Trong số đó có nhiều phụ nữ có khả năng và trình độ, nhưng những cơ hội lựa chọn của họ có thể bị hạn chế bởi bổn phận đối với gia đình và xã hội, bởi quan niệm truyền thống về giới, thậ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
ĐIÊU THỊ MINH CHÍ
VAI TRÕ CỦA CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG VIỆC NÂNG CAO VỊ THẾ CỦA PHỤ NỮ NGHÈO NÔNG THÔN (THÔNG QUA THỰC HÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM TẠI
XÃ ĐỒNG LƯƠNG- HUYỆN CẨM KHÊ- TỈNH PHÖ THỌ)
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
Hà Nội - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
ĐIÊU THỊ MINH CHÍ
VAI TRÕ CỦA CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG VIỆC NÂNG CAO VỊ THẾ CỦA PHỤ NỮ NGHÈO NÔNG THÔN (THÔNG QUA THỰC HÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM TẠI
XÃ ĐỒNG LƯƠNG – HUYỆN CẨM KHÊ- TỈNH PHÖ THỌ)
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60 90 01 01 LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Lê Thị Quý
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để có thể hoàn thành đề tài luận văn này, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc
tới GS TS Lê Thị Quý là người hướng dẫn đã luôn tận tình giúp đỡ, chỉ bảo
và động viên trong suốt quá trình tôi thực hiện đề tài
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các cán bộ, thầy cô giáo tại Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn và các cô chú, anh chị UBND xã Đồng Lương- huyện Cẩm Khê- tỉnh Phú Thọ đã luôn tạo điều kiện thuận lợi nhất về cơ sở vật chất cũng như cung cấp số liệu hữu ích trong thời gian tôi nghiên cứu và thực hiện các hoạt động phục vụ cho đề tài
Tôi cũng xin cảm ơn các cô chú, anh chị thuộc hộ nghèo tại xã đã phối hợp, hỗ trợ nhiệt tình trong quá trình tôi thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 9 năm 2015
Học viên
Điêu Thị Minh Chí
Trang 4MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 5
MỞ ĐẦU 6
1 Lí do chọn đề tài: 6
2 Tổng quan nghiên cứu: 8
2.1 Tổng quan: 8
2.2 Lược thảo chính sách về vấn đề BĐG và vị thế của phụ nữ trong XĐGN 10
3 Mục đích của nghiên cứu 13
4 Ý nghĩa của nghiên cứu 13
5 Câu hỏi nghiên cứu 13
6 Giả thuyết nghiên cứu 14
7 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 14
8 Phương pháp nghiên cứu 14
8.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu 14
8.2 Phương pháp phỏng vấn sâu 14
8.3 Phương pháp quan sát 15
8.4 Phương pháp thảo luận nhóm 15
9 Phạm vi nghiên cứu 16
9.1.Thời gian thực hiện 16
9.2 Không gian nghiên cứu 16
9.3 Giới hạn nội dung nghiên cứu 16
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 16
Chương 1: 16
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 16
1.1 Các khái niệm công cụ 16
Trang 51.1.1.Khái niệm giới tính (sex) 16
1.1.2 Khái niệm giới ( gender) 16
1.1.3 Khái niệm bình đẳng giới 17
1.1.4 Định kiến giới 17
1.1.5 Khái niệm phân biệt đối xử theo giới 17
1.1.6 Khái niệm vai trò giới 18
1.1.7 Khái niệm nhạy cảm giới và trách nhiệm giới 18
1.1.8 Khái niệm nhu cầu giới 19
1.1.9 Vị thế xã hội 19
1.1.10 Vai trò xã hội (Social role) 20
1.1.11 Khái niệm nghèo đói 20
1.1.12 Khái niệm xoá đói giảm nghèo 21
1.1.13 Khái niệm nông thôn 21
1.2 Các khái niệm công cụ liên quan công tác xã hội 21
1.2.1.Khái niệm Công tác xã hội 21
1.2.2 Khái niệm công tác xã hội nhóm 22
1.3 Lí thuyết ứng dụng trong nghiên cứu 24
1.3.1 Thuyết nhu cầu của Maslow 24
1.3.2 Lý thuyết giới và phát triển 26
1.4 Các đặc điểm về tự nhiên xã hội chủ yếu của xã Đồng Lương- Cẩm Khê- Phú Thọ ảnh hưởng đến thực trạng vị thế của phụ nữ nghèo nông thôn 28
1.4.1 Đặc điểm tự nhiên 28
1.4.2 Đặc điểm kinh tế 29
1.4.3 Đặc điểm xã hội 29
1.4.4 Những thuận lợi và khó khăn tác động tới vị thế của phụ nữ nghèo nông thôn tại xã hiện nay 30
Trang 6TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 32
Chương 2: 33
THỰC TRẠNG CỦA PHỤ NỮ NGHÈO VÀ VỊ THẾ CỦA HỌ TẠI XÃ ĐỒNG LƯƠNG- HUYỆN CẨM KHÊ- TỈNH PHÚ THỌ 33
2.1 Tình trạng nghèo của phụ nữ tại xã Đồng Lương- huyện Cẩm Khê- Tỉnh Phú Thọ 33
2.2 Thực trạng về vị thế của phụ nữ nghèo tại xã Đồng Lương- huyện Cẩm Khê- tỉnh Phú Thọ 34
2.3 Vị thế của phụ nữ nghèo thông qua hoạt động vay vốn 36
2.3.1 Vị thế của phụ nữ trong tiếp cận vốn vay 36
2.3.2 Vị thế của phụ nữ nghèo trong việc ra quyết định và thực thi các quyết định sử dụng vốn vay 38
2.3.3 Vị thế của phụ nữ trong việc đóng góp ý kiến thảo luận về thực hiện vốn vay 39
2.3.4 Hiệu quả của việc sử dụng vốn vay khi vợ/chồng là người quyết định 40
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 42
Chương 3 44
ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM
GIÚP PHỤ NỮ NGHÈO TIẾP CẬN CHÍNH SÁCH TÍN DỤNG VÀ NÂNG CAO VỊ THẾ CỦA MÌNH 44
3.1 Cơ sở đề xuất biê ̣n pháp can thiê ̣p công tác xã hô ̣i nhóm trong việc giúp phụ nữ nghèo tiếp cận chính sách tín dụng và nâng cao vị thế của phụ nữ nghèo nông thôn 44
3.2 Xây dựng quy trình vận dụng công tác xã hội nhóm trong viê ̣c nâng cao vị thế của phụ nữ nghèo nông thôn 47
Trang 73.2.1 Lựa chọn loại hình nhóm của công tác xã hội nhóm để tiến
hành can thiệp 47
3.2.2 Qui trình vận dụng công tác xã hội nhóm với nhóm phụ nữ nghèo 48
3.3 Thực nghiệm để đề xuất xây dựng mô hình can thiê ̣p Công tác xã hô ̣i nhóm vào việc nâng cao vị thế của phụ nữ nghèo nông thôn 57
3.3.1 Thực nghiệm mô hình công tác xã hội nhóm 57
3.3.2 Lượng giá tiến trình CTXH nhóm 63
3.3.2.1 Lượng giá các kết quả đạt được và những tồn tại sau quá trình hoạt động nhóm 63
3.3.2.2 Đánh giá sự tham gia của các thành viên nhóm xã hội hóa trong quá trình hoạt động 68
3.4 Vai trò của nhân viên xã hội 71
3.5 Hiệu quả của CTXH nhóm trong trường hợp nâng cao vị thế của phụ nữ nghèo trong trường hợp nâng cao vị thế của phụ nữ nghèo tại xã Đồng Lương- huyện Cẩm Khê- tỉnh Phú Thọ 73
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 76
KẾT LUẬN 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
PHỤ LỤC 84
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Bộ LĐ-TBXH Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội
Bộ NN&PTNT Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
CEDAW Công ước xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài:
Phụ nữ nông thôn đóng vai trò quan trọng trong phát triển nông nghiệp
và là một lực lượng đông đảo trong nguồn nhân lực của đất nước nhưng họ lại
là nhóm xã hội phải chịu thiệt thòi hơn so với nam giới nông thôn và những phụ nữ sống tại đô thị Hàng ngày, trên các phương tiện thông tin đại chúng hay thậm chí ngay xung quanh chúng ta, không khó để thấy hình ảnh của những người phụ nữ nông thôn bị đối xử bất công, họ là nạn nhân của tình trạng buôn bán người, của nạn bạo lực gia đình hay nghèo đói Không thể phủ nhận ngày nay phụ nữ nông thôn có nhiều điều kiện thuận lợi để đạt được thành công như nam giới, họ không chỉ tham gia vào sản xuất mà cả các hoạt động xã hội Tuy nhiên, trên thực tế họ còn gặp nhiều khó khăn và trở ngại trong phát triển cá nhân như: trình độ chuyên môn/ kỹ thuật, sức khỏe lao động, cơ hội tiếp cận quyền sở hữu ruộng đất, tài sản Bởi vậy, cần có những quan tâm hợp lý đến BĐG và vị thế của phụ nữ nông thôn
Hiện nay xoá đói giảm nghèo phát triển ở nông thôn đặc biệt là trong xây dựng nông thôn mới, người hưởng thụ chính là người nghèo trong đó có
cả nam và nữ Nhưng trên thực tế, xét tới đối tượng chịu nhiều tác động và thiệt thòi của nghèo đói, ta sẽ thấy đó chính là phụ nữ và trẻ em, đặc biệt là phụ nữ ở vùng nông thôn Trong số đó có nhiều phụ nữ có khả năng và trình
độ, nhưng những cơ hội lựa chọn của họ có thể bị hạn chế bởi bổn phận đối với gia đình và xã hội, bởi quan niệm truyền thống về giới, thậm chí chính họ lại đề cao người nam giới hơn và đánh giá thấp vị thế của mình
Người dân luôn quan tâm và bức xúc về vấn đề này nên thời gian qua các hoạt động của Nhà nước nhằm tăng cường vị thế của người phụ nữ và giúp họ thoát nghèo nhận được sự đồng thuận và hưởng ứng trong toàn xã hội
Trang 10Xã Đồng Lương là một trong 30 xã, 01 thị trấn của huyện Cẩm Khê - một huyện miền núi của Tỉnh Phú Thọ, ngành nghề chủ yếu của người dân nơi đây là sản xuất nông nhiệp, tiểu thủ công nghiệp Năm 2006 xã triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo (giai đoạn 2006 – 2010) và luôn được đánh giá là đơn vị có nhiều thành tích trong công tác xóa đói giảm nghèo (XĐGN) Tuy nhiên, trên thực tế nhận thức người dân về vấn đề BĐG,
vị thế của người phụ nữ gắn với XĐGN còn nhiều hạn chế, xuất phát từ nhiều nguyên nhân như: định kiến giới, quan điểm gia trưởng trong gia đình về việc
ai làm chủ hộ, ai có quyền định đoạt, quyền tham gia công việc cộng đồng/hoạt động chính trị Dẫn tới tình trạng nhiều hộ gia đình tái nghèo trở lại, đây là vấn đề luôn được đặt ra đối với xã Đồng Lương nói riêng và huyện Cẩm Khê nói chung trong nhiều năm qua
Tại xã Đồng Lương công tác xoá đói giảm nghèo được đặc biệt quan tâm, tuy nhiên tỷ lệ nghèo vẫn rất cao, cụ thể trong năm 2013 tỉ lệ nghèo tại
xã Đồng Lương là 21,8%( tương đương 258 hộ) Công tác giảm nghèo tại xã không bền vững, chỉ mang tính bề mặt Tỉ lệ tái nghèo tại xã năm 2013 là 0,31
% Tại xã đã có cán sự phụ trách về văn hóa xã hội và chuyên trách về công tác xã hội nhưng chưa phát huy được khả năng của mình
Nâng cao nhận thức, phát huy tiềm năng của chính bản thân người nghèo là cách giúp giảm nghèo bền vững nhất trong đó có cách tiếp cận của CTXH Tuy nhiên người dân ít hiểu biết về công tác xã hội và khả năng của
nó trong việc giúp phụ nữ nghèo tự tin, tự quyết hơn trong cuộc sống của mình Thông qua thực hành công tác xã hội nhóm nhân viên CTXH sẽ tạo điều kiện cho họ được hoạt động, thảo luận cùng nhau tìm ra những nguyên nhân, hiệu quả của tình trạng nghèo đói của mình nhìn nhận được việc chính bản thân người phụ nữ có khả năng tự quyết và tìm ra giải pháp có thể giúp
Trang 11gia đình thoát nghèo và giúp đỡ người khác, đồng thời nhân viên công tác xã hội cũng giúp họ kết nối nguồn lực từ địa phương và các tổ chức khác
Trên cơ sở đó học viên quyết định lựa chọn đề tài: “Vai trò của công tác xã hội trong việc nâng cao vị thế của phụ nữ nghèo nông thôn (Thông qua thực hành công tác xã hội nhóm tại xã Đồng Lương-huyện Cẩm Khê- tỉnh Phú Thọ)” làm đề tài luận văn tốt nghiệp Với hy vọng thông qua các
hoạt động cụ thể vị thế của phụ nữ nghèo sẽ được nâng lên trong gia đình và cộng đồng Từ đó, phụ nữ nghèo có thể tự vươn lên trong cuộc sống, nâng cao chất lượng sống của mình, góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hội địa phương Do điều kiện đề tài, tôi chỉ tập chung vào vị thế trong gia đình của phụ nữ nghèo thông qua chính sách tín dụng
2 Tổng quan nghiên cứu:
2.1 Tổng quan:
“Vấn đề phụ nữ và trẻ em thời kỳ 2001 – 2010” (2002), của Vụ Tổng
hợp – Pháp chế (Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội) phối hợp với Nhà xuất bản Lao động – Xã hội biên soạn, nhằm giúp các nhà nghiên cứu, các chuyên gia và cán bộ làm công tác xã hội trong lĩnh vực bảo vệ quyền của phụ nữ và trẻ em, hệ thống hóa chủ trương, đường lối của Đảng, các giải pháp của Nhà nước và chương trình hành động quốc gia trong lĩnh vực này Cuốn sách cũng cung cấp cho chúng ta đường hướng chính trong việc thúc đẩy quyền của phụ nữ và trẻ em thời kỳ 2001 – 2010
“Gia đình học” (2007), Nxb Lý luận Chính trị của GS.TS Đặng Cảnh
Khanh và GS.TS Lê Thị Quý, trình bày một cách hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn về gia đình, phụ nữ, bình đẳng nam nữ Cuốn sách đã nêu ra nhiều thực trạng bất bình đẳng giới trong gia đình, nêu lên các mối quan hệ gia đình từ truyền thống đến hiện đại, các điều tra xã hội học trong cuốn sách
Trang 12đã phân tích một số vấn đề về nghèo đói ảnh hưởng đến gia đình và các thành viên gia đình, chất lượng sống của gia đình và vị thế của phụ nữ nói chung và phụ nữ nghèo nói riêng Từ đó tác giả đưa ra biện pháp nhằm đạt tới sự bình đẳng giới trong gia đình và nâng cao vai trò của gia đình trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
“Xã hội học giới”(2010), NXB Giáo dục Việt Nam của GS.TS Lê Thị
Quý, tác phẩm này đã cung cấp những kiến thức cơ bản về giới theo hệ thống
để nâng cao kiến thức cho người đọc về giới, phụ nữ và mối quan hệ của họ với nam giới trong lịch sử và hiện đại
PGS.TS Phan Thanh Khôi, PGS.TS Đỗ Thị Thạch (chủ biên)(2007):
“Những vấn đề giới: từ lịch sử đến hiện đại” NXB Lý luận chính trị Hà Nội,
đề tài nghiên cứu này đi sâu phân tích các vấn đề về giới của C.Mác, Ăngnghen, LêNin và Hồ Chí Minh, làm rõ địa vị của người phụ nữ trong gia đình, đặc biệt là phân tích quan điểm giới, bình đẳng giới trong đường lối của Đảng, nhà nước
“Bình đẳng giới ở Việt Nam” (2008), Nxb Khoa học Xã hội, của Trần
Thị Vân Anh – Nguyễn Hữu Minh, xác định tình trạng bình đẳng giới, góp phần xây dựng hệ thống dữ liệu về vấn đề giới và bình đẳng giới, qua đó đáp ứng nhu cầu phân tích, đánh giá về bình đẳng
Luận án tiến sĩ kinh tế “ Vận dụng lý thuyết giới trong xóa đói giảm nghèo ở một số tỉnh miền Trung” của Th.S Nguyễn Thị Thuận Luận án đề
cập tới một số lý luận cơ bản về vận dụng lý thuyết giới trong XĐGN, phân tích thực trạng giới và XĐGN ở một số tỉnh miền Trung trong giai đoạn từ năm 1995 – 2002 thông qua mối quan hệ giới với nhiều yếu tố như: chính trị, giáo dục, việc làm, tín dụng…, và có đề xuất một số giải pháp chủ yếu vận dụng lý thuyết giới trong XĐGN ở một số tỉnh miền Trung
Trang 13Tại trung tâm Nghiên cứu gia đình và Phụ nữ (1998-2000) có: “ Điều tra cơ bản về gia đình Việt Nam và vai trò của người phụ nữ trong gia đình thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa” Tác giả đã nghiên cứu chỉ ra các biến
đổi các mối quan hệ cơ bản trong gia đình như mối quan hệ giữa cha mẹ, con cái, vợ chồng… Ví dụ: trước đây người chồng là người kiếm tiền và cũng là người đưa ra các quyết định lớn trong gia đình thì nay phụ nữ có quyền bàn luận, quyết định công việc lớn, người đàn ông tham gia giúp đỡ công việc nhà cho phụ nữ Những thay đổi đó chứng tỏ BĐG cũng đã có xu hướng thay đổi
và vị thế của phụ nữ đã được nâng lên
Nhìn chung, các nghiên cứu trên là phản ánh cách tiếp cận xã hội học Hiện nay có rất ít nghiên cứu về vai trò của công tác xã hội trong việc nâng cao vị thế của phụ nữ nghèo nông thôn ở Việt Nam Vì vậy, học viên chọn đề tài này để làm luận văn tốt nghiệp sẽ mang một ý nghĩa quan trọng khi áp dụng công tác xã hội để giảm tỉ lệ tái nghèo, nâng cao vị thế của phụ nữ
2.2 Lược thảo chính sách về vấn đề BĐG và vị thế của phụ nữ trong XĐGN
Đảng và Nhà nước ta trong nhiều năm qua đẩy mạnh xây dựng và phê duyệt nhiều chiến lược, chính sách, chương trình, kế hoạch liên quan đến vấn
đề BĐG, vị thế của phụ nữ trong XĐGN như: Chiến lược về giới trong ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn (3/2003), Chiến lược quốc gia 10 năm vì
sự tiến bộ của phụ nữ, Kế hoạch hành động 5 năm vì sự tiến bộ của phụ nữ, Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội Việt Nam 2001 – 2010 được Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX thông qua nêu rõ: “Thiết thực chăm lo vì sự bình đẳng về giới, sự tiến bộ của phụ nữ” cùng với sự thành lập và hoạt động hiệu quả của các tổ chức, đơn vị như: Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ (CFAW), Ban vì sự tiến bộ của phụ nữ của
Trang 14Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Cho đến nay, tại Việt Nam cũng đã
có nhiều trung tâm nghiên cứu tham gia nghiên cứu gia đình và giới như:
Trung tâm Nghiên cứu khoa học về gia đình và phụ nữ thuộc Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn quốc gia, Viện xã hội học, Trung tâm Nghiên cứu giới, gia đình và môi trường trong phát triển, Trung tâm Nghiên cứu lao động
nữ thuộc Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, bên cạnh những tài liệu thu thập được tại địa phương, sinh viên cũng tìm hiểu các tài liệu, bài viết liên quan đến vấn đề giới, gia đình và XĐGN:
- Công ước Loại bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW) được Đại hội đồng LHQ phê chuẩn và thông qua ngày 18/12/1979,
có hiệu lực từ tháng 9 năm 1981 Công ước CEDAW là văn kiện quốc tế mang tính ràng buộc pháp lý đầu tiên nhằm ngăn chặn sự phân biệt đối xử với phụ nữ và xây dựng một chương trình nghị sự để thúc đẩy quyền bình đẳng của phụ nữ, trong đó có yêu cầu các quốc gia thành viên cam kết đảm bảo phụ
nữ và nam giới có các cơ hội bình đẳng về quyền dân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá và xã hội Các bên thoả thuận đưa nguyên tắc bình đẳng nam nữ vào hiến pháp quốc gia và/hoặc vào việc xây dựng luật pháp thích hợp khác Công ước buộc các bên áp dụng mọi biện pháp thích hợp để loại bỏ phân biệt đối xử với phụ nữ ở các vùng nông thôn để đảm bảo cơ sở bình đẳng giữa nam và nữ
và hưởng lợi bình đẳng từ “sự phát triển nông thôn” và “trong các hoạt động cộng đồng”
- Cương lĩnh hành động Bắc Kinh năm 1995 nêu ra 12 mục tiêu chiến
lược nhằm tăng quyền năng và thúc đẩy sự tiến bộ của phụ nữ trên toàn cầu,
cụ thể là: Phụ nữ và nghèo đói; Giáo dục và đào tạo cho phụ nữ; Phụ nữ và sức khỏe; Bạo lực đối với phụ nữ; Phụ nữ và xung đột vũ trang; Phụ nữ và
Trang 15kinh tế; Phụ nữ trong bộ máy quyền lực và ra quyết định; Các cơ chế vì sự tiến bộ của phụ nữ; Các quyền con người của phụ nữ; Phụ nữ và truyền thông;
- Chương trình nghị sự 21 toàn cầu được 179 quốc gia tham dự Hội
nghị Thượng đỉnh toàn cầu về Môi trường và Phát triển năm 1992 Chương trình gồm 4 phần chính : Những khía cạnh xã hội và kinh tế của sự phát triển (như đói nghèo, dân số, sức khỏe, mô hình tiêu dung, định cư); Bảo tồn và quản lý các nguồn tài nguyên; Tăng cường vai trò của các nhóm xã hội chính; Những phương tiện để thực hiện (tài chính, công nghệ, khoa học, cơ chế hợp tác, thông tin) Trong đó có chương 24 về Hành động toàn cầu vì Phụ nữ hướng tới phát triển bền vững kêu gọi chính phủ các nước loại bỏ mọi trở ngại đối với việc tham gia đầy đủ của phụ nữ trong phát triển bền vững và đảm bảo đạt được bình đẳng giới trong mọi phương diện xã hội
- Tám Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (MDGs) được các chính phủ ký
kết tại Hội nghị thượng đỉnh Thiên niên kỷ năm 2000 và tất cả đều phải hoàn thành vào năm 2015 Các MDG là lộ trình tiến tới xây dựng thế giới không còn nghèo đói, tất cả trẻ em được học hành, sức khỏe của người dân được nâng cao, môi trường được duy trì bền vững và mọi người được hưởng tự do, công bằng và bình đẳng Trong đó có MDG 3 nhằm tăng cường BĐG và nâng cao năng lực, vị thế cho phụ nữ, MDG 5 nâng cao sức khỏe bà mẹ
- Business Group Formation Empowering Women and Men in Developing Communities, bangkok: ILO, 2008 (Thành lập nhóm kinh doanh
nâng cao vị thế của phụ nữ và nam giới trong cộng đồng) Tài liệu này để cập đến vấn đề lồng ghép giới, nghiên cứu đưa ra 1 tiến trình đào tạo mà trong đó nêu lên việc thành lập nhóm có thể tạo ra những ảnh hưởng quan trọng về
Trang 16kinh tế, tâm lý và xã hội góp phần nâng cao vị thế của phụ nữ qua việc giúp cho họ tự tin hơn, có vị trí xã hội cao hơn, có những kỹ năng tốt hơn
- Ngân hàng thế giới công bố các nghiên cứu về tình trạng đói nghèo
trên thế giới trong đó có Việt Nam Năm 2000 WB công bố “báo cáo về tình hình phát triển thế giới – tấn công nghèo đói” ở tầm vĩ mô Ngoài cung cấp
những thông tin về người nghèo trên thế giới, nghiên cứu còn thể hiện quan điểm, cách tiếp cận, đánh giá trên nhiều phương diện của nghèo đói
3 Mục đích của nghiên cứu
- Nghiên cứu những vấn đề của phụ nữ nghèo trong đó có vị thế của phụ nữ, những khó khăn, thách thức và khả năng của phụ nữ nghèo nông thôn tại xã Đồng Lương- huyện Cẩm Khê- tỉnh Phú Thọ
- Thực hành Công tác xã hội theo nhóm để nâng cao vị thế của phụ nữ nghèo tại địa phương
- Đề xuất các giải pháp để phát huy nghề Công tác xã
4 Ý nghĩa của nghiên cứu
- Luận văn này đưa ra một thí dụ về một địa phương cụ thể đóng góp vào sự hiểu biết về công tác xã hội và bình đẳng giới của người phụ nữ nghèo nông thôn
- Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, dự báo những xu hướng và giải pháp thiết thực trong việc nâng cao vị thế của người nghèo, đặc biệt là vai trò của công tác xã hội cho vấn đề này
5 Câu hỏi nghiên cứu
- Làm thế nào cho người phụ nữ nghèo hiểu được sự cần thiết của công tác xã hội trong việc giúp đỡ họ nâng cao vị thế của mình?
Trang 17- Phương pháp Công tác xã hội theo nhóm giúp ích như thế nào cho phụ nữ nghèo tự tin và nâng cao vị thế của mình, đặc biệt là trong việc tiếp cận với chính sách tín dụng
6 Giả thuyết nghiên cứu
- Tại xã Đồng Lương- huyện Cẩm Khê- tỉnh Phú Thọ, phụ nữ nghèo chưa bao giờ được tiếp cận CTXH
- Tại xã có rất nhiều các chương trình, hoạt động để giúp người nghèo thoát nghèo nhưng đều có những hạn chế vì không phát huy được tiềm năng của chính người nghèo
7 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
- Đối tượng: Vai trò công tác xã hội trong việc nâng cao vị thế cho phụ
nữ nghèo nông thôn ( thông qua thực hành công tác xã hội nhóm tại xã Đồng Lương- huyện Cẩm Khê- tỉnh Phú Thọ)
- Khách thế: Phụ nữ nghèo, lãnh đạo địa phương: như trưởng hội phụ
nữ, cán bộ văn hoá xã, chồng của phụ nữ nghèo
8 Phương pháp nghiên cứu
8.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Để có số liệu cụ thể, chính xác về các vấn đề liên quan, nhà nghiên cứu đã tìm hiểu một số tài liệu như: các nghiên cứu về vấn đề nghèo, xóa đói giảm nghèo, vị thế của phụ nữ, bình đẳng giới trong và ngoài nước;
8.2 Phương pháp phỏng vấn sâu
Trong quá trình thực hiện đề tài tôi đã tiến hành phỏng vấn sâu cá nhân
25 người, trong đó:
Trang 1815 đến 20 phụ nữ nghèo, tìm hiểu nguyên nhân gì họ nghèo, họ đã có
nỗ lực gì để thoát nghèo, kết quả ra sao Khi thực hiện chính sách XDGN phụ
nữ tham gia như thế nào, được bàn bạc và quyết định gì không
03 người là chồng của người nghèo, để tìm hiểu về nhận thức, đánh giá của họ về vị thế trong gia đình của phụ nữ nghèo
02 người là cán bộ địa phương (1 phụ trách văn hóa xã hội và 1 trưởng hội phụ nữ xã) về công tác xóa đói giảm nghèo ở địa phương đã thực thi như thế nào, hội phụ nữ đã giúp đỡ phụ nữ nghèo những gì? Anh chị có biết sự tham gia giữa phụ nữ và nam giới trong việc vay vốn, thực thi vốn vay như thế nào không?
-> Từ đó nhân viên xã hội có đánh giá và nhìn nhận vấn đề nghèo của phụ nữ nghèo nông thôn 1 cách toàn diện hơn
Các kết quả phỏng vấn sâu giúp cho người đọc hiểu rõ hơn, chi
tiết hơn về các vấn đề liên quan đến vị thế của người phụ nữ nghèo nông thôn
8.3 Phương pháp quan sát
Trong quá trình thực hiện nghiên cứu, học viên đã tiến hành quan sát thực trạng đời sống kinh tế xã hội địa phương; Đặc biệt là quan tâm đến nhóm phụ nữ nghèo trong tiến trình CTXH nhóm, các sinh hoạt nhóm
8.4 Phương pháp thảo luận nhóm
Những người tham gia nhóm tiến hành thảo luận các vấn đề, chủ đề mà nhân viên CTXH đưa ra Trong quá trình thảo luận, nhân viên CTXH khuyến khích các thành viên đưa ra ý kiến và lắng nghe ý kiến của người khác Kết thúc thảo luận, nhân viên CTXH nhận xét và đưa ra kết luận
Trang 19Nghiên cứu đã thực hiện cuộc thảo luận nhóm, lồng ghép trong tiến trình thực hành CTXH nhóm Nhân viên công tác xã hội chỉ là người kết nối giúp họ nhận ra được tiềm năng, sức mạnh tiềm ẩn của bản thân mình
9 Phạm vi nghiên cứu
9.1.Thời gian thực hiện
Từ 4 đến tháng 9 năm 2014
9.2 Không gian nghiên cứu
Tại xã Đồng Lương- huyện Cẩm Khê- tỉnh Phú Thọ
9.3 Giới hạn nội dung nghiên cứu
Trong khuôn khổ 06 tháng, học viên chú trọng đến vấn đề vị thế trong gia đình của phụ nữ nghèo nông thôn thông qua chính sách tín dụng ưu đãi
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Chương 1:
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Các khái niệm công cụ
Đề tài sử dụng hệ thống các khái niệm công cụ sau làm cơ sở triển khai
các nội dung nghiên cứu
1.1.1.Khái niệm giới tính (sex)
Giới tính là một thuật ngữ khoa học bắt nguồn từ môn Sinh vật học dùng để chỉ sự khác biệt về sinh học giữa nam và nữ Đó là sự khác biệt phổ thông và không thay đổi được [6, tr31]
1.1.2 Khái niệm giới ( gender)
Trang 20Giới là quan hệ xã hội giữa nam và nữ và cách thức mối quan hệ đó được xây dựng nên trong xã hội [6, tr34]
1.1.3 Khái niệm bình đẳng giới
“Bình đẳng giới nghĩa là phụ nữ và nam giới có vị trí như nhau trong xã hội Bình đẳng giới không có nghĩa là nam giới và phụ nữ phải như nhau, mà
là sự giống nhau và khác nhau giữa phụ nữ và nam giới phải được công nhận
và đánh giá một cách bình đẳng Bình đẳng giới có nghĩa là phụ nữ và nam giới có điều kiện như nhau để thực hiện đầy đủ các quyền của mình và có cơ hội để đóng góp và thụ hưởng sự phát triển chính trị, kinh tế - xã hội và văn hoá của đất nước” (SaNu- Indonesia ngày 20-25/2/200) [24]
“Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và có cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó” (Luật Bình đẳng giới, 2007)
1.1.4 Định kiến giới
“ Định kiến giới là sự nhận định của mọi người trong xã hội về những
gì mà phụ nữ và nam giới có khả năng và các loại hoạt động mà họ có thể làm với tư cách họ là nam hay là nữ” [6, tr44]
1.1.5 Khái niệm phân biệt đối xử theo giới
“Phân biệt đối xử theo giới là bất kỳ sự phân biệt, loại trừ hay hạn chế nào dựa trên cơ sở giới tính có tác dụng hoặc nhằm mục đích làm tổn hại hoặc
vô hiệu hóa việc phụ nữ được công nhận, hưởng thụ hay thực hiện một cách bình đẳng các quyền con người và những quyền tự do cơ bản trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, dân sự và các lĩnh vực khác, bất kể tình
trạng hôn nhân của họ” [16]
Trang 211.1.6 Khái niệm vai trò giới
“Vai trò giới là các công việc mà phụ nữ và nam giới thực hiện với tư cách là nam hay nữ, Phụ nữ và nam giới thường có 3 vai trò giới
Vai trò sản xuất: gồm các công việc nhằm tạo ra thu nhập bằng tiền hoặc hiện vật để tiêu dùng hoặc trao đổi
Vai trò tái sản xuất: bao gồm trách nhiệm sinh đẻ, nuôi con và những công việc nhà cần thiết để duy trì và tái sản xuất sức lao động Ví dụ như việc nội trợ, việc chăm sóc con cái, chăm nom người ốm Đây là các việc “không tên”, không tạo ra thu nhập, thường do người phụ nữ đảm nhận và ít được xã hội đánh giá đúng mức
Vai trò cộng đồng: là các công việc thực hiện ở ngoài cộng đồng nhằm phục vụ cho cuộc sống chung của mọi người”[6tr43]
1.1.7 Khái niệm nhạy cảm giới và trách nhiệm giới
Nhạy cảm giới là nhận thức được các nhu cầu, vai trò, trách nhiệm
mang tính xã hội của phụ nữ và nam giới nảy sinh từ những đặc điểm sinh học vốn có của họ Đồng thời hiểu được điều này dẫn đến khác biệt giới về khả năng tiếp cận, kiểm soát nguồn lực và mức độ tham gia, hưởng lợi trong quá trình phát triển của nam và nữ[7(1)]
Ví dụ: một người cán bộ làm công tác thông tin truyền thông hiểu được rằng phụ nữ ít có cơ hội thu nhận thông tin nói chung và thông tin về bình đẳng giới vì các thông tin này thường được phát vào thời gian người phụ nữ đang nấu ăn hoặc chăm sóc con cái
Trách nhiệm giới là có nhạy cảm giới và có những biện pháp hoặc hành
động thường xuyên, tích cực và nhất quán trong công việc để loại trừ nguyên nhân BBĐG nhằm đạt được BĐG [7(1)]
Trang 22Ví dụ khi người làm công tác thông tin truyền thông có nhạy cảm giới,
họ đã điều chỉnh bằng cách phát lại thông tin về BĐG nhiều lần trong ngày thay vì chỉ phát một lần vào giờ nấu cơm Như vậy có thể cho rằng họ đã có trách nhiệm giới trong quá trình triển khai tổ chức thực hiện công tác thông tin truyền thông
1.1.8 Khái niệm nhu cầu giới
Nhu cầu giới là nhu cầu mà mỗi giới có nguyện vọng, yêu cầu được đáp ứng để thực hiện tốt vai trò của mình Nhu cầu của nam khác nhu cầu của
nữ và do nhiều yếu tố khác nhau hình thành Nhu cầu nảy sinh từ đời sống hàng ngày và thường góp phần củng cố phân công lao động theo giới
Nhu cầu giới thực tế: là những nhu cầu có liên quan đến cải thiện điều kiện sống hiện tại nhưng vẫn duy trì mối quan hệ lệ thuộc của phụ nữ và nam giới (lệ thuộc về kinh tế, trong việc ra quyết định ) Ví dụ nhu cầu về thực phẩm, nhà ở, thu nhập, CSSK
Nhu cầu giới chiến lược (còn gọi là lợi ích giới): là những nhu cầu giúp cho người phụ nữ thoát khỏi vị trí lệ thuộc, yếu kém, làm thay đổi mối quan
hệ BBĐ nam và nữ Ví dụ nhu cầu tăng năng lực, nâng cao kiến thức [3 tr11]
1.1.9 Vị thế xã hội
Vị thế xã hội là vị trí xã hội gắn với những trách nhiệm và những quyền lợi gắn kèm theo Nói cách khác, vị thế xã hội chính là một khái niệm tổng hợp nhằm chỉ vị trí xã hội cùng với những quyền lợi và nghĩa vụ tương ứng với các vị trí đó Như vậy, vị thế xã hội khác vị trí xã hội Việc xác định quyền và nghĩa vụ cho các cá nhân ở các vị trí xã hội khác nhau cũng thay đổi theo từng xã hội, từng khu vực Nó dường như là hệ quả của sự bất bình đẳng trong xã hội, ở xã hội bất bình đẳng và có tính gia trưởng cao, mức độ quyền hạn và nghĩa vụ của nam giới sẽ cao hơn quyền và nghĩa vụ của phụ nữ
Các loại vị thế xã hội:
Trang 23Vị thế có sẵn – bị gán cho: là các vị trí xã hội gắn liền với những yếu tố
tự nhiên, bẩm sinh như giới tính, chủng tộc, dòng họ, nơi sinh Ví dụ, một người Việt Nam sinh ra ở Hà Nội sẽ có những vị thế là người da vàng, được sinh ra ở Hà Nội
Vị thế đạt được: Đó là những vị thế được xác định dựa trên các vị trí xã hội mà các cá nhân giành được trong quá trình hoạt động sống, bằng sự cố gắng của bản thân Ví dụ, một nữ nhân viên được thăng chức lên giám đốc khi
cô ấy chăm chỉ, cố gắng nâng cao năng lực chuyên môn và duy trì mối quan
hệ tốt với đồng nghiệp
Một số vị thế vừa mang tính có sẵn, vừa mang tính đạt được
Mỗi cá nhân bao giờ cũng có nhiều vị trí xã hội khác nhau, vì họ tham gia vào nhiều mối quan hệ khác nhau Do đó, họ cũng có nhiều vị thế xã hội tương ứng, các vị thế của cá nhân thường hòa nhập với nhau
Mỗi cá nhân bao giờ cũng có một vị thế chủ đạo (Master status) xác định bộ mặt xã hội, chân dung xã hội của cá nhân đó Trong quá trình tương tác, cá nhân thường hành động căn cứ theo vị thế chủ đạo của mình.[17]
1.1.10 Vai trò xã hội (Social role)
Vai trò xã hội là mô hình hành vi được xác lập một cách khách quan căn cứ vào đòi hỏi của xã hội đối với từng vị thế nhất định, để thực hiện những quyền và nghĩa vụ tương ứng với các vị thế đó [17]
1.1.11 Khái niệm nghèo đói
“ Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có khả năng thỏa mãn một phần các nhu cầu cơ bản của con người và có mức sống ngang bằng với mức sống tối thiểu của cộng đồng xét trên mọi phương diện
Đói là tình trạng một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức tối thiểu, không đảm bảo nhu cầu vật chất để duy trì cuộc sống”.[23(2)]
Trang 241.1.12 Khái niệm xoá đói giảm nghèo
“Xóa đói giảm nghèo là tổng thể các hoạt động trực tiếp hoặc gián tiếp nhằm thực hiện mục đích hỗ trợ những điều kiện cơ bản (như ăn, mặc, ở, đi lại, học hành, chữa bệnh, tiếp xúc văn hóa, xã hội ) để người nghèo có thể tồn tại và phát triển để dần đạt tới mức trung bình như các thành viên khác trong cộng đồng” [12, tr.34]
Có tới 4 quan điểm về XĐGN như sau:
Thứ nhất, XĐGN phải dựa trên cơ sở tăng trưởng kinh tế nhanh, hiệu quả và bền vững, đồng thời chủ động tạo các nguồn lực cho các hoạt động trợ giúp người nghèo đói
Thứ hai, XĐGN không chỉ là nhiệm vụ của Nhà nước, của toàn xã hội,
mà trước hết là bổn phận của chính người nghèo, phụ thuộc vào sự vận động
tự giác của bản thân người nghèo, cộng đồng nghèo
Thứ ba, triển khai có hiệu quả các chương trình, dự án XĐGN bằng các nguồn tài chính trợ giúp của Nhà nước và các tổ chức trong và ngoài nước
Thứ tư, việc hỗ trợ và cho vay vốn hộ nghèo phải đi liền với công tác tư vấn, hướng dẫn sử dụng vốn vay có hiệu quả căn cứ vào hoàn cảnh cụ thể của
từng hộ gia đình (Đỗ Thị Dinh (2009) -Xóa đói giảm nghèo: Phương pháp tiếp cận mới)
1.1.13 Khái niệm nông thôn
Nông thôn là một phần lãnh thổ của nhà nước hay một đơn vị hành chính nằm ngoài lãnh thổ đô thị, có môi trường tự nhiên, hoàn cảnh kinh tế xã hội, điều kiện sống khác biệt với thành thị và dân cư chủ yếu làm nông nghiệp
1.2 Các khái niệm công cụ liên quan công tác xã hội
Trang 25Theo Nasw- Hiệp hội nhân viên xã hội quốc gia: CTXH là những hoạt
động chuyên nghiệp nhằm mục đích giúp đỡ các cá nhân, nhóm và cộng đồng trong hoàn cảnh khó khăn, để họ tự phục hồi chức năng hoạt động trong xã hội
và để tạo ra các điều kiện thuận lợi cho họ đạt được những mục đích cá nhân
Theo IFSW- Liên đoàn chuyên nghiệp Quốc tế (Tại Đại hội Montreal-
tháng 7/2000): CTXH chuyên nghiệp thúc đẩy sự thay đổi xã hội, việc giải quyết các vấn đề trong các mối quan hệ con người và tăng quyền lực và giải phóng người dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái dễ chịu Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và hệ thống xã hội, CTXH can thiệp ở các điểm tương tác giữa con người và môi trường của họ Nhân quyền và công bằng xã hội là các nguyên tắc căn bản của nghề
Theo Nguyễn Thị Oanh- người có nhiều kinh nghiệm trong giảng dạy CTXH: CTXH là hoạt động thực tiễn, mang tính tổng hợp cao,được thực
hiện theo nguyên tắc và phương pháp nhất định nhằm hỗ trợ cá nhân và nhóm người trong việc giải quyết các vấn đề đời sống của họ;qua đó CTXH theo đuổi mục tiêu vì phúc lợi, hạnh phúc con người và tiến bộ xã hội
Theo tác giả Lê Văn Phú: CTXH là sự vận dụng các lý thuyết khoa
học về hành vi con người và hệ thống xã hội nhằm khôi phục lại các chức năng xã hội và thúc đẩy sự thay đổi liên quan đến vị trí, địa vị, vai trò của cá nhân, nhóm, cộng đồng, người yếu thế nhằm tới sự bình đẳng và tiến bộ xã hội
CTXH còn là một dịch vụ chuyên môn hoá, góp phần giải quyết những vấn đề xã hội liên quan đến con người nhằm thoả mãn các nhu cầu cơ bản của những cá nhân, nhóm, cộng đồng xã hội, mặt khác góp phần giúp cá nhân tự
nhận thức về vị trí, vai trò xã hội của chính mình
1.2.2 Khái niệm công tác xã hội nhóm
Trang 26Theo các tác giả Toseland và Rivas (1998), có nhiều cách tiếp cận với CTXH nhóm và mỗi cách tiếp cận đều có những điểm mạnh và ứng dụng thực hành cụ thể Vì vậy, các tác giả này đã đưa ra một định nghĩa bao quát được bản chất của CTXH nhóm và tổng hợp được những điểm riêng biệt của các cách tiếp cận với CTXH nhóm như sau: “CTXH nhóm là hoạt động có mục đích với các nhóm nhiệm vụ và trị liệu nhỏ nhằm đáp ứng nhu cầu tình cảm
xã hội và hoàn thành nhiệm vụ Hoạt động này hướng trực tiếp tới cá nhân các thành viên trong nhóm và tới toàn thể nhóm trong một hệ thống cung cấp dịch vụ” Hoạt động có mục đích được các tác giả này nhấn mạnh là hoạt động có
kế hoạch đúng trật tự, hướng tới nhiều mục đích khác nhau, ví dụ như để hỗ trợ hay giáo dục nhóm giúp các thành viên trong nhóm giao tiếp và phát triển
cá nhân Định nghĩa này cũng nhấn mạnh hoạt động có định hướng không chỉ riêng với cá nhân thành viên trong nhóm mà với cả toàn thể nhóm
Trong từ điển CTXH của Barker (1995), CTXH nhóm được định nghĩa là: “Một định hướng và phương pháp can thiệp CTXH, trong đó các thành viên chia sẻ những mối quan tâm và những vấn đề chung, họp mặt thường xuyên và tham gia vào các hoạt động được đưa ra nhằm đạt được những mục tiêu cụ thể Đối lập với trị liệu tâm lí nhóm, mục tiêu của CTXH nhóm không chỉ là trị liệu những vấn đề về tâm lí, tình cảm mà còn là trao đổi thông tin, phát triển các kĩ năng xã hội và lao động, thay đổi các định hướng giá trị và làm chuyển biến các hành vi chống lại xã hội thành các nguồn lực hiệu quả Các kĩ thuật can thiệp đều được đưa vào quá trình CTXH nhóm nhưng không hạn chế kiểm soát những trao đổi về trị liệu”
Mặt khác, cũng có nhiều cách hiểu, cách tiếp cận về CTXH nhóm khác nhau, nhưng dù được định nghĩa trên phương diện nào thì CTXH nhóm trước hết phải được coi là một phương pháp can thiệp của CTXH Đây là một tiến trình trợ giúp nhằm tạo dựng và phát huy sự tương tác, chia sẻ kinh nghiệm,
Trang 27nguồn lực giữa các thành viên, giúp củng cố tăng cường chức năng xã hội và khả năng giải quyết vấn đề, thỏa mãn nhu cầy của nhóm Thông qua sinh hoạt nhóm, mỗi cá nhân hòa nhập, phát huy tiềm năng, thay đổi thái độ, hành vi và khả năng đương đầu với nan đề của cuộc sống, tự lực và hợp tác giải quyết vấn đề đặt ra vì mục tiêu cải thiện hoàn cảnh một cách tích cực [18]
Tóm lại, CTXH nhóm là phương pháp mà người làm CTXH chỉ đóng vai trò là chất xúc tác, hướng dẫn, tổ chức sinh hoạt nhóm để chính các thành viên trong nhóm có sự tương tác lẫn nhau và dùng mối quan hệ đó làm công
cụ chính để nhận diện vấn đề của cá nhân trong nhóm hay của nhóm đó CTXH với từng nhóm cụ thể được đánh giá là thành công khi chính thành viên trong nhóm nhận thức được vai trò, trách nhiệm của mình, nỗ lực và chung sức giải quyết vấn đề của nhóm tạo ra sự chuyển biến tích cực trong thái độ, hành vi của mỗi thành viên cũng như đạt được mục tiêu đặt ra một cách bền vững
1.3 Lí thuyết ứng dụng trong nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu sử dụng một số lý thuyết để phân tích và đánh giá
vấn đề, trong đó cách tiếp chủ yếu được vận dụng từ lý thuyết là thuyết nhu cầu, lý thuyết giới và phát triển
1.3.1 Thuyết nhu cầu của Maslow
Nghiên cứu áp dụng lý thuyết nhu cầu của Abraham Harold Maslow (1908 - 1970) đề cập đến vai trò và thứ bậc sắp xếp các nhu cầu theo một hệ thống trật tự cấp bậc từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp của con người, trong đó các nhu cầu ở mức độ cao hơn muốn xuất hiện thì cần thỏa mãn các nhu cầu ở mức độ thấp hơn Dựa vào lý thuyết này có thể thấy, con người là một thực thể tâm - sinh lý xã hội nên ở mỗi cá nhân đều có nhu cầu cần cho
sự sống (nhu cầu sinh lý) và nhu cầu xã hội Theo đó, con người luôn khao khát và mong muốn đấu tranh để thoả mãn những nhu cầu khác nhau của bản
Trang 28thân, trong đó những mức nhu cầu bậc thấp bao giờ cũng cấp thiết và quan trọng nên chúng đóng vai trò là cơ sở nguồn, định hướng của mục tiêu cá nhân khi những nhu cầu khác không được thỏa mãn Những nhu cầu bậc thấp được thoả mãn thì những nhu cầu cao hơn sẽ là động cơ hành động, còn nếu những nhu cầu bậc dưới chưa được thỏa mãn thì nó sẽ lấn át những nhu cầu ở bậc cao hơn Chính vì vậy, để đảm bảo thỏa mãn đồng thời các nhu cầu trong bậc thang nhu cầu của con người cần thỏa mãn trước nhu cầu bậc thấp khi một cá nhân tiến lên các bậc cao hơn của tháp nhu cầu Cụ thể, con người có khuynh hướng tự thể hiện mình theo năm nhu cầu cơ bản sau từ thấp lên cao: (1) Nhu cầu sinh lý cơ bản; (2) Nhu cầu an toàn; (3) Nhu cầu xã hội; (4) Nhu cầu được tôn trọng; (5) Nhu cầu tự khẳng định
Nhu cầu sinh lý cơ bản bao gồm nhu cầu cần có như không khí, thức
ăn, nhà ở (chỗ trú), quần áo (che thân), nghỉ ngơi… Mỗi cá thể sống trên trái
đất muốn tồn tại không thể thiếu được nhu cầu này Tiếp theo, nhu cầu an toàn thể hiện con người trên khắp thế giới đều mong muốn được sống trong
thế giới hòa bình, không có chiến tranh, không có bạo lực bởi vì chỉ khi cảm thấy an toàn đồng đều cả về mặt thể chất và tâm lý thì con người mới có khả
năng phát triển các nhu cầu ở bậc cao hơn Sau đó, nhu cầu xã hội được thỏa
mãn khi con người thuộc về một nhóm xã hội nào đó để có thể giao tiếp và được yêu thương, chia sẻ Không ai muốn cô đơn, bị gạt bỏ ra ngoài lề xã hội
mà đều muốn được sống hạnh phúc trong gia đình và thuộc vào một nhóm xã hội như gia đình, bạn bè, cộng đồng… Để đạt được điều đó, con người phải tham gia vào các mối quan hệ xã hội nhằm mục đích tương tác với những cá
nhân khác trong xã hội Nhu cầu tiếp theo là nhu cầu được tôn trọng để thể
hiện và mong muốn được người khác thừa nhận giá trị của bản thân Mỗi con người sống trong xã hội luôn đặt mục tiêu cho bản thân phấn đấu để đạt được những yêu cầu, chuẩn mực của xã hội, tạo thành nhân cách cho bản thân
Trang 29nhằm mong muốn có được sự tôn trong trọng của mọi người xung quanh
Cuối cùng, nhu cầu tự khẳng định là sự mong muốn được thể hiện những kết
quả đạt được, những thành tích của cá nhân để được xã hội thừa nhận Nhu cầu này là nhu cầu cao nhất trong bậc thang năm nhu cầu của Maslow nên để vươn tới thỏa mãn được nó, mỗi cá nhân cần có một nghị lực và ý chí phi thường [7]
Vận dụng cách sắp xếp và quy tắc trong thang bậc nhu cầu của
Maslow, học viên có thể xác định được một cách cụ thể các nhu cầu chủ yếu của người nghèo để từ đó tìm hiểu những nguyên nhân dẫn đến thiếu hu ̣t trong nhu cầu mà phụ nữ nghèo đang gặp phải để có biện pháp điều chỉnh phù hợp Đồng thời, giúp phụ nữ nghèo phát hiện được tiềm năng của bản thân giúp phụ nữ nghèo nâng cao vị thế của mình trong gia đình
1.3.2 Lý thuyết giới và phát triển
Lý thuyết giới và phát triển bao gồm thuyết nữ quyền, học thuyết Mác-
Lê Nin và nhận thức về giới hiện đại, quan niệm về bất bình đẳng giới
Lý thuyết nữ quyền xuất hiện vào cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, chia ra nhiều trường phái như thuyết nữ quyền tự do, thuyết nữ quyền Macxit, thuyết nữ quyền cấp tiến, thuyết nữ quyền hiện sinh…mỗi thuyết nêu lên một quan điểm nhưng tựu chung lại tất cả các trường phái vẫn nằm trong một thể thống nhất nói lên sự BBĐG, quyền của phụ nữ và khả năng bình đẳng giữa nam và nữ
Theo quan điểm của V.I Lê Nin, ông đặc biệt quan tâm đến phụ nữ bởi
họ có vai trò quan trọng trong gia đình, trong việc nuôi dạy con cái, ông đưa
ra những chính sách như: cấm phụ nữ làm đêm, lao động được nghỉ trước 8 tuần trước khi sinh và 8 tuần sau khi sinh Ông cho rằng trong gia đình, các
Trang 30thành viên có quan hệ bình đẳng dân chủ, phụ nữ cũng như nam giới được coi trọng như nhau
Cùng học thuyết chủ nghĩa Mác Lê Nin, lý thuyết nữ quyền đã tạo ra lý thuyết giới và phát triển nghĩa là mối quan hệ giới và phát triển trong xã hội hiện đại
Phương pháp tiếp cận Phụ nữ trong phát triển (Women In Development – viết tắt là WID) tập trung vào việc làm thế nào để phụ nữ được tham gia tốt
hơn vào các sáng kiến phát triển hiện có, chủ yếu thúc đẩy sự tham gia của phụ nữ với tư cách là người thụ hưởng chứ chưa phải là tác nhân của công cuộc phát triển Tuy nhiên, phương pháp WID chỉ tập trung vào phụ nữ, còn những vấn đề xã hội, kinh tế, chính trị và văn hóa lại được xem xét một cách độc lập hoặc tách biệt Do đó, vô hình chung nó đã tách phụ nữ ra khỏi quá trình ra quyết định của chính quyền
Theo kết quả nghiên cứu và kinh nghiệm từ phương pháp WID, vào đầu những năm 1990, người ta ngày càng nhận thấy rằng rào cản đối với sự bình đẳng chủ yếu do các yếu tố xã hội tạo nên và tồn tại bởi một loạt những
di chứng lịch sử, tư tưởng, văn hóa, kinh tế và tôn giáo Những rào cản này thường ăn sâu và khó thay đổi Song một số bằng chứng lại cho thấy những ảnh hưởng này không thể không thay đổi được
Sự BBĐ của phụ nữ thường do nhiều yếu tố kết hợp lại (xã hội, kinh tế, chính trị và văn hóa), tác động tới đời sống của phụ nữ và nam giới một cách khác nhau Do đó, cần phải hệ thống và lý giải mối quan hệ giữa phụ nữ và nam giới trong các bối cảnh xã hội khác nhau và xây dựng chiến lược thay đổi
có tính đến các mối quan hệ này
Phương pháp tiếp cận Giới và Phát triển (Gender And Development – viết tắt là GAD) mới đây thừa nhận rằng:
Giới không phải là “vấn đề của phụ nữ” mà là vấn đề mối quan hệ
Trang 31Phụ nữ và nam giới có nhu cầu khác nhau và mang đặc thù của giới Không thể cư xử với phụ nữ như nam giới
Phụ nữ thường yếu thế hơn so với nam giới
Bản chất của sự BBĐ thường có tính hệ thống và cơ cấu
Những khác biệt về giới cũng có thể làm nam giới bị yếu thế
Có rất nhiều tranh luận về sự khác nhau giữa phương pháp WID và GAD, bao gồm cả những ý kiến ủng hộ và phản đối Qua phân tích, hai phương pháp này có thể bổ sung chứ không mâu thuẫn nhau Các cá nhân và
tổ chức cần tránh sự nhầm lẫn về 2 phương pháp này và cần xây dựng phương pháp tiếp cận kết hợp các chiến lược tối ưu nhằm thực hiện BĐG [24, Tr.7-8]
Trong tác phẩm “Xã hội học giới” (2010), tác giả Lê Thị Quý đã đề cập đến vấn đề bình đẳng giới là nhân tố quan trọng trong sự phát triển Bà chỉ ra rằng Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương tạo điều kiện cho phụ nữ phát triển, nâng cao địa vị của phụ nữ trong gia đình và xã hội Bà cũng kiên quyết với quan điểm: vai trò của phụ nữ là hết sức quan trọng, phụ nữ phải gánh vác những công việc mà nam giới không thể làm thay như mang thai, sinh đẻ, nuôi con bằng sữa Vì vậy việc nâng cao vị thế của phụ nữ ngang tầm với nam giới là điều cần thiết
Qua lý thuyết giới và phát triển, học viên hiểu rõ hơn những nghiên cứu
về phụ nữ, giới và bình đẳng giới Từ đó học viên tìm ra được sự bất bình đẳng, vị thế của phụ nữ nghèo nông thôn tại địa bàn để có cách can thiệp, giúp đỡ phụ nữ nghèo một cách phù hợp
1.4 Các đặc điểm về tự nhiên xã hội chủ yếu của xã Đồng Lương- Cẩm Khê- Phú Thọ ảnh hưởng đến thực trạng vị thế của phụ nữ nghèo nông thôn
1.4.1 Đặc điểm tự nhiên
Về vị trí địa lý
Trang 32Đồng Lương là một xã trung du miền núi nằm ở phía Tây Bắc của Huyện Cẩm Khê
Diện tích đất tự nhiên của xã là 17,4km2, xã có địa hình tương đối phức tạp với vùng đồi núi có độ cao từ 200 – 1.000m so với mặt nước biển, xã có vùng đồng bằng phù sa ven sông hồng
Về điều kiện khí hậu thủy văn
Xã Đồng Lương có độ ẩm 83%, nhiệt độ trung bình năm 22,4 – 22,30
C, cao nhất từ 30 – 400C, thấp nhất vào mùa đông xuống đến 5 – 150C Biên độ nhiệt độ ngày đêm tương đối lớn từ 10 – 120C
Lượng mưa năm khá cao, trung bình 3.120 mm/năm, tháng có lượng mưa lớn nhất là tháng 6 (810mm) Gió mùa Đông Bắc thổi mạnh từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau, ở vùng núi có sương muối Bão thường xuất hiện vào tháng 6 đến tháng 10, gây thiệt hại lớn cho sản xuất và đời sống nhân dân
Về tài nguyên thiên nhiên
Ở vùng đồi núi xã có đất ferarit trồng cây chè, cao su, trồng rừng có độ dốc 15 - 250
1.4.2 Đặc điểm kinh tế
Về sản xuất nông nghiệp
Tổng diện tích gieo trồng năm 2013 là 382,33ha ha, trong đó diện tích cây lúa là 240,03 ha, diện tích cây ngô là 103 ha Tổng sản lượng lúa ngô đạt 1607,6 tấn
Diện tích chè trong các hộ tư nhân toàn xã là 20,6 ha, có 50% diện tích chè cành cho năng suất và chất lượng cao
Về chăn nuôi: gia súc, gia cầm trong các hộ tư nhân không ngừng tăng
về số lượng và chất lượng: Đàn trâu, bò hiện có là 45 con, đàn lợn là 1620 con, đàn gia cầm các loại là 35.700 con
Về thu chi ngân sách:
Tổng thu trong năm 2013 tại xã là 5.373.857.960 đồng
Tổng chi trong năm 2013 là 5.369.557.460 đồng, đạt 9102,31 % kế hoạch
1.4.3 Đặc điểm xã hội
Trang 33Về văn hóa – xã hội
Xã có 1 bưu điện, 16 nhà văn hóa sinh hoạt cộng đồng, là nơi tổ chức các buổi họp dân, tuyên truyền pháp luật, bình xét hộ nghèo, các chính sách XĐGN và BĐG tới người dân Người dân trong các thôn thực hiện lối sống theo quy ước xây dựng làng văn hóa, gia đình văn hóa
Về giáo dục
Xã có 01 trường THCS đạt chuẩn quốc gia, 01 trường tiểu học, 01 trường mầm non với 205 cháu
Về y tế : Xã có 1 trạm y tế, gồm 4 y sỹ, 2 nữ hộ sinh và 1 dược sỹ
Về hệ thống đường, điện, nước sạch
Xã có đường quốc lộ 32 chạy qua, đường liên thôn đã được rải nhựa, 100% hộ gia đình có điện thắp sáng
1.4.4 Những thuận lợi và khó khăn tác động tới vị thế của phụ nữ nghèo nông thôn tại xã hiện nay
Thuận lợi:
Xã có các điều kiện thuận lợi để tuyên truyền và nâng cao nhận thức của người dân về vị thế trong gia đình của phụ nữ như:
Xã có đường quốc lộ 32
chạy qua, thuận lợi cho người dân trong việc
đi lại, lưu thông hàng hóa và tiếp cận các chính sách xã hội Hệ thống đường liên thôn đã được rải nhựa, không những tạo thuận lợi cho việc đi lại, giao lưu buôn bán, trao đổi kinh nghiệm của người dân mà các cán bộ làm công tác tuyên truyền về BĐG và các chính sách về vay tín dụng ưu đãi, khám chữa bệnh miễn phí…đi lại dễ dàng hơn, đặc biệt vào mùa mưa lũ
Ngoài số lượng dân gốc, trên địa bàn xã có nhiều dân nhập cư từ các địa phương khác, làm phong phú thêm về phong tục tập quán, phương thức sản xuất và các tư tưởng tiến bộ
Trang 34 Chính quyền và người dân tích cực đầu tư và động viên con em nâng cao trình độ, thể hiện qua tỷ lệ học sinh nhập học các cấp hàng năm Đây là nền tảng nâng cao trình độ nhận thức về BĐGvà vị thế của phụ nữ cho người dân
Đội ngũ cán bộ chính quyền xã luôn nghiêm túc thực hiện chính sách giảm nghèo, nhiệt tình trong công việc và nhận thức được tầm quan trọng của BĐG và vị thế của phụ nữ Trong những năm qua, chính quyền xã có các hoạt động hỗ trợ người dân tiếp cận và hiều các chính sách văn hóa – xã hội tiến
bộ như: tuyên truyền về luật BĐG và vị thế cho phụ nghèo, kế hoạch hóa gia đình, huy động người dân tham gia xây dựng xã lành mạnh, không có tệ nạn
xã hội, nhờ đó nhiều hộ gia đình thoát nghèo bền vững, đời sống tinh thần phong phú, lành mạnh
là nguyên nhân dẫn tới trình độ học vấn và khả năng tiếp nhận tư tưởng tiến
bộ về BĐG và vị thế của phụ nữ nghèo của nhiều người dân hạn chế
Công tác tuyên truyền BĐG và vị thế của Phụ nữ trong nhiều năm qua luôn được đẩy mạnh nhưng chưa đạt được nhiều hiệu quả vì quan niệm trọng nam khinh nữ vẫn còn tồn tại hết sức nặng nề trong tư tưởng của phần lớn người dân
Về y tế, trạm y tế xã còn thiếu thiết bị khám chữa bệnh nên chủ yếu phục vụ cho các đợt tiêm phòng, khám các bệnh nhẹ Điều này hạn chế việc chăm sóc sức khỏe của nhiều phụ nữ nghèo không có điều kiện đi lại và bận rộn với công việc gia đình
Vào các dịp cao điểm, đặc biệt vào mùa hè thường xảy ra tình trạng mất điện, rất ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống sinh hoạt, sản xuất của người dân và việc tuyên truyền thông tin qua loa phát thanh khi cần thiết
Trang 35Như vậy, những đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã, với các mặt thuận lợi và khó khăn như trên có ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp tới việc nâng cao ý thức người dân về vấn đề BĐG và vị thế của phụ nữ
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Những nội dung của Chương 1 nêu ra là cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu, bao gồm những lý luận về giới, về bất bình đẳng giới, xóa đói giảm nghèo… và đưa ra các phương pháp can thiệp khác nhau để trợ giúp phụ nữ nghèo Bên cạnh đó còn phân tích đặc điểm về tình hình kinh tế, xã hội tại xã ảnh hưởng như thế nào đến việc phát triển kinh tế, đặc biệt là việc tham gia vay vốn, xóa đói giảm nghèo cho phụ nữ Việc cập nhật thông tin về địa bàn nghiên cứu sẽ giúp ích rất nhiều cho quá trình nghiên cứu
Từ những cơ sở lý luận nêu trên, học viên sẽ có cơ sở để nghiên cứu, phân tịch cũng như áp dụng công tác xã hội nhóm cho đối tượng là phụ nữ nghèo đạt hiệu quả cao
Trang 36Chương 2:
THỰC TRẠNG CỦA PHỤ NỮ NGHÈO VÀ VỊ THẾ CỦA HỌ TẠI XÃ
ĐỒNG LƯƠNG- HUYỆN CẨM KHÊ- TỈNH PHÖ THỌ
2.1 Tình trạng nghèo của phụ nữ tại xã Đồng Lương- huyện Cẩm Khê- Tỉnh Phú Thọ
Ngày 30/1/2011 Thủ tướng chính phủ ban hành Quyết định số 09/2001/QĐ-TTg về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011- 2015 Chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011-2015 như sau: Hộ nghèo ở nông thôn là hộ nghèo có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng (từ 4.800.000 đồng/người/năm) trở xuống; Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000 đồng đến 520.000 đồng/người/tháng
Theo số liệu từ UBND xã Đồng Lương cung cấp thì tại xã hiện nay có
258 hộ nghèo, 198 hộ cận nghèo.Trong đó chỉ có 26 hộ có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên phụ nữ (chiếm 10,1% tổng số hộ nghèo) và có 18/26 hộ nghèo trên là phụ nữ đơn thân, còn lại là 232 hộ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên nam giới (chiếm 89.9% tổng số hộ nghèo)
Phụ nữ nghèo tại xã chủ yếu là những gia đình có hoàn cảnh khó khăn, sống đơn thân, học vấn thấp, ít đất đai, không có vốn Độ tuổi của phụ nữ nghèo chủ yếu từ 25-45 tuổi
Theo tìm hiểu có nhiều nguyên nhân dẫn đến nghèo ở xã như: thiếu vốn sản xuất, thiếu đất canh tác, thiếu kinh nghiệm không bắt kịp với kinh tế thị trường, không tiếp thu được những kỹ thuật mới, đông người ăn theo, trình độ học vấn thấp Tại xã đã có rất nhiều chương trình khuyến nông như: cung ứng chè giống, bò lai, hỗ trợ chăn nuôi thuỷ sản nhưng kết quả không mang lại hiệu quả như ý muốn
Trang 37Từ khi triển khai Nghị định số 78/2002/NĐ-CP ngày 04/10/2002 của Chính phủ Về tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác, với việc loại bỏ điều kiện thế chấp tài sản, phụ nữ nghèo không cần có tên trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vẫn có thể đứng tên vay vốn như nam giới
Chính sách mở rộng nhưng thực tế phụ nữ nghèo nông thôn tại xã đứng tên vay vốn chiếm tỉ lệ rất ít Phỏng vấn sâu chị Nguyễn Thị H- khu 10 xã
Đồng Lương về nguyên nhân tại sao phụ nữ không trực tiếp vay vốn chị nói:“ Tôi nghĩ đó là việc của chồng cần phải lo Mình là đàn bà biết gì mà đứng tên vay Đàn ông trụ cột lo khoản đứng tên vay là đúng rồi mà” Anh Nguyễn Văn N- Khu 16: “Tôi bảo vợ đi vay vốn nhưng cô ấy bảo sợ này nọ Với lại cũng đúng thôi, đàn bà biết gì mà đứng ra vay.”
Như vậy, phụ nữ không đứng tên vay vốn là do chưa mạnh dạn, còn e
dè vì từ trước tới giờ phụ nữ chỉ đứng sau chồng, nghe lời chồng, không dám
tự quyết Có phụ nữ có khả năng nhưng chồng lại không đồng ý Chồng cho rằng đó không phải là việc mà một người vợ phải làm
Các chủ hộ đều là nam giới, trình độ học vấn được điều tra có đến 182/232 người không học hết cấp 2 do đó việc ra quyết định một mình, không quyết đoán sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến việc tái sản xuất khi mất mùa, bão lũ xảy ra
2.2 Thực trạng về vị thế của phụ nữ nghèo tại xã Đồng Lương- huyện Cẩm Khê- tỉnh Phú Thọ
Người nghèo ở xã Đồng Lương thường ít tham gia vào các tổ chức chính trị của xã như Đoàn thanh niên, hội phụ nữ, hội nông dân, hội người cao tuổi… vì vậy người nghèo không được hưởng các lợi ích mà các tổ chức này đem lại Thực tế người nghèo ít được tham gia vào công tác quản lý ở xã,
Trang 38ít tham gia vào các đoàn thể, nhất là phụ nữ nghèo thì việc tham gia vào các hoạt động như vậy là không có
Nếu chị em phụ nữ nghèo tham gia vào Hội phụ nữ sẽ được đi dự các lớp về khuyến nông, khuyến lâm, được hội phụ nữ đứng ra tín chấp vay vốn, họp bàn cùng nhau phát triển kinh tế
Phỏng vấn sâu anh Nguyễn Văn H- chủ cửa hàng buôn bán về vấn đề “
làm gì có gia đình nghèo nào được bầu vào ban quản lý của hội đoàn thể? Nghèo thế nói ai nghe, ai theo được chứ? Không có năng lực nên mới nghèo chứ có chí thì đã không như thế? Nhất là phụ nữ nghèo, lo đồng ruộng lo việc gia đình đã hết ngày rồi nói gì đến tham gia hội họp” Đa số mọi người đều
không dám tin người nghèo có thể làm được việc, điều đó cũng khiến người nhiều khó có cơ hội phát huy khả năng của mình Chính bản thân người nghèo hay tư ti, không dám tin vào bản thân mình, có việc họ làm được nhưng thực
tế họ không dám nhận hoặc không dám ứng cứ Hội phụ nữ tại xã hoạt động tốt nhưng thực tế phụ nữ nghèo không tham gia do không có tiền đóng hội phí, nghèo, nợ nhiều không trả được nên hay bị nhắc nhở, chồng không cho tham gia
Người nghèo luôn gặp phải những khó khăn về kinh tế như thu nhập thấp, tài sản ít và thường không có giá trị, nhà ở dột nát, không có địa vị kinh
tế trong cộng đồng Phụ nữ nghèo phụ thuộc vào chồng, gia đình nghèo thì người phụ nữ hầu như không có bất cứ tài sản gì, khi kinh tế phụ thuộc thì tiếng nói của phụ nữ trong gia đình cũng không có
Xã Đồng Lương đã tiến hành 03 buổi tập huấn kỹ thuật thâm canh cây trồng, chăn nuôi cho 182 lượt người nhưng chủ yếu là nam giới trong gia đình tham gia Người vợ trực tiếp làm nhưng lại được truyền đạt hướng dẫn từ người chồng trong gia đình Họ không được trực tiếp tham gia các buổi tập
Trang 39huấn Có thể nhiều người cho rằng việc người chồng truyền đạt lại kiến thức học được cho vợ là trong gia đình đó có BĐG, người vợ được tôn trọng và quan tâm Tuy nhiên nếu xét kỹ, ta có thể thấy đó là một hình thức để người chồng thể hiện quyền uy của mình trong gia đình, họ được thể hiện trước người khác về cái uy đó, ngược lại người phụ nữ trở nên thấp kém và cần có
sự chỉ dẫn của người chồng
Phóng vấn sâu chị K- khu 2 “ Tôi tham gia Hội phụ nữ anh nhà tôi không thích, bảo đi làm gì tốn thời gian Hôm trước có tập huấn về chăn nuôi, tôi bảo không đi để anh ấy đi có chăn nuôi gì anh ấy cũng quyết định Mình
có quyết định được đâu đi về chẳng giải quyết được gì”
Như vậy ta nhận thấy rằng tình trạng BBĐ giữa phụ nữ và nam giới ở nông thôn thể hiện rất rõ rệt Nó thế hiện qua chính cái nhìn của người dân, trong hoạt động của gia đình Chính người vợ/ người chồng trong gia đình đã tạo nên sự BBĐ đó
2.3 Vị thế của phụ nữ nghèo thông qua hoạt động vay vốn
2.3.1 Vị thế của phụ nữ trong tiếp cận vốn vay
Qua tiếp xúc với người dân tại xã Đồng Lương- Cẩm Khê- Phú Thọ.Từ việc mở rộng điều kiện và cơ hội, các hộ gia đình nghèo tại xã tích cực chủ động vay vốn để phát triển chăn nuôi, trồng trọt và vươn lên thoát nghèo có 106/258 hộ tham gia vay vốn: theo kết quả báo cáo tại UBND xã thì có 6/106
Trang 40nói vay rồi không biết liệu có trả nổi không!” Anh T 44 tuổi, trình độ lớp 3, thôn 4 cho biết: “Nhà tôi không vay vốn vì tôi nghĩ có tiền rồi không biết để làm gì, không làm ăn được lại mang nợ thì bao giờ mới đỡ vất vả” Như
trường hợp chị M, mặc dù nhận thấy hiệu quả của vốn vay đối với các hộ gia đình khác, nhưng vì chồng không đồng ý nên gia đình chị chưa tham gia vay vốn Đây cũng là lý do giải thích vì sao việc tiếp cận nguồn vốn vay của những người phụ nữ này bị hạn chế
Giấy đề nghị vay vốn là thủ tục hành chính bắt buộc đối với hộ nghèo
để có thể vay vốn từ NHCSXH huyện, trong đó phải ghi rõ tên của người đứng tên vay vốn và người thừa kế được ủy quyền giao dịch trong trường hợp cần thiết Vị thế của người phụ nữ cũng được phản ánh thông qua việc họ có tên trong Giấy đề nghị vay vốn hay không
Phỏng vấn sâu chị Nguyễn Thị N 34 tuổi, trình độ lớp 10, khu
2:“Chồng tôi là người được ủy quyền vì anh ấy có thể thay tôi thanh toán khoản nợ chứ con cái thì biết gì mà làm” Anh H 44 tuổi, trình độ lớp 9, khu 3: “Con trai tôi còn nhỏ nên tôi mới để vợ là người thừa kế” Có thể thấy
trong khi người phụ nữ đề cao và tin tưởng người chồng trong việc trả nợ thì nam giới lại có xu hướng đánh giá thấp vai trò và khả năng của người vợ, như trường hợp của anh H thì bất đắc dĩ anh mới để vợ là người thừa kế, trong trường con trai anh đã trưởng thành thì cõ lẽ tên người thừa kế đã không phải
là người vợ
Như vậy, dù phụ nữ nghèo xã đã có điều kiện vay vốn thuận lợi hơn nhưng thực tế họ vẫn không được người chồng đánh giá cao về vai trò và khả năng trả nợ Điều này làm hạn chế quyền lợi của họ trong việc tiếp cận nguồn vốn từ Chương trình giảm nghèo