3.4.Phương pháp nghiên cứu- Phương pháp thu thập thông tin: + Phương pháp điều tra thống kê trên phòng kế toán + Phỏng vấn và tham khảo ý kiến + Phương pháp chi phí sản xuất và tính giá
Trang 1học độc lập của tôi Các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực
và có nguồn gốc rõ ràng
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
LÊ ĐỨC QUANG
Trang 2PHẦN II 10 CHƯƠNG I 10 NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM 10
TK 627 – Chi phí sản xuất chung 35
Trang 3BHYT Bảo hiểm y tế
BHXH Bảo hiểm xã hội
KPCĐ Kinh phí công đoàn
BHTN Bảo hiểm thất nghiệp
NVTTT Nguyên vật liệu trực tiếpNCTT Nhân công trực tiếp
Trang 4NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM 10
TK 627 – Chi phí sản xuất chung 35
Trang 5CHƯƠNG I 10 NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM 10
TK 627 – Chi phí sản xuất chung 35
Trang 6PHẦN I LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Kế toán là thu thập, xử lý và cung cấp thông tin về toàn bộ tài sản và sự vận động của tài sản trong doanh nghiệp nhằm cung cấp những thông tin hữu ích cho việc ra quyết định về kinh tế - xã hội
và đánh giá các hiệu quả hoạt động trong doanh nghiệp
Trong công tác kế toán, kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là một phần hành quan trọng Bởi tiết kiệm chi phí,
hạ giá thành và nâng cao chất lượng sản phẩm là biện pháp lâu dài
và hiệu quả nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường chi phí bỏ ra trong quá trình sản xuất kinh doanh một cách chính xác, kịp thời, đúng đối tượng, đúng phương pháp và chế độ quy định là cơ sở cho việc xác định đúng giá thành sản phẩm Đó cũng là cơ sở để xác định kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, giúp nhà quản lý phân tích, đánh giá tình hình tiết kiệm hay lãng phí chi phí sản xuất từ đó có những biện pháp xử lý kịp thời Như vậy, công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm được thực hiện tốt góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, thúc đẩy kinh tế đất nước phát triển
Trang 7Xác định được tầm quan trọng đó, em chọn đề tài “Hoàn thiện
kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần Sắt Thạch Khê” làm chuyên đề thực tập tốt nghiệp.
- Giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kế toán chi phí sản xuất
và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần Sắt Thạch Khê
Trang 83.4.Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập thông tin:
+ Phương pháp điều tra thống kê trên phòng kế toán
+ Phỏng vấn và tham khảo ý kiến
+ Phương pháp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm :
Là phương pháp phân loại và các chi phí sản xuất theo từng đối tượng chịu chi phí, theo các khoản mục, yếu tố quy định phù hợp với từng đối tượng tính giá thành cụ thể để tính toán chính xác giá thành thực tế của sản phẩm, lao vụ, dịch vụ hoàn thành
- Phương pháp so sánh, phân tích, đánh giá : Trên cơ sở thông tin thu thập được tiến hành so sánh, phân tích thông tin để rút ra các kết luận đúng đắn về đối tượng nghiên cứu Từ đó, nhận xét, đánh giá từng yếu tố, từng nguyên nhân của kết quả thực hiện chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
Trang 94.Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Hệ thống hóa vấn đề lý luận chung về kế toán chi phí sản xuất
và tính giá thành sản phẩm tại các doanh nghiệp sản xuất
Đánh giá thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty CP Sắt Thạch Khê
Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty CP Sắt Thạch Khê
5.Kết cấu của khoá luận
Phần III : Kết luận
Trang 10PHẦN II CHƯƠNG I NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN
XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM
1.1 Bản chất và nội dung kinh tế của chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
1.1.1.Chi phí sản xuất
1.1.1.1 Khái niệm chi phí sản xuất
Chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về lao động sống và lao động vật hoá và các chi phí cần thiết khác mà doanh nghiệp phải chi ra trong quá trình sản xuất biểu hiện bằng thước đo tiền tệ trong một thời kỳ nhất định
Trên góc độ kế toán tài chính, chi phí được nhìn nhận như những khoản phí tổn đã phát sinh gắn liền với hoạt động của doanh nghiệp Những khoản chi phí này phát sinh dưới dạng tiền, các khoản tương đương tiền, hàng tồn kho… được kế toán ghi nhận trên
cơ sở chứng từ, tài liệu bằng chứng chứng minh việc phát sinh của chúng
Trên góc độ của kế toán quản trị chi phí không đơn thuần nhận thức chi phí như kế toán tài chính mà chi phí còn được nhận thức theo cả khía cạnh nhận diện thông tin để phục vụ cho việc ra quyết định Do đó chi phí có thể là phí tổn thực tế đã chi ra trong quá trình hoạt động sản xuất hàng ngày khi tổ chức thực hiện, kiểm tra ra
Trang 11quyết định; cũng có thể là chi phí ước tính khi thực hiện dự án hay giá trị lợi ích mất đi khi lựa chọn phương án hoạt động này mà bỏ qua cơ hội kinh doanh khác Khi đó kế toán quản lại cần chú ý đến việc nhận diện chi phí cho việc so sánh, lựa chọn phương án tối ưu trong từng tình huống ra quyết định cụ thể, mà ít chú ý vào chứng minh chi phí phát sinh bằng các chứng từ kế toán.
1.1.1.2.Phân loại chi phí sản xuất
* Phân loại CPSX theo yếu tố chi phí:
Theo phương pháp này, người ta căn cứ vào nội dung kinh tế của chi phí để phân loại chi phí Những chi phí có cùng nội dung kinh tế được xếp vào cùng một yếu tố chi phí, bất kể chi phí đó phát sinh ở đâu, đồng thời chỉ tính những chi phí phát sinh lần đầu, không tính những chi phí luân chuyển nội bộ
Theo chế độ hiện hành gồm 5 yếu tố:
- Chi phí nguyên vật liệu: Bao gồm toàn bộ các chi phí về các đối tượng lao động như: Nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, phụ tùng thay thế, nhiên liệu
- Chi phí nhân công: Bao gồm toàn bộ số tiền lương, phụ cấp và các khoản trích trên tiền lương (BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ) theo quy định của toàn bộ công nhân viên trong doanh nghiệp
- Chi phí khấu hao TSCĐ: Là số trích khấu hao trong kỳ của toàn bộ TSCĐ trong doanh nghiệp
Trang 12- Chi phí dịch vụ mua ngoài: Gồm các khoản chi trả về các loại dịch vụ mua ngoài, thuê ngoài phục vụ cho hoạt động sản xuất của doanh nghiệp như: tiền điện, tiền nước, viễn thông…
- Chi phí khác bằng tiền: Là toàn bộ chi phí bằng tiền chi cho hoạt động của doanh nghiệp ngoài các loại cho phí đã kể trên
* Phân loại CPSX theo khoản mục chi phí trong giá thành sản phẩm
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Bao gồm chi phí về các loại nguyên vật liệu chính (kể cả nửa thành phẩm mua ngoài), vật liệu phụ, nhiên liệu sử dụng trực tiếp vào việc sản xuất, chế tạo sản phẩm hay thực hiện công lao vụ Không tính vào khoản mục này những chi phí nguyên vật liệu dùng vào mục đích phục vụ nhu cầu sản xuất chung hay cho những hoạt động ngoài lĩnh vực sản xuất
- Chi phí nhân công trực tiếp: Bao gồm chi phí về tiền lương, phụ cấp phải trả và các khoản trích theo lương (BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ) trên tiền lương của công nhân trực tiếp sản xuất theo quy định Không tính vào khoản mục này khoản tiền lương, phụ cấp và các khoản trích trên lương của nhân viên phân xưởng, nhân viên bán hàng, nhân viên quản lý hay nhân viên khác
- Chi phí sản xuất chung: là chi phí dùng vào việc quản lý và phục vụ sản xuất chung tại bộ phận sản xuất (Phân xưởng, đội ) bao gồm:
Trang 13+ Chi phí nhân viên phân xưởng: Bao gồm các khoản chi phí về tiền lương, phụ cấp phải trả và các khoản trích theo lương của nhân viên phân xưởng.
+ Chi phí vật liệu
+ Chi phí dụng cụ sản xuất: Bao gồm các khoản chi phí về công
cụ, dụng cụ dùng cho sản xuất chung ở phân xưởng như: Bảo hộ lao động…
+ Chi phí khấu hao TSCĐ: Bao gồm toàn bộ số tiền trích khấu hao của tài sản cố định hữu hình, vô hình, thuê tài chính sử dụng ở phân xưởng, đội sản xuất
+ Chi phí dịch vụ mua ngoài: Bao gồm các khoản chi phí về dịch vụ thuê ngoài phục vụ cho sản xuất như: điện, nước, điện thoại…
+ Chi phí bằng tiền khác: Bao gồm các khoản chi phí bằng tiền khác ngoài 5 yếu tố chi phí trên
- Chi phí bán hàng: Bao gồm các khoản chi phí phát sinh liên quan đến việc tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ trong kỳ
- Chi phí quản lý doanh nghiệp: Bao gồm toàn bộ các khoản chi phí phát sinh liên quan đến quản trị kinh doanh và quản lý hành chính trong phạm vi toàn doanh nghiệp mà không tách được cho bất
kỳ hoạt động hay phân xưởng nào
* Phân loại chi phí sản xuất theo mối quan hệ giữa chi phí với mức độ hoạt động
Trang 14- Chi phí khả biến (biến phí): Là những chi phí có tăng giảm
cùng tỷ lệ với sự tăng giảm số lượng sản phẩm, như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp Căn cứ vào sự thay đổi của biến phí khi mức độ hoạt động thay đổi, được chia thành 3 dạng sau:
Dạng 1: Tổng biến phí tỷ lệ trực tiếp với khối lượng hoạt động thực hiện, còn biến phí của một đơn vị khối lượng hoạt động thì không đổi, được gọi là biến phí tỷ lệ
Dạng 2: Tổng biến phí tăng nhanh hơn tốc độ tăng khối lượng thực hiện, biến phí một đơn vị khối lượng hoạt động cũng tăng lên Trường hợp này là do khi cường độ lao động vượt quá giới hạn bình thường, hiệu lực các yếu tố giảm sút, hoặc khi có sự gia tăng khối lượng sản xuất, đòi hỏi tăng nhiều hơn các chi phí sản xuất
Dạng 3: Tổng biến phí tăng chậm hơn khối lượng hoạt động, biến phí một đơn vị khối lượng hoạt động giảm xuống Nguyên nhân là do khi mức khối lượng hoạt động gia tăng, đã tạo nên các điều kiện để sử dụng hiệu quả hơn các yếu tố của quá trình sản xuất
- Chi phí cố định (định phí): Là những chi phí không thay đổi
về tổng số dù có sự thay đổi về mức độ hoạt động sản xuất hay khối lượng sản phẩm sản xuất, công việc, lao vụ, dịch vụ trong kỳ
Định phí tương đối (định phí cấp bậc): Trong trường hợp khả
năng các yếu tố sản xuất tiềm năng đã khai thác tối đa, muốn tăng được khối lượng hoạt động cần phải bổ sung đầu tư các khả năng sản xuất tiềm tàng mới
Trang 15Định phí bắt buộc: Là định phí không thể thay đổi một cách
nhanh chóng vì chúng thường liên quan đến TSCĐ và cấu trúc tổ chức cơ bản của một doanh nghiệp Định phí bắt buộc có các đặc trưng cơ bản sau: có bản chất sử dụng lâu dài, không thể giảm bớt đến số 0 trong một thời gian ngắn Trong nhiều trường hợp, dù mức
độ hoạt động có bị suy giảm hay đình đốn thì vẫn phải giữ nguyên định phí bắt buộc, không được thay đổi nếu vẫn muốn theo đuổi và đạt được mục đích lâu dài của doanh nghiệp
Định phí không bắt buộc: Là định phí có thể thay đổi nhanh
chóng bằng các quyết định của các nhà quản trị doanh nghiệp
Định phí tuyệt đối: Là định phí mà tổng số không thay đổi khi
có sự thay đổi về lượng hoạt động, còn định phí trung bình thì giảm đi
Chi phí hỗn hợp: là chi phí mà nội dung của chúng chứa đựng
cả yếu tố biến phí và định phí
Hiện nay việc bóc tách chi phí hỗn hợp thành định phí và biến phí trong chi phí hỗn hợp ở các doanh nghiệp còn gặp nhiểu khó khăn Các nhà khoa học đã đưa ra các phương pháp phân tích chi phí hỗn hợp thành định phí và biến phí nhằm phục vụ cho việc lập
kế hoạch, kiểm soát và điều tiết chi phí cho phù hợp Các phương pháp phân tích chi phí hỗn hợp:
Phương pháp cực đại – cực tiểu: Căn cứ trên chi phí phát sinh
và mức độ hoạt động (như số giờ máy chạy, ca máy làm việc … ) qua các thời kỳ Xác định chênh lệch chi phí, chênh lệch mức hoạt
Trang 16động giữa mức hoạt động tối đa và mức hoạt động tối thiểu trong
kỳ nghiêm cứu số liệu, từ đó xác định biến phí đơn vị; căn cức vào kết quả vừa tính được, các mức hoạt động, chi phí ứng với các mức hoạt động đó để xác định định phí
Phương pháp bình phương nhỏ nhất: Theo phương pháp này thiết lập một hệ phương trình có dạng:
∑XY = a.∑X + b∑X2b
∑Y = na + bXTrong đó:
Y: chi phí hỗn hợp (chi phí cần được phân tích)X: mức hoạt động căn cứ (số giờ máy chạy, ca máy làm…)
a: định phí hoạt độngb: biến phí đơn vịn: số đơn vị quan sát
Từ phương trình trên tìm được các ẩn số a và b
Trên cơ sở phân tích chi phí hỗn hợp, thiết lập phương trình biểu diễn chi phí có dạng: Y = a+bX
Đây là cách phân loại đặc biệt quan trọng đối với quá trình hoạch định, kiểm tra và ra quyết định của nhà quản trị Dựa vào cách phân loại này để nghiên cứu mối quan hệ giữa chi phí – khối lượng – lợi nhuận, là cơ sở để ra quyết định ngắn hạn nhằm tối đa hóa lợi nhuận Trong khoảng thời gian ngắn hạn, doanh nghiệp chưa cần phải trang bị thêm thiết bị thì định phí là đại lượng tương đối ổn
Trang 17định, do đó muốn tối đa hóa lợi nhuận cần phải tối đa hóa lãi trên biến phí (là phần chênh lệch giữa doanh thu và biến phí – số dư đảm phí), đây là cơ sở rất quan trọng để ra các quyết định có liên quan đến chi phí – khối lượng – lợi nhuận và giá cả Cũng theo cách phân loại này, các nhà quản trị doanh nghiệp có thể xác định được độ lớn đòn bẩy kinh doanh, nếu có kết cấu chi phí với định phí cao sẽ cho nhiểu cơ hợi đem lại lợi nhuận cao nhưng kèm theo đó là rủi ro kinh doanh lớn Để giảm thiểu rủi ro kinh doanh doanh nghiệp cần tự xây dựng một kết cấu chi phí hợp lý, phù hợp với chiếm lược phát triển của mình.
* Phân loại chi phí theo khả năng quy nạp chi phí vào các đối tượng kế toán chi phí
- Chi phí trực tiếp: Là những khoản chi phí có quan hệ trực tiếp với việc sản xuất ra một loại sản phẩm, một công việc nhất định Những chi phí này kế toán có thể căn cứ và số liệu chứng từ kế toán
để ghi trực tiếp theo đối tượng chịu chi phí đó là các loại chi phí như chi phí nguyên vật liệu, tiền lương công nhân sản xuất
- Chi phí gián tiếp: Là những chi phí sản xuất liên quan đến việc sản xuất ra nhiều loại sản phẩm, nhiều côg việc Do vậy đối với những chi phínày kế toán phải tiến hành phân bổ cho những đối tượng liên quan theo những tiêu thức phân bổ thích hợp
* Phân loại chi phí theo thẩm quyền ra quyết định:
Chi phí có thể kiểm soát được là những chi phí mà nhà quản trị
có quyền ra quyết định hoặc có ảnh hưởng đáng kể tới mức độ phát
Trang 18sinh chi phí.Chi phí không thể kiểm soát được là những chi phí mà nhà quản trị không có quyền quyết định hoặc không có ảnh hưởng đáng kể tới mức độ phát sinh chi phí.
Việc xem xét một khoảng chi phí là kiểm soát được hay không phải gắn với một cấp quản lý cụ thể trong doanh nghiệp Cách phân loại này có ý nghĩa quan trọng trong việc lập báo cáo kết quả bộ phận, đánh giá hiệu quả hoạt động, hiệu quả quản lý cho phí của từng cấp bậc, bộ phận trong doanh nghiệp, định hướng cho việc thực hiện chức năng kiểm soát của nhà quản trị Bởi vì khi kiểm soát tình hình thực hiện định mức, dự toán ở một đơn vị bộ phận nội
bộ thì đối tượng kiểm soát phải là chi phí kiểm soát được còn chi phí không kiểm soát được thuộc về trách nhiệm của nhà quản trị cấp trên
* Phân loại chi phí trong việc lựa chọn phương án:
Căn cứ vào kết quả, lợi ích kinh tế do chi phí đem lại, chi phí được chi thành:
Chi phí cơ hội là chi phí khi ta lựa chọn phương án này thay cho phương án khác sẽ bỏ qua lợi ích của phương án mà ta không chọn Ngoài các chi phí SXKD đã được phản ánh trên sổ kế toán, trước khi lựa chọn phương án kinh doanh nhà quản trị phải xem xét chi phí cơ hội phát sinh do có thể sử dụng theo các cách khác nhau nhưng vẫn đem lại lợi nhuận cho họ
Trang 19Chi phí chìm là chi phí mà doanh nghiệp luôn phải chịu cho dù doanh nghiệp có lựa chọn phương án nào đi nữa Chi phí chìm có ở mọi phương án nên không có tính chênh lệch và do đó không phải xem xét khi lựa chọn phương án tối ưu.
Chi phí chênh lệch là chi phí có ở phương án này nhưng chỉ có một phần hoặc không có ở phương án khác
Việc phân loại chi phí theo cách này giúp doanh nghiệp nhanh chóng đưa ra các quyết định trong ngắn hạn để lựa chọn các phương
án tối ưu, từ đó tiết kiệm chi phí và mang lại hiệu quả kinh tế cho doanh nghiệp
Phân loại chi phí theo cách sắp xếp trên các báo cáo tài chínhChi phí sản phẩm là những khoản chi phí gắn liền với quá trình sản xuất chế tạo sản phẩm hay quá trình mua hàng hóa để bán Đối với doanh nghiệp sản xuất chi phí sản phẩm bao gồm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung Đối với doanh nghiệp kinh doanh thương mại thì chi phí sản phẩm là giá vốn của hàng mua Khi thành phẩm và hàng hóa chưa được bán thì chi phí sản phẩm là giá trị hàng tồn kho trên bảng cân đối kế toán, khi bán được thì chi phí sản phẩm là giá vốn hàng
đã bán và được ghi nhận trên báo cáo kết quả hoạt động SXKD Chi phí sản phẩm thường ảnh hưởng đến nhiểu kỳ báo cáo hay sự phát sinh và khả năng bù đắp của chi phí sản phẩm phải trải qua nhiều kỳ SXKD khác nhau Để xác định chính xác chi phí sản phẩm cần xem
Trang 20xét đến các giai đoạn chuyển tiếp và các mức độ chuyển tiếp của chúng.
Chi phí thời kỳ là những khoản chi phí phát sinh ngoài quá trình sản xuất sản phẩm Chi phí thời kỹ cũng là khoản chi phí cho hoạt động kinh doanh trong kỳ nhưng không tạo nên giá trị hàng tồn kho – tài sản, nên chúng không được ghi nhận trên bảng cân đối kế toán
mà được tham gia để xác định kết quả kinh doanh ngay trong kỳ phát sinh khoản chi phí đó gồm: CHBH và CPQLDN Việc phát sinh và bù đắp chỉ xảy ra trong cùng một kỳ nên gọi là chi phí thời kỳ
1.1.2.Giá thành sản phẩm
1.1.2.1.Khái niệm giá thành sản phẩm
Giá thành sản phẩm là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh kết quả sử dụng tài sản, vật tư, lao động và tiền vốn trong quá trình sản xuất, cũng như tính đúng đắn của các giả pháp tổ chức, kinh tế,
kỹ thuật và công nghệ mà doanh nghiệp đã sử dụng nhằm nâng cao năng xuất lao động, chất lượng sản phẩm, hạ thấp chi phí và tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp Giá thành sản phẩm còn là một căn cứ quan trọng định giá bán và xác định hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất
1.1.2.2.Phân loại giá thành sản phẩm
* Phân loại giá thành sản phẩm theo cơ sở số liệu và thời điểm tính giá thành:
Trang 21- Giá thành kế hoạch: Là giá thành sản phẩm được tính ra trên
cơ sở chi phí sản xuất kế hoạch và sản lượng kế hoạch Việc tính giá thành kế hoạch do bộ phận kế toán của doanh nghiệp thực hiện và tiến hành trước khi bắt đầu quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm, giá thành kế hoạch là mục tiêu phấn đấu của doanh nghiệp là căn cứ để
so sánh, phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch hạ giá thành của doanh nghiệp
- Giá thành định mức: Là giá thành sản phẩm được tính trên
cơ sở các định mức chi phí hiện hành và chỉ tính cho đơn vị sản phẩm
- Giá thành thực tế: Là giá thành sản phẩm được tính trên cơ
sở số liệu chi phí sản xuất thực tế đã phát sinh và được trong kỳ cũng như sản lượng sản phẩm thực tế đã sản xuất ra trong kỳ
* Phân loại giá thành theo phạm vi các chi phí cấu thành:
Theo phạm vi chi phí trong giá thành sản phẩm cần phân biệt các loại giá thành sau:
- Giá thành sản xuất toàn bộ là loại giá thành trong đó bao gồm toàn bộ biến phí và định phí thuộc chi phí NVLTT, chi phí NCTT, chi phí SXC tính cho sản phẩm hoàn thành Do trong giá thành sản xuất toàn bộ của sản phẩm bao gồm toàn bộ định phí sản xuất tính cho sản phẩm hoàn thành nên phương pháp xác định giá thành sản xuất toàn bộ còn gọi là phương pháp định phí toàn bộ Đây là cách gọi để phân biệt với phương pháp xác định giá thành sản xuất có phân bổ hợp lý định phí sản xuất
Trang 22Thông tin về giá thành sản xuất toàn bộ thường đóng vai trò chủ yếu trong các quyết định mang tính chất chiến lược dài hạn như quyết định ngừng sản xuất hay tiếp tục sản xuất một mặt hàng nào
đó Tuy nhiên trong doanh nghiệp có nhiều mặt hàng nếu nhà quản trị không phải đứng trước quyết định mang tính chất chiến lược thì việc tính giá thành sản xuất toàn bộ cho từng loại sản phẩm là không cần thiết Trong trường hợp này, doanh nghiệp thường sử dụng chỉ tiêu giá thành sản xuất theo biến phí
- Giá thành sản xuất theo biến phí là loại giá thành trong đó chi phí bao gồm biến phí thuộc chi phí NVLTT, chi phí NCTT, chi phí SXC tính cho sản phẩm hoàn thành Với phương pháp xác định giá thành sản xuất thoe biến phí thì toàn bộ định phí sản xuất được ứng
xử như chi phí thời kỳ, tức là định phí sản xuất được tính toàn bộ vào báo cáo kết quả kinh doanh trong kỳ chúng phát sinh, để tham gia xác định kết quả kinh doanh mà không nằm trong giá thành sản phẩm
Giá thành sản xuất theo biến phí là một bộ phận quan trọng trong giá thành toàn bộ theo biến phí, đây là chỉ tiêu cơ sở cho kế toán quản trị xác định được chỉ tiêu lãi gộp trước định phí Chỉ tiêu giá thành sản xuất theo biến phí được tính toán nhanh chóng, đơn giản và có vai trò quan trọng trong việc phục vụ cho việc ra quyết định ngắn hạn
- Giá thành sản xuất có phân bổ hợp lý định phí sản xuất là loại giá thành trong đó bào gồm toàn bộ biến phí sản xuất tính cho sản
Trang 23phẩm sản xuất hoàn thành và một phần định phí được phân bổ trên
cơ sở mức hoạt động thực tế so với mức hoạt động theo công suất thiết kế Nội dung giá thành sản xuất có phân bổ hợp lý định phí sản xuất có thể biểu diễn theo công thức sau:
Zsxhl = Bpsx + Đpsx * n/NTrong đó:
Zsxhl: Giá thành sản xuất có phân bổ hợp lý định phí sản xuất
Bpsx: Biến phí sản xuất trong giá thành sản xuấtĐpsx: Tổng định phí sản xuất
n: mức hoạt động thực tếN: mức hoạt động chuẩnPhần định phí còn lại: Đpsx * (N-n)/N gọi là chi phí hoạt động dưới công suất và được ứng xử như chi phí thời kỳ, tức được tham gia xác định kết quả kinh doanh trong kỳ Tuy nhiên nếu có SPDD cuối kỳ trong Đpsx * (N-n)/N có phần định phí sản xuất trong SPDD cuối kỳ Chỉ tiêu giá thành sản xuất có phân bổ hợp lý định phí sản xuất được sử dụng trong kiểm soát quản lý
- Giá thành toàn bộ theo biến phí là loại giá thành sản phẩm trong đó bao gồm toàn bộ biến phí (biến phí sản xuất, biến phí bán hàng, biến phí quản lý doanh nghiệp) tính cho sản phẩm tiêu thụ Có thể biểu diễn nội dung giá thành toàn bộ theo công thức:
Zbq= Zsxbq + BPbh + BP qldnTrong đó:
Trang 24Zbq: giá thành toàn bộ theo biến phíZsxbq: giá thành sản xuất sản phẩm theo biến phíBPbh: biến phí bán hàng
BP qldn: biến phí quản lý doanh nghiệp
- Giá thành toàn bộ của sản phẩm tiêu thụ bao gồm giá thành sản xuất và chi phí ngoài giá thành sản xuất tính cho sản phẩm tiêu thụ Tùy thuộc vào phương pháp xác định và nội dung của giá thành sản xuất để xác định giá thành toàn bộ sản phẩm tiêu thụ theo công thức sau:
Ztb = Zsxtb + CPBH +CPQLDN
* Phân loại giá thành theo phạm vi phát sinh chi phí
- Giá thành sản xuất: Chỉ tiêu phản ánh tất cả những chi phí liên quan đến sản xuất, chế tạo sản phẩm trong phạm vi phân xưởng, bộ phận sản xuất, bao gồm: Chi phí NVLTT, chi phí NCTT, chi phí SXC
- Giá thành tiêu thụ: là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ các khoản chi phí phát sinh liên quan đến sản xuất, tiêu thụ Giá thành tiêu thụ còn được gọi là giá thành đầy đủ hay giá thành toàn bộ và được tính theo công thức:
Giá thành toàn
bộ sản phẩm =
Giá thành sản xuất sản phẩm
+
Chi phí quản lý doanh nghiệp
+ Chi phí bán hàng 1.1.2.3.Ý nghĩa giá thành sản phẩm
Trang 25Việc tính toán giá thành chính xác giá thành sản phẩm, lao vụ, dịch vụ có ý nghĩa vô cùng quan trọng Cung cấp những thông tin rất cần thiết giúp cho các nhà quản trị nắm được thực chất những chi phí chi ra, trên cơ sở đó xác định giá bán sản phẩm hợp lý thu được lợi nhuận cao nhất cho doanh nghiệp mà vẫn tiêu thụ được sản phẩm Thông qua đó nắm bắt được các chi phí ở khâu nào cần tiết kiệm cải tiến hợp lý hoá sản xuất lập ké hoạch giá thành, bởi trong
cơ chế thị trường hiện nay các đối thủ cạnh tranh chủ yếu về giá thành sản phẩm và chất lượng sản phẩm
1.1.2.4 Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là hai mặt biểu hiện của quá trình sản xuất, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, giống nhau về bản chất đều là biểu hiện bằng tiền của hao phí về lao động sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp đã chi ra trong quá trình sản xuất chế tạo sản phẩm
Giá thành sản phẩm được tính toán trên cơ sở chi phí sản xuất
đã được và số lượng sản phẩm, lao vụ đã được hoàn thành trong kỳ, giá thành chính là chi phí sản xuất tính cho số lượng loại sản phẩm đó
Chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm luôn gắn bó mật thiết với nhau, chi phí sản xuất trong kỳ là căn cứ cơ sở để tính giá thành sản phẩm, sự chính xác đầy đủ của công tác kết toán chi phí sản xuất sẽ quyết định đến tính chính xác của công tác tính giá
Trang 26thành Giá thành sản xuất thấp hay cao đồng nghĩa với việc doanh nghiệp tiết kiệm hay lãng phí vật tư, lao động, tiền vốn Do vậy việc quản lý giá thành phải gắn với quản lý chi phí sản xuất.
Tuy nhiên giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có sự khác nhau: Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là hai khái niệm riêng biệt, chi phí sản xuất luôn gắn với từng thời kỳ phát sinh chi phí, còn giá thành sản phẩm lại gắn liền với khối lượng sản phẩm, công việc lao vụ đã hoàn thành
Chi phí sản xuất trong kỳ không chỉ liên quan đến những sản phẩm đã hoàn thành mà còn liên quan đến cả sản sản phẩm dở dang cuối kỳ và sản phẩm hỏng, còn giá thành thì liên quan đến chi phí sản xuất dở dang kỳ trước chuyển sang Khi giá trị sản phẩm dở dang đầu kỳ và cuối kỳ bằng nhau hoặc các ngành sản xuất không
có sản phẩm dở dang thì tổng giá thành sản phẩm bằng tổng chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ Do có sự khác nhau nên các doanh nghiệp cần phân biệt rõ để tính toán chính xác chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
1.2 Đối tượng, phương pháp kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm.
1.2.1 Đối tượng chi phí sản xuất
Đối tượng chi phí sản xuất là phạm vi giới hạn mà chi phí sản xuất cần phải nhằm đáp ứng yêu cầu kiểm tra, giám sát chi phí sản xuất và yêu cầu tính toán giá thành sản phẩm
Trang 27Tại các doanh nghiệp khác nhau thì đối tượng chi phí khác nhau Đối tượng chi phí sản xuất có thể là từng chi tiết, từng sản phẩm riêng biệt, từng phân xưởng, bộ phận…tuỳ thuộc vao đặc điểm của từng doanh nghiệp.
Xác định đối tượng chi phí sản xuất một cách khoa học hợp lý
là cơ sở để tổ chức kế toán chi phí sản xuất ngay từ việc tổ chức hạch toán ban đầu đến tổ chức tổng hợp số liệu, ghi chép trên tài khoản…
1.2.2 Đối tượng tính giá thành
Đối tượng tính giá thành là các loại sản phẩm, công việc, lao vụ
do doanh nghiệp sản xuất ra cần phải tính tổng giá thành và giá thành đơn vị
Để xác định đối tượng tính giá thành hợp lý cần phải căn cứ vào đặc điểm tổ chức sản xuất sản phẩm, quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm, chu kỳ sản xuất sản phẩm, tính chất của sản phẩm cụ thể
và trình độ, yêu cầu quản lý của doanh nghiệp
Đối tượng tính giá thành có thể là sản phẩm cuối cùng của quá trình sản xuất, cũng có thể là đang đứng trên dây truyền sản xuất tuỳ theo yêu cầu hạch toán kinh tế nội bộ và tiêu thụ sản phẩm
Mối quan hệ giữa đối tượng chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành
Đối tượng chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành giống nhau ở bản chất đó là những phạm vi, giới hạn nhất định để chi phí sản xuất theo đó và cùng phục vụ cho công tác quản lý, phân tích và
Trang 28kiểm tra chi phí, giá thành sản phẩm Song giữa hai khái niệm này vẫn có sự khác nhau nhất định:
+ Xác định đối tượng chi phí sản xuất là xác định phạm vi, giới hạn chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ để tổ chức kế toán chi tiết chi phí sản xuất nhằm phục vụ cho việc kiểm soát chi phí và cung cấp tài liệu cho việc tính giá thành sản xuất theo đối tượng tính giá thành Xác định đối tượng tính giá thành là xác định phạm vi, giới hạn của chi phí liên quan đến kết quả sản xuất đã hoàn thành của quy trình sản xuất, là căn cứ để kế toán mở phiếu tính giá thành (bảng tính giá thành) sản phẩm, lao vụ, dịch vụ được sản xuất đã hoàn thành
Trong thực tế có những trường hợp một đối tượng chi phí sản xuất chỉ liên quan đến một đối tượng tính giá thành, lại có nhiều trường hợp một đối tượng chi phí sản xuất liên quan đến nhiều đối tượng tính giá thành và ngược lại
1.2.3.Phương pháp kế toán chi phí sản xuất
Phương pháp kế toán chi phí sản xuất là một phương pháp hay
hệ thống các phương pháp được sử dụng để và phân loại các chi phí sản xuất trong phạm vi giới hạn của đối tượng kế toán chi phí
* Phương pháp trực tiếp:
Áp dụng đối với các chi phí phát sinh liên quan trực tiếp đến đối tượng kế toán chi phí sản xuất Nó được căn cứ trực tiếp vào các chứng từ kế toán ban đầu để trực tiếp các chi phí này vào các đối tượng gánh chịu chi phí, nên đảm bảo tính chính xác cao Do
Trang 29vậy cần sử dụng tối đa phương pháp trực tiếp trong điều kiện có thể cho phép.
* Phương pháp gián tiếp:
Áp dụng đối với các chi phí phát sinh liên quan đến nhiều đối tượng kế toán chi phí sản xuất mà không thể trực tiếp cho từng đối tượng được Vì vậy để phân bổ chi phí cho từng đối tượng thì phải lựa chọn tiêu thức phân bổ hợp lý
Trường hợp không thể hạch toán trực tiếp chi phí giá thành sản phẩm, dịch vụ thì phải lựa chọn tiêu thức phân bổ thích hợp theo công thức:
∑T i
Trong đó:
∑C: Tổng chi phí NVL đã cần phân bổ
C i : Chi phí NVL phân bổ cho đối tượng i
∑T i: Tổng đại lượngcủa tiêu chuẩn dùng để phân bổ
t i : Đại lượng của tiêu thức phân bổ đối tượng i
Với phương pháp phân bổ gián tiếp, mức độ chính xác của chi phí sản xuất tính cho từng đối tượng chi phí sản xuất phụ thuộc vào tính hợp lý của tiêu chuẩn phân bổ được lựa chọn sử dụng
Nhiều khi có những chi phí trực tiếp sản xuất sản phẩm cũng phải phân bổ gián tiếp cho các đối tượng chịu chi phí, nếu chúng có liên quan đến nhiều đối tượng chịu chi phí Ngược lại, chi phí gián tiếp phục vụ chi phí sản xuất cũng có thể trực tiếp cho từng đối
Trang 30tượng chịu chi phí, khi chi phí này được hạch toán riêng biệt cho từng đối tượng chịu chi phí ngay từ khâu hạch toán ban đầu.
1.3 Phương pháp kế toán chi phí sản xuất vào đối tượng tính giá thành
1.3.1 Kế toán chi phí sản xuất theo phương pháp KKTX
Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
* Khái niệm: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là những chi phí
về nguyên vật liệu chính, nửa thành phẩm mua ngoài, vật liệu phụ, nhiên liệu được sử dụng trực tiếp cho sản xuất, chế tạo sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ, lao vụ của các ngành công nghiệp, lâm ngư nghiệp, xây dựng cơ bản, giao thông vận tải
Trường hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp có liên quan đến nhiều đối tượng chi phí không riêng cho từng đối tượng thì kế toán phải lựa chọn tiêu thức phân bổ hợp lý để tiến hành phân bổ cho từng đối tượng liên quan
* Phương pháp hạch toán: Để chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
kế toán sử dụng TK 621
Kết cấu của TK 621 như sau:
TK 621 – Chi phí NVL trực tiếp
Trang 31- Trị giá thực tế của nguyên vật
liệu, vật liệu xuất dùng, sử dụng
trực tiếp cho sản xuất sản phẩm
hoặc thực hiện công việc, dịch
vụ, lao vụ trong kỳ
- Trị giá nguyên liệu, vật liệu sử dụng không hết nhập lại kho
- Kết chuyển chi phí NVLTT vượt mức bình thường vào TK 632
- Kết chuyển và phân bổ trị giá nguyên liệu, vật liệu trực tiếp sử dụng cho sản xuất kinh doanh trong kỳ vào TK 154
* Phương pháp định khoản một số nghiệp vụ kinh tế chủ yếu:+ Xuất kho nguyên liệu, vật liệu để sử dụng trực tiếp cho sản xuất sản phẩm:
Trang 32+ Cuối kỳ, kết chuyển chi phí nguyên vật liệu thực tế sử dụng cho các đối tượng chịu chi phí:
Kế toán chi phí nhân công trực tiếp
* Khái niệm: Chi phí nhân công trực tiếp là khoản tiền phải trả, phải thanh toán cho công nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm, trực tiếp thực hiện các lao vụ dịch vụ, bao gồm: Lương chính, lương phụ, các khoản phụ cấp, các khoản trích BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ theo
tỷ lệ quy định trên tiền lương của công nhân trực tiếp sản xuất tính vào chi phí sản xuất
Chi phí công nhân trực tiếp được riêng cho từng đối tượng có liên quan Trường hợp chi phí công nhân trực tiếp có liên quan đến nhiều đối tượng không thể hạch toán riêng được thì phải chung sau
đó chọn tiêu thức phân bổ hợp lý để phân bổ cho từng đối tượng có liên quan
* Phương pháp hạch toán: Để chi phí nhân công trực tiếp sản xuất sản phẩm hoặc thực hiện lao vụ, dịch vụ, kế toán sử dụng TK 622
Kết cấu của TK 622 như sau:
TK 622 – Chi phí nhân công trực tiếp
Trang 33- CP NCTT SXSP hoặc thực
hiện lao vụ dịch vụ PS trong kỳ
- Kết chuyển và phân bổ CP NCTT cho các đối tượng chịu chi
phí liên quan
* Phương pháp định khoản một số nghiệp vụ kinh tế chủ yếu:+ Căn cứ vào số liệu ở bảng tổng hợp thanh toán tiền lương, tính tiền lương bao gồm lương chính, lương phụ và các khoản phụ cấp phải trả cho công nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm hoặc thực hiện lao vụ, dịch vụ để và phân bổ cho từng đối tượng chịu chi phí
có liên quan, kế toán ghi như sau:
Trang 34Kế toán chi phí sản xuất chung
* Khái niệm: Chi phí sản xuất chung là những chi phí quản lý phục vụ sản xuất và những chi phí sản xuất khác ngoài chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí nhân công trực tiếp phát sinh ở các phân xưởng, tổ đội sản xuất
Chi phí sản xuất chung được theo từng địa điểm phát sinh chi phí, một doanh nghiệp nếu có nhiều phân xưởng sản xuất thì phải
mở sổ chi tiết để chi phí sản xuất chung cho từng phân xưởng
Cuối tháng, chi phí sản xuất chung đã được sẽ được kết chuyển
đê tính giá thành sản phẩm Chi phí sản xuất chung của phân xưởng nào sẽ được kết chuyển để tính giá thành sản phẩm của phân xưởng
đó Trường hợp phân xưởng sản xuất nhiều loại sản phẩm thì phải tiến hành phân bổ chi phí sản xuất chung theo phương pháp thích hợp
Các tiêu thức thường được sử dụng để phân bổ chi phí sản xuất chung là
+ Phân bổ theo chi phí nhân công trực tiếp
+ Phân bổ theo chi phí vật liệu trực tiếp
+ Phân bổ theo định mức sản xuất chung
Trang 35* Phương pháp hạch toán: Để hạch toán chi phí sản xuất chung,
kế toán sử dụng TK 627
Kết cấu của TK 627 như sau:
TK 627 – Chi phí sản xuất chung
- chi phí sản xuất chung
theo các phân xưởng, đội
sản xuất trong kỳ
- Các khoản giảm CPSXC
- Kết chuyển và phân bổ CPSXC cho các sản phẩm công việc có liên quan để tính giá thành
* Phương pháp định khoản một số nghiệp vụ kinh tế chủ yếu+ Căn cứ số liệu ở bảng phân bổ tiền lương trong kỳ, kế toán ghi nhận số tiền lương, tiền công và các khoản phải trả cho nhân viên quản lý phân xưởng:
Trang 36+ Căn cứ phiếu xuất kho vật liệu, công cụ dụng cụ, bảng phân
bổ khấu hao TSCĐ phục vụ sản xuất tại phân xưởng, kế toán ghi như sau:
Nợ TK 627:
Có TK 152, TK 153, TK 214:
+ Căn cứ vào hoá đơn của người bán về các khoản dịch vụ sử dụng cho sản xuất chung như: Tiền điện, tiền điện thoại, …kế toán ghi như sau:
Nợ TK 632
Có TK 627+ Cuối kỳ, kế toán căn cứ vào bảng chi phí sản xuất chung để kết chuyển hoặc phân bổ chi phí sản xuất chung vào các tài khoản
Trang 37có liên quan cho từng nhóm sản phẩm, dịch vụ theo tiêu thức phù hợp:
Nợ TK 154:
Có TK 627:
Kế toán chi phí sản xuất toàn doanh nghiệp
Chi phí sản xuất sau khi đã riêng theo từng khoản mục Kế toán cần kết chuyển và chi phí sản xuất theo từng đối tượng chịu chi phí
để phục vụ cho việc đánh giá sản phẩm là dở cuối kỳ và tính giá thành sản phẩm
Kế toán sử dụng TK 154 – “Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang” để chi phí sản xuất toàn doanh nghiệp
Sơ đồ 1.1: chi phí SX theo phương pháp KKTX
K/c chi phí NVLTT Các khoản giảm chi phí
Giá thành
Gửi bán
TK 632 Tiêu thụ thẳng
Trang 381.3.2 Kế toán chi phí sản xuất theo phương pháp KKĐK
Phương pháp KKĐK đối với hàng tồn kho là phương pháp mà theo
đó kế toán không theo dõi một cách thường xuyên và liên tục tình hình nhập, xuất, tồn mà chỉ phản ánh giá trị của hàng tồn kho đầu kỳ và cuối
kỳ từ đó tính ra giá trị hàng xuất trong kỳ Phương pháp này chỉ áp dụng đối với doanh nghiệp có quy mô nhỏ, chỉ tiến hành một loại hoạt động
Để chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm theo phương pháp KKĐK kế toán sử dụng các tài khoản
trực tiếp
Trang 39Sơ đồ 1.2: chi phí SX theo phương pháp KKĐK
1.3.3 Kiểm kê và đánh giá sản phẩm dở dang
Sản phẩm dở dang là khối lượng sản phẩm hoặc công việc còn đang trong quá trình sản xuất, chế biến, đang nằm trên dây truyền công nghệ hoặc đã hoàn thành một vài quy trình chế biến nhưng vẫn còn phải gia công chế biến tiếp mới trở thành thành phẩm Việc tính giá sản phẩm dở dang hợp lý là một trong những yếu tố quyết định đến tính trung thực, hợp lý đối với chỉ tiêu giá thành sản xuất của sản phẩm hoàn thành trong kỳ Tuy nhiên việc tính giá thành sản phẩm dở dang là một công việc phức tạp, khó có thể chính xác một cách tuyệt đối Kế toán phải tuỳ thuộc vào đặc điểm tình hình cụ thể
về tổ chức sản xuất, quy trình công nghệ, tính chất cấu thành chi phí, yêu cầu trình độ quản lý của doanh nghiệp để áp dụng phương pháp xác định giá trị sản phẩm cuối kỳ sao phù hợp
Để tính toán chi phí sản xuất dở dang, có thể dựa trên chi phí sản xuất định mức hay dựa trên chi phí sản xuất thực tế
Đánh giá sản phẩm dở dang theo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Phương pháp này được áp dụng trong doanh nghiệp có chi phí nguyên vật liệu chính trực tiếp (hay nguyên vật liệu trực tiếp) chiếm
tỷ trọng lớn trong tổng chi phí sản xuất, khối lượng sản phẩm dở dang ít và tương đối ổn định giữa các kỳ
Trang 40Theo phương pháp này thì chi phí sản phẩm dở dang cuối kỳ chỉ tính toán phần chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, còn các chi phí khác tính hết cho sản phẩm hoàn thành
Trường hợp doanh nghiệp có quy trình công nghệ sản xuất phức tạp kiểu chế biến liên tục thì chi phí sản xuất dở dang của giai đoạn công nghệ sau được xác định theo giá thành nửa thành phẩm giai đoạn trước chuyển sang
Chi phí sản xuất dở dang được xác định công thức sau:
* Theo phương pháp bình quân:
Qht + QdckTrong đó:
Dck, Dđk: Chi phí sản xuất dở dang đầu kỳ, cuối kỳ
CV: Chi phí nguyên vật liệu chính trực tiếp (hay chi phí nguyên vật liệu trực tiếp) phát sinh trong kỳ
Qdck: Khối lượng sản phẩm dở dang cuối kỳ
Qht: Khối lượng sản phẩm hoàn thành trong kỳ
* Theo phương pháp nhập trước xuất trước: