Ảnh hưởng của thành phần đất phủ bãi chôn lấp đến độ cứng của nước rỉ rác Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Trung Việt 2003 đã đưa ra những kết luận sau: Độ cứng nói chung, canxi nói
Trang 1KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG
ĐÁNH GIÁ VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP CẢI TẠO HỆ THỐNG
XỬ LÝ NƯỚC RỈ CỦA BÃI RÁC SÓC VỒ - SÓC TRĂNG
Trang 2XÁC NHẬN CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2015
Trang 3LỜI CẢM TẠ
Kết thúc cho một quá trình học tập trên giảng đường đại học là luận văn tốt nghiệp Luận văn có vai trò quan trọng: giúp chúng tôi tổng kết, củng cố kiến thức chuyên ngành, rèn luyện các kỹ năng thiết kế mô hình, kỹ năng phân tích trong phòng thí nghiệm, kỹ năng viết bài nghiên cứu và kỹ năng làm việc nhóm
Trong suốt quá trình thực hiện đề tài “Đánh giá và đề xuất giải pháp cải tạo hệ thống
xử lý nước rỉ của bãi rác Sóc Vồ - Sóc Trăng” do thầy Nguyễn Xuân Hoàng hướng
dẫn Chúng tôi đã học hỏi được nhiều kinh nghiệm quí báu từ Thầy như cách lựa chọn tài liệu, sắp xếp thời gian, tính trách nhiệm và kỷ luật Những kinh nghiệm này giúp chúng tôi tự tin hơn, vững chắc và trưởng thành hơn trong con đường học tập và làm việc sau
này
Để có thể hoàn thành đề tài, ngoài sự cố gắng của bản thân, chúng tôi còn nhận được rất nhiều sự động viên, khích lệ từ nhiều phía
Đầu tiên, chúng con xin gửi lòng biết ơn Cha mẹ và người thân trong gia đình đã ủng hộ
cả về mặt vật chất lẫn tinh thần, luôn quan tâm và động viên con trong những lúc chúng con gặp khó khăn
Xin chân thành cảm ơn quý thầy cô Bộ môn Kỹ thuật môi trường đã hỗ trợ và giúp đỡ chúng em trong thời gian vừa qua, đặc biệt là thầy Việt, thầy Toản, thầy Thành, cô Vân Xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Ban lãnh đạo Công ty TNHH MTV Công Trình Đô Thị Tỉnh Sóc Trăng, đặc biệt là ông Đậu Đức Hiển và anh Thái Bình Khuôl đã tận tình giúp
đỡ, tạo điều kiện cho chúng em tiếp cận lấy mẫu, khảo sát và hỗ trợ cho công tác vận chuyển và phân tích mẫu
Cuối cùng, cảm ơn bạn bè và tập thể lớp Kỹ thuật môi trường K38 đã chia sẻ, giúp đỡ và động viên chúng tôi
Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng do còn kiến thức còn hạn chế và thời gian thực hiện
đề tài tương đối ngắn nên chắc chắn không tránh khỏi sai sót, rất mong nhận được những
ý kiến đóng góp từ phía quý thầy cô và các bạn để đề tài được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Cần Thơ, ngày tháng năm 2015
Nguyễn Cẩm Đỉnh Nguyễn Bảo Lời
Trang 4MỤC LỤC
MỤC LỤC……….i
DANH SÁCH BẢNG……… iii
DANH SÁCH HÌNH………iv
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT……… vi
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
CHƯƠNG 2: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 3
2.1 GIỚI THIỆU VỀ NƯỚC RỈ TỪ RÁC 3
2.1.1 Định nghĩa nước rỉ từ rác 3
2.1.2 Quá trình hình thành nước rỉ từ rác 3
2.1.3 Thành phần hóa lý của nước rỉ từ rác 3
2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đén thành phần của nước rỉ từ rác 4
2.1.5 Các công nghệ xử lý nước rỉ rác ở Việt Nam 7
2.2 CÁC PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ NƯỚC RỈ RÁC 8
2.2.1 Tổng quan về phương pháp keo tụ tạo bông 9
2.2.2 Sơ lược về bể bùn hoạt tính 19
2.2.3 Sơ lược về thiết kế bể UASB 26
2.2.4 Sơ lược về quá trình lắng và bể lắng 28
2.3 TỔNG QUAN VỀ BÃI RÁC SÓC VỒ - SÓC TRĂNG 29
2.3.1 Đặt trưng khí hậu 29
2.3.2 Đặc điểm chế độ thủy văn tỉnh Sóc Trăng 30
2.3.3 Đặt điểm kinh tế, xã hội 31
2.3.4 Một số biện pháp xử lý tại bãi rác phường 7 31
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP VÀ PHƯƠNG TIỆN THÍ NGHIỆM 32
3.1 ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN THỰC HIỆN 32
3.2 ĐỐI TƯỢNG THÍ NGHIỆM 32
3.2.1 Nước rỉ từ rác 32
Trang 53.2.2 Bùn hoạt tính 33
3.2.3 Bùn yếm khí 33
3.3 PHƯƠNG TIỆN NGHIÊN CỨU 33
3.3.1 Hóa chất 33
3.3.2 Phương tiện thí nghiệm 33
3.4 CÁC CHỈ TIÊU PHÂN TÍCH VÀ PHƯƠNG PHÁP 40
CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ VÀ ĐỀ XUẤT PHƯƠNG ÁN 42
4.1 ĐÁNH GIÁ HỆ THỐNG XỬ LÝ NƯỚC RỈ HIỆN HỮU 42
4.1.1 Đánh giá chất lượng nước thải đầu vào 42
4.1.2 Đánh giá công nghệ và hệ thống xử lý nước thải nước thải hiện hữu 43
4.2 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP CẢI TIẾN HỆ THỐNG 45
4.2.1 Thí nghiệm 1: Thí nghiệm mô hình kiểm chứng qui mô phòng thí nghiệm 45
4.2.2 Đề xuất quy trình công nghệ cải tiến 50
4.3 THÍ NGHIỆM 2: MÔ HÌNH CẢI TIẾN QUI MÔ PHÒNG THÍ NGHIỆM 56
4.3.1 Thí nghiệm định hướng 1: xác định liều lượng các chất keo tụ trong khoảng chất keo tụ từ 1300 – 1500 mg/L trên thiết bị Jartest (với tỉ lệ PAC:Vôi = 1:1) 56
4.3.2 Thí nghiệm định hướng 2: xác định liều lượng các chất keo tụ trong khoảng chất keo tụ từ 500 – 900 mg/L trên thiết bị Jartest 57
4.3.3 Thí nghiệm vận hành trên mô hình bể keo tụ - BBHT- Bể lắng – Bể lọc 58
CHƯƠNG 5: TÍNH TOÁN VÀ THIẾT KẾ HỆ THỐNG XỬ LÝ NƯỚC THẢI THEO QUI TRÌNH CẢI TIẾN 64
5.1 BỂ KEO TỤ - TẠO BÔNG VÀ LẮNG 65
5.2 BỂ BÙN HOẠT TÍNH 68
5.3 BỂ LẮNG THỨ CẤP 75
5.4 BỂ LỌC CÁT 78
CHƯƠNG 6: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 79
6.1 KẾT LUẬN 79
6.2 KIẾN NGHỊ 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
PHỤ LỤC 1 83
PHỤ LỤC 2 90
PHỤ LỤC 3 93
Trang 6DANH SÁCH BẢNG
Bảng 2.1 Các số liệu tiêu biểu về thành phần và tính chất của nước rỉ rác từ các bãi
chôn lấp mới và lâu năm 4
Bảng 2.2 Các hóa chất thường sử dụng trong quá trình keo tụ 11
Bảng 2.3 Ưu và nhược điểm của các chất keo tụ 13
Bảng 2.4 Liều lượng chất keo tụ ứng với các liều lượng khác nhau của các tạp chất
nước thải 14
Bảng 2.5 So sánh hiệu suất loại bỏ chất ô nhiễm có và không sử dụng hóa chất 19
Bảng 2.6 Thời gian tồn lưu nước của một số loại bể bùn hoạt tính 23
Bảng 2.7 Tải nạp COD cho bể UASB (ở 30oC) để đạt hiệu quả xử lý 85 – 95% 27
Bảng 2.8 Vận tốc nước đi lên và chiều cao của bể UASB 28
Bảng 2.9 Thành phần chất thải rắn tại thành phố Sóc Trăng 29
Bảng 3.1 Các phương pháp và phương tiện nghiên cứu 40
Bảng 4.1 Bảng nhận xét và đánh giá hệ thống xử lý nước rỉ hiện hữu 44
Bảng 4.2 Các chỉ tiêu phân tích đầu vào, đầu ra của thí nghiệm 1 46
Bảng 4.3 Phân tích ưu điểm và nhược điểm của các qui trình công nghệ 54
Bảng 4.4 Điểm số và gia trọng của từng qui trình công nghệ 55
Bảng 4.5 Các chỉ tiêu phân tích đầu vào, đầu ra của thí nghiệm 2 58
Bảng 4.6 Chi phí hóa chất xử lý nước rỉ từ rác bằng keo tụ 63
Bảng 5.1 Các thông số đầu vào bể bùn hoạt tính 68
Bảng 5.2 Các thông số động lực học của quá trình nitrat hóa 69
trong môi trường bùn hoạt tính lơ lửng ở 200C 69
Bảng 5.3 Các giá trị nạp tiêu biểu để thiết kế bể bùn hoạt tính theo kiểu
truyền thống 69
Bảng 5.4 Các thông số tham khảo để thiết kế bể lắng thứ cấp 75
Trang 7DANH SÁCH HÌNH
Hình 2.1 Sơ đồ Công nghệ xử lý nước rỉ từ rác cho bãi chôn lấp Nam Sơn- Hà Nội,
Thành Phố Hạ Long và Thành Phố Đà Nẵng 7
Hình 2.2 Sơ đồ Công nghệ xử lý nước rỉ từ rác ở khu liên hiệp xử lý chất thải rắn Tây Bắc- TP Hồ Chí Minh 8
Hình 3.1 Vị trí lấy mẫu nước thải 32
Hình 3.2 Mô hình bể bùn hoạt tính thí nghiệm 1 34
Hình 3.3 Mô hình bể lắng thí nghiệm 1 35
Hình 3.4 Sơ đồ thí nghiệm trên Jartester 36
Hình 3.5 Mô hình bể keo tụ-tạo bông và lắng thí nghiệm 2 37
Hình 3.6 Mô hình bể bùn hoạt tính thí nghiệm 2 38
Hình 3.7 Mô hình bể lắng thí nghiệm 2 39
Hình 3.8 Mô hình bể lọc thí nghiệm 2 39
Hình 4.1 Sơ đồ công nghệ của hệ thống hiện tại 43
Hình 4.2 Kế hoạch các bước thực hiện 45
Hình 4.3 Nồng độ COD, BOD5, SS (mg/L) đầu vào và đầu ra thí nghiệm 1 47
Hình 4.4 Nồng độ N tổng, N-NH3, P tổng (mg/L) đầu vào và đầu ra thí nghiệm 1 48
Hình 4.5 Nồng độ Cu (mg/L) đầu vào và đầu ra thí nghiệm 1 49
Hình 4.6 Nước thải đầu vào và đầu ra của thí nghiệm 1 50
Hình 4.7 Quy trình công nghệ 1 51
Hình 4.8 Qui trinh công nghệ 2 52
Hình 4.9 Qui trình công nghệ 3 53
Hình 4.10 Độ đục và pH của nước rỉ sau khi keo tụ với các liều lượng chất keo tụ
từ 1300 – 1700 mg/L 56
Hình 4.11 Độ đục và pH của nước rỉ sau khi keo tụ với liều lượng chất keo tụ từ 500-900 mg/L 57
Hình 4.12 Nồng độ COD, BOD5, SS (mg/L) đầu vào và đầu ra thí nghiệm 2 59
Hình 4.13 Nồng độ N tổng, N-NH3, P tổng (mg/L) đầu vào và đầu ra thí nghiệm 2 60
Hình 4.14 Nồng độ Cu (mg/L) đầu vào và đầu ra thí nghiệm 2 61
Trang 8Hình 4.15 Chất lượng nước thải sau xử lý của thí nghiệm 2 62
Hình 5.1 Qui trình công nghệ cải tiến 64
Hình 5.2 Mặt cắt bể lắng thứ cấp 77
Trang 9DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BOD Biochemical Oxygen Demand Nhu cầu oxy sinh hóa
COD Chemical Oxygen Demand Nhu cầu oxy hóa học
MLVSS Mixed Liqouz Volatile
Suspended Solids
Hàm lượng vật chất rắn bay hơi
RBC Rotating Biological Contactor Đĩa tiếp xúc sinh học
TSS Total Suspended Soild Tổng các chất rắn lơ lững
Trang 10
CHƯƠNG 1:
GIỚI THIỆU
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong xu thế phát triển kinh tế xã hội, với tốc độ đô thị hóa ngày càng tăng và sự phát
triển mạnh mẽ của các ngành công nghiệp, dịch vụ, du lịch,…kéo theo mức sống của
con người cũng được nâng cao và nhu cầu của con người ngày càng thay đổi Hệ quả
của sự phát triển ấy là một loạt các vấn đề về môi trường như trái đất nóng lên, ô nhiễm
không khí, ô nhiễm nguồn nước, mực nước biển dâng hay biến đổi khí hậu, ô nhiễm do
chất thải rắn,… một trong những vấn đề đáng quan tâm nhất đó là tình trạng chất thải
rắn của đô thị phát sinh ngày càng nhiều và ngày càng khó kiểm soát
Các chất thải rắn rất đa dạng về thành phần và tính chất, nếu không được xử lý tốt sẽ là
mầm mống gây bệnh ảnh hưởng đến sức khỏe người dân, gây mất mỹ quan đô thị, ô
nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến kinh tế-xã hội Theo báo cáo hiện trạng môi trường
tỉnh Sóc Trăng (2009), số lượng chất thải rắn sinh ra hàng ngày tại thành phố Sóc
Trăng là 122,25 tấn/ngày Cũng trong báo cáo này dự báo lượng chất thải rắn sẽ có
nhiều thay đổi, ước tính tăng thêm khoảng 60% mỗi năm Dự báo này cho thấy chi phí
cho việc xử lý và diện tích cần thiết của những bãi chôn lấp hợp vệ sinh sẽ tương đối
lớn
Bãi rác Sóc Trăng là một bãi rác lớn có diện tích 5ha và được đặt cách trung tâm thành
phố Sóc Trăng 3 km Tất cả lượng chất thải rắn phát sinh của thành phố đều được xử lý
bằng phương pháp chôn lấp tại đây Trong quá trình chôn lấp rác, một lượng nước rỉ từ
rác được sinh ra và cần được xử lý Do bãi rác sử dụng công nghệ chôn lấp cũ nên việc
xử lý nước rỉ chưa hoàn chỉnh Mặc dù, Công ty TNHH MTV Công trình đô thị Sóc
Trăng đã đầu tư và xây dựng trạm xử lý nước rỉ rác cho bãi rác Sóc Vồ do vào năm
2013 với công suất 80 m3/ngày.đêm Nhưng sau hơn 1 năm đưa vào hoạt động trạm xử
lý gặp một số sự cố như bể xử lý lồng quay sinh học bị hư hỏng trục quay và được
chuyển sang sử dụng bể bùn hoạt tính, nhưng một số chỉ tiêu nước thải đầu ra của trạm
xử lý vẫn chưa đạt như BOD5, COD và màu nước rỉ vẫn còn màu khá đậm Nước rỉ rác
do bãi rác sinh ra đã và đang làm ảnh hưởng đến sức khỏe, sinh hoạt và sản suất của
người dân xung quanh khu vực bãi rác Mặc dù bãi rác có hệ thống xử lý nước rỉ nhưng
do các sự cố trong việc vận hành hệ thống nên nước thải đầu ra chưa đủ tiêu chuẩn để
xả thải ra ngoài môi trường Vì thế, vấn đề này đang gây áp lực cho Ban quản lý bãi rác
và gây ra sự lo lắng của người dân trong khu vực xung quanh
Trước thực trạng trên việc cải tạo trạm xử lý là một vấn đề cần thiết và quan
trọng Vì vậỵ, đề tài “Đánh giá và đề xuất giải pháp cải tạo hệ thống xử lý nước rỉ
của bãi rác Sóc Vồ - Sóc Trăng” nhằm tìm ra phương án tối ưu cho việc xử lý nước
Trang 11rỉ tại bãi rác Sóc Vồ đạt tiêu chuẩn cho phép, góp phần vào việc bảo vệ môi trường
của khu vực kênh Maspero
1.2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1 Mục tiêu chung
Thiết kế và cải tạo lại hệ thống xử lý nước rỉ rác tại bãi rác Sóc Vồ - Sóc Trăng,
công suất 80 m3/ngày.đêm đạt cột B1 QCVN 25: 2009/BTNMT về nước thải của bãi
chôn lấp chất thải rắn
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Khảo sát và đánh giá hiện trạng của hệ thống xử lý hiện tại
- Đánh giá hiệu quả xử lý của qui trình công nghệ của hệ thống hiện hữu qua mô hình
qui mô phòng thí nghiệm
- Đề xuất phương án cải thiện hệ thống và đánh giá hiệu quả xử lý của hệ thống đó
- Thiết kế cải tạo lại hệ thống xử lý nước thải của bãi rác Sóc Vồ theo qui trình công
nghệ cải tiến
Trang 12CHƯƠNG 2:
LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1 GIỚI THIỆU VỀ NƯỚC RỈ TỪ RÁC
2.1.1 Định nghĩa nước rỉ từ rác
Nước rỉ từ rác có thể định nghĩa là lượng chất lỏng thấm qua rác bao gồm: chất
lỏng sinh ra trong quá trình phân hủy rác và các chất lỏng đi vào bãi chôn lấp từ các
nguồn bên ngoài như: nước mưa, nước chảy tràn trên mặt đất, nước ngầm và nước của
dòng chảy ngầm (Lê Hoàng Việt, 2003)
2.1.2 Quá trình hình thành nước rỉ từ rác
Theo Trần Hiếu Nhuệ và cộng tác viên (2001), nước rỉ từ rác (hay còn gọi là nước
rỉ rác) được hình thành khi nước thấm vào các ô chôn lấp Nước có thể thấm vào rác
theo một số cách sau đây:
- Nước sẵn có và tự hình thành khi phân hủy rác hữu cơ trong bãi chôn lấp
- Nước mưa rơi xuống khu vực chôn lấp rác trước khi được phủ đất và trước khi ô
rác đóng lại
- Nước mưa rơi xuống khu vực bãi chôn lấp sau khi ô rác đầy
- Nước có thể rỉ vào qua các cạnh (vách) của ô rác
- Nước từ các khu vực khác chảy qua có thể thấm xuống các ô chôn lấp
- Mực nước ngầm có thể dâng lên vào các ô chôn lấp
Lượng nước rỉ rác tạo ra được tính bằng tổng lượng nước đi vào bãi chôn lấp trừ đi
lượng nước tham gia vào các phản ứng hóa học, lượng nước bay hơi và lượng nước giữ
trong lớp rác
Lượng nước đi ra khỏi bãi chôn lấp bao gồm:
- Ngấm xuống tầng nước ngầm
- Bốc hơi từ bề mặt bãi chôn lấp rác
- Tạo thành dòng chảy và chảy vào các dòng nước mặt
2.1.3 Thành phần hóa lý của nước rỉ từ rác
Thành phần nước rỉ từ rác rất phức tạp vì một loạt các điều kiện tác động lên sự
hình thành của nước rác Thời gian chôn lấp, khí hậu, mùa, độ ẩm của bãi rác, mức độ
pha loãng với nước mặt và nước ngầm và các loại rác chôn lấp, tất cả đều tác động lên
thành phần của nước rác Độ nén, loại và độ dày của nguyên liệu phủ trên cùng cũng
tác động lên thành phần nước rỉ từ rác (Trần Hiếu Nhuệ, 2001)
Trang 13Bảng 2.1 Các số liệu tiêu biểu về thành phần và tính chất của nước rỉ rác
từ các bãi chôn lấp mới và lâu năm Thành phần Bãi lâu năm (trên 10 năm) Bãi mới (dưới 2 năm)
50 - 4200
700 - 15000 2,5 - 300
0 – 7,5
40 - 1750
400 - 1800 0,01 – 5,9
920 - 8070
950 - 15150
75 - 1150
55 - 500 0,12 -10 1,27 – 19,9
1150 - 9200
7,9 18,3
1050
5350
55 1,75
940
1100 0,48
4950
7600
340
210 3,0 8,8
580 - 10100
6,2 29,5
(Tatsi, Zouboulis, Matis và Samaras, 2003)
2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đén thành phần của nước rỉ từ rác
Theo Nguyễn Trung Việt (2003), thông qua nhiều nghiên cứu đã đưa ra những kết luận
về các yếu tố ảnh hưởng đến thành phần của nước rỉ rác như:
Ảnh hưởng do rác thải sinh hoạt
Do chất thải rắn sinh hoạt thường có nhiều thành phần khác nhau, từ chất hữu cơ dễ
phân hủy (thực phẩm thừa) đến các chất hữu cơ khó phân hủy (giấy, dầu mỡ ), từ các
chất không nguy hại đến các chất nguy hại,…Kết quả là nước rỉ rác cũng có nhiều
thành phần khác nhau Các thành phần của chất thải rắn ảnh hưởng đáng kể đến thành
phần và tính chất của nước rỉ rác
Ảnh hưởng của thành phần đất phủ bãi chôn lấp đến độ cứng của nước rỉ rác
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Trung Việt (2003) đã đưa ra những kết luận sau:
Độ cứng nói chung, canxi nói riêng là một trong những thành phần làm giảm đáng kể
hoạt tính bùn kỵ khí cũng như hiếu khí, dẫn đến làm giảm hiệu quả của các công trình
xử lý sinh học, do hiện tượng bêtông hóa (kết tủa CaCO3) trong các thiết bị phản ứng
và tích lũy thành phần vô cơ trong bùn
Trang 14Đối với nước rỉ rác từ các bãi chôn lấp có độ cứng và nồng độ Ca2+ cao là do lượng
canxi có sẵn trong thành phần chất thải rắn và lượng canxi có trong thành phần lớp vật
liệu phủ của bãi chôn lấp
Các thí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của thành phần của lớp đất phủ đã chứng minh
rằng khi sử dụng xà bần làm vật liệu phủ độ cứng tổng cộng và nồng độ Ca2+ tăng lên
đáng kể
Hơn nữa trong thành phần của nhiều loại đất phủ có chứa một hàm lượng lớn canxi và
các chất gây độ cứng (các ion kim loại hóa trị hai) do đó trong điều kiện CO2 cao sẽ
dẫn đến hòa tan các ion kim loại này và độ cứng tăng lên đáng kể
Độ cứng và nồng độ Ca2+ có trong nước rỉ rác của các bãi chôn lấp cao gây ảnh hưởng
rất lớn đến hiệu quả xử lý nước rỉ bằng phương pháp sinh học, làm giảm hiệu quả xử
lý chất hữu cơ
Ảnh hưởng của thời gian, một trong những yếu tố quan trọng
Theo thời gian, trong bãi chôn lấp có nhiều phản ứng sinh học và hóa học diễn ra, do
đó nồng độ các chất ô nhiễm nước rỉ có rất nhiều thay đổi
Theo nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới: Tất cả các bãi rác đều có khả năng phân
hủy tiềm tàng theo thời gian qua năm giai đoạn phân hủy khác nhau:
Giai đoạn thứ nhất: Phân hủy hiếu khí
Rác thải hữu cơ phân hủy dưới sự có mặt của oxy Vật chất có thể thối rửa (rau cải,
thức ăn thừa…) phân hủy rất dễ dàng và tiếp theo là giấy, bột gỗ, sợi thiên nhiên và
cao su
Giai đoạn này được đặc trưng bởi sự gia tăng nồng độ CO2 được sản sinh từ quá trình
hô hấp hiếu khí của vi sinh vật và sự tăng nhiệt độ của rác thải do quá trình phân hủy
phát nhiệt của vi sinh vật Thêm vào đó là sự gia tăng nồng độ của các acid carboxylic
(acid acetic, acid butyric…) trong nước rỉ - sản phẩm của quá trình chuyển hóa không
hoàn toàn của vi khuần
Giai đoạn này chỉ kéo dài một vài ngày hoặc một vài tuần trong bãi rác được vận hành
tốt Nếu trong bãi rác không được vận hành tốt, với độ dày đặc của rác thải và không
được đầm nén thì quá trình này có thể kéo dài hơn
Giai đoạn hai: Phân hủy kị khí
Giai đoạn này có thể kéo dài một vài tháng trong bãi rác vận hành tốt Trong khoảng
thời gian này, hàm lượng CO2 gia tăng khoảng trên 70% tổng thể tích lượng khí sinh
ra và hàm lượng acid carboxylic cũng tiếp tục tăng
Trong giai đoạn này, phần lớn là sự hình thành acid và vi khuẩn acetogenic, vi khuẩn
này chuyển hóa cellulose thành acid carboxylic (chủ yếu là acid acetic), CO2 và một
lượng nhỏ hydro
Trang 15Giai đoạn ba: Phân hủy kỵ khí – Tăng nồng độ khí methane
Oxy tiếp tục suy giảm và điện thế oxy hóa khử của nước rỉ từ rác khoảng 200mV, điều
kiện này rất thích hợp cho vi khuẩn methanogen phát triển Khoảng một vài tuần
lượng khí methane bắt đầu gia tăng và CO2 giảm, đó là do acid acetic được vi khuẩn
methanogen sử dụng để tạo methane, CO2 và nước Bên cạnh đó nhiệt độ của bãi chôn
lấp thường ổn định trong khoảng 40oC
Giai đoạn bốn: Giai đoạn phân hủy kỵ khí – Nồng độ khí methane ổn định
Giai đoạn này kéo dài ít nhất là 10 – 15 năm (nhưng không chắc chắn) trong vùng có
khí hậu điều hòa Giai đoạn này có những đặc trưng sau: lượng khí CH4 và CO2 được
giữ ổn định lần lượt ở khoảng 65% và 35%, hàm lượng acid carboxylic ít hơn và có sự
suy giảm dần dần lượng chất nền chứa cenllulose có sẵn trong rác thải
Giai đoạn năm: Sự gia tăng các thành phần khí của khí quyển
Chưa có nghiên cứu nào chứng minh sự phân hủy của rác thải là hoàn toàn Tuy nhiên,
bằng chứng từ các bãi rác cũ cho thấy cellulose có sẵn trong rác thải được vi khuẩn
methanogen sử dụng hết, hàm lượng methane và CO2 sẽ dần dần suy giảm Người ta đã
tranh luận với nhau rằng, một thời điểm nào đó trong tương lai, nồng độ oxy sẽ bắt đầu
gia tăng Cuối cùng là lượng rác thải còn lại sẽ được tái thiếp lập Trường hợp này chưa
được chứng minh trong bãi chôn lấp
Ảnh hưởng của lượng mưa đến thành phần nước rỉ rác
Vì nước ta nằm cận vùng xích đạo, không khí ẩm cao nên hằng năm các bãi chôn lấp
phải chịu một lượng mưa lớn, dao động trung bình khoảng 1.800 – 2.200 (mm)
Mặt khác, lượng mưa tập trung vào tháng sáu cuối năm chiếm tỷ lệ 80% thì mỗi năm
bãi chôn lấp rác sẽ chịu một lượng nước đổ vào 700 – 800 l/m2 Lượng nước mưa này
sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến nồng độ và thành phần chất ô nhiễm có trong nước rỉ rác
Ảnh hưởng của các mùa đến thành phần nước rỉ rác
Nồng độ chất ô nhiễm của nước rỉ rác có sự khác biệt theo mùa, đặc biệt đối với nước
rỉ mới rò rỉ Nồng độ các chất gây ô nhiễm khác như photpho tổng (Pt), nitơ tổng (Nt),
canxi, sắt tổng, độ cứng tổng,…vào mùa mưa nhỏ hơn vào mùa khô từ 30 – 40%
Các chỉ tiêu khác như pH, COD cũng thay đổi Trong mùa mưa pH thường trong
khoảng 6,5 – 7,2 cao hơn mùa nắng (4,8 – 6,2) Thêm vào đó lượng COD ở mùa mưa
tương đối thấp (dao động khoảng 6.621 – 31.950 mg/l, thấp hơn mùa nắng gần 3 lần)
khiến cho nước rỉ rác vào mùa mưa rất dễ tự phân hủy sinh học
Trang 162.1.5 Các công nghệ xử lý nước rỉ rác ở Việt Nam
a Công nghệ xử lý nước rỉ từ rác cho bãi chôn lắp Nam Sơn- Hà Nội, Thành Phố
Hạ Long và Thành Phố Đà Nẵng
Sơ đồ công nghệ sử dụng bể tuyển nổi áp lực, kết hợp xử lý sinh học kỵ khí với lớp
bùn lơ lửng, dòng nước hướng lên (bể UASB) và xử lý sinh học hiếu khí trong bể
aerotank với bùn hoạt hóa Nước rác được tập trung vào bể thu và nhờ bơm đưa nước
vào bể tuyển nổi áp lực Hiệu suất tách cặn lơ lửng ở bể tuyến nổi đạt cao hơn so với
bể lắng, tạo điều kiện tốt cho bể UASB hoạt động COD của nước sau khi qua bể
UASB giảm từ 4000-6000 mg/L xuống khoảng 300-500 mg/L đảm bảo tốt cho quá
trình sinh học hiếu khí trong bể aerotank Nước sau khi xử lý cũng thỏa mãn yêu cầu
xả ra nguồn theo tiêu chuẩn cột B1 QCVN 25:2009/BTNMT
Bể tuyển nổi
Bể lắng đợt II
Nguồn tiếp nhận
Xử lý bùn Bùn tuần hoàn
Trang 17b Công nghệ xử lý nước rỉ từ rác ở khu liên hiệp xử lý chất thải rắn Tây Bắc-
TP Hồ Chí Minh
Nước rỉ từ bãi rác được thu gom qua các ống thu, sau đó đem vào hố thu gom Một
ngày có khoảng 800 m3 nước rỉ Sau đó, nước rỉ được chứa trong 5 hồ, mỗi hồ sâu 5
m, ở lớp đáy hồ có 2 lớp vải địa kỹ thuật Tại đây, nước rỉ rác sẽ được châm hóa chất
Sau khi qua hồ trộn hóa chất nước rỉ rác được xử lý yếm khí để phân hủy các chất
hữu cơ và tiếp theo được xử lý hiếu khí để xử lý các chất hữu cơ còn lại đồng thời xử
lý mùi hôi của nước rỉ Nước đầu ra sẽ được qua cánh đồng lọc – khâu xử lý cuối
cùng và thải ra kênh Bùn từ quá trình xử lý yếm khí và hiếu khí sẽ được ủ thành phân
vi sinh và bán cho nông dân
Hình 2.2 Sơ đồ Công nghệ xử lý nước rỉ từ rác ở khu liên hiệp xử lý
chất thải rắn Tây Bắc- TP Hồ Chí Minh 2.2 CÁC PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ NƯỚC RỈ RÁC
Tùy theo bản chất của các phương pháp xử lý nước thải, người ta có thể chia chúng
thành phương pháp lý học, phương pháp hóa học, phương pháp sinh học Một hệ thống
xử ký hoàn chỉnh thường kết hợp đủ các thành phần kể trên Tuy nhiên, tùy theo tính
chất nước thải, mức độ tài chính và yêu cầu xử lý mà người ta có thể cắt bớt một số
đoạn (Lê Hoàng Việt, 2003)
Theo Ntampou, Zouboulis và Samaras (2005), nước rỉ rác được xem như một dạng
nước thải của ngành công nghiệp nặng Nước rỉ rác chứa các thành phần phức rất tạp
và mức độ độ ô nhiễm cao, đặc tính nổi bật của nó là nồng độ của nó là nồng độ chất
hữu cơ và kim loại nặng chiếm tỷ lệ khá lớn Trong các quy trình xử lý nước rỉ rác, hầu
hết các thành phần vô cơ như kim loại nặng thường được loại bỏ trước, sau đó mới tiếp
đến xử lý các thành phần hữu cơ Điều này đảm bảo cho việc cải thiện khả năng phân
hủy sinh học của nước rỉ rác, giúp tránh được những độc tính của kim loại cũng như
các tác nhân gây ức chế hoạt động của vi sinh vật, tạo điều kiện cho quá trình xử lý
sinh học đạt hiệu quả cao hơn
Trong quyển luận văn này chúng tôi sẽ lược khảo 2 phương pháp xử lý sử dụng trong
các thí nghiệm của chúng tôi:
Phương pháp hóa học: Phương pháp keo tụ và tạo bông
Phương pháp sinh học: Bể bùn hoạt tính và bể UASB
Hố thu gom Hồ trộn hóa chất Hồ xử lý yếm khí + hiếu khí
Cánh đồng lọc
Trang 182.2.1 Tổng quan về phương pháp keo tụ tạo bông
a Khái niệm
Keo tụ là một phương pháp xử lý nước có sử dụng hóa chất, trong đó các hạt keo lơ
lửng trong nước nhờ tác dụng của các chất keo tụ mà liên kết với nhau tạo thành các
hạt bông có kích thước lớn hơn và người ta có thể tách chúng khỏi nước một cách dễ
dàng bằng các biện pháp lắng lọc hay tuyển nổi (Nguyễn Thị Thu Thủy, 2003)
Theo Ngô Xuân Trường et al (2004) cho rằng keo tụ - kết bông là một trong những
hình thức xử lý nước thải làm các chất lơ lửng và các chất keo kết tủa lại thành những
hạt cặn có kích thước lớn hơn hoặc kết thành những bông cặn và có thể loại ra khỏi
nước bằng cách để lắng hoặc lọc chậm Nhờ keo tụ nước trở nên trong hơn và các vi
trùng gây bệnh bám vào các hạt sẽ bị khử đi
b Bản chất keo hạt nước
Theo Trịnh Xuân Lai (2004), trong quá trình xử lý nước ta thường gặp 2 loại keo:
Keo kị nước: keo không kết hợp với các phân tử nước của môi trường để tạo ra vỏ bọc
hyđrat, các hạt keo riêng biệt mang điện tích lớn và khi điện tích này được trung hòa
thì độ bền của hạt keo sẽ bị phá vỡ
Kéo háo nước: có khả năng kết hợp với các phân tử nước tạo thành vỏ bọc hyđrat, các
hạt keo riêng biệt mang điện tích bé và dưới tác dụng của các chất điện phân không bị
keo tụ
Trong quá trình xử lý nước thải bằng chất keo tụ thì keo kị nước đóng vai trò chủ yếu
các hạt keo mang điện tích âm trong nước hút các ion dương tạo thành hai lớp điện tích
dương bên trong và bên ngoài, các ion dương bên ngoài liên kết lỏng lẻo, nên dễ dàng
bị trượt ra làm điện tích âm của hạt giảm, do đó hiệu số điện nặng giữa hai điện thế
zeta bằng cách cho thêm các ion dương để phá vỡ sự ổn định của các hạt keo ở trạng
thái trung hòa, làm tăng khả năng keo tụ tạo bông
c Phương pháp keo tụ bằng hệ keo
Nguyễn Thị Thu Thủy (2003) cho rằng trong quá trình này người ta sử dụng muối
nhôm hoặc sắt hóa trị 3, còn gọi là phèn nhôm hoặc sắt làm chất keo tụ đây là hai loại
hóa chất rất thông dụng trong xử lý nước cấp, nhất là nước sinh hoạt Ưu điểm của các
loại phèn trên là chúng có khả năng tạo ra hệ keo kị nước và khi keo tụ thì tạo ra bông
cặn có bề mặt hoạt tính phát triển cao, có khả năng hấp thụ, thu hút, dính kết các tạp
chất và keo làm bẩn trong nước
Các muối này được đưa vào nước dưới dạng dung dịch hòa tan, trong dung dịch chúng
phân ly thành các cation và anion theo phản ứng sau:
Trang 19Al2(SO4)3 2Al3+ + 3SO4FeCl3 Fe3+ + 3Cl- Quan sát quá trình keo tụ dùng phèn nhôm, sắt có khả năng tạo ra ba loại bông cặn sau:
2-Loại thứ nhất là tổ hợp của các hạt keo tự nhiên bị phá vỡ thế điện động zeta, loại này
chiếm số ít
Loại thứ hai gồm các hạt keo mang điện tích trái dấu nên kết hợp với nhau và trung hòa
điện tích Loại này không có khả năng kết dính và hấp phụ trong quá trình lắng tiếp
theo, vì vậy số lượng cũng không đáng kể
Loại thứ ba được hình thành từ các hạt keo do thủy ngân chất keo tụ với anion có trong
nước nên bông cặn có hoạt tính bề mặt cao, có khả năng phụ chất bẩn trong khi lắng
tạo thành các bông cặn lớn hơn Trong xử nước bằng keo tụ, loại bông cặn thứ ba
chiếm ưu thế và có tính quyết định đến hiệu quả keo tụ nên các điều kiện ảnh hưởng
đến sự hình thành bông cặn loại này được quan tâm hơn cả
d Cơ chế của quá trình keo tụ
Theo Lâm Minh Triết (2006), khi chất keo tụ cho vào nước và nước thải, các hạt keo
bản thân trong nước bị mất tính ổn định, tương tác với nhau kết cụm hình thành các
bông cặn lớn, dễ lắng Quá trình mất tính ổn định của hạt keo là quá trình hóa phức tạp,
có thể giải thích dựa trên các cơ chế sau:
Giảm điện thế zeta tới giá trị mà tại đó dưới tác dụng của lực hấp dẫn Van der Waals
cùng với năng lượng khuấy trộn cung cấp thêm, các hạt keo trung hòa kết cụm và tạo
thành bông cặn;
Các hạt kết cụm lại do sự hình thành cầu nối giữa các nhóm hoạt tính trên hạt keo;
Các bông cặn đã hình thành khi lắng xuống sẽ bắt giữ các hạt keo trên quỹ đạo lắng
e Các chất keo tụ
Hóa chất được sử dụng làm keo tụ phổ biến là:
FeCl3: clorua sắt (III)
FeSO4: sulfat sắt (II)
Al2SO4: sulfat nhôm (III)
Polyalummiumchloride (PAC)
Ngoài ra, vôi Ca(OH)2 và carbonate natri Na2CO3 cũng được sử dụng để tạo thuận lợi
cho việc kết bông Liều lượng hóa chất phải được thử nghiệm dần trong phòng thí
nghiệm hóa nước để xác định liều lượng thích hợp cho nhu cầu dùng nước Ngoài ra,
các hóa chất polyelectrolyte có thể dùng như một chất phụ gia để tăng tính keo tụ và
làm cho lắng đọng có hiệu quả hơn (Ngô Xuân Trường et al 2004)
Trang 20Bảng 2.2 Các hóa chất thường sử dụng trong quá trình keo tụ Tên hóa chất Công thức Trọng lượng phân
(Metcalf & Eday, 1991)
Phèn nhôm
Nhôm sulfat Al2(SO4)3.18H2O hay nhôm clorua là chất keo tụ truyền thống sử dụng
rộng rãi Phèn đơn loại tiêu chuẩn (nhôm sulfat) có hàm lượng nhôm oxit tính theo
Al-2O3 là 15,5% (8,1% Al3+) Khi sử dụng phèn nhôm muối nhôm bị thủy phân và tạo ra
axit, mỗi ion Al3+ tạo ra 3 ion H+, tức là 1Kg phèn nhôm tạo 0,75 lít axit clohyđric đặc
(36%) Axit sinh ra sẽ làm nồng độ giảm độ kiềm của nước và làm giảm độ pH Do sau
khi keo tụ, nước được tiếp tục xử lý vi sinh để oxi hóa amonmi và chất hữu cơ với
vùng pH tối ưu của nó la khoảng 8-9, quá trình cần một lượng kiềm khá lớn, vì vậy chế
độ keo cần đảm bảo hài hòa các yếu tố trên (Lê Văn Cát, 2007)
Theo Trần Hiếu Nhuệ (2001), nhôm sulfat khi cho vào nước sẽ tác dụng tương hỗ với
bicacbonate chứa trong nước tạo thành nhôm hyđroxit dạng gel:
Al2(SO4)3 + 3Ca(HCO3)2 2Al(OH)3 + 3CaSO4 + 6CO2
Nếu độ kiềm của nước không đủ ta phải tăng bằng cách chó thêm vôi khi đó:
Al2(SO4)3 + 3Ca(OH)2 2Al(OH)3 + 3CaSO4
Trang 21Bông hyđoxit tạo thành sẽ hấp thụ và dính kết các chất huyền phù, các chất ở dạng keo
trong nước thải tức là chuyển sang trạng thái tập hợp không ổn định Với các điều kiện
thủy động học thuận lợi, những bông đó sẽ lắng xuống đáy bể lắng ở dạng cặn
Phèn sắt
Sulfat sắt ngậm nước và vôi: Theo Lê Hoàng Việt (2003), trong hầu hết các trường hợp
sắt sulfat không sử dụng riêng lẻ mà phải kết hợp với vôi để tạo kết tủa, các phản ứng
xảy ra như sau:
FeSO4.7H2O + Ca(HCO3)2 2Fe(HCO3)2 + CaSO4 + 2H2O
2Fe(HCO3)2 + Ca(OH)2 2Fe(OH)2 + CaCO3 + 2H2O
4Fe(OH)2 + O2 + 2H2O 4Fe(OH)3
Ferric chloride: phản ứng xảy ra như sau:
FeCl3 + 3H2O Fe(OH)3 + 3H+ + 3Cl
-3H+ + 3HCO3- 3H2CO3
Ferric chloride và vôi: phản ứng xảy ra như sau:
FeCl3 + Ca(OH)2 3CaCl2 + 2Fe(OH)3
Feric sulfate và vôi: phản ứng xảy ra như sau:
Fe(SO4)3 + Ca(OH)2 3CaSO4 + 2Fe(OH)3
Theo Trần Văn Nhân, Ngô Thị Nga (1999) cho rằng các muối sắt được sử dụng làm
chất keo tụ có nhiều ưu điểm hơn so với các muối nhôm do:
Tác dụng tốt hơn ở nhiệt độ thấp
Có khoảng giá trị pH tối ưu của môi trường rộng hơn;
Độ bền lớn và kích thước bông keo có khoảng giá trị giới hạn rộng của thành phần
muối;
Có thể khử được mùi vị khi có H2S
Trang 22Bảng 2.3 Ưu và nhược điểm của các chất keo tụ
1 Aluminum sulfat
Al2(SO4)3.18H2O
Dễ bảo quản, dễ sử dụng, được
sử dụng phổ biến, tạo ít bùn hơn khi sử dụng vôi, hiệu quả nhất ở
pH 6.5 7.5
Tạo thêm muối hòa tan trong nước, chỉ hiệu quả trong khoảng pH nhỏ
3 Polyalumium Chloric
Al13(OH)20(SO4)2.Cl15
Trong một vài trường hợp bông cặn tạo thành dày hơn và dễ lắng hơn so với sử dụng phèn nhôm
4 Ferric Sulfat Hiệu quả ở pH = 46 và pH =
8.8 9.2
Tạo thêm muối hòa tan trong nước, cần phải thêm alkalinity
5 Ferric Chlorua
FeCl3.6H2O
Hiệu quả ở pH = 411 Tạo thêm muối hòa tan
trong nước, tiêu thụ lượng ankalinity gấp 2 lần phèn nhôm
6 Ferrous Sulfat
(Copperas)
FeSO4.7H2O
Không nhạy với pH như vôi Tạo thêm muối hòa tan
trong nước, cần phải thêm alkalinity
Trang 23Hóa chất Ưu điểm Nhược điểm
7 Vôi Ca(OH)2 Sử dụng phổ biến và rất hiệu
quả Có thể không tạo thêm muối trong nước thải sau xử lý
Rất phụ thuộc vào pH, tạo lượng bùn lớn, sử dụng quá liều sẽ cho chất lượng nước đầu ra thấp
(US Army Corps of Engineers, 2001)
Bảng 2.4 Liều lượng chất keo tụ ứng với các liều lượng khác nhau của
các tạp chất nước thải Nồng độ tạp chất trong nước thải
Theo Trần Văn Nhân và Ngô Thị Nga (1999), để tăng cường quá trình tạo thành bông
keo hyđrat nhôm và sắt với mục đích tăng tốc độ lắng, người ta tiến hành quá trình keo
Trang 24tụ bằng cách cho thêm vào nước thải các hợp chất cao phân tử gọi là chất trợ keo tụ
Việc sử dụng các chất trợ keo tụ cho phép hạ thấp liều lượng chất keo tụ và nâng cao
tốc độ lắng của các bông keo
Theo Trần Hiếu Nhuệ (2001) cho rằng hiệu suất keo tụ cao nhất khi pH = 4-8,5 Để
loại các bông cặn lớn và dễ dàng người ta cho thêm các chất trợ keo tụ Đó là chất cao
phân tử tan trong nước và dễ phân ly thành ion Tùy thuộc vào các nhóm ion khi phân
ly mà các chất trợ keo tụ có điện tích âm hoặc dương (các chất trợ keo tụ loại anion
hoặc cation) Chất trợ keo tụ thông dụng nhất là polyacrylamit (CH2CHCONH2)n, chất
trợ keo tụ vô cơ loại anion silicat hoạt tính và nhiều chất khác Đa số chất bẩn hữu cơ
vô cơ dạng keo trong nước thải có điện tích âm và do đó nếu dùng chất trợ keo tụ
cation sẽ không cần kẹo sơ bộ trước đó Việc chon loại hóa chất, liều lượng tối ưu, thứ
tự cho vào nước, lượng cặn tạo thành,…phải được tiến hành bằng thực nghiệm thông
thường chất trợ đông tụ cho vào khoảng 1-5 mg/l
Theo Lê Văn Cát (2007) cho rằng trong từng họ chất trợ keo tụ chúng thường khác
nhau về đặc trưng:
Độ dài hay phân tử lượng
Độ nhớt của dung dịch
Mật độ điện tích
g Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu suất keo tụ
Liều lượng của chất keo tụ: Theo Trịnh Xuân Lai (2004), khi keo tụ hệ keo bằng cách
cho vào nước các chất keo tụ điên thế zeta của các hạt keo giảm dần có khi đến 0
Nhưng nếu tăng nồng độ của chất keo tụ quá mức có thể gây ra quá trình tích điên lại
đối với hạt keo khi đó điện tích của hạt keo đổi dấu và thế năng của hạt keo lại tăng
lên Từ đó nếu cho phèn vào nước nhiều hơn liều lượng cần thiết sẽ làm cản trở quá
trình keo tụ
Trang 25pH của nước thải: mỗi loại chất cho khoảng pH hoạt động thích hợp, vì vậy tùy vào
loại nước thải mà lựa chọn loại hóa chất sử dụng Người ta có thể điều chỉnh pH bằng
cách thêm vào gốc H+
,OH- Alkalinity: Nguyễn Trung Việt et al (2011) cho rằng độ kiềm (alkalinity) có ảnh hưởng
đến quá trình keo tụ Các hóa chất được sử dụng trong quá trình keo tụ nước và phản
ứng với nước thải để tạo thành chất kết tủa hyđroxit không tan Ion hyđro giải phóng ra
sẽ phản ứng với độ của nước Vì vậy độ kiềm có tác dụng đệm cho nước trong khoảng
pH tối ưu đối với quá trình keo tụ Độ kiềm phải tồn tại trong nước đủ để trung hòa
lượng axit được giải phóng ra từ các chất keo tụ và hoàn thành các quá trình keo tụ
Theo Lê Hoàng Việt (2003), trong nước thải luôn chứa một lượng alkalinity để phản
ứng với chất keo tụ Khi lượng alkalinity không đủ phản ứng thì ta thêm vôi hay soda
để bổ sung
Nhiệt độ của nước và hàm lượng cặn: Theo Trịnh Xuân Lai (2004) cho rằng nhiệt độ
của nước có ảnh hưởng lớn đến quá trình keo tụ Khi nhiệt độ của nước tăng thì liều
lượng phèn cần thiết để keo tụ giảm, thời gian và cường độ khuấy trộn giảm theo Hàm
lượng, tính chất của cặn cũng ảnh hưởng đến quá trình keo tụ vì số va chạm giữa các
hạt phụ thuộc vào nồng độ còn hiệu quả va chạm phụ thuộc vào tính chất phân tán,
hoạt tính bề mặt của cặn và phèn Khi hàm lượng cặn tăng lên thì liều lượng phèn cần
thiết để keo tụ tăng
Thời gian khuấy trộn: Theo nghiên cứu Mohd el al (2009) thì thời gian khuấy trộn có
vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển của các hạt keo trong quá trình
keo tụ Nếu thời gian khuấy trộn quá ngắn sẽ không tạo được sự va chạm của các bông
cặn và chất keo tụ nên không hiệu quả trong việc giảm chất rắn lơ lửng trong nước thải
Mặc khác, nếu thời gian khuấy trộn quá dài sẽ làm phá vỡ các bông cặn, giảm tốc độ
kết bông, giảm kích thước của các bông cặn, dẫn đến nước sẽ bị đục trở lại
Trang 26h Thí nghiệm Jartest
Thông thường thí nghiệm Jartest được thực hiện nhằm mục đích xác định liều lượng tối
ưu của chất keo tụ và xác định vùng pH tối ưu cho quá trình keo tụ Thí nghiệm Jartest
được thực hiện qua ba bước sau:
Bước 1: Keo tụ
Chất keo tụ được cho vào nước khuấy trộn nhanh để đảm bảo cường độ và các chất keo
tụ tiếp xúc ngay lập tức với các hạt keo Quá trình khuấy trộn rất quan trọng và ảnh
hưởng trực tiếp đến hiệu quả của quá trình keo tụ/ tạo bông
Bước 2: Tạo bông cặn
Sau khi khuấy trộn nhanh, giảm vận tốc khuấy trộn để tạo điều kiện cho các hạt tiếp
xúc với nhau để chúng kết hợp lại với nhau tạo thành bông cặn
Bước 3: Tách hạt keo
Tách các hạt keo ra khỏi nước bằng chu trình lắng, khi bông cặn lắng xuống nước sẽ
trong hơn
i Hệ thống keo tụ, tạo bông liên tục
Theo Nguyễn Văn Sức (2012), hệ thống keo tụ tạo bông liên tục bao gồm: hệ thống bổ
sung chất hóa học: bơm liên tục chất keo tụ vào nước thải; bể trộn nhanh: tạo điều kiện
cho tốc độ di chuyển cao của hạt keo và chất keo tụ và trộn chất keo tụ với nước thải;
bể tạo tụ: khuấy nhẹ để tăng sự kết hợp của hạt keo; bể lắng: tách các hạt bông tụ
- Bể trộn :
Theo Trịnh Xuân Lai (2004), trộn là đưa các phân tử hóa chất vào trạng thái phân tán
đều với môi trường nước Hiệu quả của quá trình trộn phụ thuộc vào cường độ và thời
gian khuấy Thời gian khuấy trộn hiệu quả được tính cho đến lúc hóa chất đã phân tán
đều vào nước và hình thành tác nhân keo tụ Trong thực tế, giá trị radian vận tốc
thường lấy từ 200-1000s-1, thời gian hòa trộn từ 1 đến 2 phút
Trang 27- Bể tạo bông:
Theo Trịnh Xuân Lai (2004), mục đích của quá trình tạo bông cặn là tạo điều kiện
thuận lợi để các hạt keo phân tán trong nước sau quá trình pha và trộn với phèn đã mất
tính ổn định và có khả năng kết dính với nhau, va chạm với nhau để tạo thành các hạt
cặn có kích thước đủ lớn để lắng Bể phản ứng tạo bông cặn được chia thành 5 loại:
thủy lực, cơ khí, khí nén, tiếp xúc qua lớp cặn lơ lửng hay qua lớp vật liệu hạt cứng,
tuần hoàn lại cặn
Bể phản ứng cơ khí dùng năng lượng của cánh khuấy để tạo sự xáo trộn của dòng chảy
Kích thước cánh khuấy phụ thuộc vào kích thước và cấu tạo của bể Thời gian lưu
nước từ 10 – 30 phút Bể được chia làm nhiều ngăn, giá trị gradian ở ngăn đầu tiên
thường là 60 – 70s_1, buồng cuối cùng là 30 – 20s-1
- Bể lắng:
Bể lắng ngang và bể lắng đứng thường dùng để lắng các hạt cặn sau bể keo tụ, nhưng
bể lắng ngang có hiệu quả hơn nhiều Theo sổ tay xử lý nước tập 2 (1999), ở bể lắng
ngang tỉ lệ dài/ rộng thường bằng từ 3 – 6 Quá trình lắng phụ thuộc vào chế độ thủy
động của lực nhớt biểu thị bằng chuẩn số Reynold, nếu Re >2000 sẽ tạo ra các chuyển
động xoáy nhỏ, đẩy hạt cặn lên, xuống theo phương bất kỳ làm kìm hãm quá trình lắng
của các hạt tự do, còn các hạt keo thì giúp tăng số lần va chạm và kết dính làm tăng
kích thước và độ kết dính của bông bùn
j Hiệu quả xử lý của quá trình keo tụ
Theo Lê Hoàng Việt (2003), hiệu suất lắng phụ thuộc vào liều lượng hóa chất sử dụng
và yêu cầu quản lý Thông thường nếu tính toán tốt quá trình này có thể loại được 80 –
90% TSS, 40 – 70% BOD5, 30 – 60% COD, 80 – 90% vi khuẩn trong khi các quá trình
lắng cơ học thông thường chỉ loại được từ 50 -70% TSS, 30 – 40 % chất hữu cơ
Trang 28Bảng 2.5 So sánh hiệu suất loại bỏ chất ô nhiễm có và không sử dụng hóa chất
Có hóa chất % Không có hóa chất %
(Metcalf & Eddy, 1991)
2.2.2 Sơ lược về bể bùn hoạt tính
a Giới thiệu về bể bùn hoạt tính
Xử lý nước thải bằng bể bùn hoạt tính được áp dụng ở Anh vào đầu thế kỷ 20 và được
duy trì, phát triển đến ngày nay với phạm vi áp dụng rộng rãi để xử lý nước thải sinh
hoạt và nước thải công nghiệp, trong đó có nước rỉ từ rác
Trong bể bùn hoạt tính sẽ diễn ra các quá trình sinh trưởng lơ lửng, đây là những quá
trình xử lý sinh học hiếu khí mà trong đó các vi sinh vật chịu trách nhiệm chuyển chất
hữu cơ hoặc các thành phần khác trong nước thải thành khí và tế bào chất Những vi
sinh vật này luôn được giữ ở trạng thái lơ lửng và xáo trộn cùng với thể lỏng Với điều
kiện như vậy, hiệu suất phân hủy (oxy hóa) các chất hữu cơ là khá cao (Trần Văn
Nhân, Ngô Thị Nga, 1999)
b Thành phần tính chất của bùn hoạt tính
Theo Lương Đức Phẩm (2007), bùn hoạt tính là tập hợp các vi sinh vật khác nhau, kết
lại thành dạng hạt bông với trung tâm là các hạt chất rắn lơ lửng ở trong nước Các
bông này có màu vàng nâu, dễ lắng, có kích thước từ 3 – 10m Những bông này gồm
các vi sinh vật sống và cặn rắn (khoảng 30 – 40% thành phần cấu tạo bông, nếu hiếu
khí và khuấy đảo đầy đủ trong thời gian ngắn thì con số này khoảng 30%, thời gian dài
khoảng 35% và kéo dài ngày có thể lên đến 40%) Những vi sinh vật sống ở đây chủ
yếu là vi khuẩn, ngoài ra còn có nấm men, nấm móc, xạ khuẩn, động vật nguyên sinh,
dòi, giun…
Theo Lê Hoàng Việt và Nguyễn Võ Châu Ngân (2014), các vi khuẩn trong bể bùn hoạt
tính chiếm 95% tổng sinh khối của bùn hoạt tính Chúng là những vi sinh vật đơn bào
phát triển trong nước thải nhờ sự tiêu thụ các chất hữu cơ có thể phân hủy sinh hoạt
Trang 29như carbohydrate, protein, chất béo và nhiều hợp chất khác Các vi khuẩn này thuộc
các loài Flavobacterium, Achromobacter, Pseudomonas, Zoogloea, Nocardia,
Bdellovibrio, Mycobacterium và hai loại vi khuẩn ni trát hóa Nitrosomonas và
Nitrobacter Thêm vào đó nhiều vi khuẩn hình sợi như: Sphaerotilus, Beggiatoa,
Thiothirx, Lecicothirx và Geotrichum cũng có thể xuất hiện trong bể Nguyên sinh
động vật và luân trùng hiện diện trong bể và đóng vai trò “làm sạch” nước thải, các
nguyên sinh động vật ăn các vi khuẩn không kết hợp với nhau để tạo thành bông cặn và
luân trùng ăn các bông cặn sinh học không lắng được
Ngoài ra, các loài động vật nguyên sinh cũng tham gia phân hủy các chất hữu cơ ở điều
kiện hiếu khí, điều chỉnh loài và tuổi cho quần thể vi sinh vật trong bùn, giữ cho bùn
luôn hoạt động ở điều kiện tối ưu, làm đậm đặc màng nhầy nhưng lại làm xốp khối
bùn, kích thước vi sinh vật tiết enzyme ngoại bào để phân hủy chất hủy cơ nhiễm bẩn
và làm kết lắng bùn nhanh
Các chất keo dính trong khối nhầy của bùn hoạt tính hấp thụ các chất lơ lửng, các chất
màu, mùi… trong nước thải Do vậy, hạt bùn sẽ lớn dần và tổng lượng bùn cũng tăng
dần lên, rồi từ từ lắng xuống đáy Kết quả là nước sang màu, giảm lượng ô nhiễm, các
chất huyền phù lắng xuống cùng với bùn và nước được làm sạch
Tùy thuộc vào điều kiện bên trong cũng như bên ngoài của nước thải, các nhóm vi sinh
vật tồn tại trong bùn sẽ khác nhau Thành phần nước thải thay đổi sẽ làm thay đổi
chủng loại, thành phần, tăng hay giảm số lượng từng loại trong quần thể vi sinh vật của
bùn hoạt tính
Tính chất quan trọng của bùn là khả năng tạo bông Sự tạo bông xảy ra ở giai đoạn trao
đổi chất có tỷ lệ chất dinh dưỡng với sinh khối trở nên thấp dần Tỷ lệ này thấp sẽ đặc
trưng cho nguồn năng lượng thấp của hệ thống và dẫn tới giảm năng lượng chuyển
động Động năng tác động đối kháng với lực hấp dẫn Nếu động năng nhỏ thì tác động
đối kháng cũng sẽ nhỏ và tế bào vi khuẩn hấp dẫn lẫn nhau Diện tích bề mặt tế bào, sự
tạo thành vỏ nhầy và tiết ra niêm dịch là nguyên nhân keo tụ của các tế bào vi khuẩn
(Lương Đức Phẩm, 2007)
c Nguyên lý hoạt động của bể bùn hoạt tính
Nguyên lý cơ bản của bể bùn hoạt tính là tạo điều kiện hiếu khí cho quần thể vi sinh
vật có trong bể phát triển tạo thành bùn hoạt tính Khi ở trong bể các chất lơ lửng đóng
vai trò là các hạt nhân cho vi khuẩn bám vào, sinh sản và phát triển dần lên thành các
bông cặn bùn hoạt tính Bùn hoạt tính là các bông cặn có màu nâu sẫm chứa các chất
hữu cơ hấp thụ từ nước thải, nơi cư trú, phát triển của vô số vi khuẩn và các vi sinh vật
khác Vi khuẩn và vi sinh vật dùng chất nền (BOD) và chất dinh dưỡng (Nitơ,
Photpho) trong nước thải làm thức ăn để chuyển hóa chúng thành các tế bào mới Một
vài loài tấn công vào các chất hữu cơ có cấu trúc phức tạp, sau khi chuyển hóa thải ra
các chất hữu cơ đơn giản hơn, một vài loài vi khuẩn khác dùng các chất này làm thức
ăn và lại thải ra các chất hữu cơ đơn giản hơn nữa và quá trình cứ tiếp tục cho đến khi
Trang 30chất thải cuối cùng không thể dùng làm thức ăn cho bất kỳ loài vi sinh vật nào nữa
(Trịnh Xuân Lai, 2002)
Theo Lương Đức Phẩm (2007), quá trình oxy hóa các chất hữu cơ diễn ra trong bể bùn
hoạt tính xảy ra theo 3 giai đoạn sau:
- Giai đoạn 1: Ở giai đoạn này, bùn hoạt tính hình thành và phát triển Tốc độ oxy
hóa bằng tốc độ tiêu thụ oxy Hàm lượng oxy cần cho vi sinh vật sinh trưởng, đặc
biệt ở giai đoạn đầu tiên thức ăn dinh dưỡng trong nước thải rất phong phú, lượng
sinh khối trong thời gian này rất ít Sau khi vi sinh vật thích nghi với môi trường
chúng sinh trưởng rất mạnh theo cấp số nhân Vì vậy, lượng tiêu thụ oxy tăng cao
dần
- Giai đoạn 2: Vi sinh vật phát triển ổn định và tốc độ tiêu thụ oxy cũng ở mức dần
như ít thay đổi Chính ở giai đoạn này các chất bẩn hữu cơ bị phân hủy nhiều nhất
- Giai đoạn 3: Sau một thời gian khá dài tốc độ oxy hóa cầm chừng (hầu như ít thay
đổi) và có chiều hướng giảm, lại thấy tốc độ tiêu thụ oxy tăng lên Đây là giai đoạn
nitrat hóa các muối amon
Sau cùng nhu cầu oxy lại giảm và cần phải kết thúc quá trình làm việc của bể bùn hoạt
tính
d Diễn biến của quá trình nước thải tiếp xúc với bùn hoạt tính
Các chất hữu cơ hòa tan, cả các chất keo và phân tán nhỏ sẽ được chuyển hóa bằng
cách hấp thụ và keo tụ sinh học trên bề mặt các tế bào vi sinh vật Tiếp đó, trong quá
trình trao đổi chất, dưới tác dụng của những men nội bào, các chất hữu cơ sẽ bị phân
hủy Quá trình xử lý nước thải và việc vi sinh vật tiêu thụ các chất bẩn từ nước thải là
một quá trình gồm 3 giai đoạn:
1 Khuếch tán và chuyển chất từ dịch thể tới bề mặt của tế bào vi sinh vật
2 Hấp phụ: khuếch tán và hấp thụ các chất bẩn từ mặt ngoài của tế bào qua màng
bán thấm vào trong tế bào
3 Chuyển hóa các chất đã được khuếch tán và hấp thụ ở trong tế bào vi sinh vật
với sinh ra năng lượng và tổng hợp các chất mới của tế bào
Các giai đoạn trên có mối quan hệ với nhau rất khăng khít Mặc dù hấp thụ và hấp phụ
là giai đoạn cần thiết trong việc tiêu thụ chất hữu cơ của vi sinh vật song không phải có
ý nghĩa quyết định trong việc xử lý nước thải Đóng vai trò chủ yếu quyết định là các
quá trình diễn ra bên trong tế bào vi sinh vật
Quá trình phân giải các chất bẩn hữu cơ trong nguyên sinh chất của tế bào sống là phản
ứng oxy hóa khử Theo Lê Hoàng Việt và Nguyễn Võ Châu Ngân (2014), quá trình này
có thể diễn ra như sau:
- Quá trình oxy hoá (Dị hóa):
(COHNS) + O2 + Vk hiếu khí CO2 + NH4+ + Sản phẩm khác + Q
Chất hữu cơ
Trang 31- Quá trình tổng hợp (Đồng hóa):
(COHNS) + O2 + Vk hiếu khí + Q C5H7O2N (tế bào vi khuẩn mới)
Trong đó
Q: năng lượng được tạo ra từ quá trình phân hủy chất hữu cơ
C5H7O2N: công thức thông dụng để đại diện cho tế bào vi khuẩn
Trong các trường hợp vận hành bể ở tải lượng nạp chất hữu cơ thấp hơn nhu cầu của vi
khuẩn, vi khuẩn sẽ trải qua quá trình hô hấp nội bào hay là tự oxy hóa sử dụng nguyên
sinh chất của bản thân chúng làm nguyên liệu
C5H7O2N + 5O2 5CO2 + NH4+ + 2H2O + năng lượng
Cơ chế của quá trình phân hủy các chất trong tế bào có thể tóm tắt như sau:
Các chất đầu tiên bị oxy hóa là carbonhydrat và một số các chất hữu cơ khác Men của
vi sinh vật sẽ tách hydro ra khỏi móc xích và đem phối hợp với oxy của không khí để
tạo thành nước Nhờ có hydro và oxy trong nước, các phản ứng oxy hóa – khử giữa các
nguyên tử cacbon mới diễn ra được
Đường, rượu và các acid hữu cơ khác là sản phẩm đặc trưng nhất của quá trình oxy hóa
bởi vi khuẩn hiếu khí Các chất đó khi phân hủy hoàn toàn sẽ tạo thành CO2 và H2O
Một phần các chất bị oxy hóa hoàn toàn thành CO2 và H2O, phần còn lại sẽ bị đồng
hóa và được sử dụng để tổng hợp các chất mới của tế bào, tức là để sinh khối của vi
sinh vật tăng lên Song song với quá trình đồng hóa, trong tế bào vi sinh vật còn diễn ra
quá trình dị hóa – phân hủy các chất có trong thành phần của tế bào sống Như vậy,
một phần trong số các chất đã được tổng hợp lại tự bị oxy hóa
e Đặc điểm quá trình tăng trưởng của vi sinh vật
Theo Đỗ Hồng Lan Chi và Lâm Minh Triết (2005), sự tăng trưởng của một quần thể vi
sinh vật là sự tăng số lượng hoặc tăng sinh khối của quần thể Sự tăng số lượng hoặc
tăng sinh khối trên một đơn vị thời gian được gọi là tốc độ tăng trưởng
Theo Lê Hoàng Việt (2003), trong các bể xử lý sinh học, các vi khuẩn đóng vai trò rất
quan trọng vì chúng chịu trách nhiệm phân hủy các thành phần hữu cơ trong nước thải
Vi khuẩn có thể sinh sản vô tính bằng cách phân đôi, sinh sản hữu tính hay bằng cách
tạo chồi, nhưng chủ yếu chúng phát triển bằng cách phân đôi Thời gian cần để phân
đôi tế bào thường gọi là thời gian để cho ra một thế hệ mới (Thời gian thế hệ -
Generation time) hay thời gian phân đôi (doubling time) Thời gian này có thể dao
động từ vài phút đến vài ngày tùy loài vi sinh vật Vi khuẩn không thể tiếp tục sinh sản
đến vô tận bởi vì quá trình sinh sản phụ thuộc vào môi trường Khi thức ăn cạn kiệt, pH
và nhiệt độ thay đổi ra ngoài giá trị tối ưu, việc sinh sản sẽ ngừng lại sự sinh trưởng
của quần thể vi sinh vật được chia làm 4 giai đoạn:
- Giai đoạn chậm (Lag – phase): Giai đoạn tế bào thích nghi với môi trường mới, tế
bào tăng kích thước và trọng lượng rõ rệt do quá trình tổng hợp các chất Trong pha
này vi sinh vật không phân chia tức là không tăng về số lượng Thời gian của pha
Trang 32này phụ thuộc vào các yếu tố tiền sử của tế bào như: tuổi, thành phần môi trường,
khả năng chịu đựng các yếu tố vật lý, hóa học…
- Giai đoạn tăng trưởng (Log – phase): Trong giai đoạn này các tế bào vi khuẩn tiến
hành phân bào và số lượng tế bào sẽ tăng theo số mũ Tốc độ tăng trưởng mũ phụ
thuộc vào loại vi sinh vật và điều kiện tăng trưởng (nhiệt độ, thành phần môi
trường…)
- Giai đoạn cân bằng (Stationary phase): Trong pha này, tốc độ sinh trưởng của vi
sinh vật giảm dần do sự thiếu hụt các chất dinh dưỡng, cùng với sự sinh sản và tích
tụ các sản phẩm trao đổi chất độc hại Ở giai đoạn này, số lượng tế bào mới sinh ra
sẽ bằng số tế bào chết đi Do đó, có sự cân bằng quần thể trong pha này
- Giai đoạn chết (Log – death phase): Trong pha này, số lượng vi khuẩn chết đi nhiều
hơn số lượng vi khuẩn được sinh ra, do đó mật độ vi khuẩn giảm nhanh Giai đoạn
này có thể do các loài có kích thước khả kiến hoặc đặc điểm môi trường
f Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động của bể bùn hoạt tính
Loại bể phản ứng
Tùy theo cấu tạo của loại bể phản ứng mà hiệu quả xử lý sẽ khác nhau, do có thời
gian lưu khác nhau, chế độ nạp nước khác nhau…
Thời gian tồn lưu nước trong bể phản ứng
Thời gian tồn lưu nước là cần thiết vì vi sinh vật cần đủ thời gian để phân hủy chất hữu
cơ hòa tan trong nước thải Thời gian tồn lưu nước quá ngắn thì hiệu suất xử lý thấp,
còn thời gian tồn lưu nước quá lâu đồng nghĩa với tăng thể tích bể như vậy không khả
thi về mặt kinh tế Thông thường thời gian lưu nước khoảng 4 – 8 giờ
Theo Lê Hoàng Việt và Nguyễn Võ Châu Ngân (2014), thời gian lưu nước của một số
bể bùn hoạt tính:
Bảng 2.6 Thời gian tồn lưu nước của một số loại bể bùn hoạt tính
Trang 33 Chế độ nạp nước và chất hữu cơ
Lưu lượng nạp nước phài điều hòa, nạp liên tục với lưu lượng ổn định (bể bùn hoạt tính
hoạt động liên tục) hoặc nạp nước đúng theo định kỳ (bể bùn hoạt tính hoạt động theo
mẻ) nhằm đảm bảo các điều kiện về dinh dưỡng cho vi sinh vật hoạt động, Các chất
hữu cơ trong nước thải phải là chất hữu cơ dễ phân hủy sinh học
Cung cấp Oxy
Để oxy hóa các chất hữu cơ, các vi sinh vật tring bể bùn cần có oxy và chúng chỉ có thể
sử dụng oxy hòa tan Để cung cấp oxy cho nước thải người ta tiến hành quá trình thông
khí, khuếch tán dòng không khí thành các bóng khí nhỏ phân bố đều trong khối chất
lỏng Oxy thường có hiệu suất hòa tan thấp và thường phụ thuộc vào áp suất, nhiệt độ,
nồng độ muối trong nước thải Chỉ tiêu oxy hòa tan đảm bảo cho quá trình xử lý là 1,5
– 4 mg/L (thông thường khoảng 2 mg/L ở tải trọng trung bình và khoảng 0,5 mg/L ở
tải đỉnh) ở mọi khu vực trong bể, trên 4 mg/L không chỉ tăng hiệu suất của quá trình xử
lý mà còn gây hao tốn năng lượng để vận hành máy cung cấp oxy (Lương Đức Phẩm,
2007)
Thời gian tồn lưu vi sinh vật trong bể phản ứng
Lượng vi sinh vật trong bể có ảnh hưởng đến hiệu suất xử lý của bể bùn Thời gian tồn
lưu vi sinh vật quá ngắn sẽ dẫn đến hiệu quả loại BOD thấp, thời gian tồn lưu vi sinh
vật quá lâu sẽ dẫn đến nước đầu ra có nhiều chất rắn Thời gian tồn lưu vi sinh vật
trong bể phản ứng từ 3 – 15 ngày cho hiệu quả xử lý và thời gian lắng của bùn tốt (Lê
Hoàng Việt, 2003)
Tỷ lệ thức ăn/ vi sinh vật (Tỷ lệ F/M)
Bể bùn hoạt tính là một hệ thống hoạt động trong đó các vi sinh vật phát triển và chết
đi liên tục Để hoạt động có hiệu quả người ta thường sử dụng các thông số F/M để
thiết kế và vận hành hệ thống Hệ thống đạt cân bằng khi lượng thức ăn F và lượng vi
khuẩn M nằm trong khoảng thích hợp cho điều kiện hoạt động của hệ thống Tỷ lệ F/M
dùng để kiểm soát quá trình oxy hóa sinh hóa và sinh khí bằng cách duy trì sự phát
triển của hệ vi sinh vật ở giai đoạn log hay ở giai đoạn phân hủy nội bào
F/M: tỷ lệ thức ăn trên số lượng vi khuẩn, 1/ngày
S0: BOD của nước thải đầu vào, mg/L (g/m3)
: thời gian lưu tồn nước trong bể bùn hoạt tính = V/Q, ngày
V: thể tích bể bùn hoạt tính, m3
Q: lưu lượng nước thải nạp vào bể, m3/ngày
X: mật độ vi khuẩn trong bể tính bằng hàm lượng vật chất rắn bay hơi (MLVSS) trong
bể mg/L (g/m3)
Trang 34Các giá trị thực nghiệm cho thấy F/M của bể bùn hoạt tính hoạt động theo mẻ nằm
trong khoảng 0,04 – 1,0
pH
Quá trình xử lý sinh học nước thải rất nhạy cảm với sự dao động của trị số pH Giá trị
pH ảnh hưởng rất lớn đến quá trình tạo men trong tế bào và quá trình hấp phụ các chất
dinh dưỡng vào tế bào Trong quá trình tăng trưởng vi khuẩn thường làm giảm pH của
môi trường vì chúng giải phóng các sản phẩm trao đổi chất như các acid hữu cơ…(Đổ
Hồng Lan Chi, Lâm Minh Triết, 2005) Quá trình xử lý hiếu khí đòi hỏi pH trong
khoảng 6,5 -8,5 (Lê Hoàng Việt, Nguyễn Võ Châu Ngân, 2014)
Nhiệt độ
Nhiệt độ trong nước thải ảnh hưởng rất lớn đến chức năng hoạt động của vi sinh vật
Tốc độ phản ứng oxy sinh hóa tăng khi tăng nhiệt độ Hầu hết các vi sinh vật trong bể
bùn hoạt tính là các cá thể ưa ấm, chúng có thể sống trong điều kiện nhiệt độ từ 5oC –
40oC Khi nhiệt độ tăng quá cao có thể làm chết các vi khuẩn, còn nhiệt độ quá thấp có
thể làm bất hoạt quá trình vận chuyển các chất hòa tan qua màng tế bào chất dẫn đến
tốc độ làm sạch nước thải sẽ bị giảm Vì vậy, nhiệt độ thích hợp để xử lý nước thải là
6oC – 37oC, tốt nhất là 15oC – 35oC (Trần Hiếu Nhuệ, 2001)
Ảnh hưởng của kim loại nặng
Theo Trần Văn Nhân, Ngô Thị Nga (1999), bùn hoạt tính có khả năng hấp thụ các
muối kim loại nặng Khi đó, hoạt động sinh hóa của chúng bị giảm do sự phát triển
mạnh của các vi khuẩn dạng sợi làm cho bùn hoạt tính bị phồng lên Theo mức độ độc
hại, các kim loại nặng có thể được sắp xếp theo thứ tự sau:
Sb> Ag> Cu> Hg> Co> Ni> Pb> Cr3+> V Cd> Zn> Fe
Nồng độ cho phép của các chất độc để quá trình oxy hóa sinh hóa có thể xảy ra phụ
thuộc vào bản chất của các chất đó Trong trường hợp, khi nước thải chứa một số loại
chất độc thì trong tính toán các công trình xử lý sẽ theo chất độc nhất Hàm lượng của
các chất này khi cao hơn nồng độ cho phép cực đại cũng có thể ảnh hưởng xấu đến tốc
độ làm sạch của nước thải
Ảnh hưởng của các chất dầu, mỡ trong nước thải
Chất béo và dẩu mỡ thường bền vững và khó phân hủy Trong quá trình bùn hoạt tính,
các hợp chất này sẽ bao phủ các bông bùn và can thiệp vào hoạt động vi khuẩn cũng
như cấu trúc bông bùn Các chất béo, dầu mở này có cấu trúc hóa học tương tự như
lipid của thành tế bào sẽ được hấp thụ vào thành tế bào vi khuẩn Các hợp chất này khi
ở trên bề mặt tế bào sẽ làm tăng nồng độ MLVSS Một số hợp chất béo, dầu mỡ khó
phân hủy sẻ tích tụ trong bông bùn và chuyển thành dạng kỵ khí gây độc như mêtan
Ảnh hưởng của các chất hoạt động bề mặt
Khi có sự hiện diện của các chất hoạt động bề mặt như xà phòng, thuốc tẩy…trong
nước thải sẽ làm cho hoạt động của các vi sinh vật chậm lại Các chất hoạt động bề mặt
Trang 35này còn làm tăng tổng chất rắn hòa tan (TSS) Ngoài ra, chúng còn làm thay đổi sức
căng bề mặt nước vì thế đôi khi cũng sinh ra bọt váng Một vài chất hoạt động bề mặt
còn hiện diện như là độc tố
2.2.3 Sơ lược về thiết kế bể UASB
Bể UASB được sử dụng để làm giảm nồng độ chất hữu cơ của các loại nước thải công
nghiệp nhất là các loại hình chế biến nông, thủy sản và hóa chất Chí (2005) cũng đã
nghiên cứu sử dụng UASB để xử lý nước rỉ rác
Srinivas (1994) đã đưa ra một số khuyến cáo về thiết kế bể UASB như sau:
- Nên thiết kế bể UASB vận hành ở nhiệt độ lớn hơn 20oC
- Thời gian lưu chất rắn (vi khuẩn) trong bể là 30 – 50 ngày
- Thời gian lưu tồn nước từ 8 – 10 giờ
- Độ dày của thảm bùn từ 2 – 2,5 m (trong trường hợp xử lý nước thải sinh hoạt)
- Tải nạp nước bề mặt 20 – 28 m3/m2*ngày ở tải đỉnh
- Vận tốc đi lên của nước 0,5 – 1,2 m/h
Các công thức thường sử dụng trong tính toán bể UASB như sau:
Thể tích hữu dụng (Vn): đây là phần thể tích chứa thảm bùn và các vi sinh vật hoạt
động, hầu hết các hoạt động phân hủy chất hữu cơ diễn ra ở đây Phía trên phần thể tích
hữu dụng còn có phần thể tích chung quanh phần thu khí, phần thể tích này chứa rất ít
sinh khối và quá trình lắng thường diễn ra ở đây
Thể tích hữu dụng được tính bằng công thức:
Vn: thể tích hữu dụng của bể UASB, m3
Q: lưu lượng nước thải, m3/ngày
So: nồng độ COD đầu vào, kg COD/m3
Lorg: tải nạp chất hữu cơ, kg/COD/m3*ngày
Để tính thể tích chứa nước trong bể (bao gồm thể tích hữu dụng và thể tích lắng) người
ta sử dụng hệ số hữu dụng
n
L
V V
E
Trong đó
VL: tổng thể tích chứa nước của bể UASB
E: hệ số hữu dụng, không đơn vị (thường từ 0,8 – 0,9)
Vận tốc nước đi lên trong bể được tính bằng công thức:
v Q
A
Trong đó A là diện tích của bể (m2)
Chiều cao lớp nước trong bể phản ứng được tính bằng công thức :
L
L
V H
A
Trang 36Phần chứa khí được đặt trong bể và chiếm chiều cao từ 2,5 – 3 m, do đó tổng chiều cao
của bể sẽ là :
HT = HL + HG
Trong đó HG là chiều cao chứa khí, m
Như vậy, để tính toán bể UASB ta phải chọn được tải nạp chất hữu cơ và vận tốc nước
Bùn dạng hạt, loại SS thấp
1000 - 2000 0,1 – 0,3
0.2 – 0.6 0,6 – 1,0
Trang 37Bảng 2.8 Vận tốc nước đi lên và chiều cao của bể UASB
Loại nước thải Vận tốc nước đi lên, m/giờ Chiều cao bể, m
Khoảng Tiêu biểu Khoảng Tiêu biểu Gần 100% COD ở dạng hòa
tan
Một phần COD ở dạng hòa tan 1,0 – 1,25 1,0 3 - 7 6
(Metcalf & Eddy, 2003)
2.2.4 Sơ lược về quá trình lắng và bể lắng
a Quá trính lắng
Quá trình lắng là quá trình tách các chất lơ lững ra khỏi nước thải dưới tác dụng của
trọng lực lên hạt lơ lững có tỉ trọng nặng hơn tỉ trọng của nước
Theo Trần Văn Nhân, Ngô Thị Nga (2002) quá trình lắng được ứng dụng trong:
Lắng cát (cặn dễ tách nước nói chung như cát, mảnh kim loại, thủy tinh, hạt trái
cây, mảnh xương…)
Loại bỏ cặn hữu cơ trong bể lắng đợt I
Loại bỏ cặn sinh học (bùn hoạt tính, màng vi sinh vật) trong bể lắng II
Loại bỏ các bông cặn trong quá trình keo tụ - tạo bông
Nén bùn trọng lực nhằm giảm độ ẩm bùn trong công đoạn xử lý bùn
Dựa vào hàm lượng và khả năng tương tác giữa các hạt, có thể xảy ra ba loại lắng
chính (hay còn gọi là vùng lắng) sau:
- Lắng riêng rẽ từng hạt
- Lắng keo tụ
- Lắng vùng bao gồm lắng tập thể và lắng chen
b Sơ lược về bể lắng
Theo Hoàng Huệ (1996), tùy theo công dụng của bể lắng trong dây chuyền công nghệ
mà người ta phân biệt bể lắng đợt I (bể lắng sơ cấp) và đợt II (bể lắng thứ cấp) Bể lắng
đợt I đặt trước công trình xử lý sinh học, bể lắng đợt II đặt sau công trình xử lý sinh
học
Bể lắng thứ cấp có dạng hình chữ nhật hoặc hình tròn, có chức năng loại bỏ các tế bào
vi khuẩn ở dạng các bông cặn, các bông cặn này sẽ lắng xuống đáy bể lắng tạo thành
bùn, một phần bùn ở bể lắng được hoàn lưu về bể bùn hoạt tính, phần còn lại được xả
ra ngoài hệ thống xử lý bùn
Thời gian lưu tồn (giờ) có hoàn lưu bùn hoạt tính trong bể lắng biến thiên trong khoảng
1,5 – 2,5 giờ (Metcalf & Eddy, 1991)
Trang 382.3 TỔNG QUAN VỀ BÃI RÁC SÓC VỒ - SÓC TRĂNG
Bãi rác Sóc Vồ - Sóc Trăng là một bãi rác cũ, hiện đang nằm ở đường Nam Kỳ Khởi
Nghĩa, Phường 7, Thành phố Sóc Trăng Đây là bãi rác dạng đổ đống tập trung, rác
thải được chuyển đến đây không được phân loại trước Theo thống kê của Công ty
TNHH MTV Công Trình Đô Thị tỉnh Sóc Trăng hàng ngày bãi rác tiếp nhận khoảng
506,1 tấn/ngày (2009) với thành phần rác như sau:
Bảng 2.9 Thành phần chất thải rắn tại thành phố Sóc Trăng
Khí hậu tỉnh Sóc Trăng có đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo và
chia làm hai mùa rõ rệt Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 11 Mùa khô bắt đầu từ
tháng 12 đến tháng 4 năm sau
- Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình năm 26,6°C (năm 2008) Nhiệt độ cao nhất trong
năm vào tháng 4 (28,2°C) và nhiệt độ thấp nhất vào tháng 1 (25,4°C)
- Nắng: Tổng lượng bức xạ trung bình trong năm tương đối cao, đạt 140 – 150
kcal/cm2 Tổng giờ nắng bình quân trong năm 2.292,7 giờ (khoảng 6,28 giờ/ngày), cao
nhất thường vào tháng 3 là 282,3 giờ, thấp nhất thường vào tháng 9 là 141,5 giờ
- Mưa: Lượng mưa trung bình hàng năm là 1.660 – 2.230 mm, chênh lệch lớn
theo mùa, mùa mưa chiếm 90% tổng lượng mưa, mùa khô rất ít, có tháng không mưa
Trang 39- Độ ẩm: Độ ẩm trung bình cả năm là 84% (cao nhất 89% vào mùa mưa, thấp
nhất 75% vào mùa khô)
- Gió: nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, tỉnh Sóc Trăng có các hướng
gió chính như sau: Tây, Tây Nam, Đông Bắc, Đông Nam và gió được chia làm hai mùa
rõ rệt là gió mùa Đông Bắc và gió mùa Tây Nam Mùa mưa chịu ảnh hưởng của gió
mùa Tây Nam là chủ yếu; còn mùa khô chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc là chủ
yếu với tốc độ gió trung bình là 1,77m/s
- Các yếu tố khác: Tỉnh Sóc Trăng nằm trong khu vực rất ít gặp bão Theo tài
liệu về khí tượng thủy văn ghi nhận, trong 100 năm qua chỉ có 2 cơn bão đổ bộ vào Sóc
Trăng (năm 1952, 1997) gây thiệt hại rất lớn
Thành phố Sóc Trăng là trung tâm tỉnh Sóc Trăng nên có đặt điểm khí hậu tương tự
Những năm gần đây, lốc thường xảy ra ở Sóc Trăng Lốc tuy nhỏ nhưng cũng
gây ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của nhân dân
2.3.2 Đặc điểm chế độ thủy văn tỉnh Sóc Trăng
Sông rạch tỉnh Sóc Trăng đa phần thuộc vùng ảnh hưởng của chế độ bán nhật
triều không đều, cao độ mực nước của hai đỉnh triều và hai chân triều không bằng
nhau Đỉnh triều cao nhất là 160 cm (vào tháng 10, 11), thấp nhất là 123 cm (vào tháng
5, 8), chân triều cao nhất là -24 cm (tháng 11), thấp nhất là -103 cm (tháng 6), biên độ
triều trung bình từ 194 – 220 cm
Nguồn nước trên hệ thống sông rạch tỉnh Sóc Trăng là kết quả của sự pha trộn
giữa lượng mưa tại chỗ, nước biển và nước thượng nguồn sông Hậu đổ về Dòng cửa
sông Hậu khá mạnh vào mùa mưa, ảnh hưởng ra xa quá 4 hải lý, đây cũng là thời kỳ
mùa lũ ở sông Hậu Dòng tổng hợp ven bờ khoảng 1m/s Dòng hải lý theo mùa và
dòng chảy ven bờ lấn át dòng chảy sông tại vùng cửa Định An – dòng chảy theo hướng
Tây – Nam là chủ yếu trong mùa khô và theo hướng Đông – Bắc trong mùa mưa
Trang 402.3.3 Đặt điểm kinh tế, xã hội
Thành phố Sóc Trăng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội và là đầu mối
giao lưu kinh tế quan trọng của tỉnh Sóc Trăng;
Thành phố Sóc Trăng bao gồm 10 phường với 60 khóm, tổng diện tích tự nhiên là
7.616,21ha; dân số 136.348 người, bao gồm 03 dân tộc Kinh, Hoa, Khmer cùng sinh
sống; mật độ dân số 1.790 người/km2; về cơ cấu lao động: lao động nông nghiệp chiếm
11,73%; phi nông nghiệp chiếm 88,27%
Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn năm 2006- 2010 là 15,93% Trong
đó: khu vực I là 3,49%; khu vực II tăng 7,92%; khu vực III tăng 35,25% Cơ cấu kinh
tế khu vực I là 5,03%; khu vực II là 42,25%; khu vực III là 52,72%, cơ cấu kinh tế so
với năm 2005 có sự chuyển dịch giảm 25,68% ở khu vực II và tăng 28,36% ở khu vực
III, phù hợp với xu thế phát triển của đô thị
2.3.4 Một số biện pháp xử lý tại bãi rác phường 7
Rác được xử lý tạm thời để hạn chế tối đa việc phát sinh mùi hôi, ruồi, nước rỉ từ rác
thải bằng một số giải pháp như:
+ Cuốc rác thành luống kết hợp với việc phun thuốc khử mùi để xử lý mùi hôi
và diệt ấu trùng ruồi;
+ Bên cạnh đó kết hợp với phun thuốc ruồi để diệt ruồi, rắc vôi xuống các ao và
xung quanh chân bãi rác để khử trùng;
+ Khi luống rác đầy sẽ tiến hành đậy bạt để ngăn ngừa mùi hôi khuếch tán ra
môi trường xung quanh trong quá trình phân hủy rác và hạn chế lượng nước rỉ rác phát
sinh do nước mưa chảy tràn trên bề mặt;
+ Ngoài ra còn thực hiện một số công tác như: thả lục bình, phun chế phẩm xử
lý nước xuống các ao để xử lý nước, trồng cây xanh xung quanh gần tường bao và trên
đường vào bãi rác
+ Vận hành trạm xử lý nước rỉ rác, công suất xử lý: 80m3/ngày, sau đó thải ra
môi trường xung quanh (kênh phục vụ tưới tiêu)