…
Biện pháp hình sự được áp dụng để xử lý hành vi vi phạm trong trường hợp hành vi đó có yếu tố cấu thành tội phạm theo quy định của Bộ luật Hình sự Cá nhân thực hiện hành vi sản xuất, kinh doanh hàng giả hoặc xâm phạm quyền SHTT
có yếu tố cấu thành tội phạm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật hình sự
Trang 26Các biện pháp xử lý hình sự bao gồm: cảnh cáo; phạt tiền; tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản; cấm đảm nhiệm chức vụ; cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định; cải tạo không giam giữ; phạt tù từ sáu tháng đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình
2.2 Tính chất đặc điểm của hoạt động kinh doanh hàng giả
Theo Luật Sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11; Cục Sở hữu trí tuệ (2013),“Tài liệu về hàng giả”, quy định như sau:
Sản xuất, kinh doanh hàng giả là hoạt động phi pháp Lợi nhuận thu được từ hoạt động này rất lớn, có thể nói là siêu lợi nhuận
Đây là hoạt động có tổ chức chặt chẽ, đặc biệt là trong thời gian gần đây việc sản xuất hàng giả đã có có sự phân công chặt chẽ, có đối tượng chuyên sản xuất các loại bao bì, tem, nhãn giả, kể cả các loại tem phản quang chống giả, sau đó bán cho các đối tượng trực tiếp sản xuất để đóng gói thành phẩm
Một số trường hợp hàng giả gia công dưới dạng sản phẩm chưa hoàn chỉnh (bán sản phẩm) ở một nơi, sau đó đặt gia công ở nơi khác để lắp ráp, đóng gói thành phẩm, thậm chí khi có đơn đặt hàng thì mới gắn nhãn mác giả mạo nhãn hiệụ hoặc sản xuất đến đâu tiêu thụ đến đó Các đối tượng còn trang bị phương tiện và thông tin hiện đại để đối phó với các cơ quan chức năng…
Là hoạt động có tính qui luật: thường diễn ra vào ban đêm, ngoài giờ hành chính, vào những ngày nghỉ của cơ quan chức năng… Đặc biệt thường rộ lên vào dịp như: lễ, tết và có tính mùa vụ khi nhu cầu tiêu thụ tăng; nhằm vào các mặt hàng
đã có thương hiệu dễ tiêu thụ, thuế suất cao…
Là loại hoạt động phi pháp, chống đối quyết liệt, sử dụng mọi thủ đoạn tinh
vi phức tạp và không từ thủ đoạn nào
Các đối tượng vi phạm tìm mọi thủ đoạn nhằm móc nối với một số người tha hóa, biến chất trong cơ quan Nhà nước và các cơ quan kiểm tra để được bao che cho hoạt động phi pháp của mình
Trang 27Khai thác triệt để kẽ hở của chính sách, pháp luật, chủ trương khuyến khích phát triển kinh tế để sản xuất, buôn bán hàng giả
Có yếu tố nước ngoài, hàng giả đi qua cả con đường nhập khẩu chính ngạch,
do cơ chế yêu cầu thông quan nhanh chóng
2.3 Một số dấu hiệu để nhận biết hàng giả
Theo Cục Sở hữu trí tuệ (2013), hiện nay hàng giả có xu hướng làm giống hàng thật nên thường khó phát hiện, hàng giả ngày càng được sản xuất tinh vi nên càng khó phân biệt hơn Đối tượng luôn thay kiểu dáng mẫu mã theo hàng thật để gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng Ở mỗi thời điểm nhất định, đối với mỗi mặt hàng có những dấu hiệu để phân biệt hàng thật và hàng giả Nhưng các dấu hiệu này luôn được nhà sản xuất thay đổi Vì vậy, khó có thể nắm bắt được đầy đủ các dấu hiệu để phân biệt hàng thật với hàng giả lưu thông trên thị trường
Thực tiễn cho thấy có thể phân biệt hàng giả, hàng thật qua các dấu hiệu sau
đây:
- Nếu chỉ nhìn bằng mắt thường khi có mẫu so sánh giữa hàng thật và hàng giả thì thường là hàng giả về nước sơn, độ sắc nét góc cạnh, bao bì, không thể bằng hàng thật;
- Xem xét kỹ nhãn hàng hóa thì sẽ thấy ghi không đầy đủ các thông tin (về nhà sản xuất, tính năng, công dụng, ngày sản xuất ) hoặc sai;
- Khi thử hoặc sử dụng sẽ lộ ra khuyết điểm so với hàng thật;
- Nếu so sánh về giá thì hàng giả sẽ rẻ hơn hàng thật Thực tế thì các sản phẩm giải trí như băng đĩa, sản phẩm thời trang, giá hàng giả rẻ hơn hàng thật hàng chục lần
2.4 Tác động của hàng giả đối với xã hội
Hàng giả tác động trực tiếp đến lợi ích kinh tế, sức khỏe của người tiêu dùng; giảm doanh thu, lợi nhuận, uy tín, thương hiệu của các doanh nghiệp kinh doanh
Trang 28hợp pháp; tác động tiêu cực đến hoạt động cạnh tranh lành mạnh, ảnh hưởng xấu đến môi trường Cụ thể:
Đối với người tiêu dùng: Theo Cục Quản lý cạnh tranh – Hội bảo vệ quyền
lợi người tiêu dùng (2014), Người tiêu dùng đang là đối tượng trực tiếp và bị thiệt hại về nhiều mặt từ việc mua và sử dụng hàng giả Trước hết là thiệt hại về kinh tế Nguy hiểm hơn là ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng của người sử dùng vì đó là những hàng hóa không đảm bảo chất lượng, hàng có nguy cơ cháy nổ cao, đặc biệt
là các mặt hàng như dược phẩm, mỹ phẩm
Đối với doanh nghiệp: Theo Cục Quản lý thị trường (2015), Doanh nghiệp
sản xuất, kinh doanh chân chính là đối tượng chịu thiệt hại nhất về kinh tế do tệ nạn hàng giả, hàng hóa xâm phạm quyền SHTT gây ra Hàng giả làm giảm uy tín thương hiệu của nghiệp sản xuất, kinh doanh chân chính, làm lu mờ hình ảnh của nhãn hiệu nổi tiếng, gây mất lòng tin đối với người tiêu dùng Hàng giả không chỉ gây thiệt hại về mặt kinh tế mà nghiêm trọng hơn là triệt tiêu động lực sáng tạo về trí tuệ của các doanh nghiệp nói riêng và của xã hội nói chung; doanh nghiệp có thể
bị phá sản, người lao động mất việc làm
Đối với quản lý kinh tế - xã hội: Theo Sở Công Thương Tiền Giang (2014),
nạn sản xuất, buôn bán hàng giả ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường cạnh tranh lành mạnh và thu hút đầu tư để phát triển kinh tế - xã hội Đặc biệt là thu hút đầu tư nước ngoài và thực hiện những cam kết song phương hoặc đa phương về sở hữu trí tuệ
Kỷ cương pháp luật không được thực thi nghiêm minh, Nhà nước thất thu thuế, xã hội mất đi của của cải, vật chất, môi trường bị xâm hại, đó là những tác hại to lớn
do nạn sản xuất, kinh doanh hàng giả trực tiếp gây ra Ngoài ra, sản xuất, buôn bán hàng giả còn gây nên những hậu quả phức tạp, nặng về đạo đức và xã hội Thu lợi bất chính có được từ hoạt động này làm gia tăng chênh lệch giữa người giàu và người nghèo, tha hóa đạo đức và tệ nạn xã hội có cơ hội phát triển
Trang 292.5 Các lý thuyết liên quan
2.5.1 Lý thuyết cung hàng hoá
Theo David Begg (2010), cung là số lượng hàng hóa mà người bán muốn
bán tại mỗi mức giá có thể Dư cung xảy ra khi lượng cung vượt quá lượng cầu tại mức giá hiện hành Dư cầu xảy ra khi lượng cầu vượt quá lượng cung tại mức giá hiện hành
Lượng cung là số lượng mà các Doanh nghiệp sẵn lòng và có thể bán tại một
mức giá cụ thể trong khoảng thời gian cụ thể (Robert C.Guell, 2008)
Thể hiện mối quan hệ giữa mức giá và lượng cung, khi những điều kiện khác không đổi
Hình 2.1: Đường cung và đường cầu
Nguồn: David Begg (2010)
Các nhân tố tác động đến cung của một hàng hoá
Theo David Begg (2010), i) Giá cả của hàng hoá (P): Nếu không tính đến
các nhân tố khác thì giá cả và cung của chính hàng hóa đó có mối quan hệ đồng
biến ii) Giá cả của các yếu tố sản xuất để sản xuất ra hàng hoá đó: Xu hướng
mang tính quy luật là nếu giá các yếu tố sản xuất tăng thì cung sẽ giảm và ngược lại
(quan hệ nghịch biến giữa hai đại lượng) iii) Trình độ kỹ thuật, công nghệ: Công
nghệ cao làm dịch chuyển đường cung sang phải, nhà sản xuất muốn cung cấp
Trang 30nhiều hơn tại mỗi mức giá Công nghệ tiến bộ cho phép sản xuất nhiều hơn tại mỗi mức giá Trình độ kỹ thuật phát triển cho phép hạ giá thành, tăng lợi nhuậna tăng
cung iv) Chi phí đầu vào: Mức giá đầu vào thấp hơn (lương thấp hơn, giá nhiên
liệu thấp hơn) khiến các nhà sản xuất muốn sản xuất nhiều hơn tại mỗi mức giá, làm dịch chuyển đường cung sang phải Mức giá đầu vào cao hơn làm giảm sức hấp dẫn
của việc sản xuất và dịch chuyển đường cung sang trái v) Trình độ quản lý: Trình
độ quản lý tốt cho phép hạ giá thành, tăng lợi nhuậna tăng cung vi) Điều kiện tư nhiên thuận lợi thì nguồn cung hàng hoá tăng, ngược lại điều kiện tự nhiên khó khăn nguồn cung giảm Nếu các nhân tố ngoài giá là không đổi (chi phí sản xuất không đổi) thì mối quan hệ giữa cung và giá cả của một hàng hóa là đồng biến
Sự dịch chuyển của đường cung:
Theo David Begg (2010), dịch chuyển dọc theo một đường cung xảy ra khi
giá cả thay đổi nhưng các nhân tố ngoài giá không đổi
Hình 2.2: Đường cung dịch chuyển
Nguồn: David Begg (2010)
- Sự dịch chuyển của đường cung: Dọc theo một đường cung nhất định, các yếu tố khác không đổi là: công nghệ, giá các yếu tố đầu vào, những quy định của Chính phủ Một sự tiến bộ công nghệ hay sự giảm giá các yếu tố đầu vào làm tăng
lượng cung tại mỗi mức giá
- Dịch chuyển cả một đường cung xảy ra khi giá cả không đổi nhưng các nhân tố ngoài giá thay đổi
Trang 31- Bất kỳ yếu tố nào làm tăng cung đều khiến đường cung dịch sang phải, tăng sản lượng cân bằng nhưng giảm giá cân bằng Dự giảm cung (đường cung dịch sang trái) làm giảm sản lượng cân bằng và tăng mức giá cân bằng
Bất kỳ sự thay đổi nào làm tăng lượng hàng mà người bán muốn sản xuất tại một mức giá nhất định cũng làm dịch chuyển đường cung sang phải Bất kỳ sự thay đổi nào làm giảm lượng hàng mà người bán muốn sản xuất tại một mức giá nhất định cũng làm dịch chuyển đường cung sang trái (Nguyễn Văn Ngọc, 2007)
Dẫn tới sự dịch chuyển dọc theo đường cung
Dẫn tới sự dịch chuyển của đường cung
Dẫn tới sự dịch chuyển của đường cung
Dẫn tới sự dịch chuyển của đường cung
Dẫn tới sự dịch chuyển của đường cung
Nguồn: Nguyễn Văn Ngọc (2007)
Đường cung cho thấy điều gì xảy ra với lượng cung về một hàng hoá khi giá của nó thay đổi trong khi các yếu tố quyết định lượng cung khác được giữ cho không thay đổi Nếu một trong các yếu tố khác này thay đổi, đường cung sẽ dịch chuyển
2.5.2 Lý thuyết về cung - cầu hàng giả
2.5.2.1 Giá cả cân bằng
Robert & Daniel (1999) cho rằng hai đường cung và cầu cắt nhau tại mức giá
và mức sản lượng cân bằng Tại mức giá P* lượng cung và lượng cầu vừa đúng bằng nhau Đường cung dốc lên bởi vì giá càng cao thì các doanh nghiệp có nhiều
Trang 32khả năng và càng muốn sản xuất và bán hàng nhiều hơn Giá ban đầu là P1 , khi đó người sản xuất sẽ cố sản xuất và bán ra một lượng hàng nhiều hơn mức mà người tiêu dùng muốn mua, sẽ phát sinh trạng thái dư thừa hàng hoá, để bán được lượng
dư thừa này hoặc không cho lượng dư thừa tăng lên, nhà sản xuất sẽ giảm giá, lượng cầu sẽ tăng lên, lượng cung sẽ giảm xuống cho đến khi đạt được mức giá cân bằng P*
Hình 2.3: Cân bằng thị trường
Nguồn: Robert & Daniel (1999)
Giá cân bằng là mức giá mà tại đó lượng cung bằng lượng cầu (David Begg, 2010) Do đó: Việc sản xuất hàng giả ảnh hưởng rất nhiều đến hàng thật, gây tác động xấu đến thị trường, làm cho giá hàng thật giảm, nhu cầu tiêu dùng giảm xuống
vì sợ gặp phải hàng giả Mặt khác, có một số loại hàng hoá giả có giá rẻ hơn rất nhiều so với hàng thật mà người tiêu dùng vẫn chấp nhận, khi đó nhu cầu tiêu dùng tăng, dẫn đến thiếu hụt hàng hoá, sẽ kích thích người kinh doanh tăng sản lượng hàng giả, hàng nhái để đáp ứng như cầu thị trường và tăng lợi nhuận
2.5.2.2 Cân bằng thị trường về hàng giả
Cân bằng thị trường khi mức giá khiến lượng cung bằng lượng cầu, tại điểm
đó đường cung và đường cầu giao nhau (David Begg, 2010) Hàng giả làm cho thị trường hàng hoá mất cân bằng, có khi làm tăng lượng cung, làm giảm nhu cầu tiêu dùng của người dân Lượng cung hàng giả tăng lên làm tăng lượng cung hàng hoá trên thị trường, hàng thật bị chính hàng giả cạnh tranh không lành mạnh, thị trường
Trang 33hàng hoá bị dư thừa dẫn đến giá giảm, hàng hoá bán không được, làm giảm sức cạnh tranh của hàng chính hãng, gây ảnh hưởng tiêu cực không nhỏ đến các doanh nghiệp chân chính, về lâu dài gây ảnh suy giảm kinh tế Do đó, hàng giả cũng là nguyên nhân gây mất cân bằng thị trường
Theo Vincent (2006), hàng giả ở Trung quốc là lớn nhất thế giới, đầu những năm 1980 hàng giả ở Trung Quốc ước khoảng 15-20% thị trường hàng hoá, tháng 7 năm 2004 Chính phủ Trung Quốc ước tính giá trị hàng giả là 19 – 24 tỷ USD hàng năm, Phòng thương mại quốc tế ước tính rằng hàng giả chiếm 8% trên thị trường Thế giới Hàng giả đã trở thành vấn đề lớn ở Trung Quốc và cũng là một trọng tâm quan trọng trong mối quan hệ thương mại quốc tế
Hàng giả ở Trung Quốc đã tác động đến sự phát triển kinh tế của nhiều quốc gia (Gentry et al., 2006; Bloch et al., 1993) cho rằng hàng giả là hiện tượng của toàn cầu, ảnh hưởng nghiêm trọng đến một số nước Tại sao điều này xảy ra và tồn tại lâu như vậy? Các biện pháp hiệu quả để phòng ngừa và loại bỏ hàng giả? Bài biết này cố gắng trả lời những câu hỏi này từ góc độ kinh tế
Việt Nam là nước có nhiều nét tương đồng với Trung Quốc, vấn nạn hàng giả ở Việt Nam cũng khá phổ biến Người tham gia thị trường bao gồm cả người tiêu dùng và nhà sản xuất ra quyết định hợp lý, mục tiêu duy nhất là tối đa hoá lợi ích và lợi nhuận Có hai loại người tiêu dùng khác nhau: loại có thông tin hoàn hảo sẵn sàng mua những món hàng giả để đáp ứng nhu cầu của họ ở một mức giá hấp dẫn; loại có thông tin không hoàn hảo, là nạn nhân của lừa đảo thương mại Cả hai trường hợp có cùng bản chất đối với nhà sản xuất, họ ảnh hưởng đến người tiêu dùng bằng nhiều cách khác nhau và có những hậu quả rõ rệt Trường hợp đầu tiên được xem xét dưới góc độ cân bằng thị trường trong khi trường hợp sau này là một thất bại thị trường, chúng ta sẽ xử lý với hai kịch bản riêng biệt
Nhu cầu thị trường về hàng giả
Robert (2008) cho rằng thị trường là cơ chế người mua và người bán thương lượng trao đổi
Trang 34Nhu cầu về hàng giả trên thị trường luôn luôn có, vì hàng giả có mẫu mã tương tự như hàng thật lại có giá rẻ nên được người tiêu dùng ưa chuộng, có những loại hàng hoá giả mạo nhãn hiệu một cách tinh vi mà người tiêu dùng không thể nhận biết, cũng có những loại hàng hoá dù biết đó là hàng giả nhưng người tiêu dùng vẫn chấp nhận do giá rẻ, mẫu mã lại giống như hàng thật
Theo Vincent (2006), bằng việc phỏng vấn đã tìm thấy rằng trong những hoàn cảnh nhất định người tiêu dùng được tiếp cận với một thương hiệu cụ thể và sẵn sàng thỏa hiệp về sản phẩm Belk (1999) cũng phát hiện ra rằng người dân ở các nền kinh tế chuyển đổi sẵn sàng chi trả một phần thu nhập của họ cho sản phẩm tương tự Vì vậy, có một nhu cầu cho hàng giả ở các nước kém phát triển như Việt Nam và các nước tiên tiến hơn như Mỹ (một số nhà cung cấp hàng giả đường phố
đã bị bắt) Điều gì quyết định nhu cầu này? Đầu tiên, hàng giả cho phép người tiêu dùng thử một phiên bản cấp thấp với mục đích sẽ mua hàng thực nếu thử nghiệm thành công.Thứ hai, hàng giả cũng xuất hiện để cung cấp giá trị thấp hơn cho chi phí thấp hơn, đó là một sự thỏa hiệp chấp nhận được Cuối cùng, chất lượng hàng giả đã được cải thiện rất nhiều, đặc biệt là công nghệ sản xuất đã được ra nguồn gốc
và công nghệ mới như giá rẻ, máy in chất lượng cao, màu sắc và máy photocopy, và
ổ ghi CD giá rẻ, thiết bị ghi âm đã trở nên phổ biến hơn Sự tinh tế cần thiết để phân biệt hàng giả chất lượng từ mục đích thực đã tăng lên
Theo Vincent (2006), để xác định trạng thái cân bằng, thị trường hàng giả
phải đáp ứng hai điều kiện Đầu tiên, các giao dịch là tự nguyện và cả hai bên sẵn sàng trao đổi tài sản của họ trong việc theo đuổi các lợi ích lẫn nhau của họ Cái khác là các thông tin phải được công khai, mặc dù những thông tin đưa ra như vậy
có thể đã vi phạm quyền sở hữu trí tuệ hoặc các luật khác Một người tiêu dùng mua hàng hóa giả nghĩ rằng hàng giả rẻ hơn nhưng chất lượng thấp vẫn đáp ứng tốt hơn
so với hàng chính hang Hàng giả cung cấp cho người tiêu dùng với thương hiệu tốt với giá cả cạnh tranh, mặc dù chất lượng, nội dung và phần mềm của họ có thể không được tốt cho sau này Đối với cá nhân có thu nhập thấp, hàng giả có thể là một thay thế tốt cho những thương hiệu mới đích thực Một thay thế khác có thể
Trang 35bao gồm hàng lỗi, trả lại, tân trang hoặc không bán được, hàng quá hạn dùng, thường thấy trong các cửa hàng ở các nước phát triển, nhưng không phải như vậy dễ
có tại các nước kém phát triển Trong kinh tế, thu nhập và sở thích là hai trong những yếu tố quyết định quan trọng nhất của nhu cầu Ở các nước như Trung Quốc
và Ấn Độ, một số người tiêu dùng có sở thích mạnh mẽ đối với tên thương hiệu như Nike và Polo Hàng giả có giá rẻ có thể là sự lựa chọn tốt cho người có thu nhập thấp khi họ không có khả năng mua hàng chính hang
Khoản chi của người tiêu dùng cho hàng giả sẽ tăng lên trong ngắn hạn, nhưng về lâu dài người tiêu dùng sẽ chuyển sang hàng chính hang khi thu nhập tăng lên Do đó, cầu hàng giả giảm khi thu nhập cải thiện
Với thu nhập cho trước, nhu cầu hàng giả sẽ tăng khi giá đi xuống Điều này được mô tả như là luật nhu cầu về kinh tế, tức là, một mối quan hệ trái chiều giữa nhu cầu và giá cả Trong hình 1, đường cầu được vẽ như là DD có độ dốc âm, nơi
các trục ngang và dọc đại diện cho số lượng và giá tương ứng
Cung thị trường về hàng giả
Robert (2008) cho thấy: Đường cung là mối quan hệ giữa giá và lượng cung,
có mối quan hệ thuận (dương) giữa giá và lượng cung, khi giá cao hơn, các doanh nghiệp có xu hướng muốn bán nhiều hơn
Hình 2.4: Mối quan hệ giữa giá, lượng cung và lượng cầu
Nguồn: Robert (2008)
Trang 36Theo Vincent (2006), có rất nhiều nhà sản xuất cung cấp hàng giả Lợi nhuận
của họ là sự khác biệt giữa doanh thu thuần và chi phí bán hàng Khi lợi nhuận của sản xuất hàng giả cao hơn so với lợi nhuận trung bình của thị trường nói chung, các nhà đầu tư sẽ tham gia sản xuất hàng giả mặc dù có thể bị bắt bởi cơ quan thực thi pháp luật
Doanh thu từ hàng giả là siêu lợi nhuận Chi phí sản xuất hàng giả 'bao gồm
cả các chi phí giao dịch cho sản xuất, quản lý, vận chuyển và bán hàng, và các chi phí cơ hội Chi phí cơ hội là chi phí bổ sung mà các nhà sản xuất phải chịu khi sản xuất hàng giả, kể cả chi phí pháp lý cần thiết để đối phó với khả năng bị truy tố bởi chính phủ, các vụ kiện của các nhà sản xuất chính hãng, người tiêu dùng và các nhóm lợi ích khác nhau khác Án phí có thể rất nặng, kể cả bị đóng cửa, phạt tiền và
đi tù Nó cũng tăng lên khi một trong các điều kiện sau đây cải thiện:
• Chính phủ cải thiện việc thi hành pháp luật;
• Người tiêu dùng nhận ra sự bất hợp pháp của việc mua bán hàng giả;
• Công chúng nói chung, cơ quan lập pháp và thực thi pháp luật công nhận quyền sở hữu;
• Thị trường khu vực đã được thống nhất
Nhiều thị trường hàng giả đang thực sự được bảo vệ bởi các chính quyền địa phương vì lợi ích của doanh thu thuế, mà bỏ qua những nỗ lực ngăn chặn của chính quyền trung ương Chỉ khi giá của hàng giả tăng lên một cách đáng kể thì các nhà sản xuất sẽ mở rộng sản xuất, do đó nguồn cung hàng giả tăng Do đó, có chung một mối quan hệ thuận chiều giữa cung và giá cả Trong hình 2.4, đường cung được
vẽ như SS có độ dốc dương
Cân bằng ngắn hạn của hàng giả
Theo Vincent (2006), người tiêu dùng sẵn sàng mua hàng giả nhiều hơn với
giá thấp hơn trong khi các nhà sản xuất sẵn sàng sản xuất và bán hàng giả nhiều hơn với giá cao hơn Giá thấp hơn có nghĩa là bồi thường lớn hơn cho người tiêu dùng
Trang 37mua hàng giả chứ không phải là chính hãng, trong khi giá cao có nghĩa lợi nhuận cao hơn cho các nhà sản xuất để có những rủi ro Giao điểm của họ xác định cân bằng thị trường, vị trí mà cả người tiêu dùng và nhà sản xuất sẵn sàng giao dịch Trong hình 1, điểm E đại diện cho một sự kết hợp của P1 giá và lượng Q1 mà người tiêu dùng và nhà sản xuất sẵn sàng mua và bán hàng giả tương ứng Nếu giá cao hơn P1, lượng cầu sẽ ít hơn so với cung cấp, và cuối cùng là cung cấp quá mức sẽ đẩy giá xuống Nếu giá thấp hơn P1, lượng cầu sẽ được nhiều hơn thế cung cấp, và cuối cùng qua cầu sẽ đẩy giá lên
Cân bằng dài hạn của hàng giả
Theo Vincent (2006), trong dài hạn cầu và cung hàng hoá giả mạo sẽ co lại
Khi khả năng kinh tế và thu nhập bình quân đầu người tăng, sở thích của người tiêu dùng cuối cùng sẽ chuyển sang hàng chính hãng Tại mức giá như nhau, người tiêu dùng sẽ yêu cầu hàng giả ít hơn và tỷ lệ thay thế cận biên của hàng giả hàng thật sẽ tăng lên Người tiêu dùng cần phải bồi thường nhiều hơn hoặc chênh lệch giá lớn hơn đến chất lượng thỏa hiệp Do đó, độ dốc của đường cầu trở nên sắc nét hơn và ở mức giá như nhau, nhu cầu về hàng giả co lại Đường cầu mới được vẽ như là DD 'trong hình 1
Do nhu cầu thu hẹp, chỉ có các nhà sản xuất có hiệu quả có thể tồn tại trên thị trường Nếu sự phát triển kinh tế cũng đi kèm với hệ thống pháp lý có hiệu quả hơn
để bảo vệ sự sáng tạo và các quyền tài sản, sản xuất hàng giả sẽ trở nên rủi ro hơn
và tốn kém hơn Để trang trải các chi phí, các nhà sản xuất yêu cầu lợi nhuận cao hơn để tồn tại trong dòng hàng giả Nói cách khác, lãi biên của nhà sản xuất chuyển đổi sẽ cao hơn và độ dốc của đường cung sau đó trở nên sắc nét hơn Tại mức giá như nhau, các nhà sản xuất đang sẵn sàng để sản xuất hàng giả kém Trong hình 1, đường cung dài hạn được vẽ như SS '
Cân bằng thị trường mới là giao điểm của nhu cầu mới và đường cung mới
So với ngắn hạn cân bằng điểm E, E 'đại diện cho một mức giá cao hơn và một số lượng thấp hơn bán ra
Trang 38Hình 2.5: Sự dịch chuyển của điểm cân bằng
Nguồn: Theo Vincent (2006)
Ảnh hưởng đến hàng chính hãng
Theo Vincent (2006), bởi vì sự xuất hiện của hàng giả dựa trên một thỏa hiệp
được chấp nhận tại một thời điểm thích hợp với nguồn ngân sách hạn chế, do đó hàng giả có tác dụng thay thế hàng thật
Trên hình 2.5, nhu cầu thị trường ban đầu cung cấp một sản phẩm thương hiệu mà không cần yếu tố giả được mô tả bởi đường cầu DD và đường cung SS Cân bằng thị trường đạt được tại điểm E, mà chỉ ra rằng một số lượng lý tưởng của Q1 được cung cấp và yêu cầu của những người tham gia thị trường ở mức giá P1 mong muốn Trong một thế giới không hoàn hảo, các hoạt động làm giả có thể được thu hút bởi siêu lợi nhuận từ tên thương hiệu, mà sẽ tạo ra một hiệu ứng thay thế ròng trên các sản phẩm thương hiệu thực sự Người tiêu dùng có thu nhập thấp có thể mua được các tên thương hiệu mà không phải trả giá thị trường cho các sản phẩm thương hiệu, mà họ thường không thể đủ khả năng Người tiêu dùng có thu nhập cao có thể không bị ảnh hưởng Có một khả năng mà người tiêu dùng có thu nhập thấp ở các giai đoạn trước đó sẽ được chuyển đổi từ người tiêu dùng hàng giả sang tiêu dùng hàng chính hãng do sở thích của họ đối với tên thương hiệu (thậm chí giả) là thu nhập của họ được cải thiện Tác dụng thay thế này phân kỳ đường
Trang 39cầu cho các thương hiệu từ DD sang DD ' Khoảng cách giữa hai đường cong tăng thêm khi giá tăng Cân bằng thị trường mới đạt được tại điểm E 'với một lượng Q2 giảm giá và P2 Cuối cùng, nhu cầu thị trường cho các sản phẩm thương hiệu chính hãng giảm từ Q1 đến Q2 vì một tác dụng thay Q3-Q1 tiêu cực và ảnh hưởng thu nhập Q3-Q2 tích cực do giảm giá Do đó, hàng giả đang đe dọa các sản phẩm thương hiệu chính hãng
2.5.3 Lý thuyết về đầu tư
Đầu tư là phần tài sản được tích lũy nhằm để gia tăng năng lực sản xuất tương lai của doanh nghiệp (Sachs và Larrain, 1993) Tài sản ở đây có thể do doanh nghiệp tự sản xuất hay là huy động từ bên ngoài Vốn ở đây có thể là tiền, là tài sản,
là sức lao động, là trí tuệ Quá trình từ tích lũy vốn đến đầu tư được thể hiện qua ba khâu: tiết kiệm, huy động tiết kiệm vào hệ thống tài chính, và cuối cùng là đầu tư
2.5.3.1 Các yếu tố quyết định đầu tư
Theo Nguyễn Văn Ngọc (2010):
Tỷ suất lợi nhuận = MPK – (P k /P)(r+£)
Như vậy, doanh nghiệp cho thuê kiếm được lợi nhuận khi sản phẩm cận biên của tư bản lớn hơn chi phí của tư bản, chịu lỗ nếu sản phẩm cận biên nhỏ hơn chi phí của tư bản Vì yếu tố lợi nhuận nên người kinh doanh chấp nhận rủi ro, quyết định đầu tư kinh doanh hàng gian, hàng giả
Trang 40ii) Lãi suất: Lãi suất thấp, cung tiền tăng sẽ kích thích việc đầu tư, người kinh doanh sẵn sàng vay để kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận, kể cả kinh doanh hàng gian, hàng giả
iii) Chi phí: Đối với Doanh nghiệp vừa sử dụng, vừa sở hữu tư bản, lợi ích của đơn vị tư bản tăng thêm là sản phẩm cận biên của tư bản và chi phí là chi phí tư bản Giống như một doanh nghiệp sở hữu và cho thuê tư bản, doanh nghiệp này tăng khối lượng tư bản của mình khi sản phẩm cận biên vượt quá chi phí của tư bản Như vậy ta có thể viết:
rK = In [MKP – (Pk/P)(r + £)]
Trong đó: In[] là hàm số chỉ ra mức độ phản ứng của đầu tư ròng đối với động
cơ đầu tư
[ I = In [MKP – (Pk/P)(r + £)] - £K
Chi phí thấp, lợi nhuận cao nên người kinh doanh quyết định đầu tư kinh doanh hàng giả
iv) Thuế: Kinh doanh hàng gian, hàng giả sẽ không phải trả tiền thuế làm giảm
chi phí tư bản và tăng đầu tư, dẫn đến lợi nhuận cao, do đó kích thích kinh doanh hàng gian, hàng giả
2.5.3.2 Mối quan hệ giữa rủi ro và lợi nhuận
Theo Nguyễn Minh Kiều (2006), lợi nhuận (return) là thu nhập có được từ một khoản đầu tư, thường được biểu thị bằng tỷ lệ phần trăm1 giữa thu nhập và giá trị khoản đầu tư bỏ ra Ví dụ bạn bỏ ra 100$ để mua một cổ phiếu, được hưởng cổ tức là 7$ một năm và sau một năm giá thị trường của cổ phiếu đó là 106$ Lợi nhuận bạn có được khi đầu tư cổ phiếu này là: (7$ + 6)/100 = 13% Như vậy lợi nhuận đầu tư của bạn có được từ hai nguồn: (1) cổ tức được hưởng từ cổ phiếu, và (2) lợi vốn – tức là lợi tức có được do chứng khoán tăng giá