Điểm nhìn mới về chiến tranh bên cạnh việc xây dựng cốt truyện, kết cấu, thời gian nghệ thuật, không gian nghệ thuật, quan niệm nghệ thuật về con người… là các phương diện biểu hiện của
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
HÀ NỘI – 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Mã số: 60 22 01 20
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS PHẠM QUANG LONG
HÀ NỘI – 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự cố gắng, nỗ lực của bản thân, tôi còn nhận được sự hướng dẫn tận tình, chu đáo của thầy giáo hướng dẫn PGS TS Phạm Quang Long, cùng sự góp ý chân thành của các thầy cô giáo trong Bộ môn Lí luận văn học, khoa Văn học trường Đại học khoa học xã hội & nhân văn – Đại học quốc gia
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 5
1 Lý do chọn đề tài 5
2 Lịch sử vấn đề 6
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10
4 Phương pháp nghiên cứu 11
5 Cấu trúc của luận văn 11
CHƯƠNG 1: KHÁI LƯỢC THI PHÁP HỌC, THI PHÁP TIỂU THUYẾT, GIẤC MƠ TỪ GÓC NHÌN PHÂN TÂM HỌC VÀ GIẤC MƠ NHƯ MỘT PHƯƠNG THỨC BỘC LỘ THẾ GIỚI TINH THẦN CỦA CON NGƯỜI TRONG VĂN HỌC Error! Bookmark not defined 1.1 Khái lược thi pháp học 12
1.2 Thi pháp tiểu thuyết 17
1.2.1 Khái niệm và sự vận động thể loại tiểu thuyết 17
1.2.2 Thi pháp tiểu thuyết 20
1.2.2.1 Thi pháp nhân vật 21
1.2.2.2 Thi pháp cốt truyện 22
1.2.2.3 Thời gian nghệ thuật 24
1.2.2.4 Không gian nghệ thuật 26
1.3 Giấc mơ từ góc nhìn phân tâm học và giấc mơ như một phương thức bộc lộ thế giới tinh thần của con người trong văn học 28
1.4 Vài nét về tác giả và tác phẩm 30
1.4.1 Bảo Ninh trong xu thế đổi mới văn học Việt Nam hiện đại 30
1.4.2 Tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh 34
CHƯƠNG 2 : HỒI ỨC VÀ GIẤC MƠ GẮN VỚI HỆ THỐNG CỐT TRUYỆN, NHÂN VẬT VÀ ĐIỂM NHÌN MỚI VỀ CHIẾN TRANH 36
2.1 Hồi ức và giấc mơ gắn với cốt truyện 36
Trang 52.2 Hồi ức và giấc mơ gắn với nhân vật 43
2.2.1 Kiên hiện lên từ chính những hồi ức và giấc mơ của bản thân mình 46
2.2.2 Hồi ức và giấc mơ của Kiên về những người đồng đội 54
2.2.3 Hồi ức và giấc mơ của Kiên về những người phụ nữ 56
2.3 Điểm nhìn mới về chiến tranh 59
2.3.1 Nhìn chiến tranh từ góc độ thân phận người lính 61
2.3.2 Chiến tranh từ điểm nhìn của các nhân vật 71
2.3.2.1 Chiến tranh từ điểm nhìn của nhân vật Kiên 71
2.3.2.2 Chiến tranh từ điểm nhìn của các nhân vật khác 73
Chương 3 : HỒI ỨC VÀ GIẤC MƠ GẮN VỚI THỜI GIAN NGHỆ THUẬT VÀ KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT 77
3.1 Hồi ức và giấc mơ gắn với thời gian nghệ thuật 77
3.2 Hồi ức và giấc mơ gắn với không gian nghệ thuật 86
3.2.1 Không gian chiến trường 87
3.2.2 Không gian tâm lý 92
KẾT LUẬN 95
TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại có khả năng khám phá cuộc sống một cách đa chiều và hướng đến vấn đề đời tư, những số phận cá nhân và thân phận con người Trong tiến trình đổi mới tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, việc xây dựng tác phẩm bằng cách sử dụng những thủ pháp hồi ức, giấc mơ, kỹ thuật dòng ý thức còn khá mới mẻ và được Bảo Ninh sử dụng rất thành công Hồi ức và giấc mơ giống như cái bóng trùm lên toàn bộ tác phẩm, mang một quan niệm nghệ thuật đặc biệt và cách lý giải cuộc đời hoàn toàn mới Công trình nhằm nghiên cứu thủ pháp hồi ức, giấc mơ như là những thủ pháp nghệ thuật trong một cuốn tiểu thuyết đặt ra nhiều vấn đề đổi mới về phương thức
thể hiện
1.2 Chiến tranh là đề tài quen thuộc trong văn học Việt Nam giai đoạn
1945 – 1975 và cũng được khai thác nhiều trong 10 năm đầu sau chiến tranh Viết về cuộc chiến tranh thần thánh của dân tộc, văn học 1945 -1975 đã xây dựng nên những hình tượng đẹp đẽ, kì vĩ, lớn lao Tuy nhiên, xây dựng nhân vật như vậy, văn học giai đoạn này còn chứa đựng những thiếu sót do điều kiện lịch sử - xã hội quy định Đó là sự thiếu sót trong cách nhìn về con người
và chiến tranh, bởi con người không chỉ có phần con người cộng đồng mà còn
có phần con người cá nhân, cá thể với một thế giới nội tâm đầy bí ẩn, phức tạp và cuộc chiến tranh cũng không hoàn toàn đẹp một cách cao cả, bi tráng,
đậm chất sử thi như văn học thời kỳ trước thường phản ánh Trong Nỗi buồn
chiến tranh, Bảo Ninh đã đưa ra một cách nhìn mới, nhìn chiến tranh như một
“thời xa vắng” đầy đau đớn, mất mát để thấy được sự hi sinh và phần nhân tính thực sự ở con người Để tìm hiểu tác phẩm một cách toàn diện, việc phát hiện một điểm nhìn mới, thấm đẫm tính nhân văn của tác giả là việc làm cần
Trang 7thiết Điểm nhìn mới về chiến tranh bên cạnh việc xây dựng cốt truyện, kết cấu, thời gian nghệ thuật, không gian nghệ thuật, quan niệm nghệ thuật về con người… là các phương diện biểu hiện của thi pháp học được tác giả sử dụng
tài tình, rất cần được nghiên cứu để xem xét sự đổi mới, khác biệt của Nỗi
buồn chiến tranh so với các tác phẩm cùng đề tài
2 Lịch sử vấn đề
Bảo Ninh là một trong những tác giả đi đầu trong trào lưu đổi mới tiểu thuyết Việt Nam hiện đại viết về chiến tranh (bên cạnh Nguyễn Minh Châu, Xuân Thiều, Chu Lai, Thái Bá Lợi, Trung Trung Đỉnh…) Như là một “hiện
tượng” của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, Nỗi buồn chiến tranh trở thành đề
tài của nhiều công trình nghiên cứu khoa học Có rất nhiều ý kiến đánh giá xung quanh tác phẩm này Xu hướng thứ nhất thể hiện sự không đồng tình với tác phẩm Có không ít nhà phê bình coi cuốn sách của Bảo Ninh là "điên loạn", "rối bời", "lố bịch hóa hiện thực", "bôi nhọ quân đội" Trong bài viết
của Đỗ Văn Khang: Nghĩ gì khi đọc tiểu thuyết Thân phận của tình yêu ở Báo Văn Nghệ số 43, ra ngày 26/10/1991 nhận xét: “Những đổi mới nghệ thuật
của Bảo Ninh như: cấu trúc trần thuật kép, tính chất đa thanh, kỹ thuật dòng
ý thức chỉ là việc làm thuần túy để đánh lừa bạn đọc” [26, 6] Trong bài Từ đâu đến Nỗi buồn chiến tranh của Trần Duy Châu (Tạp chí Cộng sản số 10
năm 1994) nhấn mạnh: “Bảo Ninh đã tạo nên hình ảnh đảo ngược của hiện
thực, chuyển đổi các giá trị, biến trắng thành đen, thay khúc ca khải hoàn của
dân tộc thành tiếng hát bi thương ai điếu cho những kẻ lạc loài” [10, 25] Và
sau đó là sự im lặng và lãng quên Cuốn sách hầu như vắng bóng trong các công trình, các tác phẩm phê bình và các chuyên luận về văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới
Một xu hướng khác nữa là sự cổ vũ, động viên nhưng e dè và đều
chung câu hỏi: Liệu rằng cuốn tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh có bị dồn nén
Trang 8quá nhiều chất bi không? Nguyễn Phan Hách trong cuộc thảo luận về tiểu
thuyết Thân phận của tình yêu (Báo Văn nghệ số 37 năm 1991) đã viết: “Lùi
ra xa, đứng cao hơn một chút thì thấy có thể thông cảm được với tác phẩm này Tôi chưa hẳn tán thành hoàn toàn về nội dung, nhưng cái đẹp, cái tuyệt
kĩ, văn chương là văn chương của cuốn sách đã át đi được những e ngại khác ” [19, 4]
Cũng trong cuộc thảo luận này, Vũ Quần Phương nhận xét: “Nếu cái
đáng khen trong cuốn sách là chân thực trong tâm trạng, thì chỗ cần lưu ý tác giả cũng là tính chân thực cần có, trong khi dựng lại bối cảnh hậu phương miền Bắc và những trận đánh trả máy bay Mỹ Bảo Ninh đã đánh mất cái hào khí rất đẹp của năm tháng ấy, có thể nó ấu trĩ, nhưng nó có cảm giác tác giả
có những điều không hài lòng nên có cái nhìn thiên kiến, có chỗ cực đoan Đọc những chi tiết khủng khiếp, đay nghiến, thấy tác giả ác, ta chưa thấy được nhân tố làm nên chiến thắng ở đây” [19, 4]
Nguyên Ngọc là một trong những người tiêu biểu cho xu hướng đánh giá cao đóng góp của Bảo Ninh trong sự phát triển của tiểu thuyết Việt Nam
hiện đại Trong cuộc thảo luận về tiểu thuyết Thân phận tình yêu (Báo Văn nghệ số 37 năm 1991), ông khẳng định: “Cuốn sách Thân phận của tình yêu
của Bảo Ninh là sự nghiền ngẫm về chiến thắng, ý nghĩa và giá trị to lớn và
dữ dội của chiến thắng Nó chỉ cho chúng ta biết rằng, chúng ta đã làm nên chiến công vĩ đại thắng Mỹ với cái giá ghê gớm đến chừng nào Một đặc sắc nữa của cuốn sách này là tác giả viết với tư cách hoàn toàn của người trong cuộc, không đứng ngoài, đứng trên nhìn ngắm mà đứng trong, thậm chí ở tận đáy của cuộc chiến tranh Anh viết về cuộc chiến tranh “của anh” gần như bằng tất cả máu của anh Về mặt nghệ thuật, đó là thành tựu cao nhất của
văn học đổi mới” [36, 5]
Trang 9Nhà văn Nguyễn Quang Thiều từng nhận xét về Nỗi buồn chiến tranh:
“Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh chinh phục được bạn đọc nhiều nước trên thế giới trước hết vì nó đã chạm vào mẫu số chung của nhân loại”
Trong công trình Thi pháp hiện đại, bài viết Thân phận tình yêu của
Bảo Ninh, Đỗ Đức Hiểu cũng đánh giá rất cao cuốn tiểu thuyết này Đồng
thời, ông đã chỉ ra điểm nhìn mới về chiến tranh mà Bảo Ninh thể hiện trong
tác phẩm: “Trong văn học Việt Nam mấy chục năm nay, có thể Thân phận
của tình yêu là quyển tiểu thuyết hay về tình yêu, quyển tiểu thuyết tình yêu xót thương nhất trong tiểu thuyết hiện đại Việt Nam Nỗi buồn chiến tranh thể hiện một điểm nhìn mới về cuộc chiến tranh kéo dài ba mươi lăm năm, những cảnh tả chiến tranh, những định nghĩa về chiến tranh la liệt trong tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh và nỗi buồn tình yêu thấm vào nhau, hòa lẫn vào nhau,
da diết, xót xa, hủy diệt, đó là hai nhịp mạnh của tiểu thuyết” [22, 266]
Bên cạnh nỗi buồn chiến tranh được phản ánh trong tác phẩm là nỗi
buồn về tình yêu, Đỗ Đức Hiểu nhận định: "Nỗi buồn chiến tranh và nỗi buồn
tình yêu thấm vào nhau Kiên vẫn phải sống, sống một thời hậu chiến u buồn (nỗi buồn hậu chiến) vì một "thiên mệnh mù mịt xa vời, tối tăm và đau xót, được diễn đạt bằng đêm ("bóng đêm", "đêm hè", "đêm trường… Tình yêu, chiến tranh, viết tiểu thuyết, ba nhịp đó xen kẽ, đan chéo, gây chóng mặt, bàng hoàng, nhức nhối Mưa và đêm, chiến tranh và sáng tác, khủng khiếp và hồn hoang Len lỏi, bao trùm và dẫn dắt tất cả các biến động của tiểu thuyết (mưa và đêm) là một mối tình đau xót, kéo dài, vang vọng, âm ỉ và nổ bùng, hủy hoại tất cả" [22, 266]
Nghiên cứu Nỗi buồn chiến tranh dưới góc độ thi pháp, tác giả Trần Quốc Huấn trong Tạp chí Văn học số 3 (1991) cũng đưa ra nhận xét: "Toàn
bộ tác phẩm là cái nhìn ngoái lại, thờ thẫn, đăm đắm của một người lính khi
đã tàn cuộc Cái nhìn dằng dặc, đầy phân tán nhưng không hề lơ đãng Điểm
Trang 10nhìn có góc độ rộng, song khá tập trung" Nguyễn Thái Hòa trong công trình Những vấn đề thi pháp của truyện lại nhấn mạnh đến cách xử lý thời gian linh
hoạt của Bảo Ninh Theo nhà nghiên cứu, Bảo Ninh đã sử dụng thủ pháp đồng
hiện trong cuốn tiểu thuyết này Nguyễn Thái Hòa viết: "Phong phú và đầy
đặn hơn là cách kể, cách xử lí thời gian của Bảo Ninh trong Thân phận của tình yêu Cả quãng đời thơ ấu, đi học, trước chiến tranh, sau chiến tranh của nhân vật Kiên không phải liên tục, đều đặn mà lần giở theo hồi ức" [23, 143],
"sự xê dịch trong Thân phận của tình yêu mới thật là một thách thức đối với người đọc Nó không có dấu hiệu báo trước và cũng chẳng biết kết thúc lúc nào" [23, 131] Trên tạp chí Văn học số 6 (1991), với bài viết Văn xuôi gần đây và quan niệm về con người, Bùi Việt Thắng đã đưa ra nhận định hết sức
xác đáng về quan niệm nhân cách con người trong tiểu thuyết Thân phận của
tình yêu Ông viết: "Cái phần được của Thân phận của tình yêu chính là ở chỗ Kiên dám nhìn thẳng, nhìn sâu vào quá khứ, mới dám đối diện với hiện tại, rất công bằng mà phán xét lịch sử Cao hơn nữa là đối diện với chính
mình, rồi sám hối, tranh đấu và vượt lên" [53, 17]
Tác giả Nguyễn Thị Bình trong báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu cấp
bộ: Một số khuynh hướng tiểu thuyết ở nước ta từ thời điểm đổi mới đến nay
đã cho rằng: “Sau Thiên sứ, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh đã làm xôn xao dư luận, phân lập người đọc rất mạnh Những tranh cãi phức tạp, gay gắt hầu hết liên quan đến câu hỏi “có thể viết về chiến tranh như thế nào?” Nhưng chính việc tự giác trước câu hỏi “có thể viết tiểu thuyết như thế nào?” mới thật sự đặt Nỗi buồn chiến tranh vào vị trí những tác phẩm có đột phá về
tư duy thể loại Nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước coi cuốn sách này cùng Phía Tây không có gì lạ của nhà văn Đức Erich Maria Remarque thuộc
số tiểu thuyết hiện đại hay nhất về đề tài chiến tranh”
Trang 11Như vậy, từ đầu những năm 80, khi thi pháp học ở nước ta nổi lên như
một trào lưu nghiên cứu, đã có nhiều công trình nghiên cứu Nỗi buồn chiến
tranh dưới góc độ thi pháp học Tuy nhiên, chủ yếu vẫn là phát hiện điểm
nhìn mới về chiến tranh, cách xử lý thời gian của tác giả chứ hầu như chưa công trình nào có cái nhìn toàn diện và làm nổi bật tất cả các phương diện của thi pháp học bao gồm: không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật, kết cấu, cốt truyện, nhân vật… Đặc biệt, với mật độ dày đặc và chi phối toàn bộ cuốn tiểu thuyết, những hồi ức và giấc mơ có vai trò rất quan trọng thể hiện quan niệm của nhà văn đối với số phận người lính hậu chiến thì hầu hết chưa được nhấn mạnh và đi sâu nghiên cứu
Gần đây, có một số công trình nghiên cứu đến thủ pháp hồi ức và giấc
mơ của Nỗi buồn chiến tranh như: Con người trong tiểu thuyết Việt Nam thời
kỳ đổi mới (Nguyễn Thị Kim Tiến, Luận án tiến sĩ, Đại học Khoa học xã hội
& Nhân văn Hà Nội, năm 2012), Dòng hồi ức trong tiểu thuyết Nỗi buồn
chiến tranh của Bảo Ninh (Hoàng Bích Hậu, Luận án tiến sĩ, Đại học sư phạm
Hà Nội, năm 2007)… Tuy nhiên, các công trình chỉ dừng lại ở sự đối sánh nhỏ lẻ, chưa có sự chuyên sâu và bao quát Tóm lại, cho đến nay, chưa có bất
kỳ công trình nào nghiên cứu về hồi ức và giấc mơ của Nỗi buồn chiến tranh
dưới góc nhìn thi pháp học
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Các phương diện của thi pháp học bao gồm nhân vật, cốt truyện, không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật, điểm nhìn mới về chiến tranh… được
thể hiện qua những hồi ức và giấc mơ của nhân vật chính
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung khảo sát cuốn tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh,
Nxb Trẻ, năm 2012 Ngoài ra, để đánh giá thủ pháp hồi ức và giấc mơ trong
Trang 12Nỗi buồn chiến tranh một cách toàn diện hơn, chúng tôi có tiến hành so sánh
tác phẩm này một một số tiểu thuyết cùng thời về đề tài chiến tranh của tác giả khác hoặc một số truyện ngắn của Bảo Ninh để thấy được những điểm
mới, khác biệt của ông
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn vận dụng phương pháp thi pháp học, phương pháp cấu trúc, phương pháp lịch sử - xã hội, phương pháp thống kê, phương pháp loại
hình…
5 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Mục lục, Thư mục Tài liệu tham khảo,
cấu trúc luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 Khái lược thi pháp học va hoi uc,giac mo duoi goc nhin van hoc
Chương 2 Hồi ức và giấc mơ gắn với cốt truyện, nhân vật và điểm nhìn mới về chiến tranh
Chương 3 Hồi ức và giấc mơ gắn với không gian và thời gian nghệ thuật
Trang 13CHƯƠNG 1 KHAI LUOC THI PHAP HOC VA HOI UC,GIAC MO DUOI GOC NHIN VAN HOC
1.1 Khái lược thi pháp học
Thuật ngữ thi pháp học được sử dụng đầu tiên bởi một nhà Triết học kiêm Mĩ học thời Hy Lạp cổ đại Aristote cách ngày nay khoảng 2300 năm
Ông dùng khái niệm này trong tác phẩm Poetica (Nghệ thuật thi ca) để nghiên
cứu nghệ thuật của các tác phẩm văn học cổ Khác với người thầy của ông là Platon xem văn học là một hiện tượng thần bí do thần trợ, Aristote lần đầu tiên xem nghệ thuật như một hiện tượng do con người tạo ra theo những quy luật khách quan, có những nguyên tắc tổ chức hình thức chặt chẽ nhất định Giai đoạn phát triển mới của thi pháp học do viện sỹ Nga A Vêxêlốpxky (1838 – 1906) mở đầu khi ông xem hình thức nghệ thuật là một hiện tượng
lịch sử, có phát sinh, có tiến hóa
Thi pháp có nội hàm ban đầu là cách thức, biện pháp, phương pháp mô phỏng, bắt chước để sáng tạo văn học Ngày nay, thi pháp được bổ sung nội hàm ý nghĩa chỉ tính nghệ thuật được nhà văn lựa chọn để sáng tạo văn chương, là một hệ thống các phương tiện và phương thức thể hiện cuộc sống bằng nghệ thuật, khám phá cuộc sống bằng hình tượng, là hình thức tác phẩm gắn bó mật thiết với nội dung
Thi pháp là lĩnh vực nghiên cứu hình thức nghệ thuật của tác phẩm văn chương đã có từ thời cổ đại đến thời trung cận đại ở phương Tây, nhưng phải chờ đến đầu thế kỷ XX mới có một bước ngoặt mang tính cách mạng Đó là
sự chuyển biến từ thi pháp học truyền thống sang thi pháp học hiện đại
Thi pháp học hiện đại có rất nhiều bước tiến mới so với thi pháp học truyền thống Khác với thi pháp học truyền thống, thi pháp học hiện đại xuất phát từ bản chất sáng tạo của chủ thể, từ quan niệm cấu trúc, tính chỉnh thể và
Trang 14tính hệ thống, xem nghệ thuật là một tổ chức tổng cộng của rất nhiều yếu tố Thi pháp học hiện đại xem nghệ thuật là một hoạt động giao tiếp, một hệ thống ký hiệu mà sản phẩm của nó là một khách thể thẩm mỹ, một sự “đồng sáng tạo” giữa tác giả và người đọc Tất nhiên, sự “đồng sáng tạo” của người đọc là nhằm mục đích hiểu đúng nội dung của tác phẩm và trong giới hạn cho phép Nếu thi pháp học truyền thống xem nghệ thuật theo những nguyên lý nghìn năm bất biến thì thi pháp học hiện đại xem nghệ thuật là sản phẩm của lịch sử, cùng vận động và phát triển với lịch sử trong ngữ cảnh văn hóa Nếu thi pháp học truyền thống chỉ quan tâm tới nguyên tắc sáng tác thì thi pháp
học hiện đại còn quan tâm tới cách đọc và cách giải mã văn bản
Mặc dù có rất nhiều người nói về thi pháp học, song để có được định nghĩa chính xác và thống nhất về thi pháp học thì vẫn còn nhiều tranh cãi
Nhà lý luận văn học Nga V Girmunxki định nghĩa: “Thi pháp học là khoa
học nghiên cứu thi ca (văn học) với tư cách là một nghệ thuật” [18, 15] Viện
sỹ V.Vinôgrađốp cụ thể hóa định nghĩa của V Girmunxki như sau: “Thi pháp
học là khoa học về các hình thức, các dạng thức, các phương tiện, phương thức tổ chức tác phẩm của sáng tác ngôn từ, về các kiểu cấu trúc và các thể loại tác phẩm văn học Nó muốn bao quát không chỉ là các hiện tượng của ngôn từ thơ mà còn gồm các khía cạnh khác nhau nhất của tác phẩm văn học
và sáng tác dân gian” [67, 184] Từ điển “Bách khoa văn học giản yếu” của
Nga cũng ghi: “Thi pháp học là khoa học về cấu tạo của các tác phẩm văn
học và hệ thống các phương tiện thẩm mỹ mà chúng sử dụng”
Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Thi pháp học là khoa học nghiên cứu
thi pháp, tức là hệ thống các phương thức, phương tiện, thủ pháp biểu hiện đời sống bằng hình tượng nghệ thuật trong sáng tác văn học Mục đích của thi pháp học là chia tách và hệ thống hóa các yếu tố của văn bản nghệ thuật
Trang 15tham gia vào sự tạo thành thế giới nghệ thuật, ấn tượng thẩm mĩ và chiều sâu phản ánh của sáng tác nghệ thuật” [42, 304]
Thi pháp học là cách thức phân tích tác phẩm chỉ căn cứ vào các yếu tố hình thức và mối liên hệ giữa chúng, bao gồm: hình tượng nhân vật, không gian – thời gian, cốt truyện, kết cấu, điểm nhìn, ngôn ngữ, thể loại… chứ không chú trọng đến các yếu tố ngoài văn bản như: tiểu sử nhà văn, nguyên mẫu nhân vật, hoàn cảnh sáng tác…
Tác phẩm văn học là một sự sống mà tất cả các yếu tố hình thức của nó
là do sức sống của ý thức, của quan niệm nhà văn hiện hình ra chứ không phải
do bất cứ một hình thức bên ngoài nào áp đặt Như vậy, bản thân hình thức chính là nội dung, là quan niệm vì nó là kết quả của một cách nhìn thế giới độc đáo của nhà văn Các phương diện của nội dung văn học như đề tài, chủ
đề, tư tưởng, tính cách… luôn luôn biến động và phát triển theo thời gian lịch
sử Người ta có thể phát hiện chúng bằng cách xem xét văn học trong sự tương quan với đời sống Tuy nhiên, để có thể nắm bắt được chiều sâu nội dung thì hình thức của tác phẩm là không thể thiếu được
Sự vận động của các phương diện hình thức ngoài sự phụ thuộc vào đời sống hiện thực, còn chịu ảnh hưởng của truyền thống văn học dân tộc và sự ảnh hưởng của trào lưu, tư tưởng văn học nước ngoài Do đó, không thể quan tâm tới nội dung văn học mà không đồng thời phát triển và làm phong phú thêm cho hình thức nghệ thuật Mặt khác, không thể lý giải đúng đắn nội dung nếu thiếu sự nghiên cứu sâu sắc về hình thức
Một tác phẩm được tạo nên từ rất nhiều yếu tố Các yếu tố này chính là những hình thức nghệ thuật được sáng tạo nên từ ý thức và quan niệm của nhà văn Các yếu tố được liên kết chặt chẽ với nhau tạo nên một chỉnh thể nghệ thuật Nếu mất đi một trong các yếu tố, tác phẩm sẽ không thể hoàn chỉnh Các yếu tố trong một chỉnh thể tương tác với nhau theo nguyên lí cộng hưởng
Trang 16và có rất nhiều mối quan hệ: quan hệ đối lập tương phản, quan hệ chiếu ứng, quan hệ đòn bẩy, quan hệ hô ứng… Mỗi yếu tố hình thức của tác phẩm văn học đều có vai trò rất quan trọng Thi pháp học đòi hỏi nghiên cứu hình thức nghệ thuật như những hiện tượng có quy luật Nếu xem xét hình thức văn học như những hiện tượng ngẫu nhiên, rời rạc, một vài câu chữ hay từ đắt… mới chỉ nằm trong phạm vi thưởng thức phẩm bình
Nhà văn không chỉ là người sáng tạo ra tác phẩm với một hình thức cụ thể cảm tính mà còn là người sáng tạo ra tính quan niệm mới cho hình thức Nhờ vậy mà anh ta mới góp phần sáng tạo ra nhu cầu nghệ thuật mới, tạo ra một công chúng mới biết thưởng thức nghệ thuật
Hình thức mang tính quan niệm của một tác phẩm văn học luôn mang tính hệ thống, tính lặp lại các yếu tố ổn định và mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau của chúng, và trong mối quan hệ tác động của chúng với nội dung tư tưởng và các biến động của thời đại
Hình thức của một tác phẩm văn học trong tương quan với chiều sâu phản ánh đời sống đòi hỏi phải có quan niệm lịch sử Cần phải thấy được sự
kế thừa và cách tân của nó đối với các truyền thống hình thức văn học nhất định Điều kiện lịch sử cụ thể đóng vai trò đặc biệt quan trọng
Thi pháp học vào nước ta khá sớm và có một chặng đường lịch sử phát triển tương ứng với lịch sử văn học, chỉ có điều nó chưa được gọi tên ra bằng
thuật ngữ thi pháp mà thôi Nếu hiểu thi pháp là học vấn về ngôn từ văn
chương, thể thức, biện pháp tổ chức thể loại tác phẩm thì thi pháp đã tồn tại ở nước ta từ trong những sáng tác đầu tiên của dân gian và văn học viết bằng
chữ Hán, rồi được phản ánh vào các bộ tuyển thơ văn, bắt đầu từ Việt âm thi
tập của Phan Phu Tiên thế kỷ XV Đó là một truyền thống thi pháp quy phạm,
bất biến và quy phạm hóa Đến đầu thế kỷ XX, nước ta mới có các công trình
mô tả các thể thức sáng tác thơ văn truyền thống như: Việt Hán văn khảo của
Trang 17Phan Kế Bính, Quốc văn cụ thể của Bùi Kỉ, Việt Nam văn học sử yếu của
Dương Quảng Hàm… Nhìn chung, trong suốt thời kỳ văn học từ những năm
30 cho đến trước cách mạng tháng 8, thi pháp học đã được nhắc đến trong một số công trình nhưng chưa nâng lên thành lý luận Từ cách mạng tháng 8 đến hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, các tác giả và các nhà lý luận dường như không quan tâm đến thi pháp mà chỉ coi trọng nội dung phản ánh hiện thực Từ những năm 60, 70 của thế kỷ trước, một số nhà phê bình văn học như Hoài Thanh, Đặng Thai Mai, Đinh Gia Khánh, Cao Huy Đỉnh, Lê Đình Kỵ… trong các tác phẩm phê bình đã thể hiện những khám phá về thi pháp, tuy nhiên vẫn còn ở mức lẻ tẻ chưa thành phổ biến Phải đến những năm 80, thi pháp học ở nước ta mới có bước phát triển mạnh với những nhà nghiên cứu như: Phan Ngọc, Đỗ Đức Hiểu, Trần Đình Sử… Nhưng trên thực
tế, đó cũng chỉ là những vận dụng lý thuyết thi pháp học cấu trúc, thi pháp học lịch sử…của các nhà nghiên cứu và lý luận Liên Xô cũ vào những sáng tác cụ thể của các nhà văn Việt Nam mà thôi
Nằm trong xu thế đổi mới của đất nước và của nền văn học, thi pháp học những năm 90 đã có những bước phát triển và ngày càng trở nên phổ biến trong nghiên cứu các tác phẩm văn học Việc nghiên cứu thi pháp học đã tạo thành một trào lưu lớn ở Việt Nam những năm 90 Hàng loạt công trình dịch thuật, giới thiệu các nhà thi pháp học Liên Xô được xuất bản và đăng tải trên các báo chí Bạn đọc Việt Nam đã biết đến tên tuổi của các nhà thi pháp học nổi tiếng thế giới như: Aristote, Lưu Hiệp, Viên Mai, Bakhtin, Jakobson, Khrapchenco, Todorov, Propp… Tính đến năm 2000, ngoài các tác phẩm đã nêu trên còn có một số cuốn sách về Thi pháp học như sau: Về lĩnh vực Văn học dân gian và văn học kịch: Tục ngữ Việt Nam, cấu trúc và thi pháp (Nguyễn Thái Hòa - 1977), Những đặc điểm thi pháp của các thể loại văn học dân gian (Hà Bình Trị - 1999), Thi pháp ca dao (Nguyễn Xuân
Trang 18Kính), Tìm hiểu thi pháp tục ngữ Việt Nam (Phan Thị Đào – 1999), Thi pháp văn học dân gian (Lê Trường Phát – 2000), Phong cách và thi pháp trong
nghệ thuật cải lương (Hà Văn Cầu – 1995), Về thi pháp kịch (Tất Thắng – 2000)…Về văn học viết Việt Nam: Thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng (Bùi Văn Tiến – 1997), Về một đặc trưng của thi pháp thơ Việt Nam (1945 – 1995) (Vũ Văn Sĩ – 1999) Về văn học nước ngoài: Thi pháp L Tônxtoi (Nguyễn Hải Hà – 1992), Thi pháp thơ Đường (Nguyễn Thị Bích Hải – 1995), Thi pháp thơ Đường (Lương Duy Thứ - 1996)… Về lý luận thi pháp học: Góp phần tìm hiểu nghệ thuật thơ ca (Bùi Công Hùng – 1983), Lý luận văn học, vấn đề và suy nghĩ (Nguyễn Văn Hạnh, Huỳnh Như Phương – 1995), Phân tích tác phẩm văn học từ góc độ thi pháp(Nguyễn Thị Dư Khánh – 1995), Những vấn đề thi pháp của truyện (Nguyễn Thái Hòa – 2000), Ngôn ngữ thơ Việt Nam (Hữu Đạt – 2000)… Về số lượng các luận án, luận văn nghiên cứu tác phẩm dưới góc độ thi pháp học, rất khó để có thể thống kê hết được
Trần Đình Sử là nhà nghiên cứu chuyên sâu và đi đầu trong lĩnh vực thi pháp học ở nước ta Ông là người có nhiều công trong việc giới thiệu lý thuyết thi pháp hiện đại và có không ít công trình vận dụng lý thuyết này, tạo
ra một chỗ dựa về lý thuyết cho rất nhiều người khác Cho nên, khi nghiên
cứu đề tài Hồi ức và giấc mơ trong tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh dưới góc
nhìn thi pháp học, chúng tôi dựa vào quan điểm của ông về vai trò của hình
thức trong tác phẩm văn học mà yếu tố cốt lõi là tính nội dung của hình thức tức là hình thức mang tính nội dung, biểu đạt nội dung, truyền tải ý tưởng của nhà văn và mối quan hệ giữa các yếu tố của hình thức để làm điểm tựa
1.2 Thi pháp tiểu thuyết
1.2.1 Khái niệm và sự vận động thể loại tiểu thuyết
Trang 19Theo Từ điển văn học (bộ mới), tiểu thuyết được hiểu là “thể loại tác
phẩm tự sự, trong đó, sự trần thuật tập trung vào số phận cá nhân trong quá trình hình thành và phát triển của nó, sự trần thuật ở đây được triển khai trong không gian và thời gian nghệ thuật đến mức đủ để truyền đạt “cơ cấu” của nhân cách” [3, 1716]
Trong Từ điển thuật ngữ văn học của nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên), tiểu thuyết được định nghĩa: “Là
tác phẩm tự sự cỡ lớn có khả năng phản ánh hiện thực đời sống ở mọi giới hạn không gian và thời gian Tiểu thuyết có thể phản ánh số phận của nhiều cuộc đời, những bức tranh phong tục, đạo đức xã hội, miêu tả các điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái hiện nhiều tính cách đa dạng” [42, 328]
Theo Bakhtin thì tiểu thuyết được hiểu “là thể loại văn chương duy
nhất đang chuyển biến và còn chưa định hình Những lực cấu thành thể loại còn đang dang dở trước mắt chúng ta Thể loại tiểu thuyết được ra đời và trưởng thành dưới ánh sáng thanh thiên bạch nhật của lịch sử Nòng cốt thể loại chưa hề rắn lại và chúng ta chưa thể dự đoán được hết những khả năng uyển chuyển của nó” [4, 21]
Trong công trình Khảo về tiểu thuyết, Phạm Quỳnh từng quan niệm:
“Tiểu thuyết là một truyện viết bằng văn xuôi đặt ra để tả tình tự người ta, hay phong tục xã hội các sự lạ ly kỳ, đủ làm cho người đọc hứng thú” [53,
10] Như vậy, quan niệm về tiểu thuyết của Phạm Quỳnh là tương đối rộng
Nguyễn Đình Thi thì cho rằng: “Tiểu thuyết, đó là một trong những
sáng tạo kì diệu của con người, đó là một đồ dùng, một vũ khí của con người
để tìm hiểu, chinh phục dần thế giới và để tìm hiểu nhau và sống với nhau”
[53, 253-254]
Một số tiểu thuyết gia phương Tây lại quan niệm: “Tiểu thuyết giống
cuộc đời, tiểu thuyết phải giống sự thật” [53, 10]
Trang 20Từ những quan điểm về tiểu thuyết như trên, chúng tôi tập hợp một số nội dung chính của khái niệm tiểu thuyết gồm: Tiểu thuyết là hình ảnh về đời sống, đồng thời nó cũng biểu hiện tâm hồn con người Tiểu thuyết là sự hư cấu nhưng nhà văn phải dựa vào sự hiểu biết của mình, vận dụng sự hiểu biết
đó hư cấu nên một cuốn sách để khi đọc người ta có thể thấy được sự vận động của cuộc sống xung quanh mình Một tác phẩm tiểu thuyết thường dài
và phức tạp hơn các thể loại khác, người viết thường sử dụng nhiều lối viết khác nhau
Tiểu thuyết ra đời khá sớm Từ khi ra đời đến nay, quan niệm về thể loại này luôn luôn có sự vận động Nếu quan niệm truyền thống về tiểu thuyết coi cốt truyện là yếu tố cơ bản nhất, mọi vấn đề chỉ tập trung xoay quanh cốt truyện thì quan niệm hiện đại về tiểu thuyết lại cho rằng để phản ánh hiện thực và tâm tư con người, yếu tố cốt truyện được triển khai theo trình tự lớp lang là không cần thiết, tiểu thuyết có thể phá vỡ, vượt thoát ra khỏi sự bó buộc này Nhà văn có thể mở đầu và kết thúc tùy theo cảm hứng và ý đồ nghệ thuật của mình
Tiểu thuyết hiện đại không chủ tâm đi vào khai thác bề mặt sự kiện mà chủ tâm đi vào tầng sâu ý thức của con người trước những vấn đề xã hội Với quan niệm hiện đại về tiểu tuyết, hiện thực chỉ là cái nền cho diễn biến những cuộc đời, những số phận chứ không phải là trọng tâm để phản ánh Tiểu thuyết ngoài việc tái hiện hiện thực còn nỗ lực vươn đến sáng tạo những hiện thực mới, một thực tại chỉ có trong suy nghĩ của con người
Về phương diện nhân vật, nếu quan niệm truyền thống xem tiểu thuyết
thường xây dựng những nhân vật mang “tính cách điển hình” đại diện cho
một lực lượng xã hội nào đó, vừa mang tính phổ quát, vừa là một hiện tượng đặc thù kiểu: Tào Tháo, Grande, Karamazov, J Xoren… nhân vật thường có mẫu mực định trước với đặc tính thiện - ác, tốt - xấu, chính - tà… rõ ràng, thì
Trang 21quan niệm hiện đại thường đi sâu vào tâm lý con người và nhân vật có sự hòa trộn tốt - xấu, thiện - ác…
Như vậy, từ quan điểm truyền thống đến quan niệm hiện đại về thể loại tiểu thuyết đã có sự biến đổi khá rõ ràng Nó cũng là minh chứng cho thấy sự vận động và chưa được định hình cụ thể của thể loại tiểu thuyết
1.2.2 Thi pháp tiểu thuyết
Như đã nói, tiểu thuyết là một thể loại đặc biệt, khác với các thể loại đã
ra đời trước nó Tiểu thuyết tiếp xúc với môi trường cái hiện tại chưa hoàn thành Chính đặc điểm đó không cho phép tiểu thuyết đông cứng lại Người viết tiểu thuyết thiên về những cái gì còn chưa xong xuôi Nhà văn có thể miêu tả những sự việc có thực trong đời mình, có thể len lỏi vào tâm tư của người khác, có thể can thiệp vào cuộc trò chuyện giữa các nhân vật…
Nếu đặc trưng của sử thi là lời tiên tri, lời sấm truyền thì đặc trưng của tiểu thuyết là lời tiên đoán, lời dự báo Tiểu thuyết có khả năng tiên đoán các
sự việc Tính “có vấn đề” là nét mới và là đặc thù của tiểu thuyết
Trong lịch sử, tiểu thuyết đã từng có quan hệ đặc biệt với những thể loại phi văn học – những thể loại trong đời sống hằng ngày và những thể loại
tư tưởng Ngay trong giai đoạn phát sinh, tiểu thuyết đã dựa vào nhiều hình thái phi nghệ thuật, trong sinh hoạt cá nhân và xã hội, đặc biệt là các hình thức văn hùng biện Đến các giai đoạn sau này, tiểu thuyết cũng sử dụng rộng rãi những hình thức thư từ, nhật ký… Do được xây dựng trong khu vực tiếp xúc với cái chưa hoàn thành, tiểu thuyết nhiều khi phá rào, bước qua mọi ranh giới đặc trưng của văn học nghệ thuật
Trang 221.2.2.1 Thi pháp nhân vật
Theo Bakhtin – lý thuyết gia về tiểu thuyết nổi tiếng người Nga, một đặc điểm thi pháp rất quan trọng của tiểu thuyết đó là tính chất “đa thanh” (hay còn gọi là “đa giọng”, “đa thoại”) thực chất là một lối nói hình ảnh chỉ một quan niệm nghệ thuật mới, một cách miêu tả mới về con người Chữ “thanh”
ở đây không phải là âm thanh, mà là một tiếng nói, một lập trường, một quan điểm Theo Bakhtin, trước đây tiểu thuyết chủ yếu phát triển trong quan niệm
“độc thoại” Đó là loại tự sự trong đó chỉ có tác giả là người duy nhất có ý thức, biết suy nghĩ và đánh giá mọi sự việc, là vị chúa tể nắm hết mọi bí mật của cuộc đời Còn nhân vật chỉ là đối tượng câm lặng cho sự phẩm bình, nhận xét Tác giả nhận định con người cũng như nhận định cái cây, đồ vật
Đôxtôiepxki là người đã sáng tạo ra tiểu thuyết “đa thanh” Ông nhìn thấu suốt những tương quan đối thoại ở khắp nơi, trong mọi hoàn cảnh sinh hoạt của đời sống con người, có ý thức và có suy luận Ở đâu có ý thức thì ở
đó có đối thoại Đốtxtôiépxki không đoạn tuyệt hẳn với lối tư duy “độc
thoại”, nhưng về căn bản ông sáng tạo một thế giới nghệ thuật khác Nhân vật của ông chủ yếu được miêu tả như một sự tự ý thức, một dòng tư tưởng, một giọng điệu độc lập, không hòa nhập với các giọng khác
Theo Bakhtin, “đa thanh” tức là có nhiều tiếng nói chứ không có nghĩa
là phức tạp, như nhiều tác giả trong nước đã dịch là phức âm hay phức điệu,
dễ gây hiểu lầm, bởi Bakhtin không có ý chỉ định những phức tạp trong tính tình, trong số mệnh của mỗi nhân vật được rọi sáng dưới ý thức riêng của tác giả (như trong tiểu thuyết của Tolstoi, tính tình và số phận của mỗi nhân vật đều rất phức tạp), mà Bakhtin chỉ muốn nói rằng: mỗi nhân vật có một ý thức riêng, một tư tưởng độc lập, kể cả đối với tác giả, mỗi nhân vật lại chứa đựng trong nó nhiều tính cách, phẩm chất đối thoại với nhau Đa âm là sự cá nhân
Trang 23hoá các tiếng nói, là sự độc lập hoá tiếng nói và tư tưởng của nhân vật đối với tác giả Đó là đặc trưng rất quan trọng về thi pháp nhân vật trong tiểu thuyết
Nói cách khác, phát ngôn của nhân vật, dù do tác giả viết ra, nhưng nó không biểu dương ý thức của tác giả, mà nó biểu dương ý thức của nhân vật, không lệ thuộc vào tác giả Tiếng nói của mỗi nhân vật vọng lên như những tiếng nói khác, bên cạnh tiếng nói của tác giả
Khi nói về nhân vật, Bakhtin cho rằng cần chú ý đến nhận thức của nhân vật đối với cuộc đời và đối với bản thân Nhân vật trong tiểu thuyết hiện đại thường có một ý thức sâu sắc về bản thân mình và về người khác
Ông cũng cho rằng: Trái với những truyện đơn âm, trong đó nhân vật được đóng khung, tô rõ đường viền bằng những nét đậm và ý thức của nhân vật trùng khớp với ý thức của tác giả thì nhân vật của tiểu thuyết tự quan sát mình bằng cách rọi mình trong những tấm gương tâm thức của kẻ khác và tự
phân tích, tự khám phá ra mình qua những tấm gương ấy
Ngoài ra, các nhân vật ấy còn luôn luôn tìm cách đập vỡ những khung kính mà người khác lồng vào cho họ, để kết liễu và tiêu diệt họ Nhân vật của
Đôxtôiepxki là những người mà Bakhtin gọi là "con người trong con người”
Trong lời nói của nhân vật, không có lời nào nói ra là không có dụng ý
Và chính ở sự dụng ý đó, mà mỗi chữ, mỗi câu trong cuộc đối thoại, xác định
tư tưởng của nhân vật, xác định hệ ý thức của nhân vật Do đó, không thể khảo sát chữ một cách máy móc như những thực thể vô hồn theo những quy luật của ngôn ngữ học
Trang 24liên hệ bên trong của chúng Xem xét các sự kiện được xâu chuỗi trong tác phẩm giúp chúng ta tìm ra ý đồ nghệ thuật của tác giả
Yếu tố cốt truyện trong văn học hiện đại không còn là yếu tố trọng tâm được coi trọng như văn học thời kỳ trước Văn học hiện đại có thể buông lơi cốt truyện, để cho dòng chảy của tác phẩm men theo dòng tâm trạng của nhân vật, đi sâu vào ngõ ngách, tâm tư tình cảm của con người
Trong tiểu thuyết, mô típ là một yếu tố có ý nghĩa tư tưởng nghệ thuật của tác giả Theo A.N.Vêxêlôpxki: Mô típ là những công thức trả lời cho các vấn đề mà giới tự nhiên đặt cho con người từ những thuở ngưyên sơ, khắp mọi nơi, hoặc là những ấn tượng về hiện thực được đúc kết nổi bật, hoặc tỏ ra quan trọng và được lặp lại Nhà nghiên cứu Trần Đình Sử đã chỉ ra 23 mô típ trong hệ thống mô típ văn học phương Đông Mỗi mô típ sẽ là một mô hình
phản ánh quan niệm của tác giả
Nói đến cốt truyện, không thể không xem xét yếu tố tình huống truyện
Tình huống là "cái tình thế xảy ra truyện", là "một khoảnh khắc mà trong đó
sự sống hiện ra rất đậm đặc", "một khoảnh khắc chứa đựng cả một đời người" (Nguyễn Minh Châu) Tình huống còn được hiểu là mối quan hệ đặc
biệt giữa nhân vật này với nhân vật khác, giữa nhân vật với hoàn cảnh và môi trường sống, qua đó, nhân vật bộc lộ rõ tâm trạng, tính cách hay thân phận
của nó, góp phần thể hiện sâu sắc tư tưởng của tác phẩm Do đó, tìm hiểu thi
pháp cốt truyện thì việc phát hiện "kỹ thuật" tạo tình huống là cần thiết
Để tạo dựng một câu chuyện, một cốt truyện, tất yếu cần có nhiều chi
tiết Chi tiết là những biểu hiện cụ thể, lắm khi nhỏ nhặt, nhưng lại cho thấy
tính cách nhân vật và diễn biến quan hệ của chúng, đồng thời thể hiện sự quan sát và nghệ thuật kể chuyện của tác giả Do đó, chi tiết rất quan trọng đối với
nhân vật vừa tạo ra sức hấp dẫn thú vi ̣ vừa bộc lộ ý nghĩa của chúng Đọc các truyện như Thuốc (Lỗ Tấn), Chí Phèo (Nam Cao), Số đỏ (Vũ Trọng Phụng),
Trang 25người đọc nhận thấy các chi tiết như vòng hoa trên mộ Hạ Du, bát cháo hành, các chi tiết về đám tang cụ cố tổ có giá trị của các chi tiết nghệ thuật
1.2.2.3 Thời gian nghệ thuật
Trong Triết học, người ta xem thời gian là hình thức (phương thức) tồn tại của vật chất Đó là hình thức tồn tại có tính liên tục, độ dài, hướng, nhịp
độ, có ba chiều quá khứ, hiện tại và tương lai và có tính chất không thể đảo ngược Không một vật chất nào có thể tồn tại ngoài thời gian Tác phẩm nghệ thuật cũng tồn tại trong thời gian vật chất: xem bộ phim, đọc bài thơ, cuốn tiểu thuyết… cũng phải mất một thời gian nhất định Nhưng thời gian khách
quan đó chưa phải là thời gian nghệ thuật
Thời gian nghệ thuật là một phạm trù của hình thức nghệ thuật, thể hiện phương thức tồn tại và triển khai của thế giới nghệ thuật Mọi hiện tượng đều tồn tại trong thời gian Thời gian trong tác phẩm nghệ thuật tồn tại trong thế giới vật chất Tuy nhiên, nhà văn không thể hiện đời sống theo kiểu thời gian vật lý mà thời gian nghệ thuật là sự tập hợp của nhiều thời gian cá biệt, nó là một nhân tố cấu trúc của truyện: Thời gian nghệ thuật được đo bằng nhiều thước đo khác nhau, bằng sự lặp lại đều đặn của các hiện tượng đời sống được
ý thức: sự sống, cái chết, gặp gỡ, chia tay, mùa này, mùa khác… tạo nên nhịp
điệu trong tác phẩm
Theo Genette, trong truyện kể có 3 loại thời gian khác nhau, bao gồm: thời gian của chuyện, thời gian của truyện và thời gian phát ngôn Thời gian của chuyện chính là thời gian niên biểu của các sự kiện tạo ra truyện Còn thời gian của truyện là do người kể sáng tạo từ ý thức chủ quan của mình để đạt được hiệu quả nghệ thuật tối đa của tác phẩm Theo đó, người kể chuyện
có thể đảo lộn trật tự thời gian trong truyện không trùng với thời gian của chuyện bằng cách đan xen giữa quá khứ, hiện tại và tương lai theo tâm lý của
Trang 26người kể Thời gian phát ngôn, tức là thời gian kể Nó có khả năng làm cho cái được để hiển hiện ra trước mắt người đọc như đang xảy ra trong hiện tại
Trật tự thời gian có thể bị xáo trộn Có khi hiện tại được kể trước, tương lai kể sau Nhưng cũng có khi tương lai đan xen giữa hồi ức và quá khứ Thời gian nghệ thuật là biểu tượng biểu hiện quan niệm của nhà văn về
cuộc đời Đồng thời, nó thể hiện ý thức sáng tạo độc đáo của tác giả: “Một
cuộc đời có thể trôi nhanh như giấc mộng, một phút chờ đợi có thể dài như trăm năm, có kẻ say sưa quên năm tháng, có người mãi mãi thiếu thời gian, lịch sử có khi hàng nghìn năm giẫm chân tại chỗ, có khi vùn vụt một ngày bằng hai mươi năm” [47, 208]
Thời gian nghệ thuật có thể được kéo dài ra hay làm dừng lại, có thể đưa ta vào rất nhiều những sự biến dồn dập để ta thấy cái nhịp bão táp của cuộc đời Nó lại cũng có thể trộn lẫn, làm đồng hiện giữa quá khứ, hiện tại và tương lai Tất cả nhằm thể hiện quan niệm chủ quan của nhà văn về cuộc đời
và con người Cuộc đời có thể nhanh như chớp, như giấc mộng trong đêm Cuộc đời có thể là sự đày ải khổ đau và tuyệt vọng Cuộc đời vô nghĩa Cuộc đời là hành trình đi tới tương lai…
Trần Đình Sử cho rằng: “Thời gian nghệ thuật là hình tượng nghệ
thuật, sản phẩm sáng tạo của tác giả bằng các phương tiện nghệ thuật nhằm làm cho người đọc nhận thức, cảm nhận được” [44, 62] Và “Thời gian nghệ thuật trong văn học không giản đơn chỉ là quan điểm của tác giả về thời gian
mà là một hình tượng thời gian sinh động, gợi cảm, là sự cảm thụ, ý thức về thời gian được dùng làm hình thức nghệ thuật để phản ánh hiện thực, tổ chức tác phẩm” [50, 207]
Lê Bá Hán cho rằng thời gian nghệ thuật được đo bằng nhiều thước đo khác nhau, bằng sự lặp lại đều đặn của một hiện tượng đời sống được ý thức Thời gian nghệ thuật phản ánh sự cảm thụ thời gian của con người trong từng
Trang 27thời kỳ lịch sử, từng giai đoạn phát triển, nó cũng thể hiện sự cảm thụ độc đáo của tác giả về phương thức tồn tại của con người trong thế giới nghệ thuật
Văn học không thể hiện đời sống theo kiểu thời gian vật lý mà đối tượng chiếm lĩnh của văn học là đời sống của con người: sự phát triển của tính cách, số phận, sự vận động của các quan hệ giữa người và người, quá trình tự ý thức, tự phát hiện ra mình trong lịch sử, sự trở về với quá khứ, sự bay vượt lên trước vào tương lai Thời gian nghệ thuật chính là một hình tượng nghệ thuật Nó được tạo ra để đưa đến cho người đọc nhận thức về cuộc đời, về số phận của con người Thời gian nghệ thuật chính là thời gian tâm lý, diễn ra trong tưởng tượng nhưng lại tồn tại khách quan trong chất liệu ngôn ngữ của tác phẩm văn học Khi xây dựng một tác phẩm văn học, bao giờ nhà văn cũng có ý thức xây dựng thời gian như một công cụ phục vụ đắc lực cho ý đồ triển khai thời gian nghệ thuật của mình
1.2.2.4 Không gian nghệ thuật
Trong tác phẩm văn học, sự miêu tả, trần thuật bao giờ cũng xuất phát
từ một điểm nhìn, diễn ra trong một trường nhìn nhất định, qua đó thế giới nghệ thuật cụ thể, cảm tính bộc lộ toàn bộ quảng tính của nó: cái này bên cạnh cái kia, liên tục, cách quãng, gần, xa, dài, rộng… Không gian nghệ thuật luôn mang tính chủ quan của nhà văn bởi nó là không gian mang tính quan niệm, gắn với sự cảm thụ không gian
Không gian nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo của nghệ sĩ nhằm biểu hiện con người và thể hiện một quan niệm nhất định về đời sống Trong tác phẩm nghệ thuật, ta thường bắt gặp sự miêu tả con đường, ngôi nhà, dòng sông… Nhưng bản thân các sự vật ấy chưa phải là không gian nghệ thuật Nó chỉ là không gian nghệ thuật khi nó mang tính quan niệm của người sáng tác
Trang 28Không gian nghệ thuật trong tác phẩm là sự mô hình hóa những mối liên hệ về thời gian, xã hội, đạo đức của bức tranh thế giới thể hiện quan niệm
về trật tự thế giới và sự lựa chọn của nhà văn
Có rất nhiều kiểu không gian nghệ thuật Theo Iu Lốtman, không gian nghệ thuật có thể là không gian điểm, không gian tuyến, không gian mặt phẳng (hoặc là không gian khối) Không gian tuyến, không gian mặt phẳng có hướng vươn ra chiều rộng hay chiều thẳng đứng Không gian tuyến có chiều dài không liên quan đến chiều rộng như con đường có tính thời gian như:
“đường đời”… Có rất nhiều tác phẩm văn học sử dụng không gian con
đường: con đường mười lăm năm lưu lạc của Thúy Kiều (Truyện Kiều), con
đường cách mạng trong thơ Tố Hữu, đường đi cứu nước của Bác Hồ trong thơ Chế Lan Viên v.v… Thậm chí có cả một con đường tưởng tượng là đường sắt
lên Tây Bắc trong bài Tiếng hát con tàu của ông
Không gian điểm (địa điểm) được xác định bằng các giới hạn và tính chất chức năng của nó, tính đối lập của nó: không gian quảng trường, bãi chiến trường, ngôi nhà… Quảng trường có tính chất công cộng, chiến trường
là nơi chiến đấu, ngôi nhà là nơi sinh hoạt riêng tư Không gian trong một số
bài thơ như Qua đèo Ngang, Thăng Long thành hoài cổ… không gian trong truyện Đôi mắt (Nam Cao) là không gian điểm, không gian quảng trường rất tiêu biểu trong Tội ác và trừng phạt của Đôxtôiepxki
Không gian nghệ thuật còn có thể chia thành không gian bên ngoài và không gian bên trong Không gian bên trong thì phi thời gian, không biến đổi, còn không gian bên ngoài thì đổi thay vô thường Ngoài ra, không gian nghệ thuật còn có thể được chia ra không gian hành động và không gian phi hành
động… Kiểu không gian này được thể hiện khá rõ trong Truyện Kiều Trong
khi không thay đổi không gian hành động của nhân vật, Nguyễn Du đã thêm vào không gian vũ trụ trữ tình, làm thay đổi cách cảm thụ về thế giới và nhân vật
Trang 291.3 Giấc mơ từ góc nhìn phân tâm học và giấc mơ như một phương thức bộc lộ thế giới tinh thần của con người trong văn học
Sigmund Freud - bác sĩ về thần kinh và tâm lý người Áo, người đi đầu nghiên cứu về các giấc mơ đã khẳng định rằng: với phần tâm lý của con người được ẩn dấu trong cõi vô thức, ắt chúng ta hiểu được bản chất nội tâm của con người Để khám phá tính “tự ngã” trong con người, giấc mơ chính là con đường hữu hiệu giải tỏa những ham muốn dồn nén của ý thức khi đã không
thực hiện nó Freud đã nhận thấy rất sớm rằng “giấc mơ biểu lộ sự trá hình
của một ham muốn bị lãng quên - hoặc ít nhất là một thử nghiệm để hoàn thành - nỗi ham muốn ấy đến nẩy mầm trên việc thực hiện một mong ước thời
sự hơn, bằng cách sử dụng các yếu tố và sự kiện của ngày hôm trước” [63,
649] Theo ông, giấc mơ là lối thoát cho những ham muốn mà con người không thể tự do biểu đạt trong bối cảnh xã hội Nối tiếp Freud trong giả thuyết thứ nhất này là Carl Jung Ông cho rằng giấc mơ phản ánh tâm thức của con người và giúp họ giải quyết những khúc mắc cá nhân
Freud chia giấc mơ làm hai phần: Phần “nội dung biểu hiện” và phần
“nội dung tiềm ẩn” “Phần “nội dung biểu hiện” là cảnh mộng mà người nằm mơ thấy được, bao gồm một số hình ảnh, một chuỗi tình tiết ngôn ngữ…
Hệ thống hình ảnh này thường có mối quan hệ với những sự việc đã diễn ra ban ngày Phần “nội dung tiềm ẩn” bao gồm một loạt những ước muốn mà chính người nằm mơ cũng không nhận ra được nó vốn bị nhấn chìm trong vô thức của người nằm mơ bao gồm những tình tự, khao khát, ưu tư, rung động… Đó là nguyên nhân, là động lực của giấc mơ, còn những hình ảnh bên trên là biểu hiện và hình thức của giấc mơ Hàng loạt ước muốn tiềm ẩn đến
hệ thống hình ảnh biểu hiện là quá trình làm việc của giấc mơ” [33, 289]
Như vậy, giấc mơ vừa là không gian của trí tưởng tượng, vừa chứa đựng yếu
tố hiện thực Quá trình từ nội dung tiềm ẩn trở thành nội dung biểu hiện của
Trang 30giấc mơ (tức là những hình ảnh mà người nằm mơ nhìn thấy được và kể lại được) có những cơ chế đặc thù, bao gồm: cô đặc, di chuyển, kịch hóa, tượng trưng hóa, chế biến lần thứ hai
Trong văn học dân gian và văn học trung đại, giấc mơ (giấc mộng) thường mang chức năng điềm báo, chứa đựng màu sắc tôn giáo, bộc lộ niềm tin và tín ngưỡng của người lao động Giấc mộng như là một tính chất ứng báo, là cách liên thông giao tiếp phổ biến giữa con người với thần linh Có rất
nhiều tác phẩm mang mô típ giấc mơ: Truyền kỳ mạn lục (Nguyễn Dữ), Việt
điện u linh (Lý Tế Xuyên), Truyện Kiều (Nguyễn Du)… Trong khi đó, giấc
mơ trong văn học hiện đại đã mang một ý nghĩa mới Nó “trở thành đời sống
tâm linh của con người và cất lên tiếng nói của nhân loại, của lịch sử, gửi gắm thông điệp của loài người” Giấc mơ nhiều khi còn là “bức thông điệp báo cho biết sự việc ý thức của ta còn chưa biết Tiềm thức hình như đã biết
trước và tìm lấy một kết luận đem biểu lộ trong giấc mơ” [59, 177] Giấc mơ
của Can (Nỗi buồn chiến tranh) là một trong những giấc mơ như thế
Trong các giấc mơ, con người sống trong thế giới phi lý, huyền ảo không có thật, nhưng cũng chính từ đó mà bộc lộ ra cái phần tiềm thức ẩn khuất không thể thấy được trong cuộc đời thực
Trong Nỗi buồn chiến tranh, giấc mơ đã được Bảo Ninh nhắc đến 39 lần, trong đó có 14 lần Kiên mơ “Trong mơ, trí nhớ khuấy đảo, lật tung tất
cả, lần tìm trong đống đổ nát đam mê niềm đau buốt vô hạn độ” Hằng đêm,
trở về trong Kiên là những giấc mơ không đầu không cuối Anh mơ lại tất cả những gì đã qua trong đời mình: giấc mơ chiến tranh, giấc mơ tình yêu Trong những giấc mơ và hồi ức của anh, vừa có yếu tố của cuộc đời thực đã qua (cuộc chiến tranh đẫm máu, cái chết của đồng đội, tình yêu bị chia lìa đau đớn) lại vừa có phần khao khát, đó là khao khát quên đi quá khứ đau thương,
ước ao những người đồng đội đã chết có thể sống lại (“Giá mà giờ phút hòa
Trang 31bình là giờ phút phục sinh tất cả những người đã chết trận nhỉ”), muốn được
yêu và quay về bên Phương bởi chỉ có Phương mới làm cho tâm hồn anh êm dịu Ám ảnh từ cuộc chiến tranh, cộng với cái khao khát chưa thực hiện được trong quá khứ đã thôi thúc tâm trí Kiên trở về với những ngày tháng xa xăm của cuộc đời Và chính vì thế mà những hồi ức và giấc mơ mới trở nên dày đặc luôn vây quanh anh, luôn đè bẹp anh, không cho anh có cơ hội sống như những người bình thường khác
Freud khẳng định rằng tất cả giấc mơ đều có một ý nghĩa Những mối
quan hệ cực kỳ phức tạp đã thống nhất “nội dung biểu hiện” và “nội dung
tiềm ẩn” lại với nhau, mà người ta chỉ có thể vạch ra những quan hệ ấy bằng
cách nhờ tới sự liên tưởng tự do, để cho mỗi yếu tố của nội dung biểu hiện đi ngược lên tới nội dung tiềm ẩn Cơn mộng mị tưởng chừng vô thức trong cơn
say của bà cả Thuần (Dòng sông mía) chính là điều bà đau đáu trong tiềm
thức Bà mơ thấy thằng Các cùng bà đến bến Diễm và ông bà cá thần đón họ
đi Bà mơ thấy mình được gặp bà Mến, được chuyện trò để cùng nhận ra cái kiếp khốn khổ của họ suy cho cùng chỉ vì sự khắt khe, ích kỷ của người đời
Đó là giấc mơ tự nhiên đến với Quyên (Quyên) sau khi chứng kiến tang lễ của
Hùng – người mà cô đã thực sự muốn quên đi trong vết nhơ cuộc đời mình
Cô không mơ thấy Hùng, thứ ám ảnh cô nhất chính là đoàn tàu dài Đó phải chăng là đoàn tàu sẽ chở đi mọi oán hờn trách móc với Hùng trong Quyên và
nó sẽ bình yên đưa cô về với miền ký ức của cánh rừng năm nào
1.4 Vài nét về tác giả và tác phẩm
1.4.1 Bảo Ninh trong xu thế đổi mới văn học Việt Nam hiện đại
Trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc, cuộc kháng chiến chống
Mỹ là một trong những cuộc kháng chiến oanh liệt nhất Chiến thắng 30 - 4 -
1975 là mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộc, đánh dấu bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam, kết thúc cuộc kháng chiến chống đế quốc xâm lược
Trang 32Đây là thắng lợi của niềm tin, là thành quả của đấu tranh gian khổ với bao hy sinh mất mát của cả dân tộc Trong kháng chiến chống Mỹ, tất cả các lĩnh vực của đời sống: kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục… đều phải hướng đến mục đích phục vụ cách mạng, văn học phục vụ chính trị Văn học kháng chiến hoàn toàn phù hợp trong thời điểm đất nước có giặc ngoại xâm
Sau năm 1975, đặc biệt là sau Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ
VI (năm 1986), tình hình đất nước đã có nhiều thay đổi Đất nước hoàn toàn thống nhất và đi theo một hướng mới: Từ hệ thống nhà nước quan liêu bao cấp chuyển sang thực hành dân chủ hóa xã hội, phát huy nhân tố sáng tạo trong mỗi cá nhân, quyền cá nhân của con người được tôn trọng Lần đầu tiên, đất nước ta mở cửa hội nhập, giao lưu với tất cả các dân tộc trên thế giới Mở rộng giao lưu quốc tế là cơ hội mở rộng tầm nhìn của người Việt Đặc biệt, thế kỷ XX là thời điểm thế giới đã gặt hái được nhiều thành công trên các lĩnh vực khoa học và đời sống Văn học cũng theo đó giao lưu, hội nhập Sự thức tỉnh trước sự nghèo nàn của một dân tộc kéo dài suốt bao nhiêu thế kỷ đã tạo
ra một luồng sinh khí mới Đảng khẳng định: “Không hình thái tư tưởng nào
có thể thay thế được văn học và nghệ thuật trong việc xây dựng tư tưởng tình cảm lành mạnh, tác động sâu sắc vào việc đổi mới nếp nghĩ, nếp sống của
con người” [38, 10] Nhận định này cho thấy, Đảng đã đánh giá đúng vai trò
của văn học nghệ thuật để từ đây văn học nghệ thuật có cơ hội đổi mới và phát triển theo quy luật của nó Tầng lớp trí thức, giới văn nghệ sĩ là những người nhạy bén nhất với cái mới Họ nhanh chóng tiếp thu yếu tố tiến bộ cả trong đời sống cũng như văn học
Lúc này, yêu cầu đầu tiên và quan trọng nhất của văn học là phản ánh hiện thực (trong đó có hiện thực về hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ), cần có những cách tân, đổi mới trên phương diện nghệ thuật Đặc điểm nổi bật nhất của văn học 1945 – 1985 là khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng
Trang 33mạn thì từ năm 1985 trở đi, văn học nghệ thuật mang tính thế sự - đời tư là chủ yếu Nhiều vấn đề phức tạp, nóng hổi của xã hội đòi hỏi nhà văn phải lý giải, cắt nghĩa trên tinh thần đổi mới
Văn học lúc này không phải là nền văn học chỉ chú ý đến những vấn đề của cộng đồng nữa mà đi sâu vào những vấn đề đời tư con người Đây lá cái phần thiếu hụt của văn học dân tộc mà trong một giai đoạn khá dài, vì nhiều
lý do khác nhau, các nhà văn đã tạm gác sang một bên Nguyễn Minh Châu
từng viết “nhà văn phải gắn bó với cuộc sống” và phải “lật lên được” những
gì còn lẩn khuất sau những hình hài dễ nhận thấy nhưng đó lại chưa phải là cái phần đáng giá nhất của đời sống
Là một người tinh tế, nhạy cảm, Bảo Ninh đã bắt nhịp với những đổi thay của đất nước cũng như của văn học Bảo Ninh tên thật là Hoàng Ấu Phương, sinh ngày 18/10/1952 ở Nghệ An Bút danh của ông được lấy từ tên
xã Bảo Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình quê ông Cha ông là Hoàng Tuệ, giáo sư Ngôn ngữ học dạy tại Trường đại học Sư phạm Hà Nội Năm 1969, Bảo Ninh nhập ngũ, tham gia chiến đấu tại chiến trường Tây Nguyên Năm 1989, ông tốt nghiệp trường viết văn Nguyễn Du Hiện nay, ông công tác tại báo Văn nghệ Trẻ, là hội viên hội nhà văn Việt Nam từ năm
1997
Bảo Ninh là nhà văn tài hoa bước ra từ chiến tranh, trở nên nổi tiếng cũng nhờ những tác phẩm viết về chiến tranh, về những gì ông đã trải qua và chiêm nghiệm Bằng sự trải nghiệm thực tế của bản thân, ông hiểu hơn ai hết cái tàn khốc của cuộc chiến tranh ác nghiệt, những đau thương người lính phải trải qua và chịu đựng trong chiến tranh và những ám ảnh trong cuộc đời
thực hôm nay, cho nên Bảo Ninh “đã độc lập tác chiến trong một quá trình
rong ruổi ngược” Ông can đảm chấp nhận một lộ trình dốc đứng, đóng góp
tiếng nói chân thành của mình vào sự nghiệp đổi mới văn học dân tộc Ông
Trang 34từng chia sẻ: “hạnh phúc là được sống trong hoà bình, không phải lâm vào
chiến tranh Bởi lẽ, không có gì tốt đẹp hơn hoà bình và cũng không có gì đáng ghê sợ hơn chiến tranh Người ta không ai có thể một mình làm nên hạnh phúc mà hạnh phúc chỉ có thể có trong một xã hội bình đẳng, tự do, văn minh, dân chủ – muốn thế phải có hoà bình!”[71]
Bên cạnh việc đổi mới quan niệm phản ánh hiện thực, Bảo Ninh là nhà văn đi đầu trong những cách tân nghệ thuật có giá trị trên tất cả các phương diện xây dựng nhân vật, cốt truyện, không gian, thời gian, điểm nhìn mới về chiến tranh…
Sáng tác của Bảo Ninh chủ yếu là truyện ngắn và tiểu thuyết Ở thể loại truyện ngắn, dường như tác phẩm nào của ông cũng để lại dấu ấn trong lòng
người đọc Theo thống kê, trong hai tập truyện Truyện ngắn Bảo Ninh do Nhà xuất bản Công an ấn hành năm 2004 và cuốn Bảo Ninh lan man trong lúc kẹt
xe những truyện ngắn hay nhất và mới nhất do Nhà xuất bản Hội nhà văn ấn
hành năm 2005, có tất cả 28 truyện ngắn, thì có đến 22 truyện viết về đề tài chiến tranh và người lính và 6 truyện ngắn khác viết về đề tài khác trong cuộc sống thời hậu chiến
Trong 22 truyện ngắn viết về chiến tranh và người lính thì chỉ có 3
truyện được trần thuật ở điểm nhìn hiện tại (La Mac xây e, Ngàn năm mây
trắng, Kỳ ngộ), 19 truyện còn lại được nhà văn trần thuật có sự đan xen giữa
hai thì quá khứ và hiện tại Trong 22 truyện ngắn ấy có 15 nhân vật chính là
người lính Đó là các truyện: Trại bảy chú lùn, Ba lẻ một, Lá thư từ Quý Sửu,
Mùa khô cuối cùng, Khắc dấu mạn thuyền, Bên lề cuộc tấn công, Ngôi sao vô danh, Thách đấu, Tình thư, Hỏa điểm cuối cùng, Rửa tay gác kiếm Bởi vậy,
Bảo Ninh được độc giả biết đến như một nhà văn sinh ra để viết về chiến tranh và người lính
Trang 351.4.2 Tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh
Có thể nói, tên tuổi của Bảo Ninh được gắn với cuốn tiểu thuyết Nỗi
buồn chiến tranh – một tác phẩm đặc biệt của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại
Tác phẩm là một cuốn tiểu thuyết còn dang dở của nhà văn Kiên kể theo dòng ký ức của anh về bi kịch số phận của mình trong chiến tranh và trong thời hậu chiến Ra khỏi cuộc chiến tranh đẫm máu, trở về với hòa bình, Kiên mang nặng một nỗi buồn – nỗi buồn chiến tranh Cuộc chiến tranh ấy đã cướp đi của Kiên tình yêu, niềm tin và cuộc sống bình thường của một con người Không chỉ có Kiên, Phương – người Kiên yêu trọn đời và những nhân vật khác cũng rơi vào bi kịch tổn thương nặng nề
Khi mới ra đời, tác phẩm không được chào đón nhưng sau đó nó đã khẳng định được vị thế của mình và thuyết phục được giới nghiên cứu cũng
như bạn đọc Xuất bản lần đầu năm 1990 với tiêu đề Thân phận của tình yêu
(do các biên tập viên nhà xuất bản Hội nhà văn lựa chọn), chỉ một năm sau
đó, tác phẩm đã nhận được giải thưởng của Hội nhà văn, một trong những giải thưởng văn chương quan trọng nhất ở Việt Nam Năm 2003, cuốn sách của
Bảo Ninh được tái bản với tiêu đề ban đầu mà tác giả đã đặt: Nỗi buồn chiến
tranh
Nỗi buồn chiến tranh được đánh giá là đã “chạm đến mẫu số chung của nhân loại” (Nguyễn Quang Thiều), trở thành “một tác phẩm có tầm cỡ quốc tế: mang tính chất văn học cao, rất dễ đọc mà đầy uy lực” (The List) Nỗi buồn chiến tranh đã được dịch và giới thiệu ở 18 quốc gia trên thế giới
Trang 36có thể nắm chắc được nội dung Hình thức bao gồm nhiều yếu tố, mỗi yếu tố
có vai trò riêng Tất cả các yếu tố liên kết với nhau tạo nên nội dung của tác phẩm
Khác với những thể loại ra đời trước nó, tiểu thuyết có những điểm mới trên tất cả các phương diện: nhân vật, cốt truyện, không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật, điểm nhìn… Tiểu thuyết là thể loại luôn vận động, phát triển
Nó thiên về những cái chưa hoàn thành trong đời sống Từ tiểu thuyết sử thi đến tiểu thuyết sau đổi mới là cả một quá trình Con người không chỉ được miêu tả một cách trực tiếp như trước nữa mà được phản ánh thông qua những hồi ức và giấc mơ của nhân vật Cũng qua những giấc mơ và hồi ức mà người đọc có thể cảm thông và thấu hiểu hơn tâm lý của nhân vật
Trang 37CHƯƠNG 2 HỒI ỨC VÀ GIẤC MƠ GẮN VỚI HỆ THỐNG CỐT TRUYỆN, NHÂN
VẬT VÀ ĐIỂM NHÌN MỚI VỀ CHIẾN TRANH
2.1 Hồi ức và giấc mơ gắn với cốt truyện
Cốt truyện là hệ thống sự kiện cụ thể, được tổ chức theo yêu cầu tư tưởng và nghệ thuật nhất định, tạo thành bộ phận cơ bản, quan trọng nhất
trong hình thức động của tác phẩm văn học thuộc các loại tự sự và kịch
Cốt truyện luôn có sự gắn bó hữu cơ giữa hai phương diện: bộc lộ nhân vật và tái hiện các xung đột xã hội Nhờ cốt truyện, nhà văn bộc lộ thể hiện sự tác động qua lại giữa các tính cách nhân vật Cốt truyện vừa góp phần bộc lộ
có hiệu quả đặc điểm mỗi tính cách, tổ chức tốt hệ thống tính cách, vừa trình bày một hệ thống sự kiện phản ánh chân thực xung đột xã hội, có sức lôi cuốn mạnh mẽ và hấp dẫn người đọc
Có thể chia cốt truyện thành hai loại: Cốt truyện đơn tuyến và cốt truyện đa tuyến Trong cốt truyện đơn tuyến, hệ thống sự kiện được tác giả kể lại gọn gàng, đơn giản về số lượng, tập trung thể hiện quá trình phát triển tính cách của một vài nhân vật chính Do vậy, cốt truyện đơn tuyến thường có dung lượng vừa hoặc nhỏ Cốt truyện đa tuyến là cốt truyện trình bày một hệ thống sự kiện phức tạp, nhằm tái hiện nhiều bình diện phức tạp của đời sống trong một thời kỳ lịch sử, tái hiện quá trình phát triển và diễn biến phức tạp của nhiều nhân cách Do đó, cốt truyện đa tuyến thường có dung lượng lớn Một số tác phẩm tiểu thuyết nổi tiếng thế giới của L Tôn-xtôi, F
Đôxtôiepxki, M Sôlôkhốp thuộc dạng cốt truyện này như: Chiến tranh và
hòa bình, Tội ác và trừng phạt, Sông đông êm đềm…
Trang 38Thông thường, mọi cốt truyện đều trải qua một tiến trình vận động, phát triển và kết thúc bao gồm các giai đoạn: mở đầu, thắt nút, phát triển, cao trào, kết thúc Tuy nhiên, không phải bất cứ tác phẩm văn học nào cũng có đầy đủ các giai đoạn như vậy
Nếu như trong văn học giai đoạn 1945-1975, với lối kết cấu sự kiện đơn tuyến, cốt truyện có một vị trí quan trọng - tạo thành một cái khung cố định, sắp xếp tổ chức chuỗi sự kiện mạch lạc và chặt chẽ thì cùng với xu hướng kết cấu tâm lý trong văn xuôi sau 1986, cốt truyện bị đẩy xuống hàng thứ yếu, nhường chỗ cho những dòng chảy bất định của tâm trạng con người Cốt truyện vẫn tồn tại, song bắt đầu bị biến dạng và phân rã - "thay vì duy trì tính thống nhất trong trình tự thời gian và nhân quả của chuỗi sự kiện gắn với hành động của nhân vật chính (protagoniste), tự sự tan vỡ thành một chuỗi lắp ghép các phân đoạn, các "mảnh vỡ" của cuộc đời nhân vật chính ","thay
vì triển khai tự sự bám vào "cuộc phiêu lưu của nhân vật", nhà văn lại biến tự
sự trở thành một "cuộc phiêu lưu của cái viết" nghĩa là sự chắp ghép ngẫu nhiên những mảnh vỡ - những sự kiện phân tán và rời rạc" [15, 79] Có thể nói rằng, cốt truyện luôn gắn với nhân vật và nó còn là phương tiện để nhà
văn tái hiện lại các xung đột xã hội Nhân vật chính trong Nỗi buồn chiến
tranh là Kiên nhưng tác phẩm không nhằm tái hiện sự xung đột giữa các nhân
vật mà nhằm tái hiện một thế giới nội tâm đầy dẫy những mâu thuẫn, dằn vặt,
ám ảnh trong tâm hồn Kiên Có thể nói, Nỗi buồn chiến tranh có cốt truyện
tương đối mới mẻ Người đọc thường thấy khó hiểu khi theo dõi mạch truyện Truyện không có những tình huống thắt nút, đỉnh diểm, cao trào, mở nút… như những truyện có cốt truyện thông thường mà chỉ là những mảnh ghép rời rạc trong dòng ký ức của Kiên Tuy nhiên, không phải vì thế mà truyện không hấp dẫn Ngược lại, cốt truyện đặc biệt của tác phẩm là một sự sáng tạo có giá trị và được đánh giá rất cao
Trang 39Hồi ức và giấc mơ gắn với cốt truyện của Nỗi buồn chiến tranh là hình
thức nhưng thực chất nó là nội dung bởi nó được xây dựng hoàn toàn do nỗi buồn đau, mất mát mà chiến tranh đem lại qua cảm nhận của nhân vật
Nỗi buồn chiến tranh được triển khai trên cơ sở sự vận động của dòng
tâm tư vô định của nhân vật chính (Kiên) Các sự kiện ở thời hiện tại rất ít mà chủ yếu là nằm trong những hồi ức và giấc mơ của nhân vật Tất nhiên, sự thống kê này chỉ mang tính chất tương đối bởi trong mỗi sự kiện có rất nhiều những chi tiết nhỏ Cuốn tiểu thuyết bao gồm rất nhiều sự kiện, trong đó những sự kiện được Kiên nhớ lại (nằm trong hồi ức của Kiên) chiếm gần như trọn vẹn trong tác phẩm Những sự kiện ở thời hiện tại chiếm số lương rất ít (Chỉ khoảng 1/3) Chúng tôi thống kê được 25 sự kiện trong tác phẩm được Kiên hồi tưởng lại Điều đáng nói là các sự kiện đó không được sắp xếp rõ ràng, rành mạch mà rất lộn xộn, chảy theo dòng ký ức vô định của Kiên
Hệ thống sự kiện nằm trong hồi ức và giấc mơ của nhân vật Kiên
1 Ký ức rùng rợn về tiểu đoàn 27 bị xóa sổ
2 Cuộc sống của Kiên và những người lính trinh sát trước ngày hành quân xuống cánh Nam tiến đánh Buôn Ma Thuột
3 Can bỏ trốn và bị chết
4 Cuộc tình vụng trộm của những người lính với 3 cô gái
5 Cuộc đụng độ với bọn thám báo trả thù cho 3 cô gái
6 Nhớ lại lúc trung đội tập hợp trước mồ Thịnh “con” trước lúc rời Cánh Bắc
7 Mơ đến Hòa – cô giao liên đã hi sinh để cứu Kiên và đồng đội
8 Kiên nhớ đến cha mẹ và lúc từ biệt Dượng
9 Kỉ niệm giữa Kiên và Hạnh - người phụ nữ độc thân sống trong căn phòng nhỏ sát chân cầu thang
10 Ký ức về Vĩnh và người bạn học cũ – Trần Sinh
Trang 4011 Nhớ lại những phút giây sống gấp với Hiền ở những cây số cuối cùng còn vương lại của thời thanh xuân chiến hào
12 Nhớ lại cái chết khủng khiếp của Quảng
13 Ký ức về Tùng bị một viên bom bi lọt vào não và bị điên
14 Kí ức về người đàn bà câm
15 Kí ức về cha mẹ, lúc cha mất
16 Kỉ niệm về mối tình đầu trong sáng với Phương
17 Những ám ảnh về Phương theo Kiên trong những ngày bị thương nằm ở Điều trị 8
18 Nhớ lại thời ấu thơ khi Kiên cùng Phương, Toàn, Sinh học cùng lớp
19 Gặp Phương trên chuyến tàu vào B
20 Kỷ niệm về Phương ở Đồ Sơn
21 Nhớ đến lúc cùng Phương trên chuyến tàu Hà Nội – Vinh
22 Ký ức đau thương về Hòa
23 Ký ức về Phương tuổi 17
24 Nỗi đau đến với Phương trên chuyến tàu vào B
25 Kiên quyết định ra đi bỏ lại Phương ở ga Thanh Hóa
Trên cơ sở chuỗi những hồi ức và giấc mơ được đánh số theo thứ tự trần thuật trong tác phẩm, chúng tôi tiến hành tổng hợp lại như sau:
- Hồi ức về cuộc sống thời thơ ấu (gắn với gia đình, bạn bè): 8, 9, 15, 18
- Mơ về mối tình trong sáng với Phương thuở còn là học sinh trường Bưởi:
16, 20, 23
- Nhớ lại tình cảnh bất trắc với Phương trước thềm chiến tranh: 19, 21, 24, 25
- Hồi ức lại cuộc sống của người lính trong chiến tranh: 2, 4, 5, 6, 11, 17,
- Hồi ức lại cuộc chiến và những cái chết thương tâm: 1, 3, 12, 13, 7, 22
- Ký ức về cuộc sống sau hòa bình: 10, 14