Một số giải pháp nhằm thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở việt nam trong quá trình sự nghiệp CNH hđh Một số giải pháp nhằm thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở việt nam trong quá trình sự nghiệp CNH hđh Một số giải pháp nhằm thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở việt nam trong quá trình sự nghiệp CNH hđh Một số giải pháp nhằm thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở việt nam trong quá trình sự nghiệp CNH hđh Một số giải pháp nhằm thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở việt nam trong quá trình sự nghiệp CNH hđh Một số giải pháp nhằm thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở việt nam trong quá trình sự nghiệp CNH hđh
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Từ sau Đại hội VI năm 1986, nền kinh tế nước ta đã thực hiện một công cuộc chuyển đổi rất lớn, đó là chuyển từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Từ đó đến nay, đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể như: tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình hàng năm gần 7% (từ năm 1990 đến nay), đời sống nhân dân ngày càng cải thiện,
là nước đứng thứ hai trong các nước xuất khẩu gạo trên thế giới
Hơn nữa, cùng với xu thế hội nhập và toàn cầu hoà, Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức ASEAN, tham gia diễn đàn APEC, tiến tới gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO Như trong Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung Ương Đảng khoá VIII đã khẳng định: "Trên cơ sở phát huy nội lực, thực hiện nhất quán, lâu dài chính sách thu hút các nguồn lực bên ngoài" Với tư tưởng chỉ đạo đó, việc tăng cường thu hút và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài luôn là vấn đề hàng đầu được Đảng và Nhà nước ta quan tâm thường xuyên Do nhận thức được vị trí vai trò nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài nên nền kinh tế vốn đã trì trệ như ở Việt Nam hiện nay, thì đầu tư trực tiếp nước ngoài đã khơi dậy lại thị trường trong nước, cung cấp về vốn, tiếp thu khoa học công nghệ và học hỏi kinh nghiệm quản lý.v.v
Trên tinh thần đó, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành luật đầu tư nước ngoài từ năm 1998, thực hiện nhiều giải pháp nhằm thu hút nguồn vốn này
Tuy nhiên, trong những năm gần đây, nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam đã có phần chững lại và bộc lộ nhiều khiếm khuyết trong chính sách thu hút nguồn vốn đã không còn phù hợp nữa Chính vì lý do đó
và nhận thức được tầm quan trọng của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Cho
nên em đã chọn đề tài: "Một số giải pháp nhằm thu hút nguồn vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam trong quá trình sự nghiệp CNH - HĐH"
Để vừa xem xét tổng quan tình hình thực trạng thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong hơn 20 năm qua, đồng thời qua đó tìm ra giải pháp cơ bản để cải thiện hơn nữa trong kiến tạo nguồn vốn Điều đó nhằm tạo đà cho
Trang 2phát triển kinh tế, thực hiện thành công công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, tiến tới năm 2020 Việt Nam cơ bản là một nước công nghiệp.
Do thời gian nghiên cứu có hạn nên trong bài viết này, em chỉ xin đề cập tới những đạt được và chưa đạt được cùng với giải pháp trong vấn đề thu hút nguồn vốn FDI bao quát trên diện rộng cả nước, chứ em không đi sâu vào từng lĩnh vực từng khu vực cụ thể
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, em đã sử dụng phương pháp luận, phương pháp nghiên cứu tài liệu để thực hiện đề án này
Kết cấu đề án ngoài phần Lời nói đầu và phần Kết luận còn bao gồm:
Chương I: Lý luận chung về đầu tư
Chương II: Thực trạng thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam trong sự nghiệp CNH - HĐH
Chương III: Một số giải pháp nhằm thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam.
Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo TS Nguyễn Hồng Minh đã
hướng dẫn tận tình em thực hiện đề tài này
Với trình độ hiểu biết còn hạn chế, cho nên bài viết này không tránh khỏi những thiếu sót và sai lầm Em rất mong nhận được sự chỉ bảo, uốn nắn tận tình của thầy giáo, để bổ xung cho bài viết được hoàn thiện hơn và sẽ làm tốt hơn trong quá trình nghiên cứu tiếp theo
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 3CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG
1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐẦU TƯ - ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI.
1.1 Khái niệm đầu tư.
Đầu tư là sự bỏ ra, sự hy sinh những nguồn lực ở hiện tại (tiền, sức lao động, trí tuệ.v.v ) nhằm đạt được những kết quả có lợi cho chủ đầu tư trong tương lai
Như vậy, theo khái niệm trên, đầu tư là hoạt động kinh tế gắn với việc
sử dụng vốn dài hạn nhằm mục đích sinh lợi Đầu tư là một bộ phận của sản xuất - kinh doanh của các doanh nghiệp Nó có ảnh hưởng trực tiếp đến việc tăng tiềm lực của nền kinh tế nói chung và của từng doanh nghiệp nói riêng
Vốn đầu tư bao gồm có các dạng sau:
- Tiền tệ các loại
- Hiện vật hữu hình: tư liệu sản xuất, tài nguyên
- Hàng hoá hữu hình: sức lao động, cán bộ, thông tin, biểu tượng uy tín hàng hoá.v.v
- Các phương tiện khác: cổ phiếu, đá quý.v.v
1.2 Đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.2.1 Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một loại hình di chuyển vốn quốc tế, trong đó người chủ sở hữu vốn điều hành hoạt động sử dụng vốn
Về thực chất FDI là sự đầu tư của các Công ty nhằm xây dựng các cơ
sở, chi nhánh ở nước sở tại đó Đây là hình thức đầu tư mà chủ đầu tư nước ngoài đóng góp một số vốn đủ lớn vào lĩnh vực sản xuất hoặc dịch vụ và cho phép họ trực tiếp tham gia điều hành đối tượng mà họ bỏ vốn
1.2.2 Đặc điểm đầu tư trực tiếp nước ngoài.
- Các chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một số vốn tối thiểu vào vốn pháp định tuỳ theo luật đầu tư của mỗi nước
- Quyền quản lý xây dựng phụ thuộc vào mức độ góp vốn Nếu góp 100% vốn thì doanh nghiệp hoàn toàn do chủ đầu tư nước ngoài quản lý và
Trang 4điều hành.
- Lợi nhuận của các chủ đầu tư nước ngoài thu được phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh và được chia theo tỷ lệ góp vốn trong vốn pháp định
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài được thực hiện thông qua việc xây dựng doanh nghiệp mới, mua lại hoàn bộ hay từng phần doanh nghiệp đang hoạt động hoặc mua cổ phiếu để thôn tính hay sáp nhập các doanh nghiệp khác
- Nguồn vốn đầu tư không chỉ bao gồm vốn đầu tư ban đầu mà còn có thể được bổ xung, mở rộng từ nguồn lợi nhuận thu được từ chủ đầu tư nước ngoài
- Việc các chủ đầu tư nước ngoài bỏ vốn vào trong nước để biến sinh lợi, thì qua đó bên phía chủ nhà tiếp nhận vốn có cơ hội tiếp thu công nghệ kỹ thuật tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý hiện đại ở nước ngoài Đây là một đặc điểm chú trọng cho các nước đang phát triển trong quá trình phát triển và hội nhập nền kinh tế trên thế giới
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức mà các chủ đầu tư được tự mình ra quyết định đầu tư, quyết định sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về lỗ lãi Hình thức này mang tính khả thi và hiệu quả cao, không có ràng buộc về chính trị, không để lại gánh nặng nợ nần cho nền kinh tế
1.2.3 Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.2.3.1 Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Đầu tư trực tiếp nước ngoài giúp giải quyết những khó khăn về vốn cũng như công nghệ và trình độ quản lý, nhờ vào những yếu tố này sẽ giúp cho nền kinh tế tăng trưởng một cách nhanh chóng, giúp khắc phục được những điểm yếu của nền kinh tế đang phát triển trong quá trình phát triển và hội nhập
• Đóng góp vào ngân sách
• Thu hút lao động
• Nâng cao thu nhập
Xem xét tình hình tăng trưởng kinh tế của những nước đang phát triển trên thế giới có thể rút rằng tất cả các nước đang tìm mọi cách để thu hút
Trang 5nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài, một điều nữa là khối lượng vốn đầu tư nước ngoài tỷ lệ thuận với mức độ tăng trưởng của nền kinh tế quốc gia đó
Mặt khác FDI cũng tạo cơ hội cho các nước sở tại khai thác tốt nhất những lợi thế của mình về tài nguyên thiên nhiên cũng như vị trí địa lý nó góp phần làm tăng sự phong phú chủng loại sản phẩm trong nước cũng như làm tăng sức cạnh tranh cho sản phẩm trong nước với sản phẩm của các quốc gia trên thế giới vì thế tăng khả năng xuất khẩu của nước ta
1.2.3.2 Thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Chúng ta đang trong qua trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp công nghiệp dịch vụ sang công nghiệp nông nghiệp dịch vụ, công việc này đòi hỏi rất nhiều vốn cũng như cần tới rất nhiều sự hỗ trợ về công nghệ
Hơn nữa yêu cầu dịch chuyển cơ cấu kinh tế không chỉ là đòi hỏi của bản thân sự phát triển nội tại nền kinh tế mà nó còn là đòi hỏi của xu hướng quốc tế hoá đời sống kinh tế Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một phần quan trọng trong kinh tế đối ngoại, thông qua đó các quốc gia sẽ tham gia ngày càng nhiều vào quá trình phân công lao động quốc tế Để hội nhập vào nền kinh tế thế giới và tham gia tích cực vào quá trình liên kết kinh tế giữa các nước trên thế giới đòi hỏi từng quốc gia phải thay đổi cơ cấu kinh tế trong nước cho phù hợp với sự phân công lao động quốc tế và sự vận động chuyển dịch cơ cấu kinh tế của mỗi quốc gia phù hợp với trình độ phát triển chung của thế giới sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài và chính đầu tư nước ngoài sẽ góp phần làm chuyển dịch dần cơ cấu kinh tế
1.2.3.3 Đầu tư trực tiếp tạo nguồn vốn bổ sung quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội hiên nay
Nguồn vốn cho đầu tư phát triển chủ yếu là từ ngân sách nhưng đầu tư trực tiếp cũng góp một phần quan trọng trong đó Đối với một nước còn chậm phát triển như nước ta nguồn vốn tích luỹ được là rất ít vì thế vốn đầu tư nước ngoài có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế.Nước
ta có tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên cũng như nguồn lao động dồi dào
Trang 6nhưng do thiếu nguồn vốn và chưa có đủ trang thiết bị khoa học tiên tiến nên chưa có điều kiện khai thác và sử dụng.
Với các nước đang phát triển vốn đầu tư nước ngoài chiếm một tỷ lệ đáng kể trong tổng vốn đầu tư của toàn bộ nền kinh tế trong đó có một số nước hoàn toàn dựa vào vốn đầu tư nước đặc biệt là ở giai đoạn đầu của sự phát triển
Nhưng tiếp nhận đầu tư trực tiếp chúng ta cũng phải chấp nhận một số những điều kịên hạn chế: đó là phải có những điều kiện ưu đãi với các chủ đầu tư Nhưng xét trên tổng thể nền kinh tế và xu thế phát triển của thế giới hiện nay thì đầu tư trực tiếp là không thể thiếu bởi nó là nguồn vốn hết sức quan trọng cho chúng ta đẩy nhanh hơn nữa tốc độ phát triển kinh tế để hoà nhập vào nền kinh tế khu vực cũng như thế giới Chính vì thế mà vốn FDI có
ý nghĩa hết sức quan trọng trong giai đoạn thiện nay, chúng ta cần có một cơ chế chính sách phù hợp hơn nữa nhằm thu hút nguồn vốn này trong tương lai
1.3 Các loại hình đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Trong thực tiễn, FDI có nhiều hình thức tổ chức khác nhau Những hình thức được áp dụng phổ biến là:
1.3.1 Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh
Đây là hình thức đầu tư được nhà nước ta cho phép theo đó bên nước ngoài và bên Việt Nam cùng nhau thực hiện hợp đồng được ký kết giữa hai bên Trong thời gian thực hiện hợp đồng các bên phải xác định rõ quyền lợi và nghĩa vụ cũng như trách nhiệm của mỗi bên mà không tạo ra một pháp nhân mới và mỗi bên vẫn giữ nguyên tư cách pháp nhân của mình
1.3.2.Doanh nghiệp liên doanh
Trong luật đầu tư nước ngoài quy định rõ doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp do hai hoặc nhiều bên hợp tác ký kết với nhau trong đó có một bên là nước sở tại trên cơ sở hợp đồng liên doanh và hợp tác ký kết giữa chính phủ của nước sở tại với bên nước ngoài hay doanh nghiệp của nước sở tại với doanh nghiệp nước ngoài
Theo hình thức kinh doanh này hai hay nhiều bên tham gia góp vốn vì thế quyền hạn của các bên là khác nhau tuỳ thuộc vào số vốn mà mình đã
Trang 7tham gia vào hợp đồng liên doanh Bên nào nhiều vồn bên đó có quyền lớn hơn trong các vấn đề của doanh nghiệp cũng như được hưởng % ăn chia trong các dự án
Trong luật đầu tư nước ngoài quy định bên đối tác liên doanh phải đóng góp số vốn không dưới 30% vốn pháp định của doanh nghiệp liên doanh hoặc
có thể nhiều hơn tuỳ theo các bên thoả thuận và bên Việt Nam có thể sử dụng mặt bằng và tài nguyên thiên nhiên để tham gia gốp vốn
1.3.3 Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
Luật đầu tư nước ngoài của Việt Nam quy định doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là doanh nghiệp thuộc quyền sở hữu của cá nhân hay tổ chức nước ngoài và tổ chức thành lập theo quy định pháp luật nước ta cho phép trên cơ sở tự quản lý
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài được thành lập theohình thức công
ty trách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân theo pháp luật nước ta đã ban hành Doanh nghiệp 100%vốn đầu tư nước ngoài được thành lập sau khi cơ quan có thẩm quyền về hợp tác đầu tư nước sở tại cấp giấy phép và chứng nhận doanh nghiệp đã tiến hành đăng ký kinh doanh hợp pháp
Để tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư, ngoài các hình thức trên Chính phủ nước sở tại còn lập ra các khu vực ưu đãi đầu tư trong lãnh thổ nước mình như: khu chế xuất, khu công nghiệp tập trung, đặc khu kinh tế, hợp đồng xây dựng - vận hành - chuyển giao (B.O.T), xây dựng – chuyển giao (B.T), xây dựng - chuyển giao - vận hành (B.T.O)
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Đầu tư nước ngoài là một hoạt động kinh tế có vai trò rất lớn với các nước trên thế giới, vì vậy việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố chủ quan và khách quan Cụ thể như sau:
1.4.1 Chiến lược huy động vốn phục vụ phát triển kinh tế :
Chiến lược huy động vốn phục vụ phát triển kinh tế của một quốc gia
có thể coi là nhân tố có ý nghĩa quyết định đến các hoạt động triển khai và kết quả thu hút FDI của quốc gia đó Chiến lược này thể hiện tập trung ở một số điểm: có mở cửa thu hút vốn bên ngoài hay không; đặt trọng tâm thu hút
Trang 8nguồn vốn trong nước hay ngoài nước; nguồn vốn nước ngoài tập trung chủ yếu vào nguồn nào: ODA, FDI hay vay thương mại…; định hướng các lĩnh vực thu hút vốn; tiêu chuẩn để xác định phương hướng lựa chọn dự án đầu tư nước ngoài …Việc định hướng chiến lược thu hút vốn có ý nghĩa quan trọng
để thiết lập các điều kiện thu hút phù hợp Nói cách khác, do bị quy định bởi chiến lược phát triển được lựa chọn, mỗi mô hình xác định mục tiêu, giải pháp huy động và sử dụng vốn nước ngoài khác nhau
Nếu theo đuổi chiến lược tăng trưởng kinh tế hướng nội,dựa vào sản xuất thay thế nhập khẩu, hình thức huy động vốn được ưa thích hơn cả là vay thương mại ngắn hạn, phát hành tín phiếu kho bạc và trái phiếu chính phủ ra nước ngoài Tính chất ngắn hạn của nguồn vốn này tạo ra áp lực sử dụng vốn theo những mục tiêu ngắn hạn (thường có tính đầu cơ), không có lợi cho quá trình tăng trưởng bền vững
Nếu lựa chọn chiến lược phát triển kinh tế hướng ngoại, tăng trưởng dựa vào xuất khẩu, hình thức huy động vốn được ưa thích là FDI và vay dài hạn Các hình thức này không chịu sức ép ngắn hạn của yêu cầu trả nợ cũng như sự gia tăng quá nhanh khối lượng nợ Ngoài ra, khi dựa vào FDI các nền kinh tế này còn tiếp nhận kỹ thuật , công nghệ hiện đại hiệu quả hơn, tận dụng tốt hơn các quan hệ thị trường để thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu
1.4.2 Mối quan hệ kinh tế quốc tế của quốc gia tiếp nhận:
Trong xu thế quốc tế hóa ngày càng phát triển, tính tùy thuộc lẫn nhau ngày càng cao, không một quốc gia dân tộc nào tự khép kín, cô lập với thế giới mà có thể phát triển được Do đó, sự hợp tác , cùng tồn tại và phát triển giữa các quốc gia có chế độ chính trị-xã hội khác nhau ngày càng tăng Mục đích của quan hệ quốc tế là đem lại lợi ích trước hết cho quốc gia mình nhằm phát triển sự tiến bộ xã hội, nhưng đồng thời cũng cần quan tâm tới lợi ích chung của nhân loại, của thế giới Các mối quan hệ quốc tế diễn ra trên các lĩnh vực khác nhau: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội …trong đó quan hệ kinh tế là mối quan hệ quan trọng nhất vì nó vừa là trung tâm, vừa là cơ sở và cũng vừa là động lực thúc đẩy mối quan hệ ở các lĩnh vực khác Tham gia quan hệ kinh tế quốc tế, các nước có cơ hội trao đổi thương mại quốc tế, hợp
Trang 9tác quốc tế về kinh tế và khoa học – công nghệ, hợp tác đầu tư quốc tế, các dịch vụ thu ngoại tệ …
Các mối quan hệ kinh tế quốc tế của một quốc gia vừa là hệ quả của chiến lược huy động vốn của quốc gia đó, vừa là cơ hội để tìm kiếm đối tác đầu tư Nhiều quốc gia khi thực hiện mở cửa tham gia các tổ chức kinh tế khu vực hoặc quốc tế, hoạt động ngoại thương phát triển nhanh chóng, thu hút đầu
tư nước ngoài đã gia tăng, chất lượng đầu tư nước ngoài được cải thiện đáng
kể, do đó mở thêm nguồn lực để phát triển kinh tế đất nước Để tăng cường mối quan hệ kinh tế quốc tế của một quốc gia, chính phủ phải thiết lập và duy trì các quan hệ đối ngoại chính thức hòa bình, hợp tác thân thiện và rộng rãi với các nước, đàm phán kí kết các loại Hiệp định và cam kết đầu tư, thương mại, bảo hiểm và tư pháp song phương và đa phương ở cấp quốc gia, khu vực
và quốc tế khác nhau cần thiết, tạo ra khung pháp lý chính thức và đầy đủ để
mở đường cho sự lưu chuyển vốn đầu tư giữa thị trường vốn bên ngoài với thị trường trong nước
1.4.3 Sự mềm dẻo, minh bạch, hấp dẫn của hệ thống chính sách đầu tư nước ngoài.
Chính sách đầu tư nước ngoài bao gồm một hệ thống các chính sách, công cụ và biện pháp thích hợp mà nhà nước áp dụng để điều chỉnh các hoạt động đầu tư quốc tế của một quốc gia (bao gồm đầu tư ra nước ngoài và thu hút đầu tư nước ngoài) Đối với quốc gia thu hút đầu tư nước ngoài , chính sách đầu tư nước ngoài là rất quan trọng đối với việc hấp thụ được đầy đủ những tác động tích cực của FDI Những chính sách FDI phù hợp theo nghĩa rộng thường được xác định là những chính sách tốt nhất nhằm tạo dưng môi trường kinh doanh nội địa canh tranh và năng động Những nguyên tắc về tính minh bạch, tính không phân biệt đối xử là phương tiện để thu hút các công ty nước ngoài và để có thể hấp thụ được những lợi ích từ sự hiện diện của chúng trên thị trường nội địa Những chính sách kinh tế của nước sở tại
có khả năng làm tối đa hóa lợi ích và tối thiểu hóa chi phí cho các dự án FDI triển khai đều có sức thuyết phục các nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn đầu tư Các chính sách đầu tư nước ngoài hấp dẫn FDI của nước tiếp nhận chủ
Trang 10yếu gồm:
• Chính sách thương mại cần thông thoáng theo hướng tự do hóa, để bảo đảm khả năng xuất- nhập khẩu các máy móc thiết bị, nguyên liệu sản xuất, cũng như sản phẩm, tức bảo đảm sự thuận lợi, kết nối liên tục các công đoạn hoạt động đầu tư thực sự trở thành mối quan tâm của các nhà đầu tư nước ngoài
• Chính sách tiền tệ phải giải quyết được các vấn đề chống lạm phát
và ổn định tiền tệ Chính sách lãi suất và tỷ giá tác động trực tiếp đến dòng chảy của FDI với tư cách là những yếu tố quyết định giá trị đầu tư và mức lợi nhuận thu được tai một thị trường xác định Từ thực tế cho thấy, các dòng vốn đầu tư dài hạn, nhất là FDI đổ vào một nước tỷ lệ thuận với sự gia tăng lòng tin của các chủ đầu tư, đồng thời lại tỷ lệ nghịch với độ chênh lệch lãi suất trong- ngoài nước, trong- ngoài khu vực Bên cạnh đó, một tỷ giá hối đoái linh hoạt, phù hợp với tình hình phát triển kinh tế ở từng giai đoạn, thì khả năng thu lợi nhuận từ xuất khẩu càng lớn, sức hấp dẫn với vốn nước ngoài càng lớn
• Các ưu đãi tài chính- tiền tệ dành cho đầu tư nước ngoài trước hết phải bảo đảm cho các chủ đầu tư tìm kiếm được lợi nhuận cao nhất trong điều kiện kinh doanh chung của khu vực , của mỗi nước để khuyến khích họ đầu tư vào trong nước và vào những nơi mà Chính phủ muốn khuyến khích đầu tư
• Những ưu đãi về thuế chiếm vị trí quan trọng hàng đầu trong số các
ưu đãi tài chính dành cho đầu tư nước ngoài.Mức ưu đãi thuế cao hơn luôn được dành cho các dự án đầu tư có tỷ lệ vốn nước ngoài cao, quy mô lớn, dài hạn, hướng về thị trường nước ngoài, sử dụng nhiều lao động trong nước, tái đầu tư lợi nhuận
1.4.4 Các nguồn lực và lợi thế so sánh của nước tiếp nhận.
Một quốc gia muốn phát triển kinh tế cần có rất nhiều điều kiện, nhiều yếu tố Ngoài các nhân tố nên trên, các quốc gia có vị trí địa lý thuận lợi, không gần các vùng có động đất, sóng thần; quy mô thị trường nội địa rộng lớn; nguồn lực dồi dào, giá nhân công rẻ; nguồn tài nguyên phong phú sẽ là những quốc gia có lợi thế về thu hút FDI
Trang 11Vị trí địa lý thuận lợi tạo ra khả năng phát triển các hoạt động du lịch, trung chuyển, tái xuất khẩu, chuyển khẩu hàng hóa qua các khu vực lân cận Những quốc gia biết phát huy lợi thế vị trí địa lý của mình bằng việc hiện đại hóa cảng biển, miễn lệ phí cảng biển, hạ thấp các mức thuế, giảm loại thuế so với các khu vực khác đã tạo ra sức hấp dẫn tối đa FDI.
Tài nguyên thiên nhiên đa dạng, phong phú cho phép nước sở tại có thể phát triển nền kinh tế với cơ cấu đa ngành và tham gia một cách tích cực vào phân công lao động thế giới Quốc gia có tài nguyên phong phú, gần nguồn nguyên liệu làm cho chi phí sản xuất hàng hóa trở nên rẻ hơn, là điểm đến của đầu tư nước ngoài Thực tế cho thấy, trong những thập kỷ gần đây, những nhân tố chính khuyến khích FDI vào châu Phi là sự giàu có về thiên nhiên ( chẳng hạn như đầu tư vào công nghiệp dầu lửa ở Nigeria và Angola) và ở một mức độ thấp hơn của nền kinh tế nội địa
Nguồn lao động dồi dào, giá nhân công rẻ là lợi thế so sánh của nước tiếp nhận đầu tư Kết quả cuộc điều tra mới đây của một công ty quốc tế về tư vấn đầu tư cho thấy, quan điểm lựa chọn địa điểm đầu tư trên thế giới đã có nhiều thay đổi.Trước đây các nhà đầu tư thiên về những địa điểm đầu tư gần thị trường tiêu thụ, thì ngày nay ưu tiên tiêu chí: trình độ của công nhân, với
lý do công nghệ thông tin phát triển giúp các nhà sản xuất dễ dàng hơn trong tiếp cận các thị trường ở xa, trình độ ngoại ngữ của người dân bản địa
Tóm lại, trong dòng vận động của mình, FDI sẽ tìm đến nơi đầu tư an toàn, đồng vốn được sử dụng có hiệu quả, quay vòng nhanh và ít rủi ro Ngoài nhân
tố bên trong cần thiết lập đã nêu trên, khả năng thu hút FDI của một quốc gia còn phụ thuộc vào hướng chuyển dịch của dòng vốn FDI quốc tế, phụ thuộc vào tiềm lực và chiến lược đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài Do vậy, khi nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới thu hút FDI của một quốc gia, chúng ta không thể không xét đến các nhân tố bên ngoài đó
1.4.5 Thiết lập các điều kiện thút hút FDI:
1.4.5.1.Ổn định về chính trị.
Đây là điều kiện tiên quyết nhằm giảm thiểu những rủi ro, vượt khỏi sự kiểm soát của chủ đầu tư những bất ổn về kinh tế - chính trị không chỉ làm
Trang 12cho dòng vốn FDI bị chững lại và thu hẹp, mà còn làm cho quá trình huy động ngồn vốn trong nước bị giảm mạnh.
Ngoài ra các cuộc xung đột nội chiến hay sự hoài nghi thiếu thiện cảm
và gây khó dễ của giới lãnh đạo, nhân dân đối với vốn đầu tư nước ngoài đều
là nhân tố tác động tâm lý tiêu cực của các chủ đầu tư nước ngoài Bởi vậy,
ổn định chính trị không chỉ trong thời gian ngắn mà còn là cần giữ vững lâu dài, để cho các nhà đầu tư yên tâm hoạt động
1.4.5.2.Hệ thống luật
Hệ thống luật là một trong những nhân tố sẽ kìm hãm hay thúc đẩy gia tăng của hoạt động đầu tư nước ngoài Bởi lẽ, trong hệ thống luật đầu tư, nước sở tại sữ nêu rõ quan điểm của mình trên lĩnh vực đầu tư về hình thức đầu tư, đảm bảo lợi ích cho các bên liên quan như thế nào.v.v Đồng thời các nhà đầu tư nước ngoài còn xem xét những luật liên quan như luật thuế, luật cho thuê đất đai.v.v Những nội dung của hệ thống luật càng đồng bộ, chặt chẽ tiên tiến, cởi mở phù hợp với thông lệ quốc tế thì khả năng hấp dẫn thu hút nguồn vốn FDI càng cao
có sức chi phối mạnh mẽ đến luồng FDI Khi đó càng tạo cho các chủ đầu tư nước ngoài an tâm về sở hữu và quyền chủ động định đoạt mua bán đất đai
mà họ có được bằng nguồn vốn đầu tư của mình
1.4.5.4Yếu tố thuộc nền hành chính
Mỗi quốc gia có con đường chính trị riêng của mình và kèm theo đó là đường lối phát triển kinh tế đặc thù của quốc gia đó Do đó thể chế nền hành chính cũng khác nhau Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức đầu tư xuyên quốc gia do đó nhà đầu tư khi tham gia đầu tư vào quốc gia thì phải tuân thủ
Trang 13theo những quy định của quốc gia đó Một thể chế hành chính phù hợp sẽ đem lại những thuận lợi hết sức lớn cho quá trình hội nhập cũng như tiếp nhận FDI, thủ tục hành chính quá rắc rối như thủ tục cấp giấy phép có liên quan trong thực hiện đầu tư dự án, thời gian cấp giấy phép quá lâu gây lãng phí thời gian vô lý và thậm chí còn gây thiệt hại về kinh tế, làm mất cơ hội của các nhà đầu tư Điều này sẽ gây tâm lý không tốt từ phía các nhà đầu tư
và có cái nhìn không tốt đối với điều kiện đầu tư ở nước đó
1.4.5.5 Hiệu quả của các dự án FDI đã triển khai.
Vì mục tiêu của FDI là nhằm thu lợi nhuận cao, kết quả thực hiện dự án chính là thước đo sức cạnh tranh Do vậy, nếu các dự án FDI đã được triển khai kinh doanh đạt lợi nhuận cao sẽ khuyến khích và củng cố niềm tin cho chính nhà đầu tư nước ngoài tiếp tục đầu tư mở rộng; đồng thời có sức thuyết phục với các nhà đầu tư khác yên tâm bỏ vốn Điều này giúp cho nguồn vốn FDI tiếp tục gia tăng
Qua thực tế ở Việt Nam cho thấy, địa phương nào có tỷ lệ vốn thực hiện
so với vốn đăng kí đạt quá thấp (dưới 20% so với chỉ số chung cả nước
53,14%) thì thường rất khó thu hút thêm dự án mới Còn với những địa
phương có tỷ lệ này cao (trên 70%) thì luôn thu hút thêm được dự án mới với vốn đầu tư tương đối lớn Vì vậy đi đôi với các hoạt động xúc tiến đầu tư, các
bộ, ngành, địa phương cần quan tâm tới các dự án còn hiệu lực, dự án chờ thực hiện
2 CHÍNH SÁCH NHÀ NƯỚC VỚI VẤN ĐỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM
2.1 Tính tất yếu đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam.
Trong tiến trình phát triển của nền kinh tế thế giới, nhiều quốc gia đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trong việc xây dựng và phát triển nền kinh tế của mình Những quốc gia này đã có sự đầu tư rất lớn vào sản xuất và khai thác các dạng tài nguyên thiên nhiên Khi trình độ phát triển kinh tế đạt đến mức cao nhu cầu đầu tư ít, chi phí cao thì khi đó các quốc gia có nhu cầu đầu tư vào các quốc gia khác trên thế giới nhằm tận dụng những lợi thế về lao động,
Trang 14tài nguyên thiên nhiên, thị trường của những nước đó Mặt khác, các quốc gia có những lợi thế đó thì nhu cầu về vốn cho phát triển kinh tế rất bức xúc
Vì vậy, họ đã có những chính sách để thu hút những nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào
Đối với Việt Nam, xuất phát điểm là một nước nông nghiệp lạc hậu Hơn 70% dân số hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp: năng suất lao động thấp, tích luỹ nội bộ thấp, sử dụng viện trợ nước ngoài không có hiệu quả Ngoài ra, nước ta vừa ra khỏi chuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc nên nhiều tàn
dư mà ta chưa khắc phục được Trước những khó khăn thách thức đó, Đảng
và Nhà nước ta đề ra nhiều mục tiêu quan trọng trong giai đoạn 2001 – 2010 nhằm nâng cao đời sống người dân, xây dựng cơ sỏ hạ tầng phát triển nền kinh tế vững mạnh Trong chiến lược 10 năm đầu thế kỷ 21, Đảng ta vẫn kiên định đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước tạo lập nền tảng cho việc hình thành một nước công nghiệp trong giai đoạn sau Sự lựa chọn chiến lược này là một tất yếu được rút ra từ quá trình phát triển và đổi mới hơn 10 năm qua, từ một tầm nhìn về triển vọng phát triển đất nước gắn với xu thế thời đại Trong đó, vai trò của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã đóng góp đáng kể vào sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước Trong những năm qua, cùng với sự phát triển đất nước, nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ngày càng khẳng định vai trò của mình trong nền kinh tế Việt Nam Điều đó được biểu hiện rõ bằng gia tăng nguồn vốn, kỹ thuật – công nghệ, đóng góp vào ngân sáh Nhà nước đáng kể Trong những năm tới, việc thu hút nguồn vốn FDI vẫn được Nhà nước quan tâm là một xu thế tất yếu phù hợp với xu thế của thế giới và yêu cầu phát triển của nền kinh tế Việt Nam
2.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước trong luật đầu tư nước ngoài.
Xuất phát từ chính sách đổi mới nền kinh tế mở cửa và hội nhập với nước ngoài, ngày 19/12/1987 lầu đầu tiên Quốc hội nước ta đã thông qua Luật đầu tư nước ngoài cho phép các tổ chức cá nhân là người nước ngoài được đầu tư vào Việt Nam Đây là mốc đánh dấu đầu tư trực tiếp nước ngoài đã đước chấp nhận trong nền kinh tế Việt Nam và nó không những được bảo vệ
Trang 15và khuyến khích như quy định tại Luật đầu tư nước ngoài 1987 và 1990 mà
nó còn được khẳng định ở mức độ cao nhất tại bộ Luật cơ bản của Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam- Hiến pháp năm 1992
Luật sửa đổi 1992 đã nới rộng cho mọi thành phần kinh tế ở nước ta đều
có thể tham gia hợp tác với nước ngoài trong lĩnh vực đầu tư, cũng như đã mở rộng các điều kiện và hình thức thu hút đâu tư nước ngoài mới: Khu chế xuất
và Hợp đồng xây dựng –kinh doanh- chuyển giao (BOT) Hơn thế, trong hoạt động FDI trường hợp do thay đổi quy định của pháp luật Việt Nam mà làm thiệt hại đến lợi ích của các bên tham gia hợp tác đầu tư thì Nhà nước Việt Nam sẽ “có biện pháp giải quyết thỏa đáng đối với quyền lợi các nhà đầu tư” Năm 1998, Chính phủ Việt Nam đã ban hành Nghị Định 10/1998/NĐ-
CP quy định chi tiết các lĩnh vực và địa bàn khuyến khích đầu tư, khuyến khích đầu tư với mục đích xuất khẩu, áp dụng công nghệ cao … và khẳng định:
• Chính phủ Việt Nam bảo đảm thực hiện ổn định, lâu dài chính sách đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam, đông thời bổ sung chính sách theo nguyên tắc tạo điều kiện thuận lợi hơn cho nhà đầu tư
• Khuyến khích và dành ưu đãi đặc biệt đối với các dự án đầu tư sản xuất hàng xuất khẩu,sử dụng công nghệ cao
• Ngoài những lĩnh vực thuộc danh mục không cấp phép đầu tư và những lĩnh vực đầu tư có điều kiện quy định, nhà đầu tư nước ngoài được lựa chọn dự án đầu tư, hình thức đầu tư, địa bàn, tỷ lệ góp vồn pháp định, thị trường tiêu thụ sản phẩm
• Đối với các dự án đặc biệt khuyến khích đầu tư, nhà đầu tư chỉ cần đăng ký hồ sơ theo mẫu và Cơ quan cấp giấy phép đầu tư quyết định cấp giấy phép đầu tư trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ
Để tiếp tục cải tiến các thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các doanh nghiệp FDI, Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hành Chỉ thị số 11/1998/CT-TTg, khẳng định vai trò quan trọng của FDI và tính cấp bách trong việc thu hút nguồn vốn này đối với sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội Việt Nam, đồng thời thể hiện rõ quyết tâm của Chính phủ Việt Nam
Trang 16trong việc cải thiện môi trường đầu tư Ngày 26/3/1999, Thủ tướng Chính phủ lại ra quyết định số 53/1999/QĐ-TTg về một số biện pháp khuyến khích đầu
tư trực tiếp nước ngoài
Có thể nói rằng, trong một khoảng thời gian ngắn, bằng việc ban hành Nghị định 10, Chỉ thị 11 và Quyết định 53, Việt Nam đã bầy tỏ quyết tâm của mình trong việc kiên trì đường lối cải cách, mở cửa, cải thiện môi trường đầu tư; tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các chủ đầu tư bằng việc đẩy mạnh cải cách hành chính, giảm chi phí cho các chủ đầu tư, tiến tới một chính sách chung đối với đầu tư trong nước và nước ngoài
Ngày 09/6/2000, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua “Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam”.Điểm nổi bật của Luật Đầu tư nước ngoài năm 2000 là doanh nghiệp FDI được phép chuyển đổi hình thức đầu tư, chia tách, sáp nhập, hợp nhất; vấn đề hồi tố và không hồi tố; vấn đề cân đối ngoại tệ; vấn đề chuyển lỗ sang năm sau (quy định cho mọi hình thức FDI thay vì chỉ quy định cho liên doanh như Luật 1996); giảm mức thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài; vấn đề đăng ký cấp giấy phép đầu tư lần đầu tiên được quy định trong Luật Đầu tư nước ngoài năm 2000
Tại Đại hội IX , kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã được khẳng định là một bộ phận của nền kinh tế Việt Nam, được khuyến khích phát triển và để sử dụng một cách hiệu quả thành phần kinh tế này, Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh tới việc thu hút nguồn vốn FDI theo hướng khuyến khích các dự án có công nghệ hiện đại, sản xuất hàng xuất khẩu, thay thế hàng nhập khẩu, đồng thời giải quyết việc làm cho người lao động
Để thực hiện Nghị quyết Đại hội IX, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 09/2001/NQ-CP về tăng cường thu hút và nâng cao hiệu quả đầu tư trực tiếp nước ngoài thời kỳ 2001-2005 và Chỉ thị 19/2001/CT-Ttg của Thủ tướng Chính phủ về việc tổ chức thực hiện Nghị quyết 09/2001/NQ-CP với định hướng:
• Khuyến khích mạnh mẽ việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các ngành công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu, công nghiệp chế biến, công
Trang 17nghiệp phục vụ phát triển nông thôn và kinh tế nông thôn ,các dự án ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, dầu khí, điện tử, vật liệu mới,viễn thông, phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội, các ngành mà Việt Nam có nhiều lợi thế cạnh tranh với công nghệ hiện đại, tạo nhiều việc làm, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
• Tiếp tục thu hút FDI vào các địa bàn có nhiều lợi thế để phát huy vai trò của các vùng động lực, tạo điều kiện liên kết phát triển các vùng khác trên
cơ sở phát huy lợi thế so sánh Khuyến khích và tạo điều kiện tối đa cho các nhà đầu tư vào các vùng có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn Tập trung thu hút đầu tư vào các khu công nghiệp đã hình thành theo quy hoạch được phê duyệt
Có thể thấy rằng, thông qua các kỳ Đại hội từ năm 1986 đến nay, Đảng
ta đã có hàng loạt các đổi mới về tư duy góp phần tạo lập nền tảng cho việc hình thành và phát triển từng bước chính sách và môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài Việt Nam đã khẳng định vị trí và vai trò quan trọng của FDI đối với nền kinh tế nước ta, cũng như những cố gắng to lớn trong việc cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn FDI
Trang 18CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG THU HÚT NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM TRONG
ổn định trong nhiều năm
Một trong những nguyên nhân thành tựu đó là chủ trương mới của Đảng về hoạt động kinh tế đối ngoại Trong đó có hoạt động thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam
1.1 Thời kỳ 1988 - 1990.
Đây được coi là thời kỳ khởi động cho quá trình thu hút nguồn vốn đầu
tư nước ngoài vào Việt Nam Năm 1988, năm đầu tiên thực hiện luật đầu tư nước ngoài, chúng ta đã cấp giấy phép đầu tư cho 37 dự án, với tống số vốn đăng ký là 366 triệu USD Kết quả đó tuy nhỏ nhưng có ý nghĩa quan trọng đối với nước ta khi vừa bước sang nền kinh tế thị trường
Nó đánh dấu sự thành công ban đầu của công cuộc đổi mới, mở cửa nền kinh tế, thực hiện và phát triển quan hệ kinh tế đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta
Cho đến năm 1990, sau 30 năm thực hiện luật đầu tư nước ngoài, chúng ta đã cấp giấy phép cho 213 dự án với số vốn đăng ký 1582 triệu USD, quy mô trung bình của mỗi dự án là 7 triệu USD, dự án Lĩnh vực đầu tư chủ yếu trong thời kỳ này là thăm dò dầu khí 32,2% khách sạn 20,6%, tổng vốn đăng ký Ta nhận thấy rõ, việc gia tăng vốn đầu tư chậm là vì đây là một lĩnh vực còn mới mẻ, chúng ta vừa học, vừa làm, kinh nghiệm chưa nhiều
Tuy nhiên, những kết quả đó đã chứng minh triển vọng lạc quan của hoạt động đầu tư nước ngoài trong thời kỳ này
Trang 19Đồng thời quy mô mỗi dự án tăng lên qua các năm.
Biểu 3: Quy mô dự án từ năm 1991 - 1996
Đơn vị tính: Triệu USD/dự án
Nguồn: Đoàn Thị Hồng Vân - 13 năm thu hút đầu tư nước ngoài thành tựu và
những điều trăn trở - Tạp chí kinh tế kinh tế số 128/2001 - trang 7
Biểu 4: Mức vốn thực hiện từ năm 1991 - 1996
Đơn vị tính: Triệu USD/dự án
Nguồn: Đoàn Thị Hồng Vân - 13 năm thu hút đầu tư nước ngoài thành tựu và
những điều trăn trở - Tạp chí kinh tế kinh tế số 128/2001 - trang 7
Thời kỳ này, các dự án đầu tư nước ngoài được phân bố rộng rãi trong nhiều lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân Nhiều ngành ngành công nghiệp mới xuất hiện như: công nghiệp điện tử, công nghệ sinh học, chế tạo
xe máy, ô tô.v.v
1.3 Thời kỳ 1997 - 2000.
Thời kỳ này, tốc độc thu hút vốn đầu tư nước ngoài có dấu hiệu chững lại và giảm dần
Qua biểu 2 cho thấy, năm 1998 cấp được ít nhất trong kỳ này là 275 dự
án năm 1999 là năm có số vốn đăng ký là ít nhất trong kỳ là 1566 triệu USD
Đồng thời mức thực hiện vốn và quy mô dự án giảm rõ rệt qua từng