Các yếu tố nêu trên trong thực tế là các ngoại ứng môi trờng, có nghĩa là một loạt các tác động không đợc định giá, mà tạo ra một sự xung đột lẫnnhau giữa những ngời khai thác khoáng sản
Trang 1Lời nói đầu
Lý do chọn đề tài: Hà Tây là tỉnh có diện tích 2.192km2, với số dân 2,5triệu ngời, đứng thứ 4 trong cả nớc Số dân sinh sống và làm việc ở nông thônchiếm 90% Nông nghiệp đóng góp vào giá trị GDP của toàn tỉnh là 70% Nhvậy, nông nghiệp ở Hà Tây vẫn giữ một vai trò chủ đạo trong đời sống kinh tếcủa tỉnh Đặc biệt, trong những năm gần đây, tỉnh Hà Tây thực hiện phát triểnkinh tế theo chủ trơng của Đảng và Nhà nớc là công nghiệp hoá, hiện đại đấtnớc Điều đó đã thúc đẩy nông thôn Hà Tây có những bớc phát triển mới theohớng nông nghiệp thâm canh ở mức cao, công nghiệp chế biến lơng thực thựcphẩm phát triển, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản cũng đạt những thành tựu
đáng kể
Tuy nhiên, hiệu quả của các hoạt động sản xuất trên mới chỉ tính đến lợiích của ngời sản xuất mà cha tính đến những thiệt hại về môi trờng Điều đó
đã làm cho môi trờng nông thôn Hà Tây ngày càng bị biến đổi Nhiều nơi bắt
đầu bị ô nhiễm và có những nơi bị ô nhiễm cục bộ khá gay gắt Một trongnhững nơi nh vậy là ở xã Hồng Hà, huyện Đan Phợng, mà nguyên nhân chính
là do hoạt động sản xuất chăn nuôi lợn gây nên
Chăn nuôi lợn là hoạt động sản xuất mang lại hiệu quả kinh tế khá và tậndụng các nguồn thức ăn sẵn có của các hộ nông dân Nó là một trong nhữnghoạt động sản xuất chính của ngời dân xã Hồng hà và đợc phát triển với quymô ngày càng mở rộng
Nhng bên cạnh đó, hoạt động sản xuất này gây ra những biến đổi về môitrờng nh ô nhiễm nớc mặt, tác động tới hệ sinh thái ao, hồ, hoạt động nuôi cá,hoạt động trồng lúa và tác động tới sức khoẻ của ngời dân Nh vậy, hoạt độngsản xuất này ảnh hởng đến lợi ích của cộng đồng Do đó, để đánh giá đầy đủhiệu quả của hoạt động chăn nuôi lợn, tính tính đến các yếu tố môi trờng, emquyết định chọn đề tài:
"Bớc đầu đánh giá hiệu quả kinh tế của hoạt động chăn nuôi lợn có tính đến các yếu tố môi trờng nơi thực hiện xã Hồng Hà - huyện Đan Ph- ợng - tỉnh Hà Tây"
Trang 2Mục đích của đề tài:
Đánh giá hiệu quả kinh tế đơn thuần
Đánh giá hiệu quả của hoạt động chăn nuôi có tính tới các yếu tố môi trờng.Góp phần giúp các nhà hoạch định và kiến nghị các biện pháp bảo vệ môi trờng
Ph
ơng pháp nghiên cứu:
Lý luận kinh tế môi trờng kết hợp điều tra, nghiên cứu thực địa
Sử dụng nguyên lý của kinh tế học môi trờng "Ngời gây ô nhiễm phải trảtiền (P.P.P)"
Trang 3Mục lục
TrangLời nói đầu
- Lý do chọn đề tài
- Mục đích của đề tài
- Phơng pháp nghiên cứu
Chơng I: Một số lý luận chung về kinh tế và quản lý môi trờng
I Khái niệm chung về biến đổi môi trờng và hiện tợng ngoại ứng
1 Biến đổi môi trờng
2 Ngoại ứng môi trờng
II Hiệu quả cá nhân và hiệu quả xã hội khi có ngoại ứng tiêu cực xảy
ra
1 Hiệu quả cá nhân
2 Hiệu quả xã hội
III Tiếp cận các phơng pháp định giá hàng hoá môi trờng
1 Các phơng pháp sử dụng nhận thức về nhu cầu
2 Các phơng pháp sử dụng nguyên tắc chi phí cơ hội
3 Phơng pháp sử dụng các vật thay thế
IV Tiếp cận lý luận quản lý môi trờng q
1 Khái niệm về quản lý môi trờng
* Khái niệm
* Thực chất của quản lý môi trờng
* Bản chất của quản lý môi trờng
2 Các phơng pháp quản lý môi trờng
III Hiện trạng của hoạt động chăn nuôi
1 Quy trình chăn nuôi lợn của ngời dân xã Hồng hà
Trang 43 Lợi nhuận hàng năm của hoạt động nuôi lợn
4 Hiệu quả kinh tế của hoạt động nuôi lợn
5 Đánh giá hiệu quả
Chơng III: Hiện trạng môi trờng xã Hồng Hà
I Những yếu tố môi trờng bị tác động bởi hoạt động nuôi lợn
II Đánh giá hiện trạng môi trờng
III Lợng hoá các thiệt hại về môi trờng
1 Lợng hoá những thiệt hại về cá
I So sánh hiệu quả kinh tế đơn thuần và hiệu quả kinh tế xã hội
II Phân tích các yếu tố ảnh hởng tới hiệu quả kinh tế của hoạt động
nuôi lợn
III Kiến nghị các giải pháp khắc phục môi trờng và các biện pháp
quản lý môi trờng
Kết luận
Trang 5Chơng I Một số lý luận chung về kinh tế
và quản lý môi trờng
I Khái niệm chung về biến đổi môi trờng và hiện tợng ngoại ứng
1 Biến đổi môi trờng
Mọi hoạt động của con ngời, đặc biệt là các hoạt động kinh tế đều tác
động tới môi trờng Các tác động này có thể là tác động tích cực hay tác độngtiêu cực, mà chủ yếu là tác động tiêu cực Các tác động tiêu cực khi vợt quámột ngỡng giới hạn nào đó sẽ làm biển đổi môi trờng Tuỳ theo mức độ biến
đổi mà ngời ta phân ra làm ba loại: ô nhiễm môi trờng, suy thoái môi trờng và
sự cố môi trờng Theo điều 2 luật bảo vệ môi trờng Việt Nam có hiệu lực ngày
Sự cố môi trờng là các tai biến hoặc rủi ro xảy ra trong quá trình hoạt
động của con ngời hoặc biến đổi bất thờng của thiên nhiên
Ngoại ứng tích cực nảy sinh khi hoạt động của một bên làm lợi cho bênkhác
Do đó, ngoại ứng tiêu cực gây ra những mất mát về phúc lợi của con ngời
và năng suất sinh học Kinh tế học môi trờng gọi những mất mát đó là các chiphí bên ngoài mà bản chất của chi phí bên ngoaì là do ngoại ứng tiêu cực gâynên
II Hiệu quả cá nhân và hiệu quả xã hội khi có ngoại ứng tiêu cực xảy ra.
Khi ngoại ứng tiêu cực xảy ra thì hiệu quả cá nhân và hiệu quả xã hội làkhác nhau Chúng ta xem xét hai trờng hợp dới đây
Trang 61 Hiệu quả cá nhân:
Giả sử D là đờng cầu thị trờng về thịt lợn Hoạt động nuôi lợn của các hộdân gây ra các chi phí bên ngoài do ngoại ứng tiêu cực Đó là các chất thải củahoạt động chăn nuôi thải trực tiếp ra hệ thống cống rãnh làm ô nhiễm môi r-ờng nớc mặt, làm biến đổi hệ sinh thái ao, hồ, gây ra bệnh tật cho ngời dânxung quanh Ký hiệu sản phẩm là chi phí cận biên của hoạt động chăn nuôilợn, nhng cha tính đến các chi phí bên ngoài Ta xác định điểm cân bằng cung
- cầu bằng mô hình dới đây:
Hình 1.1
Từ mô hình cho thấy, điểm cân bằng thị trờng có tính cá nhân là mức sảnlợng QP với mức giá PP
2 Hiệu quả xã hội:
Bây giờ, chi phí cận biên của hoạt động chăn nuôi ta tính cả các chi phíbên ngoài Giả sử các chi phí bên ngoài do hoạt động sản xuất trên gây nên cóthể lợng hoá đợc bằng tiền và ký hiệu là EC Khi đó, chi phí cận biên xã hội SS
= SP + EC Lúc này, điểm can bằng đợc xác định thông qua mô hình dới đây:
Hình 1.2Qua mô hình (1-2) cho ta biết, điểm cân bằng thị trờng có tính xã hội ởmức sản lợng QS, thấp hơn sản lợng cân bằng cá tính cá nhân một lợng Q =
Trang 7(QP - QS) với mức giá PS cao hơn mức giá cân bằng thị trờng có tính cá nhânmột lợng P= (PS - PP) Do đó, khi ngoại ứng tiêu cực xảy ra, ta lầm tởng giáthành của sản phẩm tơng đối rẻ, nhng thực tế thì không phải nh mô tả ở hình1.2
III Tiếp cận các phơng pháp định giá hàng hoá môi trờng
Thờng những hàng hoá môi trờng nh không khí rạch, ao, hồ (để chothuận lợi, ta coi chúng là hàng hoá) không giống nh các hàng hoá thông thờngkhác nh tivi, tủ lạnh đợc mua bán trên thị trờng, tức chúng có thể tính đợc số l-ợng và có giá trị về mặt tiền tệ Mà hầu hết các hàng hoá môi trờng gần nh là
"hàng hoá công cộng" hay "hàng hoá hỗn hợp" Các hàng hoá này hoặc không
đợc định giá hặc chúng đợc định giá không hợp lý Các hàng hoá nh than,uranium và các khoáng chất có thể đợc định giá không hợp lý Bởi vì, giá cảcủa chúng thờng không phản ánh đúng giá trị của tất cả các hàng hoá môi tr-ờng đợc sử dụng trong quá trình khai thác Ví dụ, giá một tấn than năm 1990
là 45USD Tuy nhiên, giá cả này chủ yếu dựa vào một loạt các hoạt động cụthể nh khai thác quặng này từ lòng đất, tách chất kháng ra khỏi quặng, vậnchuyển chúng đến địa điểm tiêu dùng hợp lý Nếu chúng ta tính giá trị của cácyếu tố liên quan khác nh số lợng cây đã bị phá huỷ, các loài vật hoang dã hoặc
đã bị tiêu diệt hoặc bị thay thế, và sự ô nhiễm của các hệ thống nớc nguồn bởicác chất thải axit Vậy là giá cả của một tấn than có thể cao hơn nhiều so với45USD Các yếu tố nêu trên trong thực tế là các ngoại ứng môi trờng, có nghĩa
là một loạt các tác động không đợc định giá, mà tạo ra một sự xung đột lẫnnhau giữa những ngời khai thác khoáng sản và số ngời sống xung quanh đó.Nếu nh chúng ta có đợc những phơng pháp đánh giá các hàng hoá môi trờngnày bằng tiền, và đa chúng vào việc hình thành các chính sách phát triển thìchúng ta có thể đa ra những quyết định thích hợp hơn về môi trờng so vớinhững quyết định hiện hành về môi trờng
Trong vòng hơn 50 năm qua, các nhà kinh tế đã có những cống hiến xuấtsắc trong việc đánh giá hàng hoá môi trờng Tuy nhiên, nó có thể vẫn là lĩnhvực thách thức nhất đối với kinh tế học môi trờng cho đến nay, các phơngpháp định giá hàng hoá môi trờng có thể đợc chia làm 3 nhóm:
Các phơng pháp sử dụng nhận thức về nhu cầu (phơng pháp bằng lòngchi trả: W.T.P)
Các phơng pháp sử dụng nguyên tắc chi phí cơ hội (phơng pháp chi phícơ hội)
Phơng pháp sử dụng các vật thay thế (phơng pháp chi phí thay thế)
1 Phơng pháp sử dụng nhận thức về nhu cầu (phơng pháp bằng lòng chi trả: W.T.P)
Trang 8W.T.P hay nhu cầu về một loại hàng hoá nào đó là sự thể hiện về lợi ích
mà ngời tiêu thu đạt đợc bằng mua hàng hoá đó Khoáng dới đờng cong cầu
về một loại hàng hoá là thớc đo những lợi ích mà hàng hoá đó cung cấp Nếu
nh bằng cách nào đó, ta có thể đa ra đờng cong cầu cho các hàng hoá môi ờng thì chúng ta có thể tính đợc số lợng lợi ích mà các hàng hoá đó đem lại.Tuy nhiên, điều khó khăn là ở chỗ nhu cầu về hàng hoá môi trờng không thể
đa ra trực tiếp nh đối với các hàng hoá mà ta có thể sử dụng thông tin thị ờng Mặc dù một số nhà nghiên cứu đã đa ra những câu hỏi trực tiếp nh điềutra mẫu một số ngời, xem họ sẽ sẵn sàng trả bao nhiêu tiền cho các hàng hoámôi trờng nh không khí trong lành, khu c trú liên hợp, nhng phơng pháp nàycũng không thu đợc kết quả khả quan lắm Tuy nhiên, với một số phơng phápgián tiếp thì ngời ta cũng có thể thu đợc thành công ở một mức độ nào đó Tr-ờng hợp phổ biến nhất trong những phơng pháp này chính là phơng pháp chiphí du lịch
tr-Phơng pháp chi phí du lịch: phơng pháp này đợc sử dụng hữu ích trongviệc đánh giá chất lợng của các khu thiên nhiên cung cấp giải trí, nơi mà mọingời thờng lui tới để tổ chức các hoạt động giải trí nh picnic, đi dạo Giả thiếtcơ bản là chất lợg môi trờng đợc thể hiện ở chất lợng ở các dịch vụ giải trí màmôi trờng cung cấp Giả thiết này trực tiếp ngụ ý rằng
Nhu cầu về giải trí bằng nhu cầu về khu vực tự nhiên Giả sử chúng tamuốn tính đợc giá trị bằng tiền của một công viên quốc gia, nơi mà mọi ngờithờng lui tới để giải trí Chúng ta lại giả thiết rằng, tất cả mọi ngời tới côngviên này đều có thị hiếu và thu nhập tơng tự nh nhau Nếu chúng ta không đa
ra giả thiết này, thì đờng cong cầu thu đợc từ phơng pháp này sẽ không thểhiện chính xác nhu cầu về giải trí ở công viên đó Phơng pháp này đợc dựa têncác bớc chủ yếu sau đây:
Bớc 1: Chọn một số ngời thờng xuyên lui tới công viên.
Bớc 2: Hỏi từng ngời trong số đó 2 câu hỏi:
+ Quãng đờng mà họ phải đi tới công viên này là bao xa?
+ Hàng năm họ đi tới công viên này bao nhiêu lần
Bớc 3: Phân loại những ngời thờng đi tới công viên theo nhóm dựa trên
cơ sở khoảng cách mà họ phải đi tới công viên Nghĩa là, những ngời cókhoảng cách tơng tự nhau sẽ ghép vào một nhóm
Bớc 4: ớc tính chi phí đi lại và số lần đi tới cong viên của từng nhóm Bớc 5: Xem xét mối quan hệ giữa chi phí đi lại và số lần đi tới công viên
với nhau
Trang 9Mối quan hệ giữa chi phí đi lại và số lần đi đợc coi là thể hiện nh cầu giảitrí Có nghĩa là, chúng ta giả sử rằng, chi phí lại thể hiện trị giá giải trí và rằng
số lần đi thể hiện lợng giải trí Dữ liệu giả thiết đa ra trong bảng 2.1 thể hiệnphơng pháp này
Nhóm 1 Khoảng cách đến
công viên (km)
Chi phí đi đến côngviên (USD)
là kiểu quan hệ mà chúng ta có thể thấy ở bất kỳ đờng cung - cầu nào Vì vậy,
nh cầu giải trí sẽ đợc xác địh bởi mối quan hệ giữa hai cột cuối cùng của bảng2.1 và đợc biểu diễn trong hình 2.2
Hình 2.2
Ưu điểm của phơng pháp sử dụng nhận thức về nhu càu hay phơng phápbằng lòng chi tả (W.T.P) là đơn giản, dễ thực hiện, nhng nhợc điểm của nó làW.T.P xác định đợc thờng thấp hơn thực tế, thậm chí còn là mức tối thiểu Đểkhắc phục nhợc điểm của phơng pháp này, ta tiếp tục nghiên cứu các phơngpháp sau:
(Số lần đến)
P (USD): chi phí đi lại
DC đ ờng cầu về giải trí
Phần gạch chéo d ới đ ờng cầu = lợi ích của giải trí = lợi ích của khu vực tự nhiên (theo giả định)
0
Trang 102 Các phơng pháp sử dụng nguyên tắc chi phí cơ hội (phơng pháp chi phí cơ hội)
Những phơng pháp này thờng đợc áp dụng trong bối cảnh có các xung
đột giữa bảo tồn và phát triển Ví dụ, giả sử rằng bên dới lòng đất của cácvùng rừng nguyên sinh có một mỏ khoáng sản phong phú, "phát triển" sẽ liênquan tới việc tàn phá rừng tự nhiên để khai thác và "bảo tồn" sẽ liên quan đếnviệc giữ cho rừng nguyên sinh đợc nguyên vẹn, không bị phá huỷ Nh vậy, vấn
đề có liên quan đến chi phí cơ hội
Do đó, chúng ta phải xem xét khái niệm chi phí cơ hội: chi phí cơ ohộicủa một hoạt động là lợi ích thực cao nhất có thể có đợc khi khai thác theo
đuổi hoạt động đó Nếu chúng ta muốn bảo tồn môi trờng tự nhiên và muốn cóchi phí cơ hội cho việc bảo tồn môi trờng đó, chúng phải làm những việc sau:
Thứ nhất, lên danh sách tất cả các phơng án có thể làm ở khu vực đó.
Thậm chí, nếu khai khoáng là sự lựa chọn rõ ràng nhất Chúng ta cũng khôngthể ngăn chặn các lựa chọn khác nh đốn gỗ, phát triển nhà ở và phát triểnnông nghiệp
Thứ hai, dự tính lãi ròng của mỗi phơng án đợc liệt kê trong danh mục Thứ ba, chi phí cơ hội sẽ là phần lãi ròng cao nhất đợc dự tính.
Nh vậy, nếu chúng ta quyết định bảo tồn một địa điểm cụ thể nào đó vìmôi trờng độc đáo của nó, thì điều đó có nghĩa rằng, giá trị của nơi đó ít nhấtcũng phải tơng đơng với chi phí cơ hội của nó Tính toán chi phí cơ hội cũng
có hể giúp cho việc đa ra những đánh giá chủ quan về những quyết định pháttriển Ta có thể lấy ví dụ về cuộc tranh cãi xung quanh những hoạt động khaithác gỗ ở vùng Eđen trong những khu rừng nguyên sinh ở vùng đông nam NeuSouth Wales Rừng nguyên sinh mà chúng ta muốn nói đến ở đây là nhữngkhu rừng cha từng bao giờ bị khai thác để cungcấp gỗ Trong khi, các nhà pháttriển tuyên bố rằng: hoạt động khai thác gỗ đem lại một khỏan lợi tức từ xuấtkhẩu gỗ hàng năm là vào khoảng 40 triệu USD, thì theo đánh giá sơ bộ củacác nhà kinh tế trờng đại học Wollngong phần lãi ròng đem lại cho Austreliachỉ vào khoảng 17 triệu USD Sở dĩ nh vậy là vì hoạt động khai thác gốc đềuhoàn toàn thuộc về một công ty nớc ngoài và lãi mà Australia thu về thôngqua thuế và tiền thuê mà công ty nớc ngoài trả cho chủ sở hữu Một số ý kiếncho rằng, phần lãi thu về nhờ có khai thác gỗ cũng bao gồm cả phần lơng trảcho những ngời làm trong ngành lâm nghiệp Nhng các nhà kinh tế vẫn bảo lu
ý kiến cho rằng, chúng ta chỉ có thể tính cả lơng cho công nhân theo ớc tính
về lợi tức, nếu nh sự thiếu vắng của ngành khai thác gỗ dẫn đến nạn thấtnghiệp lâu dài cho những ngời làm công trong ngành lâm nghiệp Do đó, giá
Trang 11trị 17 triệu USD là dựa trên cơ sở giả định, nếu các nhà đầu t rời khỏi Eden,thì công nhân khai thác gỗ quanh Eden cũng đi tìm việc làm ở nơi khác.
Do sức ép của những ngời quan tâm đến việc bảo vệ môi trờng cũng nhcác nhà phát triển, nên chúng ta cũng cần phải đánh giá xem thực chất hoạt
động khai thác gỗ có giá trị 17 triệu USD hay không Giả sử, gỗ có thể đợccung cấp từ một địa điểm thay thế khác Chẳng hạn là từ các khu vực đã đợctái tạo rừng sau khi đã khai thác hết gốc của rừng nguyên sinh ở vùng trung vàbắc Neu South Wales Và cũng giả sử, do chi phí vận chuyển cao hơn, nênphần lãi thu đợc do sử dụng địa điểm khai thác thay thế giảm xuống còn 10triệu USD Phải chăng nếu có sẵn địa điểm thay thế này, thì chi phí cơ hội đểbảo tồn các khu vực rừng quanh Eden ở vùng đông nam Neu South wales sẽ là17-10 = 7 triệu USD
Theo định nghĩa đã trình bày ở trên, điều đó có nghĩa là, phần lãi ròngcao nhất mà chúng ta phải hy sinh nhằm bảo vệ những khu rừng nguyên sinh ởvùng Đông Bắc Neu South Wales là 7 triệu USD Điều này là đúng khi tìm ranguồn cung cấp gỗ thay thế cho phép mang lại khoản lãi ròng trên 10 triệuUSD
Nhợc điểm của phơng pháp này là nó đòi hỏi những phơng án đợc đa raphải tính đợc lãi ròng cho mỗi phơng án đó Điều này trong thực tế không dễthực hiện Tuy nhiên, khi lãi ròng của mỗi phơng án đợc xác định thì quyết
định lựa chọn phơng án là rất rõ ràng Và ta biết ngay đợc chi phí cơ hội choviệc lựa chọn phơng án là bao nhiêu, cũng nh có tính thuyết phục cao
3 Phơng pháp sử dụng các vật thay thế (phơng pháp chi phí thay thế).
Trong phạm vi chuyên đề của mình, em sử dụng phơng pháp này để địnhgiá môi trờng
Thuật ngữ "proxy" có nghĩa là một vật thay thế Nguyên lý cơ bản củanhững phơng pháp này là chúng ta có thể tìm thấy giá trị của môi trờng tựnhiên bằng cách tìm giá trị của những vật thay thế gần gũi
Nhợc điểm của phơng pháp này là không phải lúc nào cũng có thể tìmthấy đợc vật thay thế và nếu vật thay thế tìm đợc rồi nhng không phải ta luônlợng hoá đợc bằng tiền vật thay thế đó Tuy nhiên, khi vật thay thế đã đợc xác
định và lợng hoá bằng tiền thì việc định giá môi trờng rất thuận lợi
Bởi thế, mỗi phơng pháp đều có mặt mạnh và mặt yếu Tuỳ từng trờnghợp cụ thể mà áp dụng phơng pháp nào cho phù hợp
IV Tiếp cận lý luận quản lý môi trờng
1 Khái niệm về quản lý môi trờng
Trang 12* Khái niệm: Quản lý môi trờng là sự tác động liên tục, có tổ chức và ớng đích của chủ thể quản lý môi trờng lên cá nhân hoặc cộng đồng ngời tiếnhành các hoạt động phát triển trong hệ thống môi trờng và khách thể quản lýmôi trờng, sử dụng một cách tốt nhất mọi tiềm năng và cơ hội nhằm đặt đợcmục tiêu quản lý môi trờng đã đề ra, phù hợp với luật pháp và thông lệ hiệnhành.
h-Sự tác động liên tục, có tổ chức và hớng địch của chủ thể quản lý môi ờng chính là việc tổ chức thực hiện các chức năng của quản lý môi trờng nhằmphối hợp mục tiêu, và các động lực hoạt động của mọi nguồn nằm trong hệthống môi trờng để đạt tới mục tiêu chung của hệ thống môi trờng Việc sửdụng tốt nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống là việc sử dụng có hiệuquả nhất các yếu tố bên trong và bên ngoài của hệ thống môi trờng, trong điềukiện tơng tác với các điều kiện tơng tác với các hệ thống khác, chấp nhận cácrủi ro có thể xảy ra cho hệ thống
tr-* Thực chất của quản lý môi trờng: Quản lý môi trờng đợc tiến hànhchính là để tạo ra một hiệu quả hoạt động phát triển cao hơn, bền vững hơn sovới hoạt động của từng cá nhân riêng rẽ hay của một nhóm ngời Thực chấtcủa quản lý môi trờng là quản lý con ngời trong các hoạt động phát triển vàthông qua đó sử dụng có hiệu quả nhất mọi tiềm năng và cơ hội của hệ thốngmôi trờng
* Bản chất của quản lý môi trờng: Xét về bản chất kinh tế - xã hội, quản
lý môi trờng là các hoạt động chủ quan của chủ thể quản lý từ mục tiêu lợi íchcủa hệ thống, bảo đảm cho hệ thống môi trờng tồn tại, hoạt động và phát triểnlâu dài, cân bằng và ổn định vì lợi ích về vật chất và tinh thần của thế hệ hômnay và các thế hệ mai sau, vì lợi ích của cá nhân, cộng đồng, địa ph ơng, cùngquốc gia, khu vực và quốc tế Mục tiêu của hệ thống môi trờng do chủ thểquản lý môi trờng đảm nhận Họ là chủ sở hữu của hệ thống môi trờng và làngời nắm giữ quyền lực của hệ thống môi trờng Nói cách khác, bản chất củaquản lý môi trờng tuỳ thuộc vào chủ sở hữu của hệ thống môi trờng Đây là sựkhác biệt về chất giữa quản lý môi trờng trong nền kinh tế thị trờng tự do Đây
là một vấn đề lớn, rất phức tạp cần đợc tiếp tục nghiên cứu và tìm ra lời giảitối u, phù hợp với từng giai đoạn lịch sử của quá trình phát triển
2 Các phơng pháp quản lý môi trờng
Trang 13Phơng pháp hành chính trong quản lý môi trờng chính là các cách tác
động trực tiếp của chủ thể quản lý lên tập thể những ngời dới quyền bằng cácquyết định dứt khoát, mang tính bắt buộc, đòi hỏi họ phải chấp hành nghiêmchỉnh và nếu vi phạm sẽ bị xử lý kịp thời, thích đáng
Vai trò của các phơng pháp hành chính trong quản lý môi trờng rất tolớn Nó xác lập trật tự, kỷ cơng làm việc trong hệ thống khâu nối các phơngpháp khác lại thành một hệ thống, dấu đợc bí mật, ý đồ hoạt động và giảiquyết nhanh chóng các vấn đề đặt ra trong quản lý môi trờng
Các phơng pháp hành chính tác động vào đối tợng quản lý theo hai hớng:tác động về mặt tổ chức và tác động điều chỉnh hành vi của đối tợng
Theo hớng tác động về mặt tổ chức, chủ thể quản lý ban hành các vănbản quy định về quy mô, cơ cấu, điều lệ hoạt động, tiêu chuẩn nhằm thiết lập
tổ chức và xác định những mối quanhệ hoạt động trong nội bộ Theo hớng tác
động điều chỉnh hành vi của đối tợng quản lý, chủ thể quản lý đa ra những chỉthị, mệnh lệnh hành chính bắt buộc cấp dới thực hiện những nhiệm vụ nhất
định, hoặc theo những phơng hớng nhất định nhằm bảo đảm cho các bộ phậntrong hệ thống hoạt động ăn khớp và đúng hớng, uốn nắn kịp thời những lệchlạc, rủi ro có thể xảy ra
Các phơng pháp hành chính đòi hỏi chủ thể quản lý phải có quyết địnhdứt khoát, rõ ràng, dễ hiểu, có địa chỉ ngời thực hiện, loại trừ khả năng cónhững sự giải thích khác nhau đối với nhiệm vụ đợc giao
Tác động hành chính có hiệu lực ngay từ khi ban hành quyết định Vìvậy, phơng pháp hành chính hết sức cần thiết trong những trờng hợp hệ thốngquản lý rơi vào những tình huống khó khăn, phức tạp
Đối với những quyết định hành chính thì cấp dới bắt buộc phải thực hiện,không đợc lựa chọn Chỉ có ngời có thẩm quyền ra quyết định mới có quyềnthay đổi quyết định
Cần phân biệt phơng pháp hành chính với hiểu quản lý hành chính quanliêu do việc lạm dụng các kỷ luật hành chính, sử dụng mệnh lệnh hành chínhthiếu cơ sở khoa học, theo ý muốn chủ quan những mệnh lệnh kiểu đó thờng
dễ gây ra các tổn thất cho hệ thống, hạn chế sức sáng tạo của ngời thừa hành
Đó cũng là nhợc điểm của phơng pháp hành chính Các bộ quản lý và các cơquan quản lý nếu thiếu tỉnh táo, say sa với mệnh lệnh hành chính, thì dễ bị saovào tình trạng lạm dụng quyền hành, tạo điều kiện tốt cho bệnh chủ quan, duy
ý chí, bệnh hành chính quan liêu, các tệ nạn tham nhũng, đặc quyền, đặc lợiv.v
Sử dụng các phơng pháp hành chính đòi hỏi các cấp quản lý phải nắmvững những yêu cầu chặt chẽ sau đây:
Trang 14Một là, quyết định hành chính chỉ có hiệu quả cao khi quyết định đó cócăn cứ khoa học và thực tiễn.
Hai là, khi sử dụng phơng pháp hành chính phải gắn chặt quyền hạn vàtrách nhiệm của ngời ra quyết định
Tóm lại, các phơng pháp hành chính là hoàn toàn cần thiết, không có
ph-ơng pháp hành chính thì không thể quản lý môi trờng có hiệu quả
2.2 Các phơng pháp kinh tế
Các phơng pháp kinh tế tác động vào đối tợng quản lý thông qua lợi íchkinh tế, để cho các đối tợng quản lý tự lựa chọn phơng án hoạt động có hiệuquả nhất trong phạm vi hoạt động của họ
Mọi hoạt động phát triển của con ngời đều tuân theo các quy luật, đều ớng tới lợi ích Các phơng pháp kinh tế chính là các phơng pháp tác độngthông qua sự vận động của các phạm trù kinh tế, các đòn bảy kích thích kinh
h-tế, các định mức kinh tế - kỹ thuật, tức là về thực chất, các phơng pháp kinh tế
là một biện pháp để sử dụng các quy luật kinh tế vào quản lý môi trờng
Tác động thông qua lợi ích kinh tế chính là tạo ra động lực thúc đẩy conngời hoạt động bảo vệ môi trờng Động lực đó sẽ càng lớn nếu nh nhận thức
đầy đủ và kết hợp đúng đắn các lợi ích tồn tại khách quan trong hệ thống Mặtmạnh của phơng pháp kinh tế chính là ở chỗ, nó tác động vào lợi ích kinh tếcủa đối tợng quản lý, và xuất phát từ đó, ta có thể chọn phơng án bảo đảm cholợi ích chung cũng đợc thực hiện
Vì vậy, thực chất của các phơng pháp kinh tế là đặt mỗi cá nhân, mỗicộng đồng vào những điều kiện kinh tế để họ có khả năng kết hợp đúng đắnlợi ích của mình với lợi ích chung của hệ thống Điều đó ch phép cá nhân haycộng đồng lựa chọn con đờng có hiệu quả nhất để thực hiện nhiệm vụ củamình
Đặc điểm của phơng pháp kinh tế là chúng tác động lên đối tợng quản lýkhông bằng cỡng bức hành chính mà bằng lợi ích, tức là chỉ đề ra mục tiêu,nhiệm vụ phải đạt, đa ra những điều kiện khuyến khích về kinh tế, những ph-
ơng tiện vật chất có thể sử dụng để họ tự tổ chức việc thực hiện nhiệm vụ.Chính các cá nhân hay cộng đồng, vì lợi ích thiết thân của mình phải tự xác
định và lựa chọn phơng án giải quyết vấn đề Các phơng pháp kinh tế chấpnhận có thể có những giải pháp kinh tế khác nhau cho cùng một vấn đề Đồngthời, khi sử dụng phơng pháp kinh tế, chủ thể quản lý phải biết tạo ra nhữngtình huống, những điều kiện để lợi ích cá nhân và cộng đồng phù hợ với lợiích chung của hệ thống
Trang 15Các phơng pháp kinh tế tạo ra sự quan tâm vật chất thiết thân của đối ợng là sự quản lý, chứa đựng nhiều yếu tố kích thích kinh tế, cho nên chúngtác động rất nhạy bén, linh hoạt, phát huy đợc tính chủ động, sáng tạo của cánhân và cộng đồng Với một biện pháp kinh tế đúng đắn, các lợi ích đợc thựchiện thoả đáng, thì các cộng đồng ngời trong hệ thống quan tâm hoàn thànhnhiệm vụ quản lý môi trờng đợc giải quyết nhanh chóng, có hiệu quả các ph-
t-ơng pháp kinh tế là các pht-ơng pháp quản lý tốt nhất để thực hành tiết kiệm vànâng cao hiệu quả kinh tế trong quản lý môi trờng
Các phơng pháp kinh tế mở rộng quyền hoạt động cho các cá nhân và cấpdới, đồng thời cũng tăng trách nhiệm kinh tế của họ Điều đó làm cho chủ thểquản lý giảm đợc việc điều hành, kiểm tra, đôn đốc chi ly, vụn vặt mang tínhchất sự vụ hành chính, nâng cao ý thức kỷ luật, tự giác của con ngời Việc sửdụng các phơng pháp kinh tế luôn luôn đợc các chủ thể quản lý định hớng,nhằm thực hiện các nhiệm vụ, các mục tiêu bảo vệ môi trờng gò ép, mệnhlệnh chủ quan, mà là những mục tiêu, nhiệm vụ đặt ra có căn cứ khoa học vàthực tiễn, chủ thể quản lý môi trờng tác động lên đối tợng quản lý bằng cácphơng pháp kinh tế theo những hớng sau đây:
+ Định hớng phát triển chung bằng các mục tiêu, nhiêm vụ phù hợp với
điều kiện thực tế của hệ thống, bằng những chỉ tiêu cụ thể cho từng thời gian,cho từng phân hệ, từng cá nhân của hệ thống
+ Sử dụng các định mức kinh tế, các biện pháp đòn bẩy, kích thích kinh
tế để lôn cuốn, thu hút, khuyến khích các cá nhân và cộng đồng hoàn thành tốtnhiêm vụ bảo vệ môi trờng
+ Bằng chế độ thởng, phạt vật chất, trách nhiệm kinh tế chặt chẽ để điềuchỉnh hoạt động của các bộ phận, các cộng đồng, các cá nhân, xác lập trật tự,
kỷ cơng, xác lập chế độ trách nhiệm cho mọi bộ phận, mọi phân hệ, cho đếntừng ngời hoạt động trong hệ thống
Ngày nay, xu hớng chung của các nớc là mở rộng việc áp dụng các
ph-ơng pháp kinh tế trong quản lý môi trờng Muốn vay, cần lu ý một số khíacạnh quan trọng sau đây:
Một là, việc áp dụng các phơng pháp kinh tế luôn luôn gắn liền với việc
sử dụng các đòn bảy kinh tế nh giá cả, lợi nhuận, lãi suất, tiền lơng v.v Nóichung, việc sử dụng các phơng pháp kinh tế có liên quan chặt chẽ đến việc sửdụng các quan hệ hàng hoá - tiền tệ Để nâng cao hiệu quả sử dụng các phơngpháp kinh tế, phải hoàn thiện hệ thống các đòn bảy kinh tế, nâng cao năng lựcvận dụng các quan hệ hàng hoá- tiền tệ, quan hệ thị trờng
Hai là, áp dụng các phơng pháp kinh tế phải thực hiện sự phân cấp đúng
đắn giữa các cấp quản lý
Trang 16Ba là, sử dụng phơng pháp kinh tế đòi hỏi cán bộ quản lý môi trờng phải
có trình độ và năng lực về nhiều mặt, thông thạo nhiều kiến thức và kinhnghiệm quản lý, đồng thời có bản lĩnh vững vàng
2.3 Các phơng pháp giáo dục
Các phơng pháp giáo dục là các cách tác động vào nhận thức và tình cảmcủa cá nhân và cộng đồng nhằm nâng cao tính tự giác và nhiệt tình của họtrong việc quản lý và bảo vệ môi trờng
Các phơng pháp giáo dục có ý nghĩa lớn trong quản lý môi trờng Vì đốitợng quản lý là con ngời - một thực thể năng động, là tổng hoà của nhiều mốiquan hệ xã hội Do đó, để tác động lên con ngời không chỉ sử dụng các phơngpháp hành chính, kinh tế, mà còn phải có tác động tinh thần, tình cảm, tâm lýxã hội v.v
Các phơng pháp giáo dục đợc tiến hành dựa trên cơ sở vận dụng các quyluật tâm lý Đặc trng của các phơng pháp này là tính thuyết phục, tức là làmcho cá nhân và cộng đồng phân biệt đợc phải - trái, đúng - sai, lợi - hại, đẹp -xấu, để từ đó nâng cao tính tự giác và sự gắn bó với hệ thống
Các phơng pháp giáo dục thờng đợc sử dụng tốt đẹp với các phơng phápkhác một cách uyển chuyển, linh hoạt, vừa nhẹ nhàng, vừa sâu sắc đến từng ngời,từng cộng đồng, có tác động xã hội hoá công tác bảo vệ môi trờng
Mỗi phơng pháp nêu trên đều có những u, nhợc điểm Vì thế, cần phải sửdụng tổng hợp các phơng pháp để quản lý môi trờng, trong đó phơng phápkinh tế phải đợc đặc biệt quan trọng
Ch ơng II tổng quan về chăn nuôi khu vực xã Hồng hà
I Vị trí địa lý
Xã Hồng hà nằm ở phía Bắc của tỉnh Hà Tây, đông bắc giáp tỉnh VĩnhPhúc, phía tây giáp xã Trung Châu, phía nam giáp xã Hạ Mỗ và phía đônggiáp xã Liên Hồng Tổng diện tích đất tự nhiên là 9.664.300m2 trong đó250.551,2m2 là đất trồng lúa và 62.052,7m2 là đất thổ c, còn lại là đất bãi.Tổng dân số quý IV năm 2000 là 10.129 ngời, trong đó số ngời ở độ tuổi lao
động là 5.063 ngời chiếm 49,98% Số hộ là 2156 hộ, trong đó có 1940 hộ nuôilợn chiếm 90%
II Các hoạt động sản xuất của xã Hồng hà và quá trình phát triển của hoạt động sản xuất chăn nuôi
Từ trớc năm 1997, các hoạt động sản xuất nh trồng lúa ở trong đồng,trồng ngô, khoai lang ở ngoài bãi và đun rợu là các hoạt động giữa vai trò chủ
đạo ở xã Hồng Hà Bên cạnh đó, còn có các hoạt động sản xuất phụ khác nhlàm đậu, nuôi lợn Ngời dân chăn nuôi lợn lúc này chỉ nhằm tận dụng các thức
Trang 17ăn có sẵn nh khoai, ngô, rau xanh, nên quy mô chăn nuôi nhỏ, chỉ từ 1-3 đầulợn thịt/hộ và số hộ nuôi trong toàn xã chỉ chiếm 60% Những hoạt động nàychủ yếu nhằm phục vụ nhu cầu của chính quyền ngời dân trong xã.
Nhng bắt đầu từ năm 1997, chính quyền xã có chủ trơng đa lợn hớng nạctới các hộ dân, và thực hiện chăn nuôi bán công nghiệp, tức là một mặt tậndụng tối đa thức ăn có sẵn nh ngô, khoai lang, rau xanh và bã đậu, bỗng rợu,mặt khác kết hợp với cá công nghiệp do các công ty cung cấp Sau một năm,
số hộ nuôi thí điểm thu đợckết quả khá với mức lợi nhuận từ 20%-25% Do
đó, từ năm 1998 đến nay, số đầu lợn thịt tăng vọt với quy mô từ 4-15 đầu lợn/
1 hộ và tỉ lệ số hộ nuôi lợn trong xã chiêm 90% Kéo theo nó là các hoạt động
nh làm đậu, đun rợu cũng đợc mở rộng để lấy bã đầu và cám bỗng cho lợn ănrất tót Kết quả là, cho đến nay, hoạt động chăn nuôi lợn đã trở thành mộttrong những hoạt động sản xuất chính của ngời dân xã Hồng Hà Và sản lợnglợn thịt không chỉ phục vụ cho nhu cầu của chính quyền ngời dân trong xã màcòn cung cấp cho các thị trờng lân cận nh xã Hạ Mỗ, xã Tân Lập, xã Liên hà,xã Liên Trung và thị trờng Hà Nội là chính Do hoạt động chăn nuôi đêm lạihiệu quả kinh tế khá, nên đời sống của ngời dân trong xã đã đợc cải thiện mộtbớc đáng kể
III Hiện trạng của hoạt động chăn nuôi
1 Quy trình chăn nuôi lợn của ngời dân xã Hồng Hà
Bắt đầu từ lợn giống, lợn giống không đợc ngời dân xã Hồng Hà tự sảnxuất rồi nuôi thành lợn thịt, mà 95% số lợn giống đợc cung cấp từ bên ngoài,chỉ có 5% là tự sản xuất lấy Nguồn lợn giống đợc cung cấp từ 3 xã TrungChâu Liên Hồng và Hạ Mỗ Lợn giống mua về có khối lợng từ 10-15kg đợccho ăn bằng cám nấu chín gồm cám gạo, cám ngô, ban đầu thì chủ yéu là cámgạo sau tăng dần cám ngô, rau lang, rau muống cộng với một chút cám cò.Sau khoảng 10 ngày thì bắt đầu cho ăn nh cám bỗng để chúng quen dần vớiloại thức ăn mới Cám bỗng là thức ăn đợc lấy từ quá trình nấu rợu gạo Đây làloại thức ăn rất tốt, nó có tác dụng làm cho da lợn hồng hào, thịt thơm, ngon
Do đó, những con lợn rất thích đợcc ho ăn nhiều cám bỗng thì các chủ thịt lớnrất thích mua và bán chaỵ, Nuôi đợc khoảng 20 ngày thì các gia đình làm đậucũng bắt đầu cho lợn ăn bã đầu Đây là loại thức ăn rất tốt cho lợn Lúc lợnnuôi đạt trọng lợng từ 40-45kg lợn hơi thì bắt đầu đợc vỗ béo Khối lợng cámngô, cám cò lúc này cho ăn tăng lên và bắt đầu cho uống bột sắn hoà với nớc.Lợn đợc vỗ béo từ 40-45kg đến khi đạt trọng lợng khoảng 80kg thì bắt đầucho giết mổ cung cấp cho thị trờng Thời gian nuôi từ lợn giống đến lúc xuấtchuồng mất khoảng 5 tháng
2 Mô hình
2.1 Mô hình tính lợi nhuận
Trang 18 = TR - TCTrong đó TR: tổng doanh thu từ lợn
TC: tổng chi phí nuôi lợnr: lợi nhuận
TR = P Qtrong đó P: giá thị trờng (đồng/1kg thịt lợn hơi)
2.2 Mô hình tính lãi gộp:
Ký hiệu A: là khoản tiền ở năm gốc
r: là tỉ lệ lãi suất hàng nămPV: giá trị hiện tại của khoản tiền A
Do đồng tiền có giá trị theo thời gian Bởi nếu ta không sử dụng trực tiếp
đòng tiền ta có cho các hoạt động sản xuất, mà đem gửi vào ngân hàng thìhàng năm ngoài số tiền gốc gửi vào, ta còn có thêm một phần tiền với một tỉ lệlãi suất r nào đó
Nếu ta gửi một khoản tiền A vào ngân hàng thì sau một năm số tiền hiệntại của ta là:
Tơng tự nh vậy, sau t năm thì số tiền hiện tại của ta là:
PVt = A(q+r)t-1 + A(1+r)t-1 r = A(1+r)t-1(t-1) = A(1+r)t
Tổng quát, khi gửi một khoản tiền A vào ngân hàng với lãi suất r thì sau tnăm, số tiền hiện tại của năm thứ t là:
Trang 19PVt = A (1+ r)t
2.3 Mô hìh hồi quy t0ơng quan dãy số thời gian
Ta xét dạng phơng trình hồi quy đơn giản thờng đợc sử dụng là phơngtrình đờng thẳng:
t a a
áp dụng phơng pháp bình phơng nhỏ nhất sẽ có hệ phơng trình sau đây
để xác định giá trị của các tham số a0 và a1
1
.
t a t a y t
t a
a n y
t
n
t a y a
1
1 0
1 0
. y a t t a t t
y t n
n t a y a
n t a y a
)
( 2 1
1 0
n
y t y t n a
n
t a y a
.
2 1
1 0
n y n t n y t a
n t a y a
/ / /
/ / /
2 1
1 0
.
t t
y t y t
Tổng doanh thu TR = P.Q Chi phí bìnhquân cho
1kg lợn hơi C
Tổng chi phí
TC = P.Q
Tổng lợi nhuận
= TR-TC
1998 603.040 10.000 6.030.400.000 8.200 4.944.928.000 1.085.472.000
1999 771.920 10.500 8.105.160.000 8.730 6.378.861.600 1.366.298.400
2000 820.560 10.700 8.779.992.000 8.940 7.335.806.400 1.444.185.600
Trang 20Bảng 2.1
4 Hiệu quả kinh tế của hoạt động chăn nuôi
Từ bảng 2.1 cho thấy, tổng lợi nhuận năm 1998 là 1.085.472.000đồng, tỉsuất lợi nhuận đạt 22%
Năm 1999 là 1.366.298.000 (đồng), tỉ suất lợi nhuận đạt 20,27%
Năm 2000 là 1.444.185.600 (đồng), tỉ suất lợi nhuận đạt xấp xỉ 19, 7%Nếu lấy tỉ lễ lãi suất hàng năm r = 10% thì tổng lợi nhuận của 3 năm
5 Đánh giá hiệu quả:
Qua kết quả tính đợc ở phần trên cho thấy, tỉ suất lợi nhuận bình quân 3năm của hoạt động chăn nuôi đạt 20,55% Nh vậy, chăn nuôi là hoạt động sảnxuất mang lại hiệu quả kinh tế khá Theo dự báo của các nhà chuyên môn xãHồng Hà, quy mô của hoạt động chăn nuôi lợn vẫn tiếp tục đợc mở rộng trongnhững năm tới, nhng với tốc độ chậm hơn Nó không tăng đột biến nh giữanăm 1998-1999, tăng từ 7.538 đầu thịt lợn năm 1998 lên 9649 đầu lợn năm
1999 Dự báo trên là điều dễ hiểu, bởi đặc điểm của chăn nuôi lợn là nuôi tạigia đình các hộ dân, mà diện tích của mỗi hộ hạn hẹp Do đó, quy mô chănnuoi chỉ tăng tới một số lợng nhất định, sau đó ổn định
Trang 21Từ số liệu có đợc của sản lợng lợn trong 3 năm 1998, 1999 và 2000, ta cóthể lập thành một hàm xu thế theo thời gian để dự báo về sản lợng lợn cácnăm tới.
áp dụng cách lập hàm xu thế đợc trình bày ở mục 2.3 thuộc phần III củachơng này ta có:
t a a
.
t
y
t t y t a
n
t y y