ô nhiễm môi trường biển:là tình trạng nước biển bị thay đổi theo chiều hướng tiêu cực các tính chất vật lí ,hóa học,sinh học,với sụ xuất hiện các chất lạ ở thể lỏng làm cho chất lượng nư
Trang 1BÀI THUYẾT TRÌNH TRÌNH BÀY VỀ VẤN ĐỀ Ô NHIỄM NƯỚC BIỂN
HIỆN NAY Ở VIỆT NAM
Trang 2CÁC THÀNH VIÊN NHÓM 2
1.NGUYỄN TUẤN ĐỨC
2.PHAN VĂN PHƯƠNG
3.VŨ THỊ THI
4.NGUYỄN VĂN SĨ
5.TRẦN VĂN HOÀNG
6.NGUYỄN THỊ QUỲNH LƯU
7.CẤN THỊ THANH HIỀN
Trang 3MỤC LỤC
Phần I:Mở đầu
Phần II:Thực trạng môi trường biển và nguyên nhân gây ra ô nhiễm môi trường biển ở Việt Nam
Phần III:Giải pháp cho vấn đề ô nhiễm môi trường biển ở Việt Nam
Phần IV:Kết luận
Trang 4Các khái niệm cơ bản
Ô nhiễm môi trường là tình trạng môi trường bị ô nhiễm bởi các chất hóa học, sinh học, bức xạ, tiếng ồn, gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người và các cơ thể sống khác Ô nhiễm môi trường xảy ra là do con người và cách quản lý của con người
ô nhiễm môi trường biển:là tình trạng nước biển bị thay đổi theo chiều hướng tiêu cực các tính chất vật lí ,hóa học,sinh học,với sụ xuất hiện các chất lạ ở thể lỏng làm cho chất lượng nước biển bị suy giảm,gây ảnh hưởng trực tiếp đến hệ sinh thái biển,cảnh quan môi trường biển và sự phát triển kinh tế
Phần I:Mở đầu
Việt Nam là một quốc gia ven biển nằm bên bờ Tây của Biển Đông, giữ vị trí chiến lược về địa - chính trị và địa - kinh tế mà không phải quốc gia nào cũng có
Việt Nam có bờ biển dài hơn 3260km từ Bắc tới Nam Và có hơn 4.000 hòn
đảo,bãi đá ngầm lớn nhỏ, gần và xa bờ, có vùng nội thủy, lãnh hải, vùng đặc
quyền kinh tế và thềm lục địa khoảng trên 1.000.000 km2.Đây là những tiền
đề cho phép hoạch định 1 chiến lược biển,phù hợp với xu thế phát triển của
1 quốc gia biển
Tuy nhiên do sức ép dân số,sức ép kinh tế và khả năng quản lý tài nguyên kém hiệu quả dẫn tới hậu quả ô nhiễm môi trường nước biển.Do đó ô nhiễm biển là một vấn đề quan trọng cần phải được chú trọng quan tâm hàng đầu
nhiễm môi trường biển ở Việt Nam
1)Thực trạng môi trường biển
Hiện nay môi trường biển nước ta đang có dấu hiệu bị ô nhiễm và suy thoái.Môi trường vùng nước ven bờ đã bị ô nhiễm dầu,kẽm và chất thải sinh hoạt.Các chất rắn lơ lửng như Si,NO3,NH4, và PO4 cũng ở mức đáng lo
Trang 5ngại.Chất lượng trầm tích đáy biển ven bờ,nơi cư trú của nhiều loài thủy hải sản cũng bị ô nhiễm
Hàm lượng chất bảo vệ thực vật chủng andrin và endrin trong các mẫu sinh vật đáy ở các vùng cửa sông ven biển phía bắc đều cao hơn giới hạn cho phép.Đa dạng sinh học động vật đáy ở ven biển miền bắc và thực vật nổi ở miền trung suy giảm rõ rệt.Lượng hóa chất bảo vệ thực vật tồn lưu trong cơ thể các loài thân mềm được xác định cao nhất là tại Sầm Sơn và cửa Ba Lạt (11.4 -11.83 mg/kg thịt ngao),thấp nhất là tại trà cổ (1.54 mg/kg).Các chất andrin,endrin,dierin,đặc biệt là andrin và endrin có hầu hết ở các mẫu phân tích,biến đổi từ 0.12 đến 3.11 mg/kg
Hiện tượng thủy triều đỏ cũng đã xuất hiện ở nước ta từ tháng 6 đến trung tuần tháng 7 âm lịch tài vùng biển nam trung bộ,đặc biệt là tại Khánh Hòa,Ninh Thuận,Bình Thuận.Thủy triều đỏ xuất hiện khá nhiều nam trung bộ.Hơn 30 km bãi biển từ Cà Ná đến Long Hương nhầy nhụa những bột màu xám đen trộn với xác chết của sinh vật tạo nên mùi hôi thối.Thiệt hại của thủy triều đỏ gây ra là rất lớn.Vùng biển ven bờ nước ta đã phát hiện được khoảng 8-16 loài vi tảo biển gây hại với mật độ 2 x 104 tế bào/lít.Hiện tượng thủy triều đỏ xảy ra ở vùng biển Bình Thuận đã tiêu diệt tôm,cua,cá,san hô,rong cỏ biển
Theo số liệu thống kê cho thấy khoảng 70% ô nhiễm biển đại dương
có nguồn gốc từ đất liền,xuất phát từ chất xả thải của các thành phố,thị xã,thị trấn,từ các ngành công nghiệp,xây dựng,hóa chất…trong đó đáng kể nhất và nguy hại nhất là các chất thải từ các nhà máy thông qua hệ thống cống rãnh,xả thải ra biển và đại dương với 1 lượng lớn các chất bồi lắng,hóa chất kim loại,nhựa,cặn dầu và thậm chí cả các chất phóng xạ
Hàng năm,trên 100 con sông nước ta thải ra biển 880 km3 nước,270
-300 triệu tấn phù xa,kéo theo nhiều chất có thể gây ô nhiễm biển như các chất hữu cơ,dinh dưỡng,kim loại nặng và nhiều chất độc hại từ các khu dân
cư tập trung,từ các khu công nghiệp và đô thị,từ các khu nuôi trồng thủy sản ven biển và các vùng sản xuất nông nghiệp.Dự tính chất lượng chất thải sẽ tăng rất lớn ở các vùng nước ven bờ,trong đó dầu khoảng 35.160 tấn/1ngày,nitơ tổng số 26-52 tấn/1ngày và tổng amoni 15-30 tấn/ngày
Nước biển của 1 số khu vực có biểu hiện bị axit hóa do độ PH trong nước biển tầng mặt biến đổi trong khoảng 6.3-8.2.Chất lượng môi trường biển thay đổi dẫn đến nơi cư trú tự nhiên của loài bị phá hủy gây tổn thất về
đa dạng vùng bờ.Có khoảng 85 loài hải sản có mức độ nguy cấp khác nhau
và trên 70 loài đã được đưa vào sách đỏ.Hiệu suất khai thác hải sản giảm rõ rêt,thêm vào đó,tình trạng dùng các ngư cụ đánh bắt có tính chất hủy diệt diễn ra khá phổ biến như xung điện,chất nổ,đèn cao áp quá công suất cho
Trang 6phép …làm cạn kiệt các nguồn lợi hải sản ven bờ khiến cho nguồn lợi hải sản có xu hướng giảm dần về trữ lượng,sản lượng và kích thước cá đánh bắt
Các vùng biển,đặc biệt là nước biển tại các vùng lân cận các mở sa khoáng titan,trong điều kiện môi trường thủy địa hóa thuận lợi,các chất phóng xạ bị hòa tan và di chuyển ra biển,gây ô nhiễm nước biển
Các cảng đều phải đối mặt với nước đục do liên quan đến hoạt động của tàu thuyền ra vào cảng,nạo vét luồng lạch,đổ phế thải.Độ đục nước vùng cảng hải phòng 0.42mg/l,cảng Cái Lâm 0.6mg/l,cảng Vũng Tàu 0.52 mg/l,cảng Vietso Petro 7.57 mg/l.Mặt dầu loan ngăn chặn không khí hòa tan vào nước nên hàm lượng ôxy trong nước thấp,trung bình 3.3 -10.9 mg/l vào mùa khô và 1.16 – 6.1mg/l vào mùa lũ,trong đó nhu cầu ôxy rất cao cần tới 13.6 -31mg/l.Ở 1 số cảng đáng báo động là hàm lượng thủy ngân đã vượt ngưỡng cho phép,cảng Vũng Tàu vượt 3.1 lần,cảng Nha Trang vượt 1.1 lần
Môi trường biển bị ô nhiễm đã dấn tới sự suy thoái đa dạng sinh học biển,điển hình là hệ sinh thái san hô.Vùng biển Việt Nam có khoảng 1.122
km2 rạn san hô,nếu hệ sinh thái này bị mất,biển nước ta có nguy cơ trở thành thủy mạc không còn tôm cá nữa.Theo số liệu của tổng cục biển và hải đảo Việt Nam đến nay có khoảng 20% rạn san hô sống nghèo (độ phủ 0.25%),60% thuộc loại thấp (26 -50%),17% còn tốt (51 – 75%) và chỉ có 3% rất tốt (trên 75%)
2)Nguyên nhân gây ra ô nhiễm môi trường biển ở Việt Nam
1)Yếu tố tự nhiên
Do các loài sinh vật biển,vi tảo biển gây hại ngay 1 gia tăng về số lượng,tham gia vào hiện tượng thủy triều đỏ,làm suy giảm số lượng các sinh vật biển có lợi
Các hoạt động địa chất như núi lửa,bão…làm chết hàng loạt sinh vật biển,xác của chúng không được xử lý đã gây ô nhiễm vùng biển đới bờ
Ngoài ra,sự đứt gãy của vỏ trái đất đã làm rò rỉ những mỏ dầu ở đáy đại dương cũng góp phần gây ra tình trạng ô nhiễm biển
1)Yếu tố con người
a)Sức ép dân số:
Biển là nơi giàu có và đa dạng các loại hình tài nguyên,cũng như chứa đựng tiềm năng phát triển kinh tế đa dạng.Bởi vậy đây cũng là nơi tập trung sôi động các hoạt động phát triển của con người:trên 50% số đô thị lớn,gần 60% dân số tính theo đơn vị cấp tỉnh,phần lớn các khu công nghiệp và khu chế xuất,các vùng nuôi thủy sản,các hoạt động cảng biển – hàng hải – du lịch sẽ được xây dựng và phát triển ở đấy.Tỷ lệ tăng dân số ở đây cũng cao hơn trung bình cả nước.Đi kèm các hoạt động trên là là sự gia tăng di dân tự do,tăng nhu cầu sử dụng tài nguyên thiên nhiên và hình thành thói quen tiêu
Trang 7thụ tài nguyên lãng phí.Trong khi vùng biển nước ta còn rất ít tôm cá,thì cuộc sống của khoảng 600000 ngư dân và gia đình họ vẫn cần có tôm,cá hằng ngày và bản năng tồn tại vẫn buộc họ phải khai thác nhiều tôm cá hơn nên nguồn lợi từ biển ngày càng cạn kiệt
Ngoài ra khác với đất liền,cơ cấu dân cư ven biển từ nhiều nguồn.Họ
tụ tập lại thành các “Vạn chài”,đối mặt hàng ngày với tính khốc liệt của biển cả,sống với sông nước và gắn liền cuộc sống với con thuyền nên tư duy của
họ hết sức giản đơn,khái niệm về bảo vệ nguồn lợi và môi trường biển vẫn dường như xa vời với họ.Tập quán và phong tục sống còn lạc hậu,hành vi và cách ứng xử của họ với các hoạt động bảo vệ môi trường và tài nguyên còn rất hạn chế,chưa thành thói quen tự giác
b)Sức ép về kinh tế
Theo điều tra của Viện hải dương học,một trong những nguyên nhân
cơ bản dẫn tới tình trạng ô nhiễm môi trường biển là hiện tượng nuôi trồng thủy sản tràn làn,không có quy hoạch.Tại các tỉnh từ Quảng Ninh đến Quảng Bình,trên 37000ha đã được khai thác đưa vào nuôi trồng thủy sản(chiếm 30 -35% diên tích nước mặn lợ).Ngoài ra gần đây phần lớn cơ sở đã đi vào nuôi trên quy mô công nghiệp dẫn tới các nơi cư trú sinh vật,bãi đẻ,bãi giống bị hủy diệt,dịch bệnh xuất hiện tràn lan Hơn nữa tình trạng ô nhiễm môi trường còn do các địa phương khai thác,sử dụng không hợp lý các vùng cát ven biển dẫn tới việc thiếu nước ngọt,xói lở với mức độ ngày càng nghiêm trọng.Việc khai thác bằng đánh mìn,sử dụng bằng hóa chất độc hại làm cạn kiệt nhanh chóng nguồn lợi thủy sản.Gây hậu quả nặng nề cho các vùng sinh thái biển.Các hoạt động du lịch ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường sinh thái,cảnh quan tự nhiên của biển.Điển hình là vườn quốc gia Cát Bà với 5400ha mặt nước,từ 1 hòn đảo khá đẹp và trong lành,Cát Bà đã biến thành 1 hòn đảo tạp kể từ khi được đưa vào khai thác du lịch và nuôi trồng thủy sản.Những khu du lịch khu nuôi cá lồng bè,khu đánh bắt Tất cả đều được quy hoạch bám ra mặt biển.Theo thống kê ,mỗi ngày có hàng nghìn tấn rác được đổ trực tiếp ra biển
Một nguyên nhân nữa là tràn dầu.Tốc độ tăng trưởng kinh tế lớn trong những năm gần đây đã làm tăng rất mạnh lượng tiêu thụ xăng dầu.Lợi ích kinh tế dẫn đến tình trạng khai thác dầu quá mức.Hậu quả là 1 lượng dầu rất lớn bị rò rỉ ra môi trường biển do hoạt động của các tàu và do các sự cố hư hỏng hay đắm tàu trở dầu,do sự cố tại lỗ khoan thăm dò và dàn khai thác dầu.Đáng chú ý là các vụ tràn dầu nghiêm trọng những năm gần đây có xu hướng tăng,gây thiệt hại nghiêm trọng cho môi trường biển.Vùng biển nước
ta có khoảng 340 giếng khoan thăm dò và khai thác dầu khí,ngoài việc thải nước lẫn dầu với khối lượng lớn thì trung bình mỗi năm hoạt động này còn
Trang 8phát sinh khoảng 5600 tấn rác thải dầu khí,trong đó có khoảng 20 đên 30%
là chất thải rắn nguy hại còn chưa có bãi chứa và nới xử lý
c)Thể chế và chính sách còn bất hợp lý
Biển và vùng bờ biển là nơi tập trung các hoạt động kinh tế khác nhau
và vẫn chủ yếu được quản lý theo ngành.Các ngành thường chú trọng nhiều hơn đến mục tiêu phát triển kinh tế,các mục tiêu xã hội và môi trường ít được ưu tiên ,chỉ chú ý đến lợi ích ngành mình.Kết quả là tính toàn vẹn và tính liên kết của các hệ thống tự nhiên vùng bờ bị chia cắt,mâu thuẫn sử dụng lợi ích tài nguyên ngày càng tâng ảnh hưởng đến tinh bền vững của hoạt động phát triển.Cơ quan quản lý còn chồng chéo về chức năng và nhiệm vụ,thiếu sự phối hợp giữa cơ quan quản lý,cơ quan khoa học và các tổ chức chính phủ và phi chính phủ trong việc sử dụng và quản lý tài nguyên biển.Bên cạnh đó chính sách và pháp luật về bảo vệ môi trường biển của việt nam còn chung chung,thiếu thực tế gây khó khăn cho việc tổ chức thực hiện.Một nguyên nhân khác cũng cần phải được kể đến là việc hợp tác quốc
tế trong lĩnh vực bảo vệ môi trường cũng như việc tham gia ký kết và thực thi các điều ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển của chúng ta còn bộc lộ nhiều hạn chế,chưa thực sự được quan tâm chú trọng
Phần III:Giải pháp cho vấn đề ô nhiễm môi trường biển
ở Việt Nam
Xây dựng 1 chiến lược quốc gia về khai thác toàn diện cũng như bảo
vệ hệ sinh thái môi trường ven biển
Bồi đắp các đồng bằng ven biển và các công tácb chống xói mòn nên hạn chế sự cưỡng bức tự nhiên để sử dụng mà tận dụng tự nhiên(ví dụ như đắp đê ngăn mặn quá sớm làm hại đến quá trình hình thành đồng bằng là không nên).Hạn chế quá trình lấn đất của cồn cát ven biển do gió đẩy sâu vào đất liền tại khu vực miền trung
Cân bằng giữa nuôi trồng hải sản và bảo vệ khu vực rùng ngập mặn,nhất là giữa phát triển nuôi tôm và khu rừng đước ven biển miền Nam Việt Nam bằng cách phổ biến các biện pháp khoa học kỹ thuật cho ngư dân,tránh sử dụng các thuốc kich thích tăng trưởng gây nguy hại tới môi trường.Và hướng dẫn cách nuôi trồng mà không ảnh hưởng đến môi trường sinh thái
Khai thác hải sản theo mùa và theo định mức không nên làm hại môi trường tự nhiên của khu vực nhất là việc nổ mìn
Trang 9 Kết hợp giữa phát triển kinh tế,du lịch và bảo vệ môi trường.Tại các khu du lịch,xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý môi trường,tiến hành kiểm tra định kỳ,nên có cam kết của người kinh doanh các dịch vụ về vấn đề môi trường.Đưa ra các điều luật về quản lý bằng cách phạt hành chính đối với các doanh nghiệp vi phạm
Tuyên truyền ý thức bảo vệ môi trường cho người dân địa phương và khách du lịch trên các phương tiện đại chúng,tờ rơi,áp phích
Khai thác khoáng sản tại các thềm lục địa phải được lên kế hoạch phù hợp,cân nhắc giữa lọi ích kinh tế và môi trường phát triển bền vững
Đưa ra các tiêu chuẩn xả thải và kiểm soát chặt chẽ đối vơi các xí nghiệp và khu công nghiệp
Nên có 1 một chương trình nhà nước để đánh giá khoa học toàn bộ khu hệ sinh thái môi trường biển
Việt Nam cần tích cực tham gia hơn nữa các điều ước ở phạm vi thế giới và khu vực về vấn đề bảo vệ môi trường biển
Tăng cường việc thực hiện bảo vệ môi trường hiện nay;cần lưu ý việc thực thi luật đối với dải ven biển ở cấp tỉnh và huyện
Tiến hành kiểm soát trên phạm vi toàn vùng biển hiện tượng thải dầu cặn và có kế hoạch,biện pháp ứng phó sự cố tràn dầu;xử lý sự cố tràn dầu,xử lý,phòng ngừa ô nhiễm dầu có nguồn gốc đất liền
Quản lý nguồn nước ở các hệ thống sông ngòi cũng rất quan trọng,bởi
vì các nhánh sông phần lớn đổ ra biển
Đánh giá tác động môi trường của các dự án ven biển và biển(cảng,khu công nghiệp,khai thác biển )Cụ thể như ở Đồng Nai,theo báo cáo của sở Tài nguyên môi trường thì 11 khu công nghiệp của tỉnh Đồng Nai và tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu với hàng trăm nhà máy,xí nghiệp đang hoạt động mỗi ngày thải ra sông trên 33 400m3
nước thải chưa qua xử lý hoặc xử lý chưa đạt tiêu chuẩn
Tận dụng hiệu quả sự giúp đỡ,trợ giúp,hợp tác quốc tế tại Việt Nam cũng như nước ngoài
Hình thành một số lĩnh vực kinh tế mạnh gắn với xây dựng các trung tâm kinh tế biển, làm động lực thúc đẩy sự phát triển của đất nước Đến năm 2020, phát triển thành công, có bước đột phá về kinh tế biển, ven biển gồm: Khai thác, chế biến dầu khí; Kinh tế hàng hải; Khai thác và chế biến hải sản; Phát triển du lịch biển và kinh tế hải đảo; Xây dựng các khu kinh tế, các khu công nghiệp tập trung và khu chế xuất ven biển gắn với phát triển các khu đô thị ven biển
Xây dựng tiềm lực khoa học - công nghệ biển đáp ứng yêu cầu sự nghiệp đổi mới, phục vụ hiệu quả quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Trang 10 Đẩy mạnh nghiên cứu và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực ứng dụng khoa học - công nghệ, phục vụ công tác điều tra cơ bản, dự báo thiên tai và khai thác tài nguyên biển Nhà nước nên bố trí nguồn ngân sách thích hợp để đầu tư cho công tác bảo vệ gìn giữ môi trường biển, trong đó cần chú trọng việc mua sắm phương tiện hiện đại và thông tin dữ liệu khoa học về môi trường, đáp ứng đầy đủ cho nhu cầu phát hiện, chế ngự và xử lý ô nhiễm môi trường biển
Phát triển mạnh hệ thống cảng biển quốc gia, xây dựng đồng bộ một
số cảng đạt tiêu chuẩn khu vực và quốc tế, đặc biệt chú trọng các cảng nước sâu ở cả 3 miền của đất nước, tạo những cửa mở lớn vươn ra biển thông thương với thế giới
Nâng cao vai trò và năng lực của các cơ quan quản lý nhà nước, xây dựng chính sách và cơ chế cho các ngư dân hoạt động trên biển Thu hút cư dân vùng duyên hải và những lực lượng tham gia khai thác kinh tế biển, bằng các chính sách khuyến khích và cơ chế hợp lý để bảo đảm thực thi việc bảo vệ gìn giữ môi trường sinh thái biển đảo bền vững
Quan tâm đến an sinh xã hội cho cư dân vùng duyên hải: Dân số vùng duyên hải và biển đảo chiếm 30% cả nước và số người sống nhờ vào kinh tế biển lên đến 45% Mỗi ngày có khoảng 2.000 phương tiện đánh bắt và hơn 3.000 người hoạt động trên biển Đây là một lực lượng lao động lớn, đồng thời cũng là nhân tố góp phần bảo vệ an ninh quốc phòng cho đất nước Vì vậy, việc bảo đảm an sinh xã hội cho cư dân vùng duyên hải có ý nghĩa quan trọng phát triển kinh tế
-xã hội
Nhà nước cần tổ chức lại sản xuất trên biển theo hướng đánh bắt xa
bờ với hiệu quả kinh tế cao bằng tàu vỏ sắt được trang bị kỹ thuật hiện đại, như radar, thiết bị định vị vệ tinh, thiết bị tự động thông báo thời tiết, máy tầm ngư Đồng thời gấp rút chỉnh trang, nạo vét luồng lạch các cửa sông biển có tàu cá ra vào thường xuyên, xây dựng nơi trú bão an toàn ở các vùng bờ biển và ở những quần đảo xa Đào tạo nghề nghiệp cho ngư dân, nâng cao kiến thức ứng phó với biển đổi khí hậu cho cư dân vùng biển Đây là những việc làm thiết thực, tạo cầu nối vững chắc giữa các cơ quan quản lý từ cấp Trung ương, địa phương với những doanh nghiệp hoạt động kinh tế biển và nhân dân vùng duyên hải