Câu chuyện về chính sách tỷ giá và khủng hoảng 2008 ở các nước thị trường mới nổi lựa chọn nào cho việt nam
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOTRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
-CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
“NHÀ KINH TẾ TRẺ – NĂM 2012”
TÊN CÔNG TRÌNH:
CÂU CHUYỆN VỀ CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ VÀ KHỦNG HOẢNG 2008 Ở CÁC NƯỚC THỊ TRƯỜNG MỚI NỔI
LỰA CHỌN NÀO CHO VIỆT NAM ?
THUỘC NHÓM NGÀNH: KHOA HỌC KINH TẾ
Trang 21.1.1 Khái niệm về tỷ giá
1.1.2 Những tác động và vai trò của chính sách tỷ giá
1.1.3 Phân loại chính sách tỷ giá theo IMF
1.2 Cuộc khủng hoảng tài chính 2008:
Trang 32.1 Trong giai đoạn khủng hoảng, chế độ tỷ giá neo hay thả nổi sẽ tốt hơn?
2.2 Trong giai đoạn phục hồi nền kinh tế
2.2.1 Hiệu quả phục hồi của chế độ neo so với thả nổi
3.1. Đối với Hàn Quốc:
3.1.1 Chính sách tỷ giá của Hàn Quốc
3.1.2 Tác động của chính sách tỷ giá hối đoái
3.1.2.1 Thiết lập các mô phỏng “Phi thực tế”
3.1.2.2 Kết quả dựa trên mô phỏng “Phi thực tế”
3.1.2.3 Làm thế nào kết quả này so sánh được với những kết quả trong các
tài liệu khác?
3.1.3 Cơ chế dẫn truyền những cú sốc
3.1.3.1 Sự dẫn truyền những cú sốc
3.1.3.2 Cơ chế dẫn truyền tiền tệ
3.2. Tương tự với Malaysia và Thổ Nhĩ Kỳ
3.2.1 Malaysia
3.2.2 Thổ Nhĩ Kỳ
3.3. Những vấn đề trong lựa chọn chính sách tỷ giá
Trang 43.3.1 Kỷ luật và uy tín (Discipline and Credibility)
3.3.2 Biến động và sự mất cân bằng (Volatility and Misalignment)
3.3.3 Tính dễ bị tổn thương bởi khủng hoảng tiền tệ (Vulnerability to CurrencyCrisis) 49
3.3.4 Tính dễ bị tổn thương bởi các cú sốc (Vulnerability to Shocks)
3.3.5 Chính sách tiền tệ độc lập và mức neo danh nghĩa (Independence ofMonetary Policy and Nominal Anchor)
CHƯƠNG 4: VIỆT NAM VÀ CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ SAU KHỦNG HOẢNG: 4.1 Cơ chế tỷ giá của Việt Nam từ 1989 đến 2011:
4.2 Xu hướng biến động tỷ giá gần đây:
4.2.1 Giai đoạn khủng hoảng 2008-2009
4.2.2 Giai đoạn 2010-2011
4.3 Lựa chọn chính sách tỷ giá cho Việt Nam
4.3.1 Cơ sở cho việc lựa chọn
4.3.1.1 Chính sách ổn định tỷ giá và kiểm soát lạm phát
4.3.1.2 Chính sách tỷ giá và cán cân thương mại
4.3.2 Lợi ích Việt Nam nhận được khi sử dụng chính sách tỷ giá thả nổi
4.3.3 Thách thức khi sử dụng chính sách tỷ giá thả nổi ở Việt Nam
4.3.4 Giải pháp để thực hiện chính sách tỷ giá thả nổi ở Việt Nam
LỜI KẾT
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
EMEs Các nước thị trường mới nổi (Emerging Market Economies)
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang 7DANH MỤC HÌNH
Trang 9LỜI MỞ ĐẦU
*****
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ VÀ CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU 2008:
1.1 Tổng quan về tỷ giá hối đoái chính sách tỷ giá
1.1.1 Khái niệm về tỷ giá hối đoái:
Tỷ giá hối đoái là giá cả một đơn vị tiền tệ của quốc gia này được biểu diễn qua sốđơn vị tiền tệ của quốc gia khác xác định bằng một thời gian và không gian cụ thể
Tỷ giá hối đoái thường được yết giá theo hai phương pháp sau:
- Phương pháp yết giá gián tiếp: lấy đồng nội tệ làm đơn vị so sánh với tiền đồng
ngoại tệ Các nước áp dụng phương pháp này gồm Mỹ,Anh,Úc,Ireland,New Zealand…
R(a/b) <=> 1 a = x b <=> 1 nội tệ = x ngoại tệ
Đồng a : đồng nội tệ, ở đây là đồng tiền yết giá
Đồng b : đồng ngoại tệ, ở đây là đồng tiền định giá
- Phương pháp yết giá trực tiếp: lấy đồng ngoại tệ làm đơn vị so sánh với đồng nội
tệ.: R(a/b) <=> 1 ngoại tệ = x nội tệ Nhiều nước trên thế giới sử dụng phương pháp này.Theo điều 4,Nghị định số NDD63/1998 của chính phủ Việt Nam thì “Tỷ giá là giá của một đơn vị tiền tệ nước ngoài tính bằng đơn vị tiền tệ của Việt Nam”.Chúng tôi quy ước trong đề tài sử dụng cách yết giá trực tiếp
1.1.2 Phân loại tỷ giá hối đoái trong nền kinh tế thị trường:
Phân loại: căn cứ vào ý nghĩa và tác động của tỷ giá hối đoái thì chia làm 3 loại:
Tỷ giá hối đoái danh nghĩa: là tỷ giá hối đoái được công bố trên các phương
tiện thông tin đại chúng Mức tỷ giá hối đoái này được xác định dựa trên mức
tỷ giá hối đoái do NHTW xác định
Trang 10Tỷ giá hối đoái danh nghĩa đc sử dụng phổ biến trong các hợp đồng mua bánthương mại, thanh toán tín dụng, hợp tác đầu tư và là mức tỷ giá được sửdụng trong việc phân tích tác động của tỷ giá đối với nền kinh tế của mỗiquốc gia, cũng như khu vực và toàn bộ nền KTTG.
Tỷ giá hối đoái thực tế: là loại tỷ giá hối đoái được sử dụng để điều hành
chính sách của Chính Phủ trong việc kiểm soát tiền tệ và điều hành thị trườngngoại hối, được xác định dựa trên mức tỷ giá hối đoái danh nghĩa và mức chỉ
số giá trong nước và chỉ số giá quốc tế
TGHĐ thực tế = TGHĐ danh nghĩa × chỉ số giá quốc tế : tỷ số giá trong nướcChỉ số giá(%)= Tỷ lệ lạm phát (%) + 100%
Tỷ giá hối đoái ngang giá sức mua: được xác định bằng tỷ lệ giữa giá trị
(chi phí sx, giá thành hoặc giá cả) của cùng một lượng hàng hóa đó tính bằngđồng ngoại tệ ở thị trường nước ngoài
1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ giá:
Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái bao gồm
Mức chênh lệch lạm phát giữa các quốc gia:
Giả sử các yếu tố khác không thay đổi, nếu mức lạm phát trong nước có xuhướng cao hơn mưac lạm phát của nước ngoài thì xét về mặt thực tế và việc
so sánh ngang giá sức mua thì đồng nội tệ có xu hướng giảm so với đồngngoai tệ Do lượng tiền tăng thêm để mua được một lượng hàng hoa tínhbằng đồng nội tệ cao hơn so với tính bằng đồng ngoại tệ Hay nói cách khác,mức độ mất giá của đồng nội tệ cao hơn so với đồng ngoại tệ trong trườnghợp ngược lại, khi tỷ giá lạm phát trong nước thấp hơn dẫn đến TGHD giảm,nội tệ tăng giá
Mức độ tăng hay giảm của GNP
Trang 11GNP tăng hay giảm xuống, trong điều kiện các nhân tố khác ko đổi, sẽ làmtăng hay giảm nhu cầu về hàng hóa và dịch vụ nhập khẩu, do đó sẽ làm chonhu cầu ngoại hối để thanh toán hàng nhập khẩu ssex tăng lên hoặc giảmxuống.
Mức chênh lệch lãi suất giữa các nước
Giả sử như mức lãi suất ngắn hạn của một nước tăng lên một cách tương đối
so với nước khác, trong đk các nhân tố khác không đổi, thì vốn ngắn hạn từnước ngoài sẽ chảy vào nước đó tăng lên nhằm thu mức chênh lệch lãi suất.Điều này làm cho cung ngoại hối tăng lên, cầu ngoại hối giảm đi dẫn đến sựthay đỏi tỷ giá
Những dự đoán về tỷ giá hối đoái:
Là dự đoán của những người tham gia vào thị trường ngoại hối về triển vọnglên giá hay xuống giá của đồng tiền nào đó, có thể là một nhân tố quan trọng
có thể là một nhân tố quan trọng quyết định đến sự biến động của tỷ giá
Sự can thiệp của chính phủ:
Bất kỳ một chính sách nào của chính phủ mà có tác động đến tỷ lệ lạm phát ,thu nhập thực té hoặc mức lãi suất trong nước đều có ảnh hưởng đến sự biếnđộng của tỷ giá hối đoái Chính phủ sử dụng 3 loại hình can thiệp chủ yếu :can thiệp vào thương mại quóc tế, đầu tư quốc tế và can thiệp trực tiếp vàothị trường ngoại hối (mua vào hoặc bán ra ngoại tệ)
Ngoài ra, tỷ giá hối đoái còn chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố khác như: khủnghoảng kinh tế, ngoại hối, tín dụng, chiến tranh, thiên tai,…
1.1.4 Những tác động và vai trò của chính sách tỷ giá:
Tỷ giá hối đoái là một công cụ kinh tế vĩ mô chủ yếu để điều tiết cán cân thương mạiquốc tế theo mục tiêu đã định trước của Nhà nước Nó ra đời từ hoạt động thương mạiquốc tế và quay trở lại tác động thúc đẩy hoạt động ngoại thương phát triển
Trang 12Bởi vì tỷ giá hối đoái tác động rất lớn đến hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa và tưbản (vốn), giá cả hàng hóa trong nước, do đó nó tác động không nhỏ đến nền kinh tế quốcdân của một nước Khi tỷ giá giảm, tức giá trị đồng nội tệ giảm nên giá cả hàng xuất khẩutính bằng tiền nước ngoài giảm, sức cạnh tranh của hàng hóa đó trên thị trường thế giới
sẽ tăng lên có tác dụng đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa
Đồng thời, với việc tỷ giá giảm làm cho giá hàng hóa nhập khẩu tăng lên dẫn đến việchạn chế nhập khẩu Ngược lại, khi tỷ giá tăng, nghĩa là giá trị đồng nội tệ tăng thì có tácđộng giảm xuất khẩu và tăng nhập khẩu hàng hóa
Tỷ giá thay đổi cũng có tác động điều tiết việc di chuyển tư bản (vốn) từ quốc gia nàysang quốc gia khác Việc di chuyển tư bản trên thế giới nhằm mục đích kiếm lợi nhuận vàtránh rủi ro Do đó, nếu tỷ giá giảm trong trường hợp người ta dự đoán tỷ giá không tiếptục giảm nữa thì tư bản nhập khẩu sẽ tăng và tư bản xuất khẩu sẽ giảm
Tỷ giá như phân tích trên có vai trò quan trọng đối với sự tăng trưởng và ổn định nềnkinh tế Do vậy, chính sách tỷ giá hối đoái của bất kì quốc gia nào cũng đều được coi như
là một trong những bộ phận cấu thành quan trọng của chính sách tiền tệ quốc gia Duy trì,giữ vững ổn định của nền kinh tế vĩ mô là yêu cầu cấp thiết để tăng trưởng kinh tế là mụctiêu hàng đầu và tập trung của các chính sách kinh tế của Chính Phủ, trong đó có tỷ giáhối đoái Một quốc gia tùy theo điều kiện hoàn cảnh và thời điểm sẽ xác định cho mìnhmột chính sách tỷ giá hối đoái thích hợp
Vai trò của chính sách tỷ giá hối đoái được thể hiện rõ ràng trong công trình nghiêncứu “On the Real Interest Rate Shock and Exchange Rate Regime - Evidence from EastAsian Economies “ (2010) của hai tác giả Yang ZHANG và Wai Mun CHIA
Bài nghiên cứu này lấy số liệu của Singapore và Hong Kong để phân tích và cho thấyvai trò như một chất hấp thụ sốc của tỷ giá hối đoái linh hoạt khi nền kinh tế một quốc gia
bị tác động bởi cú sốc lãi suất thực thế giới, từ đó giúp nền kinh tế hồi phục nhanh hơn.Singapore và Hong Kong là hai nền kinh tế mở có khá nhiều mặt tương đồng nhau,nhưng khác nhau về thể chế tỷ giá hối đoái, nếu như Hong Kong sử dụng việc neo cứng
Trang 13theo một đồng tiền mạnh, thì Singapore lại thực hiện chế độ thả nổi có quản lý Vì vậy, sẽrất đáng quan tâm để phát hiện ra liệu Singapore có thực hiện việc cô lập nền kinh tế khỏicác cú sốc thực và duy trì tốc độ tăng trưởng dài hạn tốt hơn Hong Kong hay không.Trong bài nghiên cứu này, các phát hiện chính của tác giả xác nhận rằng tỷ giá linhhoạt có thể hoạt động như một chất hấp thụ sốc khi nền kinh tế bị tác động bởi cú sốc lãisuất thực thế giới.Tác giả phát hiện cú sốc lãi suất thực chịu trách nhiệm cho 2.1% trongbiến động sản lượng với chế độ thả nổi nhưng cho một tỉ lệ thấp hơn cho chế độ neo Cáckết quả cũng cho thấy rằng nền kinh tế với tỷ giá cố định phản ứng lại cú sốc lãi suất thựcvới dao động nhỏ hơn trong lãi suất danh nghĩa, biến động lớn hơn và kéo dài trong sảnlượng và một sự hỗn loạn nhỏ hơn trong giá Ngược lại, tỷ giá linh hoạt cho phép tăngngay lập tức trong tỷ giá danh nghĩa và do đó dẫn đến việc đệm GDP thực khỏi tác độnghoàn toàn của việc tăng lãi suất thế giới Với trường hợp điều chỉnh tỷ giá cố định, tácđộng của cú sốc lãi suất thực có xu hướng ngược lại Bằng cách ngăn cản sự sụt giảm tỷgiá thực ngay lập tức, tỷ giá cố định hạn chế việc đệm các cú sốc lãi suất thế giới và đểtoàn bộ tác động của cú sốc đi qua nền kinh tế trong nước, kết quả đưa đến là sự thu hẹp
rõ rệt Vì vậy, cú sốc lãi suất thực thế giới có xu hướng lan truyền nhiều hơn dưới chế độ
tỷ giá neo so với chế độ thả nổi
Trang 14
Như có thể thấy từ các hình trên, một cú sốc lãi suất thực bất ngờ có thể có thể tácđộng tiêu cực lên tăng trưởng GDP của một nền kinh tế có tỷ giá linh hoạt trong cùngthời kỳ với cú sốc Phản ứng lại cú sốc lãi suất thực, tỷ giá danh nghĩa điều chỉnh quamức dao động đáng kể, nhất là trong hai thời kỳ đầu tiên sau cú sốc Cụ thể là, mức độdai dẳng của biến động sản lượng có thể được đo lường bởi độ dài thời gian cần phải có
để sản lượng thực trở lại xu hướng trước kia sau cú sốc tài chính Cũng được miêu tảtrong hình trên, sự hồi phục diễn ra nhanh hơn nhiều với chế độ tỷ giá linh hoạt khi sosánh với chế độ tỷ giá cố định Cột thứ hai của hình trên cho thấy phản ứng của sự tăngtrưởng sản lượng, tỷ giá và mức giá với một sự gia tăng không mong đợi trong lãi suấtthực trong trường hợp của chế độ neo tỷ giá Sản lượng biến động đáng kể sau cú sốc,nhất là sau một thời kỳ Hơn nữa, tỷ giá chỉ phản ứng lại với một sự sụt giảm vừa phải
Trang 15Các kết quả cũng xác nhận rằng phản ứng của sản lượng với cú sốc lãi suất thực thìkhác nhau với các chế độ tỷ giá khác nhau Cụ thể là, chế độ tỷ giá linh hoạt giúp nềnkinh tế hồi phục nhanh hơn chế độ neo tỷ giá.
Bài nghiên cứu của Yang ZHANG và Wai Mun CHIA một lần nữa củng cố thêm chocác phát hiện của Charalambos G Tsangarides, qua đó có thể thấy rằng trong nền kinh tếtoàn cầu hoá như hiện nay, chế độ tỷ giá linh hoạt đóng vai trò quan trọng trong việc làmgiảm tác động của các cú sốc bên ngoài nền kinh tế Tuy nhiên, điều này không có nghĩa
là mọi quốc gia nên và phải theo chế độ tỷ giá linh hoạt
1.1.5 Phân loại chính sách tỷ giá theo IMF:
Trang 16Nguồn: IMF (2008)
1.2 Cuộc khủng hoảng tài chính năm 2007-2009
1.2.1 Nguyên nhân
Khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007-2009 là cuộc khủng hoảng bao gồm sự đổ vỡ
hàng loạt hệ thống ngân hàng, tình trạng đói tín dụng, tình trạng sụt giá chứng khoán vàmất giá tiền tệ quy mô lớn ở nhiều nước trên thế giới có nguồn gốc từ cuộc khủng hoảngtài chính Mỹ Bong bóng nhà ở cùng với giám sát tài chính thiếu hoàn thiện ở Hoa Kỳ đãdẫn tới một cuộc khủng hoảng tài chính ở nước này từ năm 2007, bùng phát mạnh từ cuốinăm 2008 Thông qua quan hệ tài chính nói riêng và kinh tế nói chung mật thiết của Hoa
Kỳ với nhiều nước Cuộc khủng hoảng tài chính từ Hoa Kỳ đã lan rộng ra nhiều nướctrên thế giới, dẫn tới những đổ vỡ tài chính, suy thoái kinh tế, suy giảm tốc độ tăngtrưởng kinh tế ở nhiều nước trên thế giới
Về nguyên nhân của cuộc khủng hoảng, đã có nhiều cuộc hội thảo quốc tế và ở mỗinước, cho dù có nhiều kiến giải khác nhau, nhưng tựu chung lại, tương đối thống nhấttrên các điểm sau đây:
(1) Đổi mới tài chính tự do hóa – phi tài chính làm gia tăng các rủi ro quá mức trên thịtrường tài chính, nhất là ở chính sách nới lỏng tín dụng dưới chuẩn khá lâu trên thị trườngnhà đất cùng với sự bưng bít thông tin, thái độ vô trách nhiệm của các tập đoàn tài chính
ở Mỹ: Khủng hoảng tài chính Mỹ bắt nguồn từ việc các ngân hàng nước này quá dễ dãi,tùy tiện khi cho khách hàng vay tiền để mua bất động sản qua các hoạt động cho vay
Trang 17không đạt tiêu chuẩn dẫn đến tỷ lệ tiết kiệm cá nhân thấp, nợ nước ngoài khổng lồ; khủnghoảng nợ dưới chuẩn và khủng hoảng bất động sản.
(2) Sự khiếm khuyết, yếu kém của hệ thống ngân hàng ở Mỹ và các nền kinh tế chủchốt khiến cho chúng đã không còn tương thích, thiếu thiết chế và mất khả năng kiểmsoát đối với hiệu ứng đổ vỡ ở các khâu yếu trong hệ thống tài chính toàn cầu điển hìnhkhi lãi suất cơ bản thấp kỷ lục do FED đưa ra khi bong bóng chứng khoán sụp đổ và sựkiện 11/9
(3) Mâu thuẫn gay gắt giữa quá trình toàn cầu hóa nền sản xuất xã hội với quyền năng
to lớn, lợi ích vị kỷ, thái độ vô cảm của các tập đoàn tư bản, nhất là các tập đoàn đầu sỏtài chính mới Vì mục tiêu lợi nhuận tối đa, các thế lực này đã bằng mọi giá thúc đẩy tự
do hóa tài chính, khuếch đại tư bản giả và kinh tế ảo, lũng đoạn chính sách kinh tế - xãhội của các quốc gia và hệ lụy là, họ đã mất khả năng kiểm soát đối với những gì màchính họ tạo ra Hay như cách khái quát của C.Mác: chủ nghĩa tư bản đã không thể điềukhiển được các âm binh do chính chúng triệu lên Đây chính là nguyên nhân sâu xa củacuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu hiện nay
1.2.2 Diễn biến cuộc khủng hoảng
Ngay sau khi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu xảy ra, hầu hết các dự báo trênthế giới đã khá thống nhất khi cho rằng mức độ suy thoái của nền kinh tế toàn cầu lànghiêm trọng, sâu sắc và kéo dài Nhiều dự báo thậm chí đã tỏ ra bi quan khi nhận địnhphải mất vài ba năm, nền kinh tế thế giới mới có thể ra khỏi suy thoái Sau đây chúng tôi
sẽ điểm lại một số diễn biến quan trọng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu:
2002 – 2006: hình thành bong bóng thị trường BĐS Một trong các điều
kiện quan trọng để hình thành bong bóng BĐS là lãi suất thấp Trước viễn cảnh giáBĐS sẽ còn tiếp tục tăng, các ngân hàng ở Mỹ cho vay ồ ạt, tín dụng BĐS dưới chuẩnlan rộng
2006: Lãi suất cơ bản tăng Các hợp đồng tín dụng cho vay mua nhà đa số
được ký trên cơ sở lãi suất thả nổi Lãi suất tăng làm nhiều người không có khả năng
Trang 18trả nợ ngân hàng Từ 2004 đến 2007, số dân Mỹ không trả được nợ phải bán nhà lênđến 1,2 triệu người Bong bóng BĐS tan vỡ.
Đầu năm 2007: Các ngân hàng cho vay nhà thuế chấp (American Home
Mortage) vỡ nợ NHTM Bear Stearms phải đóng cửa hai nguồn vốn chuyên cho vaydưới chuẩn
Tháng 3-4/2007: Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) cảnh báo nguy cơ cho thị
trường tài chính toàn cầu vì sự suy yếu của thị trường cho vay nhà thế chấp
Tháng 6/2007: Ngân hàng đầu tư lớn thứ 5 của Mỹ Bear Stearms thất bại
sau khi tham gia chứng khoán chuyên cho vay bất động sản dưới chuẩn
Tháng 7/2007: Tổng thống Mỹ George W Bush từ chối sự can thiệp của
chính phủ để làm giảm sự khủng hoảng trong thị trường cho vay nhà thế chấp
Ngày 9/8/2007: Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) bơm 24 tỷ USD vào hệ
thống ngân hàng Mỹ
Tháng 9/2007 đến đầu 2008: giải quyết của chính phủ các nước phát triển:
quốc hữu hóa ngân hàng hoặc bơm tiền để tránh phá sản
Ngày 15/10/2007: Citigroup báo cáo bị thua lỗ nặng.
Tháng 12/2007: G Bush đưa ra kế hoạch để trợ giúp 1.2 triệu người trả nợ
vay BĐS
Tháng 1/2008: Quốc hội Mỹ thông qua gói trợ cấp 146 tỷ USD để hoàn lại
thuế thu nhập
Tháng 9/2008: KHTC ở Mỹ đã lan ra và trở thành KHTC toàn cầu Cục dự
trữ liên bang Mỹ tiến hành hàng loạt đợt giảm lãi suất
- 15/09/2008: Ngân hàng đầu tư Lehman Brothers phá sản.
- Cục dự trữ liên bang Mỹ bơm 70 tỷ USD vào thị trường
- 16/9/2008: Chính phủ Mỹ cứu công ty American International Group Inc
(AIG) – là công ty bảo hiểm lớn nhất thế giới với khoản nợ 85 tỷ USD
- 18/9/2008: Cục dự trữ liên bang và những ngân hàng trung tâm toàn cầu
bơm 300 tỷ USD vào thị trường tín dụng
Trang 19- 19/9/2008: Cục dự trữ liên bang Mỹ tiếp tục bơm 20 tỷ USD vào thị trường
tín dụng
Tháng 10/2008: Mỹ chấp nhận chương trình Paulson trị giá700 tỷ USD.
Cục dự trữ liên bang Mỹ đưa ra gói hỗ trợ kinh tế, cắt giảm lãi suất Ngân hàngWellsFargo và Wachovia công bố sáp nhập
- 17/12/2008: Cục dự trữ liên bang Mỹ đưa ra một quyết định lịch sử là giảm
lãi suất đến mức 0%
Tháng 1- tháng 2/2009: 9 ngân hàng của Mỹ phá sản.
Tháng 2/2009: Chính phủ Mỹ thông qua gói kích thích kinh tế 787 tỷ USD
để cứu vãn nền kinh tế
Tháng 5/2009: Cục dự trữ liên bang Mỹ nhận định sự xuống dốc của kinh
tế Mỹ đã chậm lại, đồng thời những chỉ số kinh tế khả quan đã hỗ trợ cho giá cổphiếu
- 4/5/2009: Có thêm 3 ngân hàng của Mỹ đóng cửa
- Đồng euro tăng 7% so với đồng dollar
- General Motors chính thức nộp đơn tuyên bố phá sản
1.2.3 Tác động và hậu quả:
Cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ từ cuối năm 2007 đã nhanh chóng lan rộng ra cácnền kinh tế lớn, trở thành cuộc khủng hoảng tài chính, suy thoái toàn cầu và hiện đangdiễn biến rất phức tạp
Nhiều quốc gia đã phải bơm vào nền kinh tế hàng trăm cho đến hàng nghìn tỷ USD đểcứu vãn tình hình và ổn định kinh tế Đó là chưa kể đến những thiệt hại tiếp theo từ kinh
tế suy giảm, không tăng trưởng, rối loạn đang chờ phía trước Cho đến nay, tác động lớnnhất của cuộc khủng hoảng này là làm thay đổi hoàn toàn và sâu sắc ngành công nghiệptài chính Mỹ và hệ thống tài chính toàn cầu Sự sụp đổ của những ngân hàng lớn đã gâynên những lo ngại và mất niềm tin của dân chúng Ngay cả các quỹ đầu tư tiền tệ, vốnđược coi là góc an toàn bậc nhất trong hệ thống tài chính Mỹ, là nền tảng cho hoạt động
Trang 20đầu tư của nước này, cũng gặp khó khăn khi người dân ồ ạt rút tiền do những quan ngại
về sự đổ vỡ tiếp theo
Khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã và đang tác động xấu đến nền kinh tế của các nướcđang phát triển thông qua sự tác động đến thị trường hàng hóa và dịch vụ, thị trường tàichính và thị trường lao động Xuất khẩu ở các nước đang phát triển sụt giảm do nhu cầunhập khẩu ở các nước phát triển bị sụt giảm, thị trường tài chính bị ảnh hưởng thông quađầu tư trực tiếp và gián tiếp nước ngoài vào các nước đang phát triển cũng suy giảm, thấtnghiệp gia tăng tại các nước đang phát triển Tuy nhiên, mức độ tác động và chính sáchđối phó phụ thuộc vào từng quốc gia khác nhau Chúng ta sẽ xem xét tác động của cuộckhủng hoảng tài chính toàn cầu ở một vài quốc gia đang phát triển trong khối Asean.Nền kinh tế Thái Lan đã chính thức công nhận bị tác động xấu bởi khủng hỏang kinh
tế tòan cầu, xuất khẩu sụt giảm và thất nghiệp gia tăng Bộ Lao động Thái Lan cho biếttrong tháng Giêng năm 2009 có 163 công ty đóng cửa và ít nhất nửa triệu việc làm sẽ bịmất trong năm nay Thái Lan đã và đang theo đuổi chính sách tăng trưởng kinh tế dựavào xuất khẩu, số liệu trong Bảng 1 đã chứng minh xuất khẩu đóng góp đáng kể cho tăngtrưởng kinh tế Thái Lan trong những năm gần đây, nên khi nhu cầu nhập khẩu của cácnước phát triển giảm chắc chắn ảnh hưởng nghiêm trọng đến tăng trưởng kinh tế TháiLan năm 2009 và những năm về sau
Bảng 2: Đóng góp các thành phần tổng cầu đến tăng trưởng GDP, Thái lan, 2005-8, %
TăngttrưởngGDP
Tiêudùng
Đầutư
Xuấtkhẩu ròng
Sai sốthống kê
Q1
Trang 21Nguồn tin: ADB, Asian Development Outlook 2008.
Indonesia là một kinh tế khá lớn và phụ thuộc ít vào xuất khẩu hơn so với các nướckhác của ASEAN, nên có thể chống đỡ khủng hoảng tốt hơn các nước láng giềng Mộtnền kinh tế tăng trưởng chủ yếu dựa vào thị trường nội địa và đầu tư (xem Bảng 3), tiêudùng tư nhân đóng góp gần 50% tăng trưởng kinh tế của Indonesia Tuy vậy, khủnghoảng kinh tế toàn cầu đang ảnh hưởng đến nền kinh tế Indonesia qua hai kênh, số nhânthương mại quốc tế (international trade mulitplier) và số nhân tài chính quốc tế(international finance multiplier) (Selasa, 2009), trong đó số nhân tài chính quốc tế làkênh quan trọng ảnh hưởng đến nền kinh tế Indonesia
Trang 22Bảng 3: Đóng góp các thành phần tổng cầu đến tăng trưởng GDP, Indonesia,
2006-8, %
Tăn g
trưởng
Tiêu dùng tư nhân
Tiê
u dùng chính phủ
Đầu tư
Xuất khẩu ròng
Sai
số thống kê
Nguồn tin: ADB, Asian Development Outlook 2008.
Nền kinh tế Malaysia là một nền kinh tế tăng trưởng nhờ vào tiêu dùng tư nhân, năm
2007 tiêu dùng tư nhân đã đóng góp 5% trong 6.3% tăng trưởng GDP Do đó, mức độảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu đến nền kinh tế Malaysia không quá trầmtrong như những nước khác, nhưng cũng không thế tránh khỏi Sự suy giảm trong xuấtkhẩu sẽ gây ảnh hưởng đến các ngành sản xuất hàng xuất khẩu trong nước và như vậy thunhập và việc làm của người lao động, sau cùng lại tác động đến tiêu dùng tư nhân Đặcbiệt, Malaysia là nước nhập khẩu lao động, hơn 1.9 triệu lao động nhập khẩu (tháng 5năm 2007) có đang ký và hơn 3 triệu lao động nhập khẩu không đăng ký Việc suy giảmkinh tế của Malaysia sẽ chuyển gánh nặng cho các nước láng giềng xuất khẩu lao độngsang Malaysia khi số lao động này bị cắt giảm và trở về nước
Trang 23Bảng 4: Đóng góp các thành phần tổng cầu đến tăng trưởng GDP, Malaysia, 2005-8
Tiêu dùng tư nhân
Tiêu dùng chính phủ
Đầu
tư
Xuất khẩu ròng
Trang 24Nguồn tin: ADB, Asian Development Outlook 2008.
CHƯƠNG 2: CÂU CHUYỆN VỀ CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ VÀ CUỘC KHỦNG HOẢNG 2008 TẠI EMEs
Các nghiên cứu trước đây1 đã đưa ra rất nhiều quan điểm riêng biệt về vai trò của chế
độ tỷ giá hối đoái với sự tăng trưởng của các quốc gia qua những giai đoạn khácnhau.Vậy thì vai trò thực sự của chế độ tỷ giá hối đoái với cuộc khủng hoảng gần đây lànhư thế nào? Để trả lời câu hỏi này, chúng ta sẽ đi tiếp vào phần nội dung chính của bài
với công trình nghiên cứu “Crisis and recover: Role of the exchange rate regime in
Emerging Market Countries” của tác giả Charalambos Tsangarides (2010).
2.1 Trong giai đoạn khủng hoảng, chế độ tỷ giá neo hay thả nổi sẽ tốt hơn ?
Các số liệu đơn giản về hiệu quả tăng trưởng trong giai đoạn khủng hoảng cho thấymột kết quả bất ngờ qua các thời kì và trong quan hệ với hiệu quả tăng trưởng trước đó.Hình 1a cho thấy tại thời điểm bắt đầu của cuộc khủng hoảng, tăng trưởng bình quân củanhững nước có chế độ tỷ giá hối đoái theo các hình thức neo cao hơn khoảng 0.5% so vớinhững nước có chế độ thả nổi Khi cuộc khủng hoảng trầm trọng hơn, tốc độ tăng trưởngtrung bình của các quốc gia đều giảm, các quốc gia có chế độ tỷ giá hối đoái theo cáchình thức neo lại giảm ít hơn so với hình thức thả nổi (Hình 1)
Điều gì đã giải thích cho phát hiện này?
1
Tìm hiểu các nghiên cứu khác nhau trước đây về chế độ tỷ giá hối đoái của Ghosh et al (2002), Levy-Yeyaty và
Sturzenegger (2003), Husain et al (2005), Yang ZHANG và Wai Mun CHIA (2010) với “On the Real Interest Rate
Shock and Exchange Rate Regime - Evidence from East Asian Economies”, Ghosh et al (2010)
Trang 25Tuy nhiên, có những nhận thức cho rằng các nước có chế độ tỷ giá hối đoái theo cáchình thức neo thì lâm vào tình trạng tồi tệ hơn, điều này có thể sai do chỉ dựa trên một vàitrường hợp đặc biệt mà không phải dựa trên một mẫu đại diện Hơn nữa, biểu hiện nàymột phần là do việc phân loại giữa hình thức neo và thả nổi, việc xác định các hình thứcneo tỷ giá quá rộng, bao gồm cả các chế độ tỉ giá trung gian, chế độ có gắn liền với sựtăng trưởng bình quân cao nhất2 Điều đó đã làm cho tốc độ tăng trưởng của các nước neo
tỉ giá tốt hơn so với thả nổi Ngược lại nếu loại bỏ chế độ tỉ giá trung gian ra khỏi cáchphân loại các hình thức neo thì các quốc gia có chế độ tỷ giá hối đoái theo các hình thứcneo tỉ giá đã dẫn đến tình trạng tồi tệ hơn thả nổi, thể hiện trong hình 1b
Việc những quốc gia duy trì chế độ kém linh hoạt vẫn có tình trạng tốt hơn là có thểđúng (hình 1a) nhưng điều này cũng có thể là một sự hiểu nhầm khi mà chúng ta xét đến
cả các quốc gia mà đã chuyển đổi chế độ tỉ giá của mình sang chế độ linh hoạt hơn để đốiphó với cuộc khủng hoảng Ngoài các vấn đề về phân loại và chuyển đổi chế độ tỷ giá thì
có một hiệu ứng tiềm tàng quan trọng khác đã dấy lên mối nghi ngờ về kết quả của hình1a, rằng những mức trung bình này không xét đến các yếu tố khác có thể ảnh hưởng đếnkhả năng phục hồi tăng trưởng trong cuộc khủng hoảng
Để giải quyết hai vấn đề này, những nhà nghiên cứu tiến hành như sau: đầu tiên, đểxem xét tác động của việc chuyển đổi chế độ tỉ giá, họ đã kiểm tra ba tiêu chí (i) là dựatrên chế độ tỉ giá hiện hữu (ii) dựa trên chế độ tỷ giá vào tháng 12 năm 2007, và (iii) loại
bỏ tất cả những nước thay đổi chế độ tỉ giá trong giai đoạn phân tích Sau đó, họ ước tính
2 Một nghiên cứu gần đây của IMF phát hiện là chế độ tỷ giá trụng gian có liên quan tới hiệu quả tăng trưởng trung bình cao nhất (Ghosh, Ostry, và Tsangarides, 2010)
Trang 26hồi quy tăng trưởng như một biến phụ thuộc, các biến độc lập là chế độ tỷ giá hối đoái vàcác yếu tố quyết định đến sự tăng trưởng khác.
Các hồi quy tăng trưởng bắt đầu bằng việc kiểm tra chỉ riêng tác động của chế độ tỷgiá hối đoái và sau đó lần lượt thêm vào các biến đại diện cho kênh thương mại và tàichính bởi vì theo các nhà nghiên cứu đây có thể là những yếu tố quyết định đến tăngtrưởng trong giai đoạn khủng hoảng Với kênh thương mại là hai biến số, tỷ lệ tăngtrưởng theo số liệu mậu dịch của các nước đối tác và sự tăng trưởng tỉ lệ trao đổi hànghóa Đối với các kênh tài chính, chúng ta xem xét nợ nước ngoài ngắn hạn so với GDP,thâm hụt tài khoản vãng lai so với GDP, danh mục đầu tư ròng Ngoài ra các nhà nghiêncứu cũng đã xét đến tỷ lệ dự trữ (ngoại hối) trên GDP hoặc dự trữ trên nợ ngắn hạn.Việc thêm vào các biến nêu trên đã làm thay đổi các mức trung bình đáng kể tronghình 1a Tình trạng của các quốc gia với chế độ neo tỉ giá cũng không tốt hơn (và cũngkhông tồi tệ hơn) so với những nước với chế độ thả nổi Các kết quả hồi quy được tóm tắttrong bảng sau:
Trang 27Nhìn vào những yếu tố quyết định khác, các nhà nghiên cứu đã xác định một số yếu tố
có ý nghĩa thống kê ảnh hưởng đến hiệu quả tăng trưởng của các nước mới nổi trongcuộc khủng hoảng Cả hai biến đại diện cho kênh thương mại đều có ý nghĩa trong cuộckhủng hoảng Đối với kênh tài chính, tỉ lệ nợ ngắn hạn so với GDP có ý nghĩa thống kê.Ngoài ra, các tỷ lệ dự trữ ngoại hối so với GDP và so với nợ ngắn hạn cũng có ý nghĩa.Cuối cùng, hai biến số tài chính khác đó là số dư tài khoản vãng lai trên GDP và danhmục đầu tư ròng hầu như không có ý nghĩa
Tóm lại, phân tích hồi quy có xét đến việc thay đổi chế độ tỉ giá, các cách xác địnhchế độ neo thay thế, và các yếu tố tiềm năng khác có ảnh hưởng đến hiệu quả tăngtrưởng, cho thấy rằng tình trạng của các nước có chế độ neo tỉ giá hối đoái không tốt hơn
so với những nước thả nổi, và không có sự khác biệt trong hiệu quả tăng trưởng giữa việc
sử dụng chế độ neo tỉ giá hay thả nổi Và cũng như vậy tình trạng của việc neo tỉ giá cũngkhông xấu hơn so với việc thả nổi tỷ giá Ngoài ra, chúng tôi cũng thấy rằng hai biến đạidiện cho kênh thương mại (như tăng trưởng của đối tác và biến động tỉ lệ mậu dịch), vàhai biến số đại diện cho kênh tài chính (dự trữ và nợ ngắn hạn) là những yếu tố quantrọng góp phần vào hiệu quả tăng trưởng trong cuộc khủng hoảng
2.2 Trong giai đoạn phục hồi nền kinh tế
2.2.1 Hiệu quả phục hồi của chế độ neo so với thả nổi
Như vậy, theo các nhà nghiên cứu thì trong giai đoạn khủng hoảng, không có sựkhác biệt trong hiệu quả tăng trưởng giữa việc sử dụng chế độ neo tỉ giá hay thả nổi Vànhư vậy, tình trạng của việc neo tỉ giá cũng không xấu hơn so với việc thả nổi tỷ giá Vậycâu hỏi đặt ra là trong giai đoạn phục hồi 2010-2011thì diễn biến thế nào? Để trả lời chocâu hỏi này, các nhà nghiên cứu đã đi vào nghiên cứu tăng trưởng ở các nước EMEs chogiai đoạn 2010 – 2011
Nếu chỉ xét riêng các mức trung bình như trong hình 1a, thì sự tăng trưởng trong
suốt thời kì phục hồi của các nước sử dụng chế độ neo tỷ giá chậm hơn các nước sử dụngchế độ tỷ giá thả nổi Nhìn vào hình 1a, cột 5 (2011-10) và cột 6 (2011-10 vs 2009-08),
Trang 28ta có thể thấy tốc độ tăng trưởng trung bình ở các nước sử dụng chế độ neo tỷ giá thấphơn 1-2% so với các nước sử dụng chế độ thả nổi trong năm 2010-2011.
Để kiểm định cho kết quả này, các nhà nghiên cứu ước tính hồi quy tăng trưởngtrong giai đoạn phục hồi 2010-2011với chế độ tỷ giá hối đoái được cố định ở năm 2010,tức là giả định tỷ giá hối đoái không được sử dụng như là một công cụ điều chỉnh tronggiai đoạn phục hồi Họ còn thêm vào biến sụt giảm sản lượng năm 2008-2009 để đolường hiệu quả khả năng phục hồi Ngoài ra, còn xét đến các yếu tố như sự tăng trưởngcủa đối tác thương mại, dự trữ, nợ ngắn hạn, cán cân xuất nhập khẩu,dòng vốn, chínhsách tài chính có tác động như thế nào đến sự tăng trưởng của các quốc gia
Những ước lượng này (được tóm tắt lại trong bảng 2 dưới đây) chỉ ra sự trái ngượctrong tăng trưởng thời kì khủng hoảng Có một vài khác biệt trong sự phục hồi tăngtrưởng giữa chế độ neo tỉ giá và chế độ thả nổi: các quốc gia có chế độ tỷ giá hối đoáitheo hình thức neo có vẻ như phục hồi tăng trưởng chậm hơn hình thức thả nổi, trungbình 1,2%
Trang 29Ngoài ra, các nhà nghiên cứu thấy rằng những quốc gia giao dịch nhiều trong thời kìkhủng hoảng thì đang có chiều hướng phục hồi nhanh hơn Tương tự như trong cuộckhủng hoảng, tác động của tăng trưởng đối tác thương mại là một yếu tố quyết định đốivới sự phục hồi, mặc dù tác động của nó yếu hơn nhiều so với trong thời kỳ khủng hoảng.Với các nhân tố khác thì các nhà nghiên cứu đã không thể tìm ra bằng chứng rằng nhữngyếu tố này có đóng góp mạnh mẽ vào quá trình hồi phục Cán cân xuất nhập khẩu, dòngvốn và chính sách tài khoá cũng không giúp ích cho sự phục hồi của nền kinh tế Điềunày có thể do cán cân xuất nhập khẩu và đầu tư ròng chưa phục hồi được và chính sáchtài khóa không hiệu quả do độ trễ.
Tóm lại, trong giai đoạn phục hồi năm 2010-2011, những nước có chế độ tỷ giá hốiđoái theo các hình thức neo tỷ giá được ước tính dự báo phục hồi kém hơn so với cácquốc gia theo chế độ tỷ giá thả nổi Ngoài ra, các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng tốc độtăng trưởng đối tác kinh doanh là 1 yếu tố quan trọng trong quá trình phục hồi tăngtrưởng còn những công cụ điều chỉnh (như chính sách tài khóa) dường như không có đủthời gian để phát huy hiệu quả, và như vậy, áp lực phục hồi tăng trưởng phụ thuộc nhiềuvào chính sách tỷ giá hối đoái
2.2.2 Lệch lạc trong nhận thức
Như đã trình bày ở trên, các nhà nghiên cứu đã tìm được bằng chứng cho thấy là quátrình hồi phục tăng trưởng sau khủng hoảng của những nước có chế độ tỷ giá hối đoái
Trang 30dưới các hình thức neo thì chậm hơn so với các hình thức thả nổi Điều này dường nhưcũng khá là hợp lý và phù hợp với nhận thức chung đối với cuộc khủng hoảng tài chínhtoàn cầu 2008.
Tuy nhiên, thì các nhà nghiên cứu của chúng ta cũng đưa ra một cảnh báo quantrọng đó là kết quả được đưa ra ở trên là phụ thuộc vào những số liệu dự báo của tổ chứcIMF Vì vậy mà họ cho rằng, xét một chừng mực nào đó thì có khả năng là có các sailệch trong nhận thức về hiệu quả tăng trưởng dưới các chế độ tỷ giá hối đoái khác nhau
Cụ thể đó là việc các nhà dự báo kì vọng vào việc các nước có chế độ tỷ giá hối đoái dướihình thức neo thì sẽ có tăng trưởng hồi phục chậm hơn trong năm 2010-2011, có thểkhiến họ có xu hướng đưa ra các dự báo sai về một phía - cho rằng tăng trưởng dưới hìnhthức neo thấp hơn Và đây có lẽ chính là “lệch lạc nhận thức” mà các nhà nghiên cứu đềcập đến
Để điều tra sâu hơn liệu có các lệch lạc trong nhận thức về hiệu quả tăng trưởngdưới hình thức neo với hình thức thả nổi hay không thì, các nhà nghiên cứu tiến hành nhưsau:
i) Đầu tiên, họ so sánh tốc độ tăng trưởng ước tính của 2008-2009 và 2009-2010 vớicác giá trị thực tế qua các hình sau
Trang 31Trong hình 3a, cho ta thấy sự khác biệt về tỷ lệ tăng trưởng thực tế 2008-2009 dướihình thức neo so với hình thức thả nổi (cột 4) thì gần như tương tự so với đã dự báo vàotháng 4/2009 của WEO Điều này cho thấy có vẻ như không có lệch lạc trong các dự báotăng trưởng trong giai đoạn khủng hoảng Trong hình 4a, với giai đoạn hồi phục 2009-
Trang 322010, cho ta thấy tốc độ tăng trưởng dưới cả 2 hình thức neo và thả nổi đã bị ước tínhthấp trong dự báo của WEO vào tháng 4/2009, tăng trưởng trong giai đoạn hồi phục đốivới cả 2 hình thức thì tốt hơn mong đợi (tốt hơn nhiều với hình thức neo)
ii) Tiếp theo, họ chạy hồi quy Mincer-Zarnowitz (1969) với biến giả chế độ tỷ giáhối đoái để xem các ước tính tăng trưởng 2008-2009 và 2009-2010 có sai lệch không vàliệu các ước tính quá mức hay dưới mức có phải do chế độ tỷ giá hối đoái hay không Môhình hồi quy như sau:
(1)
At : tốc độ tăng trưởng thực tế tại thời điểm t
Ft,t-1 : tốc độ tăng trưởng dự báo tại thời điểm t, dự báo dựa vào thông tin có sẵn trongnăm t-1
Trang 33Bảng 3 trình bày kết quả hồi quy và kiểm định p-values từ ước lượng (1) bằng cách
sử dụng tốc độ tăng trưởng thực tế và dự báo 2008-2009 và 2009-2010 Ước lượng không
có xét đến biến giả chính sách tỷ giá hối đoái (cột 1 và 2) khẳng định lại các kết quả tronghình 3a đó là không có sự lệch lạc trong giai đoạn khủng hoảng 2008-2009 nhưng lại có
sự lệch lạc trong giai đoạn hồi phục 2009-2010 (p-value 0.10) Phần còn lại trong bảng 3
là nhằm xác định liệu chế độ tỷ giá hối đoái có tác động đến sự sai lệch hay không.Tương tự thì trong giai đoạn khủng hoảng 2008-2009 (cột 3 và 5) thì giả thuyết các ướctính không sai lệch thì không bị bác bỏ và trong giai đoạn hồi phục 2009-2010 (cột 4 và6) thì các dự báo lại có vẻ như có lệch lạc (p-valua nhỏ hơn 0.01)
Tóm lại, dựa vào các mức trung bình đơn giản trong hình 3 và 4 cùng với kết quảhồi quy trong bảng 3, các nhà nghiên cứu đồng tình với một khả năng lệch lạc tăng
Trang 34trưởng trong giai đoạn hồi phục của nền kinh tế trong các thị trường mới nổi Như vậy,việc phát hiện rằng chế độ tỷ giá hối đoái dưới hình thức neo đang hồi phục chậm hơn sovới hình thức thả nổi có thể chỉ là sự giả tượng trong dự báo cho rằng sự hồi phục dướihình thức neo thì thấp hơn.
2.3 Hướng lựa chọn thích hợp chế độ tỷ giá hối đoái của các nước sau khủng hoảng
Qua tất cả những gì đã trình bày ở phần trên, chúng ta thấy được xu hướng và vai tròcủa chế độ tỉ giá hối đoái đối với các quốc gia có nền kinh tế mới nổi trong giai đoạnkhủng hoảng và phục hồi Trong khủng hoảng, tăng trưởng của những nước theo đuổi chế
độ neo tỉ giá dường như không tốt hơn và cũng không xấu hơn những nước theo đuổi chế
độ tỉ giá thả nổi Như vậy, tăng trưởng của các nước trong giai đoạn này có vẻ như khôngphụ thuộc vào chế độ tỉ giá hối đoái Sang thời kì hồi phục, những nước theo đuổi chế độthả nổi dường như có xu hướng tăng trưởng vượt trội hơn so với những nước neo tỉ giá.Tuy nhiên, thực tế thì không phải những nước chịu ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng tàichính toàn cầu năm 2007-2008 cũng theo đuổi chế độ thả nổi trong giai đoạn phục hồi vàkhông phải áp dụng chế độ thả nổi cũng đồng nghĩa với tăng trưởng cao Một ví dụ điểnhình là Trung Quốc, một quốc gia áp dụng chế độ neo tỉ giá nhưng tăng trưởng rất caosau khủng hoảng Như vậy vẫn còn một vài trường hợp ngoại lệ không nằm trong xuhướng của những phân tích trên Vậy, ngoài việc đối phó với những tổn thất và ảnhhưởng đến nền kinh tế từ cuộc khủng hoảng, liệu còn có những nhân tố nào khác tác
động đến việc lựa chọn chế độ tỉ giá của các nước? Bài nghiên cứu Choice Of Exchange
Rate Regimes For Developing Countries,April 2001, Africa Region Working Paper Series No.16 của tác giá Fahrettin Yagci, Lead Economist, AFTM1, The World Bank sẽcho ta th y xu h ng l a ch n ch đ t giá h i đoái thích h p v i b i c nh kinh t c a t ngư ế độ tỉ giá hối đoái thích hợp với bối cảnh kinh tế của từng ộ tỉ giá hối đoái thích hợp với bối cảnh kinh tế của từng ỉ giá hối đoái thích hợp với bối cảnh kinh tế của từng ối đoái thích hợp với bối cảnh kinh tế của từng ợp với bối cảnh kinh tế của từng ối đoái thích hợp với bối cảnh kinh tế của từng ảnh kinh tế của từng ế độ tỉ giá hối đoái thích hợp với bối cảnh kinh tế của từng ủa từng ừng
n c nh b ng sau:ư ư ảnh kinh tế của từng
phát triển
điểm
Trang 35của quốc gia Chế độ thả nổi
Independent
Float
Tỷ giá hối đoáiđược xác định trong thịtrường tự do bởi cung
và cầu ngoại tệ Các cơquan tiền tệ không canthiệp vào thị trườngngoại hối Chính sáchtiền tệ độc lập với chế
độ tỷ giá hối đoái và cóthể được sử dụng tự do
để ổn định nền kinh tếtrong nước
Thích hợpvới các nước
có quy mônền côngnghiệp trungbình và lớn,
và một sốnước kinh tếthị trườngmới nổi màthương mạikhép kín,nhưng hộinhập hoàntoàn trong thịtrường vốntoàn cầu, đadạng hóa sản
thương mại,nền tài chínhphát triển cả
về chiều sâu
và chiều rộng,
và có nhữngtiêu chuẩn an
Làmchệch hướnghoặc hấp thụbất lợi đượcgây ra bởinhững cúsốc dễ dànghơn
Chịu ảnhhưởng
không đáng
khủng hoảngtiền tệ
Khôngcần mộtlượng dự trữngoại hốicao
Biếnđộng ngắnhạn cao (biếnđộng quámức có thểgiảm đối vớichế độ thảnổi có quản
lý yếu)Dao độnglớn trongtrung hạntương quanthấp đếnnhững
nguyên tắckinh tế cơbản Khảnăng xảy ra
sự mất cânbằng cao
Sự quyếtđịnh trongchính sáchtiền tệ có thể
Lightly
Managed Float
Tỷ giá hối đoái cơbản được xác định thịtrường tự do bởi cung
và cầu ngoại tệ
Thỉnh thoảng canthiệp(trực tiếp hoặcgián tiếp thông quachính sách tiền tệ)nhằm mục đích trungbình hóa nhiều biếnđộng Chính sách tiềntệ
phần lớn sử dụng tự do
để chỉ đạo nền kinh tế
Trang 36trong nước.
toàn vữngchắc
gây sai lệchtrong lạmphát
Sự can thiệp có thể
là trực tiếp hoặc giántiếp thông qua nhữngthay đổi trong lãi suất
Nó có thể hoạt độnggiống như chế độ thảnổi linh hoạt (crawlingbroad band)
Chính sách tiền tệ
có thể được sử dụng để
ổn định nền kinh tếtrong nước
Thích hợpvới các nềnkinh tế thịtrường mớinổi và một sốnước pháttriển khác vớinền tài chínhtương đốimạnh mẽ hơn
và có tiền lệ
về chính sáchkinh tế vĩ môchặt chẽ
Tính linhhoạt hạn chếcho phéphấp thụ mộtphần những
cú sốc bấtlợi
Có thểduy trì sự ổnđịnh và khảnăng cạnhtranh của tỉgiá nếu chế
độ đáng tincậy
Tính dễ
thương bởikhủng hoảngtiền tệ thấp
Thiếu sựminh bạchthông tin vìtiêu chí của
sự điều chỉnhkhông đượctiết lộ trongchế độ thảnổi có quản
lý, và nhữngchế độ mởrộng khôngthể nhận biếtngay tức thì.Điều này cóthể dẫn đến
sự khôngchắc chắn vàthiếu niềmtin trongngười dân.Yều cầu
Trang 37điều chỉnh định kỳ tạimột sai số cố định chotrước để giữ tính cạnhtranh cho thị trườnghối đoái Nó áp đặtnhững hạn chế vềchính sách tiền tệ, vớimức độ độc lập củachính sách tiền tệ đặctrưng cho một chế độ
Thích hợpvới các nướcđang pháttriển với sựliên kết vớicác thị trườngtài chính toàncầu bị giớihạn, ít đadạng hóa sảnxuất và cơ cấuxuất khẩu, thịtrường tàichính nghèonàn, chínhsách tiền tệ
Có thểduy trì sự ổnđịnh và khảnăng cạnhtranh nếumức neochấp nhậnđược
Lãi suấtthấp
Đưa ramức neodanh nghĩa
cụ thể và dễgiám sát
Dễ bị ảnhhưởng bởikhủng hoảngtiền tệ nếuquốc gia mở
trường vốnquốc tế.Khuyếnkhích nợnước ngoài.Yêu cầu
Trang 38thể được xác định tạimột tỷ giá cố địnhthông báo trước bằnghoặc thấp hơn chênhlệch lạm phát dự kiến.
Duy trì một mức neolinh hoạt trong dài hạn
áp đặt một sự ràngbuộc lên các chínhsách tiền tệ
thiếu chặt chẽ
và độ tin cậy
Nhữngquốc gia ổnđịnh từ mứclạm phát cao
Chophép cácnước lạmphát caogiảm lạmphát thôngqua việcgiám sát lạm
vọng
năng hấp thụsốc Những
cú sốc phầnlớn bị hấp
những thayđổi tronglĩnh vựchàng hóa
Pegged
Within Bands
Tỷ giá hối đoáiđược phép daođộngtrong một vùngnhỏ sai số thấp xungquanh một mức neo cốđịnh Tỷ giá này đượcgiữ dựa trên một hoặcmột rổ các đồng ngoại
tệ mạnh Chế độ này
có thể là kết quả củanhững thỏa thuận hợptác đa phương hoặcđơn phương Nhữngquyết định trong chínhsách tiện tệ bị hạn chế
Fixed Peg Tỷ giá được chốt ở
một tỷ lệ cố định dựatrên một hoặc một rổ
Trang 39các đồng ngoại tệmạnh Tỷ giá đượcđiều chỉnh giảm khi sựcân bằng trở nênkhông bền vững Các
cơ quan tiền tệ sẵnsàng bảo vệ tỉ giáthông qua can thiệptrực tiếp và chính sáchtiền tệ Những chứcnăng của Ngân hàngTrung ương có thể cóhiệu lực, nhưng mức
độ hiệu quả của nhữngquyết định trong chínhsách tiền tệ bị hạn chế
Những chế độ neo cố định
Currency
Board
Chế độ tỉ giánghiêm ngặt được hỗtrợ bởi mộthệ thốngtiền tệ dựa trên nhữngcam kết pháp lý vềviệc trao đổi giữa nộitệvới một loại ngoại tệ
cụ thể ở một tỉ lệ cốđịnh Đồng nội tệ banhành chỉ để chống lạiviệc buôn bán ngoại
Thích hợpcho các quốcgia có tiền lệkhông ổn định
về lưu thôngtiền tệ, lạmphát cao vàcác nhà hoạchđịnh chínhsách cần cómột mức neo
Đưa đến
độ tin cậytối đa chonhững chínhsách kinh tế
Tạo điềukiện thuậnlợi cho việcgiảm phát
Ngânhàng trungương khôngcòn là ngườicho vay cuốicùng Khảnăng lâm vàotình trạngthiếu hụtthanh khoảnrất cao
Trang 40hối Gần như khôngthực thi chính sách tiền
tệ độc lập
đủ mạnh để
ổn định việclưu thông tiềntệ
Khôngchịu tácđộng bởicuộc khủnghoảng tiềntệ
Chi phígiao dịchthấp, lãi suấtthấp và ổnđịnh
Việcthiếu nhữngquyết định
trong chínhsách tiền tệ
đã loại bỏ sựsai lệchtrong lạmphát
Lãi suất tỉgiá thấp,trường hợp
đô la hóa lãisuất khôngtồn tại
Không cókhả năng hấpthụ sốc.Những cúsốc được hấpthụ hoàntoàn bởinhững thayđổi trongviệc điềuhành kinh tế.Việcthoát khỏi sự
đô la hóa làrất khó khăn
sử dụng chung mộtloại tiền duy nhất
Bãi bỏ hoàn toàn sự
tự chủ về lưu thôngtiền tệ
Gần như khôngthực thi chính sách tiền
tệ độc lập
Thích hợpcho các quốcgia đã mởrộng pháttriển thươngmại và cácquan hệ kinh
tế (EMU)
Lưu thôngtiền tệ ở cácnước nhỏ phụthuộc vào đơn
vị tiền tệ ởcác nước lớn(đô la hóa chảhạn)
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP ĐẶC BIỆT TRONG LỰA CHỌN CHÍNH SÁCH Ở EMEs:
3.1 Đối với Hàn Quốc: