Như vậy “hàng hoá nông sản chung một bản chất là nông sản xuất ra và được bán trên thị trường để thoả mãn nhu cầu của xã hội xuất khẩu hàng hoá nông sản là một hoạt động kinh doanh hàng
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết lựa chọn đề tài nghiên cứu
Tỉnh Chăm pa sắc nằm trên trục đường bộ xuyên Á, do đó có
nhiều điều kiện về tự nhiên, văn hoá, xã hội thuận lợi cho việc phát
triển kinh tế - xã hội và có nhiều cơ hội để mở rộng mối quan hệ
thương mại cả trong và ngoài nước
Hoà nhịp với sự phát triển ngành kinh tế tỉnh nhà nói chung,
các doanh nghiệp xuất khẩu hàng nông sản của tỉnh đã khẳng định
được vị thế của mình từ chỗ có rất ít mặt hàng, hiện nay đã chủ
động sản xuất, chế biến và xuất khẩu nhiều mặt hàng nông sản Các
doanh nghiệp kinh doanh chủ yếu bằng vốn vay ngân hàng nên lãi
suất ngân hàng chiếm tỷ trọng lớn trong chi phí kinh doanh Điều đó
làm cho chi phí kinh doanh tăng lên, hiệu quả thấp Mặt khác, tỉnh
Chămpasắc là tỉnh có nhiều tiềm năng để khai thác và chế biến các
mặt hàng nông sản để xuất khẩu Tuy nhiên, do nhiều lý do, đến nay
các tiềm năng do chưa được khai thác một cách hợp lý, chưa tạo
được nhiều việc làm cho người lao động, làm tăng thu nhập của
người dân trong tỉnh
Với tính cấp thiết và những nhận xét nói trên Sau một thời gian
tìm hiểu thực tế về xuất khẩu hàng nông sản của tỉnh, tôi chọn đề tài
nghiên cứu của mình là: "Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng
nông sản của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Chăm pa sắc
nước CHDCND Lào" làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ quản trị kinh
Trang 23 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu vấn đề xuất khẩu hàng
nông sản của tỉnh Chămpasắc CHDCND Lào
4 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử, các phương pháp được sử dụng trong quá
trình nghiên cứu là: phương pháp thu thập, tổng hợp số liệu, thống kê,
so sánh và phân tích kinh tế
5 Những đóng góp của luận văn
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về thúc đẩy xuất
khẩu hàng nông sản
Trang 3- Phân tích, đánh giá thực trạng thúc đẩy xuất khẩu hàng nông
sản của tỉnh Chăm pa sắc, từ đó tìm ra những điểm mạnh, điểm yếu
và nguyên nhân hạn chế của thúc đẩy xuất khẩu hàng nông sản của
tỉnh
- Đưa ra hệ thống giải pháp nhằm thúc đẩy xuất khẩu hàng
nông sản của tỉnh Chăm pa sắc
6 Kết cấu của đề tài:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia thành 3
chương:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết về thúc đẩy xuất khẩu hàng nông
sản
Chương 2: Thực trạng xuất khẩu hàng nông sản của các doanh
nghiệp trên địa bàn tỉnh Chăm pa sắc
Chương 3: Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng nông sản của
các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Chăm pa sắc
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ THÚC ĐẨY
XUẤT KHẨU HÀNG NÔNG SẢN
Trang 41.1 Lý thuyết thương mại quốc tế vận dụng trong xuất khẩu
nông sản
1.1.1 Khái niệm về thương mại quốc tế
Theo từ điển tiếng Việt của trung tâm KHXH&NV quốc gia
(NXB Văn hoá Sài Gòn) thì “nông sản” là sản phẩm do ngành
nông nghiệp sản xuất ra như: Gạo, rau, café, cao su… “Hàng
hoá” là thứ ản phẩm do người lao động làm ra để bán trên thị
trường Vì vậy khi nông sản xuất ra để đưa ra bán trên thị trường
thì được gọi là “hàng hoá nông sản” Mặt khác nông sản xuất ra
bao gồm rất nhiều loại khác nhau không chỉ sử dụng để thoả mãn
nhu cầu tiêu dùng của người sản xuất mà còn được bán ra thị
trường để thoả mãn thiêu dùng của xã hội thì gọi là nông sản
hoá Như vậy “hàng hoá nông sản chung một bản chất là nông
sản xuất ra và được bán trên thị trường để thoả mãn nhu cầu của
xã hội xuất khẩu hàng hoá nông sản là một hoạt động kinh doanh
hàng hoá nông sản ở phạm vi kinh doanh quốc tế, đây là lĩnh vựa
sôi động trong nền kinh tế hiện nay Kinh doanh xuất khẩu nông
sản là mối quan hệ trao đổi hàng hoá nông sản của quốc gia này
với quốc gia trên toàn thế giới Hoạt động xuất khẩu nông sản
mang lại nhưng hiệu quả kinh tế cao, như nó cũng có những khó
khăn không thể lường trước được Vì nó phải đối đầu với một hệ
thống kinh tế bên ngoài và các quốc gia cũng xuất khẩu hàng hoá
nông sản
Trang 5Như vậy, “thúc đẩy hàng xuất khẩu nông sản là làm tăng
hoạt động trao đổi mua bán hàng hoá nông sản với nước ngoài
được hình thức mua bán trong quan hệ hàng hoá tiền tệ nhằm
tăng mục tính lợi nhuận”
1.1.2 Nội dung của thúc đẩy xuất khẩu hàng nông sản
Thúc đẩy xuất khẩu nông sản là việc làm tăng hàng nông
sản đưa ra khỏi lãnh thổ của nước CHDCND Lào hoặc đưa vào
một khu đặc biệt nằm trên lãnh thổ được gọi là khu vực Hải
Quan riêng theo quy định của pháp luật thúc đầu xuất khẩu hàng
nông sản bao gồm những hoạt động chủ yếu sau
Nghiên cứu thị trường xuất khẩu hàng nông sản
Đây là công việc đầu tiên và quan trọng đối với bất kỳ một
doanh nghiệp tổ chức hay cả nhân nào muốn tham gia vào thị
trường nông sản thế giới
Nghiêncứu thị trường xuất khẩu hàng nông sản là quá trình
thu thấp xử lý và phân tích số liệu thị trường một cách có hệ
thống làm cơ sở cho các quyết định quản trị Mỗi quốc gia khác
nhau có phong tục, tập quán, nhu cầu hị hiểu và sở thích khác
nhau Do khoảng cách về địa lý của các quốc gia là lớn nên việc
nghiên cứu thị trường xuất khẩu hàng nông sản trở nên khó khăn
Khi nghiên cứu thị trường xuất khẩu hàng nông sản cần trả
lời được các cầu hỏi sau: Nước nào là thị trường mục tiêu? Quy
mô thị trường ra sao? Sản phẩm nào có thể xuất khẩu sang thị
trường đó? Quy định về chất lượng chủng loại, vệ sinh an toàn
Trang 6thực phẩm và kiểm định như thế nào? Chính sách ngoại thương
của nước sở tại có gì khó khăn, thuận lợi…?
Tổ chức mua và tạo nhiều nguồn hàng nông sản xuất
khẩu
Tạo nguồn hàng nông sản xuất khẩu là toàn bộ hình thức
phương thức mà doanh nghiệp tác động đến lĩnh vực sản xuất
nông sản khai thác để tăng nguồn hàng nông sản phù hợp với nhu
cầu khách hàng
Tổ chức tăng thu mua hàng nông sản là một hoạt động của
doanhi nghiệp sau khi xem xét về chất lượng hàng hoá Giá cả
chào hàng cùng với người bán thoả thuận điều kiện mua bán giao
nhận thanh toán bằng hợp đồng
Tổ chức thu mua và tạo nguồn hàng nông sản xuất khẩu là
một quá trình bao gồm những nội dung sau:
- Nghiên cứu thị trường nguồn hàng nông sản xuất khẩu
Đây là việc nghiên cứu khả năng cung cấp hàng nông sản
xuất khẩu trên thị trường như thế nào về số lượng chất lượng thời
gian giá cả và địa điểm… Nguồn hàng nông sản xuất khẩu phụ
thuộc phần lớn vào nguồn cung ứng sản phẩm nông sản tươi của
nông dân và năng lực xuất khẩu hàng nông sản xuất khẩu của các
doanh nghiệp Nghiên cứu thị trường nguồn hàng nông sản xuất
khẩu, doanh nghiệp cần xác định được khu vực thị trường thu
mua, xác định được mặt hàng nông sản xuất khẩu phù hợp với
nhu cầu thị trường nước ngoài phù hợp với khả năng đáp ứng
Trang 7nhu cầu thị trường nước ngoài của doanh nghiệp xác định giá cả
trong nước so với giá cả quốc tế, xác định chính sách quản lý của
nhà nước về mặt hàng đó mặt hàng đó có được khuyến khích
xuất khẩu hay không…
- Tổ chức hệ thống thu mua hàng nông sản xuất khẩu do
khối lượng hàng nông sản được ký kết để xuất khẩu là lớn nên
nhà xuất khẩu thường phải tổ chức thu jmua hàng nông sản thông
qua các đại lý, các chi nhánh các chân hàng Việc tổ chức hợp lý
mạng lưới thu mua phù hợp với đặc điểm điều kiện nguồn hàng
nông sản được mua đầy đủ kịp thời đúng số lượng chất lượng
giúp doanh nghiệp xuất khẩu tiết kiệm đượec chi phí nâng cao
hiệu quả thu mua Việc lựa chọn và sử dụng nhiều kênh thu mua
kết hợp nhiều hình thức thu mua là cơ sở tạo nguồn hàng nông
sản ổn định và hạn chế rủi ri trong thu mua hàng nông sản xuất
khẩu
- Ký kết hợp đồng thu mua tạo nguồn hàng nông sản xuất
khẩu khi ký kết hợp đồng nhằm xác định rõ số lượng chất lượng
quy cách màu sắc giá cả phương thức giao hàng thời gian giao
hàng thời gian thanh toán… nhằm xác định rõ nghĩa vụ trách
nhiệm quyền lợi của mỗi bên
- Xúc tiến triển khâi nguồn hàng xuất khảu sau khi ký kết
hợp đồng thu mua tạo nguồn hàng nông sản xuất khẩu doanh
nghiệp cần áp dụng các biện pháp kinh tế trong hoạt động khai
thác tạo nguồn hàng nông sản xuất khẩu điều, liền doanh liên kết
Trang 8giúp đỡ các đơn vị có nguồn hàng, tổ chức hệ thống tính từ các
nguồn hàng về doanh nghiệp
- Tổ chức thực hiện hợp đồng thu mua toạ nguồn hàng nông
sản xuất khẩu đây là khâu mà các bên tham gia phải thực hiện
trách nhiệm và nghĩa vụ của hợp đồng khi ký kết
Công tác giao dịch đàm phán và ký hợp đồng xuất khẩu
hàng nông sản
Để thực hiện việc ký kết hợp đồng xuất khẩu hàng nong sản
hai bên xuất khẩu và nhập khẩu thương mại trải qua một quá
trình giao dịch thương lượng với nhau về các điều kiện giao dịch
trong buôn bán quốc tế, những bước giao dịch đàm phám chủ yếu
đối với hàng hoá nói chung svà những hàng nông sản nói riêng
thường diễn ra như sau:
- Hỏi giá: Về phương diện pháp luật thương mại thì đây là
việc nhà nhập khẩu đề nghị xuất khẩu báo cho mình biết giá cả
và điều kiện mua hàng Hỏi giá không rằng buộc về trách nhiệm
của nhà nhập khẩu Nhà nhập khẩu có thể hỏi giá nhiều nhà xuất
khẩu để nhận được nhiều bản chào, giá cả cạnh tranh để làm căn
cứ so sánh và lựa chọn bản chào giá thích hợp
- Trong quá trình hỏi giá báo giá cần nêu rõ tên hàng, quy
cách, phẩm chất, số lượng thời gian giao hàng mong muốn loại
tiền thanh toán, phương thức thanh toán điều kiện giao hàng…
- Phát giá: Về phương diện pháp luật thì đây là lời đề nghị
ký kết hợp đồng và như vậy phát giá có thể là nhà nhập khẩu
Trang 9hoặc nhà sản xuất khẩu được ra Về phương diện thương mại thị
phát giá chào h àng là việc xuất khẩu thể hiện rõ ý định bán hàng
của mình
Trong qú trình phát giá cần nêu rõ: Tên hàng, quy cách,
phẩm chất, số lượng, bao bì, ký mã hiệu thời gian giao hàng
mong muốn, điều kiện cơ sở giao hàng…
- Đặt hàng là lời đề nghị chắc chắn về việc ký kết hợp đồng
xuất phát từ phía nhà nhập khẩu đưa ra dưới hình thức đặt hàng
- Trong qúa trình đặt hàng nhà nhập khẩu cần nêu rõ cụ thể
và chính xác về hàng hoá cần mua như sau: Tên hàng, phẩm chất
mẫu mã, số lượng và tất cả những nội dung cần thiết để ký hợp
đồng
- Hoàn giá: Là việc mặc cả về giá cả hoặc về các điều kiệni
giao dịch khi nhà xuất khẩu hoặc nhà nhập khẩu nhận được chao
hàng không chấp thuận hoàn toàn chào hàng đó, mà đưa ra một
đề nghị mới thì đề nghị này là trả giá, khi có sự trả giá chào hàng
trước coi nhu huỷ bỏ trong buôn bán quốc tế mỗii lần giao dịch
thường trải qua nhiều lần trả giá mới đi đến kết thúc
- Chấp nhận đây là sự đồng ý hoàn tất cả mọi điều kiện của
chào hàng hoặc đặt hàng mà phía bên kia đưa ra một chấp nhận
có hiệu lực về pháp luật cần phải đảm bảo những điều kiện sau:
phải được chính người nhận giá chấp nhận phải đồng ý hoàn tất
vô điều kiện mọi nội dung của chào hàng phải chấp nhận trong
Trang 10thời hạn hiệu lực chào hàng chấp nhận pahỉ được truyền dạt đến
người phát ra đề nghị phải phù hợp với các văn bản trước đó
- Xác nhận đây là khâu cuối cùng của giao dịch sau khi nhà
nhập khẩu và nhà xuất khẩu thống nhất thoả thuận với nhau về
điều kiện đã thoả thuận gửi cho đối phương đó là văn kiện xác
nhận văn kiện do bên xuất khẩu gửi thương mại là giấy xác nhận
bán hàng do bên nhập khẩu gửi và xác nhận mua hàng Xác nhận
thường được lập thành hai bản, bên lập xác nhận ký trước rồi gửi
cho bên kia Bên kia ký xong rồi gửi trả lại một bản Văn bản xác
nhận cũng có thể thực hiện bằng văn bản có chữ ký của cả hai
bên, gọi là bản hợp đồng hoặc thoả thuận
Tổ chức thực hiện hợp đồng xuất khẩu hàng nông sản
- Sau khi hợp đồng nông sản được ký kết nghĩa vụ quyền
lực và trách nhiệm của nhà nhập khẩu và nhà xuất khẩu được
thiết lập cả nhà nhập khẩu và xuất khẩu phải xác định rõ nội
dung và trình tự công việc phải hlàm đúng như hợp đồng ký kểt
Thông thường để thực hiện hợp đồng xuất khẩu hàng nông
sản nhà xuât skhẩu thường phải thực hiện các công việc sau:
- Xin giấy phép xuất khẩu hàng nông sản giấy phép xuất
khẩu là một biện pháp quan tọng của Nhà nước để quản lý hàng
nông sản xuất khẩu Vì vậy sau khi ký hợp đồng xuất khẩu nhà
xuất khẩu phải xin phép xuất khẩu phải thực hiện hợp đồng
chuyển Tuy nhiên trong xu thế tự do hoá thương mại thì nhiều
Trang 11nước đã giảm bớt một số mặt hàng cần phải xin giáy phép xuất
khẩu chuyển
- Chuẩn bị hàng nông sản xuất khẩu: Các công việc chủ yếu
để chuẩn bị hàng nông sản xuất khẩu chủ yếu gồm các khâu sau:
+ Thu gom tập trung làm thành lô hàng xuất khẩu thường
khối lượng hàng nông sản xuất khẩu theo hợp đồng thường lớn,
thêm vào đó là các mặt hàng nông sản lại không được sản xuất
tập trung Do vậy, cần phải tập trung hàng nông sản vào một khu
vực nào đó để chuẩn bị cho xuất khẩu
+ Đóng bao bì: Đây là khâu quan trọng trong công việc
chuẩn bị hàng nông sản xuất khẩu nó bao gồm các công việc như
đóng gói , kẻ bao bì kẻ mã hiệu… Do vậy nhà xuất khẩu hàng
nông sản cần phải làm tốt công việc này Để làm tốt được thì nhà
xuất khẩu cần phải kiểm tra nắm vững những yêu cầu cụ thể của
việc bao gói để lựa chọn bao gói cho phù hợp Có rất nhiều loại
bao gói như thùng, kiện, bao, hàm… thêm vào đó cần chú ý đến
khâu vận chuyển thông quan điều kiện, khí hậu
+ Kẻ ký mã hiệu hàng xuất khẩu: Là những ký hiệu bằng
chữ bằng số hoặc bằng hình vẽ được ghi trên các bao bì bên
ngoài những thông báo những chi tiết cần thiết cho việc giao
nhận bốc dỡ hoặc bảo quản hàng hoá
- Kiểm tra chất lượng hàng nông sản xuất khẩu trước khi
giao hàng nhà xuất khẩu có nghĩa vụ phải kiểm tra hàng nông sản
về chất lượng, số lượng bao bì việc kiểm tra được tiến hành ở hai
Trang 12cấp độ cấp cơ sở và ở cửa khẩu kiểm tra ở cơ sở(tức là ở đơn vị
sản xuất thu mua chế biến…) nó có vai trò quyết định nhất và có
tác dụng triệt để nhất Viêcj kiểm tra ở cơ sở và thực hiện thủ tục
quốc tế
- Thuê tàu lưu cước: Trong quá trình thực hiện hợp đồng
xuất khẩu hàng nông sản việc thuê tàu chở hàng được tiến hành
dựa trên các điều khoản của hợp đồng đặc điểm hàng nông sản
mua bán và điều kiện trả
- Mua bảo hiểm: Do đặc điểm cách xa về địa lý giữa nhà
xuất khẩu và nhà nhập khẩu nên phần lớn hàng nông sản được
chuyên chở bằng đường biển việc vận chuyển hàng bằng đường
biển gặp nhiều rủi ro, tổn thất nên mua bảo hiểm hàng hoá đường
biển là loại bảo hiểm phổ biến nhất trong ngoại thương
Có ba điều kiện bảo hiểm chính bảo hiểm rủi ro(điều kiện A)
Bảo hiểm có tổn thất riêng (Điều kiện B) bảo hiểm miễn tổn thất
riêng(điều kiện C) việc lựa chọn điều kiện bảo hiểm được tiến hành
dựa trên các điều khoản của hợp đồng thoả thuận giữa nhà nhập
khẩu và nhà xuất khẩu tính chất hàng hoá tính chất bao bì và
phương thức xếp hàng loại tàu chuyên chở
- Làm thủ tục hải quan
- Uỷ thác yêu cầu thanh toán giải quyết khiếu nại
1.1.3 Một số cơ sở lý thuyết về thương mại quốc tế
Lý thuyết lợi thế tuyệt đối
Trang 13Adam Smith cho rằng thương mại giữa hai quốc gia được
dựa trên cơ sở lợi thế tuyệt đối Khi một quốc gia sản xuất hàng
hoá có hiệu quả hơn so với quốc gia khác nhưng kém hiệu quả
hơn trong sản xuất hàng hoá thứ hai, hai quốc gia có thể thu được
lợi ích bằng cách mỗi quốc gia chuyên môn hoá sản xuất và xuất
khẩu hàng hoá họ có lợi thế tuyệt đối, nhập khẩu hàng hoá họ
không có lợi thế
Lý thuyết lợi thế tương đối
Năm 1817 David Ricardo dựa vào học thuyết lợi thế tuyệt
đối của Adam Smith để phát triển học thuyết lợi thế tương đối
Ricardo lập luận rằng lợi ích thương mại vẫn xảy ra ở quốc gia
chuyên về các sản phẩm mà nó có thể sản xuất có hiệu quả hơn
các sản phẩm khác bất kể nó lợi thết tuyệt đối về những sản
phẩm này
Lý thuyệt mậu dịch đường biển
Hiện nay, tồn tại một lý thuyết về mậu dịch đường biển
giữa quốc gia trong khu vực và quốc tế Đường biển giữa các
quốc gia là sự giao thông kinh tế giữa các quốc gia đó và tất yêu
tồn tại một khu vực mậu dịch đường biển
Trong khu vực đường biển tồn tại và phát triển chủ yếu là
mô hình thương mại bán lẻ
Lý thuyết về chuỗi giá trị toàn cầu
Chuỗi quá trình tạo giá trị toàn câù xét một cách cơ bản có
ba phân khúc: Nghiên cứu và phát triển sở hữu trí tuệ sản xuất
Trang 14xây dựng thương hiệu và thương mại Trong đó hai phân khúc
đầu và cuối tạo ra ra nhiều giá trị gia tăng hơn hẳn phân khúc
giữa Đó là các phân khúc mà các đường quốc gia đang nắm giữa
và bỏ lại các phân khúc phải làm nhiều nhưng không tạo ra nhiều
giá trị cho các nước đang phát triển
1.1.4 Hàng nông sản và các phương thức xuất khẩu hàng
nông sản
a Xuất khẩu trực tiếp
Xuất khẩu trực tiếp là việc xuất khẩu các hàng hoá do chính
doanh nghiệp sản xuất ra hoặc đặt mua từ các đơn vị sản xuất
kinh doanh khác ở trong nướec, sau đó xuất khẩu những mặt
hàng này ra nước ngoài với danh nghĩa là hàng hoá của doanh
nghiệp mình
b Xuất khẩu uỷ thác và gián tiếp
Hình thức xuất khẩu này là qua các trung gian có thể thông
qua dịch vụ của một nhà buôn trung gian có khả năng tìm kiếm
các thị trường và các thị trường ở nước ngoài để tìm đầu ra cho
sản phẩm của mình
c Buôn bán đối lưu – hàng đổi bán
Đây là phương thức giao dịch mà trong đó xuất khẩu kết hợp
chặt chẽ với nhập khẩu trang thiết bị máy móc chế biến phụ tùng
phương tiện phục vụ sản xuất….Doanh nghiệp xuất khẩu hàng hoá
cũng đồng thời là doanh nghiệp nhập khẩu sản phẩm hàng hoá tráo
đổi có giá trị tương đương
Trang 15d Xuất khẩu hàng hoá theo nghị định thư giữa hai chính
phủ
Là hình thức xuất khảu hàng háo được ký theo nghị định thư
giữa hai chính phủ Xuất khẩu hàng hoá theo hình thức này có
nhiều ưu đãi như khả năng thanh toán chắc chắn, giá cả hàng hoá
chấp nhận được doanh nghiệp sản xuất chế biến không phải lo
nghĩ về đầu ra cho hàng hoá của mình …
e Xuất khẩu hàng hoá tại chỗ
Với phương thức xuất khẩu này cần phải tìm những khách
hàng mua nội địa có nhiều khách hàng trong nước mua hàng để
xuất khẩu ra nước ngoài Đây có thể là một thị trường rộng lớn
cho nhiều loại hàng hoá và dịch vụ Tuy nhiên, sau khi bán sản
phẩm thì những công việc tiếp theo năm ngoài vòng kiểm soát
của doanh nghiệp bán ra lúc đầu
Nhưng thường vụ này khó phân biệt với các thương vụ nội
địa
- Vai trò và mục tiêu xuất khẩu hàng nông sản
Vài tò của nhà nước trong xuất khẩu hàng nông sản được thể
hiện như sau
1 Xác định mục tiêu phương hướng và chủ trương chính
sách xuất khẩu hàng nông sản
Trên cơ sở tổng kết đánh giá toàn diện tình hình kinh tế
chính trị xã hội và tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế
xác hội trong giai đoạn vừa qua, Đảng và Nhà nước cần đề ra
Trang 16mục tiêu, phương hướng phát triển kinh tế văn hoá và các hoạt
động khác trong thời gian tới Đó là các mục tiêu về tốc độ tăng
trưởng GDP về giá trị sản xuất nông nghiệp, công nghiệp xây
dựng dịch vụ trong đó các mục tiêu xuất khẩu hàng hoá
2 Xây dựng chiến lược và quy hoạch sản xuất, xuất khẩu
Trên cơ sở quan điểm, phương hướng và mục tiêu để ra các
cơ quan nhà nước cần xây dựng quy hoạch chiến lược sản xuất
xuất khẩu của địa phương mình nhằm phát huy cao độ lợi thế của
địa phương Sử dụng sức mạnh tổng hợp cảu các thành phần kinh
tế các đơn vị trên địa bàn phát triển sản xuát gia tăng xuất khảu
chủ động nhập thành công Trong chiến lược, chương trình xuất
khẩu thường xác định các lợi thế của địa phương mình và các
mặt hàng chủ lực có khả năng cạnh tranh trong xuất khẩu Trên
cơ sở kết quả khảo sát xác định nhóm hàng xuất khẩu
3 Tổ chức các đầu mối xuất khẩu và điều hành xuất khẩu
Chuyển sang cơ sở chế biến quản lý kinh tế mới các đơn vị
sản xuất dù nhiều hay ít đều được trực tiếp xuất khẩu hàng hoá
domình chế tạo ra và được nhập khẩu nguyên nhân vật liệu cho
sản xuất Công tác tổ chức đầu mối xuất khẩu thông qua xét
duyệt đăng ký kinh doanh xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp
đầu mối xuất khẩu quan trọng của quốc gia Trong quá trình đầu
tư hỗ trợ hoạt động xúc tiến xuất khẩu đẻ định hướng mặt hàng
và tổ chức xuất khẩu
Trang 174 Thực hiện các biện pháp xúc tiến hỗ trợ đầy mạnh xuất
khẩu thông qua các cơ quan tổ chứuc các hiệp hội nhà nước tạo
lập đầu mối giao tiếp để thực hiện các hoạt động đầu tư phát
triển sản xuất hàng xuất khẩu tổ chức hội thảo hội chợ triển lãm
quảng cáo và giới thiệu sản phẩm cho các đối tác nước ngoài,
triển khai các quỹ hỗ trợ xuất khẩu quỹ bảo hiểm xuất khẩu quỹ
thưởng xuất khẩu cho các doanh nghiệp mở rộng ra thị trường
tìm kiếm khách hàng đẩy mạnh xuất khẩu
5 Đào taọ phát triển nguồn nhân lực phục vụ cho sản xuất
kinh doanh xuất khẩu hàng nông sản
Nhà nước có vai trò quan trọng trong đào tạo và phát triển
nguồn nhân lực cho sản xuất kinh doanh xuất khẩu hàng nông
sản Nhà nước cần có chiến lược quy hoạch kế hoạch đào tạo và
phát triển nguồn nhân lực bao gồm nhân lực cho nghiên cứu
giống, canh tác nhân lực cho chế biến hàng nông sản cho xuất
khẩu, nhân lực cho kinh doanh xuất khẩu hàng nông sản
6 Đầu tư nghiên cứu giống cải tạo cây trồng canh tác chế
biến sau thu hoạc nâng cao giá trị hàng nông sản xuất khẩu
Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong đầu tư nghiên cứu
phát triển giống cây trồng, kỹ năng canh tác Đối với CHDCND
Lào thì việc đầu tư cho giống cây trồng và kỹ năng canh tác hết
sức quan trong bởi chất lượng giống sản phẩm nông sản của Lào
còn thấp, kỹ năng canh tác còn lạc hậu
Trang 18Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong đầu tư cho công
nghệ sau thu hoạch nâng cao giá trị của hàng nông sản xuất khẩu
Thực tế cho thấy công nghệ sau thu hoạch đóng vai trò hết sức
quan trọng đảm bảo chất lượng của hàng hoá nông sản xuất khẩu
1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến thúc đẩy xuất khẩu hàng
nông sản
CHDCND Lào nằm trong mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau
về kinh tế giữa các nước trong khu vực trong bối cảnh đó chính
sách thị trường của Lào là cùng trung xu hướng của các nước khu
vực Một trong những đối đối sách kinh tế dối chính của chính
phủ Lào là định hướng thị trường hường ngoài phù hợp Trước
hết nhằm vào khu vực Châu á kết hợp với hướng nội nhằm thoả
mãn nhu cầu trong nước và xuất khẩu
1.2.1 Các yếu tố khách quan
- Thế giới kinh tế hiện nay đang trên đà phát triển mạnh mẽ
không khí hợp tác kinh tế và đầu tư có xu hướng phát triển không
ngừng giữa các nước trong khu vực và toàn thế giới Cộng với tình
huống tự do hợp tác kinh tế “kinh tế hội nhập” trên toàn cầu của tổ
chức thương mại quốc tế
CHDCND Lào được các tổ chức quốc tế và các nươc sjphát
triển tích cực hỗ trợ và tài trợ
CHDCND Lào và tỉnh Shampasac có vị trí địa lý rất thuận
lợi và trung tâm nối liền giữa đông và tây cho các nước trong khu
vực và các nước ven sông Mêkông
Trang 19- Sự tiến bộ về công nghệ kỹ thuật và thông tin của thế giới
giúp thúc đẩy sự hiểu biết về thông tin sản xuất và thị trường
rộng hơn
Chính sách và các chủ trương của Đảng và Nhà nước
Lào
- Thực hiện chính sách mở rộng kinh tế Nhà nước Laò đã
và đang chủ trương đa dạng hoá thành phần kinh tế tự do buôn
bán xuất khẩu dưới pháp luật Yếu tố cạnh tranh kinh doanh giữa
các doanh nghiệp đã buộc các doanh nghiệp phải tự nhậy bén
linh hoạt với thị trường Trong cơ chế cũ các hợp đồng ngoại
thương được cấp trên duyệt theo kế hoạch và giao cho cấp dưới
chỉ đạo đúng theo kế hoạch đó Hiện nay các doanh nghiệp được
tự do giao dịch và đàm phán kinh tế, tự tìm kiếm bằng hoạt động
Marketting Do đó, các doanh nghiệp năng động tìm kiếm đối tác
trong và ngoài nước một cách tích cực hơn các bộ luật điều chỉnh
các quan hệ trong thương mại phù hợp với luật thương mại quốc
tế do là những điều luật nhà nước quy định sẽ có tác động
khuyến khích hoặc hạn chế hoạt động xuất nhập khẩu thông qua
hàng rào thuế với các mức hạn chế cụ thể
Giá cả hàng nông sản và dịch vụ thương mại
- Thực tế hiện nay: hàng xuất khẩu của Lào chưa có sự
cạnht ranh về giá nguyên phụ liệu sản xuất trong nước tương đối
phong phú nhưng sản xuất chưa đáp ứng đủ nhu cầu về số lượng
chất lượng mẫu mã dẫn tới việc sản xuất hàng nông sản phẩn lớn
Trang 20vẫnphải nhập máy móc thiết bị khoa học công nghệ, cán bộ cán
bộ chuyên gia từ nước ngoài, là do chi phí cao không đủ chủ
động và chịu nhiều biến động của thị trường Trong khi đo hàng
nông sản của Lào cùng chủng loại với hàng của Thái Lan Việt
Nam, Trung Quốc có sự cạnh tranh rất cao
Dịch vụ thương mại xuất hiện ở mọi giai đoạn bán hàng
nhằm hỗ trợ trước, trong và sau khi bán hàng Nếu dịch vụ cung
ứng đồng bộ sẽ tạo niềm tin tuyệt đối cho khách hàng và góp
phần nâng cao hiệu quả kinh hdoanh xuất khẩu hàng nông sản
Tỷ giá hối đoái
Ảnh hưởng của các nhân tố như: Mức chênh lệch phát của
hai nước ảnh hưởng tới sự biến động gia tắc của tỷ giá tình hình
dư thưa hay thiếu hụt của cán cân thành toán ảnh hưởng trực tiếp
và nhạy bén đến sự biến động của tỷ giá tình hình cung cầu ngoại
hối trên thị trường ngoại hối làm biến động trực tiếp đến tỷ giá
hối đoái Để khuyến khích xuất khẩu có thể điều chỉnh tỷ giá
bằng cách
+ Nâng giá đồng tiền nội tệ so với đồng tiền ngoại tệ
+ Phá giá đồng tiền nội tệ có tác dụng đẩy mạnh xuất khẩu
và hạn chế nhập khẩu
+ Thanh toán quốc tế trong xuât skhẩu đảm bảo thu chi
những khoản ngoại tệ Tín dụng có liên quan đến việc xuất nhập
khẩu hàng nông sản được thoả thuận
Trang 211.2.2 Các yếu tố chủ quan
Cơ sở vật chất trình độ khoa học kỹ thuật
Để nâng cao hiệu quả trong sản xuất hàng xuất khẩu một
quốc gia hay doanh nghiệp phải tiến hành cải cách quá trình sản
xuất áp dụng tốt những thành tựu khoa học tiên tiếne để đem lại
giá trị gia tăng lớn Nguy cơ “tụt hậu” xa hơn về kinh tếe của
Lào nói dung và của tỉnh Champasac so với các quốc gia trong
khu vực và trên thế giới do xuất phát điểm của Lào quá thấp nên
để thực hiện những yêu cầu về chất lượng hàng nông sản khắt
khe là rất khó khăn vì thiếu vốn đầu tư công nghiệp cao
Trong những năm qua cũng như hiện nay Đảng và Nhà
nước tỉnh đã không ngừng chỉ đạo những ngành có liên quan tập
trung sức lực và vốn đầu tư các cơ sở vật chất ngày càng tăng
lên Hiện nay ở Champasắc có mạng lưới đường giao thông thuận
lợi cho cả hai mùa các xưởng và các nhà máy như xưởng chế
biến gỗ có xưởng nhà maý sản xuất dầu ăn nhà máy sản xuất
thuốc nhà máy sản xuất phân hoá học nhà máy hoá chất xưởng
gang thép xưởng sản xuất định, xưởng sản xuất nước đá, xưởng
sản xuát bột mỳ nhà máy sản xuất điện tử, nhà máy lắp giáp xe
đạp, xe máy…
Yếu tố về vốn
- Lào là một nước kinh tế kém phát triển vốn đầu tư cho
kinh doanh sản xuất hàng nông sản xuất khẩu trong nước vấn đề
then chổt là chưa ổn định nền kinh tế vĩ mô lẫn cả vi mô, các
Trang 22hoạt động kinh doanh còn riêng lẻ chưa khích lệ mạnh mẽ các
doanh nghiệp sử dụng vốn để kinh doanh có hiệu quả
1.3 Thúc đẩy xuất khẩu hàng nông sản
1.3.1 Khái niệm về thúc đẩy xuất khẩu hàng nông sản
Xuất khẩu hàng hoá nông sản là một hoạt động kinh doanh
hàng hoá nông sản ở phạm vi kinh doanh quốc tế, đây là lĩnh vực mà
các nước kém phát triển và đang phát triển rất quan tâm và chú trọng
Kinh doanh xuất khẩu nông sản là mối quan hệ trao đổi hàng hoá
nông sản của quốc gia này với quốc gia khác trên toàn thế giới Hoạt
động xuất khẩu nông sản là hoạt động mang lại những hiệu quả kinh
tế cao, nhưng nó cũng có những khó khăn riêng mà không thể lường
trước được, vì nó phải đối đầu với một hệ thống kinh tế bên ngoài và
các quốc gia khác cũng xuất khẩu hàng hoá nông sản Đứng ở mỗi vị
trí, mỗi góc độ nghiên cứu, sẽ cho ta một khái niệm về thúc đẩy xuất
khẩu hàng nông sản Tuy nhiên, theo quan điểm của tác giả, khái
niệm về thúc đẩy xuất khẩu hàng nông sản có thể được hiểu như sau:
“Thúc đẩy xuất khẩu hàng nông sản là làm tăng hoạt động trao đổi
mua bán hàng hoá nông sản với nước ngoài dưới hình thức mua
-bán thông qua quan hệ hàng hoá tiền tệ, nhằm tăng mục đích lợi
nhuận”.
1.3.2 Đặc điểm thị hiếu của thị trường
Đặc điểm thị trường của thị trường của các nước
ASEAN
Trang 23+ ASEAN là một thị trường lớn và đầy tiềm năng với dân
520 triệu tổng thu nhập khối GDP năm 2002 khoảng 570 tỷ USD
tổng kim ngạch xuất nhập khẩu 712 tỷ USD năm 2001 là 160 tỷ
USD ASEAN là thị trường gần có nhiều nét tương đồng dân số
đồng tốc độ tăng trưởng cao chi phí cho quảng cáo và tiếp thị
thấp Nếu Lào chủ động xuất khẩu các mặt hàng nông sản của
mình vào các quốc gia thành viên của khối này sẽ tận dụng được
rất nhiều ưu thế như chi phí vận chuyển rẻ hơn do có lợi thế về
khoảng cách gần thị trường tương đồng và mặt khác thị trường
này cũng không khó tính so với thị trường EU và Mỹ…
Hơn nữa khi xuất khẩu vào thị trường này Lào với tư cách
là một nước thành viên mới phát triển kinh tế thấp hơn các quốc
gai còn lại trong khối sẽ được hưởng nhiều ưu đãi hơn sẽ tạo
điều kiện thuận lợi để các mặt hàng của Lào thâm nhập và thị
trường này
Theo quy định của hiệp hội chung về chươngn trình ưu đãi
thế quan (CEPT) cho khu vực thương mại tự do ASEAN sáu
nước thành viên cũ bao gồm Brunei, Mailayxia, Inđonêxia,
Philipin, Thái Lan và Singapore sẽ thực hiện lịch trình cắt giảm
thuế quan trong vòng 10 năm, từ 01/01/1993 đến 01/01/20036
xuống 0-5% theo đó là bỏ các hàng rào phí thuế quan Thực tế từ
01/01/2003 riêng Singapore giảm thuế nhập xuống 0% còn năm
nước khác giảm thuếe nhập khẩu xuống 0-5% cần đayASEAN lại
cam kết sẽ giảm thuế nhập khẩu xuống 0% vào năm 2010 đối với
Trang 24sáu nước thành viên cũ và đến 2015-2018 đối với 4 nước thành
viên mới trong đó có Lào
Một vấn đề rất cơ bản để hưởng được thuế suất theo chương
trình ưu đãi thuế quan cho khu vực thương mại tự do là hàng
xuất khẩu cần phải có giấy chứng nhận xuất xử ASEAN mà
thường được gọi là Form O Mục đích của việc sử dụng khai
From D nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp các nước
thành viên mới có thể thực hiện các thủ tục xuất nhập khẩu
nhanh hơn đơn giản hơn đây cũng là cơ hợi để thu hẹp khoảng
cách kinh tế giữa các nước thành viên mới với các thành viên cũ
Sáu nước thành viên cữ sẽ dành hệ thống ưu đại hội nhập
ASEAN cho các nước mới ra nhập Campuchia, Myanma, Việt
Nam và Lào Mặc dù đơn giản như vậy tuy nhiên các doanh
nghiệp của Lào vẫn chưa tận dụng triệt để thủ tục này để xâm
nhập vào thị trường khối này
Trong các nước thành viên ASEAN một quốc gia thành
viên có dân số theo đạo Hồi rất đông như Inđônêxia, Malayxia
hay Bruney do đó nhu cầu thị hiếu tiêu dùng của người dân
những nước này cũng khác so với các quốc gia còn lại đòi hỏi
các doanh nghiệp xuất khẩu của Lào cần phải tìm hiểu kỹ thị
hiếu từ đó xác định các mặt hàng xuất khẩu chủ đạo với chất
lượng và mẫu mã phù hợp với thị hiếu của họ
Một vấn đề quan trọng không kém đó là các quốc gia
ASEAN đều là các quốc gai xuất khẩu rất mạnh các mặt hàng
Trang 25nông sản Do vậy để đẩy mạnh xuất khẩu vào các quốc gai này
các mặt hàng xuât skhẩu nông sản của Lào cần tạo ra các bước
đột phá hoặc nét riêng biệt trong đó đặc biệt chú trọng vào các
mặt hàng là thế mạnh của Lào mà các quốc gia khác không có,
tránh tập trung sản xuất các mặt hàng chủ đạo của các nước quốc
gia nội khối
Một trong các quốc gia tiềm năng mà các doanh nghiệp Lào
có thể đẩy mạnh xuất khẩu đó là Singapore Bởi vì Singapore là
một trung tâm thương mại và hậu cầu quốc tế mà các nước trong
khu vực trong đó có Lào có thể sử dụng hải cảng không cảng và
hệ thống kho chứa hàng để xuất hàng cho thị trường quốc tế
Điều kiện này hết sức thuận lợi cho các doanh nghiệp Lào
vì Lào không có cảng biển trongkhi cảng hàng không quy mô
nhỏ và phát triển ở mức độ thấp
Với sự phát triển không ngừng của công nghệ điện tử
Singapore chủ trương áp dụng những tiến bộ mới trong khoa học
kỹ thuật vào lãnh vực xuất nhập khẩu, với những cải tiến như
thương mại không giấy tờ , thương mại điện tử, hệ thống cấp
giấy phép xuất khẩu tự động, ứng dụng chứng chỉ xuất xứ trực
tuyến tài chính vào bảo hiểm thương mại trên mạng sẽ tạo điều
kiện cho việc xuất nhập khẩu thực hiện dễ dàng hơn Tuy nhiên,
những cải tiến trên không có nghĩa là nhà nước Singapore đã dỡ
bỏ hoàn toàn các biện pháp kiểm soát hàng xuất nhập khẩu Vì
thế, các thương nhân Lào giao dịch với thị trường Sigapore cũng
Trang 26cần nắm dánh mục những mặt hàng đặt dưới chế độ kiểm soát
nhập khẩu của nước này Ngoài ra, Sigapore còn lại là thị trường
xuất nhập khẩu hoàn toàn tự do, 96% hàng hoá xuất nhập khẩu
không có thuế chính phủ không sử dụng nhừng rào cản biện pháp
hạn chế thương mại cơ sở hạ tầng dịch vụ phục vụ cho hoạt động
xuất nhập khẩu như thanh toán trong tài thương mại, cảng khẩu
rất thuận lợi cho nhà xuất khẩu tuy nhiên các doanh nghiệp Lào
cũng cần lưu ý rằng thị trường Singapore là một thị trường khó
tính và yêu cầu khắt khe về chất lượng sản phẩm và mẫu hàng
hoá
Đặc điểm của thị trường EU
Từ năm 1968, EU đã là một thị trường thống nhất hải quan
Có định mức thuế quan chung cho tất cả các thành viên Ngày
7/2/1992 Hiệp ước Marstricht được ký kết tại Hà Lan mở đầu
cho thống nhất kinh tế - tiền tệ, chính trị an ninh quốc phòng
giữa các nước thành viên EU Ngày 1/1/1993 hiệp ước Mastricht
bắt đầu có giá trị hiệu lực cũng là thị trường chung Châu Âu
được chính thức hình thành thông qua viện huỷ bỏ các đường
biên giới nội bộ liên minh (biên giới lãnh thổ quốc giá biên giới
hải quan) thị trường chung có thể dược hiểu đơn giản là một
không gian rộng lớn bao gồm lãnh thổ của tất cả các nước thành
viên mà ở đó hàng hoá sức lao động vốn và dịch vụ được lưu
chuyển hoàn toàn tự do giống như khi chúng ta ở trong một thị
trường quốc gia chung
Trang 27Thị trường chung hay cònn gọi là thị trường nội địa thống
nhất ngày càng được kiện toàn Việt tự do lưu chuyển các yếu tố
sản xuất không còn nhiều vướng mắc như trước đây Gắn liền với
sự ra đời của thị trường chung là một chính sách thương mại
chung nó điều tiết hoạt động xuất nhập khẩu là lưu động hàng
hoá dịch vụ trong một khối
Thị trường EU về cơ bản cũng giống như một thị trường
quốc gai do vậy 3 nhóm người tiêu dùng khác nhau
(1) Nhóm có khả năng thanh toán ở mức cao chiếm gần
20% dân số ở EU dùng hàng có chất lượng tốt và giá cả đứt nhất
hoặc những mặt hàng hiếm và độc đáo
(2) Nhóm có khả năng thanh toán ở mức trung bình chiếm
68% dân số sử dụng loại hàng có chất lượng kém hơn một chút
so với nhóm và giá cả cũng rẻ hơn
(3) Nhóm có khả năng thanh toán ở mức thấp chiếm hơn
10% dân số tiêu dùng những loại hàng có chất lượng và giá đều
thấp hơn so với hàng của nhóm 2
Mặt hàng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trên thị trường gồm cả
hàng hoá cao lấp lẫn hàng hoá của Lào là nhóm 2 và nhóm 3
Các đối thủ cạnh tranh chính của hàng hoá Lào là hàng Trung
Quốc và hàng của các nước ASEAN khác(Việt Nam, Thái Lan,
Inđinêsia, Malaisia….)
Xu hướng tiêu dùng trên thị trường EU đang có những thay
đổi như không thích sử dụng đồ nhựa mà thích dùng đồ gỗ thích
Trang 28ăn hải sản hơn ăn thịt yêu cầu về mẫu mốt và kiểu dáng hàng hoá
thay đổi nhanh đặc biệt đối với những mặt hàng thời trang (giày
dép, quần áo…) sở thích và thói quen tiêu dùng trên thị trường
này đang thày đổi rất nhanh cùng với sự phát triển mạnh mẽ của
khoa học hàng hoá với số lượng lớn và những hàng hoá có vòng
đời ngắn Không như trước kia họ chỉ thích sử dụng những sản
phẩm có chất lượng cao giá đắt, vòng đời sản phẩm dài, hiện nay
sở thích tiêu dùng là những sản phẩm có nhu trình sống ngắn hơn
giá rẻ hơn và phương thức dịch vụ tốt hơn thói quen này đối với
tất cả các hàng hoá tiêu dùng kể cả hàng công nghệ cao Tuy có
sự thay đổi về sở thích và thói quen tiêu dùng như vậy nhưng
chất lượng hàng hoá vẫn là yếu tổ quyết định đối với phần lớn
các mặt hàng được tiêu thụ trên thị trường này
Để xuất được hàng vào thị trường EU các doanh nghiệp Lào
không nhưũng phải nắm vững nhu cầu thị trường thị hiếu tiêu
dùng và đảm bảo sản phẩm có sức cạnh tranh về chất lượng cũng
như giá cả mà còn phải thông thạo kênh phân phối và hệ thống
pháp luật của EU nắm được hệ thống quản lý xuất nhập khẩu
1.3.3 Các biện pháp của nhà nước để đẩy mạnh
xuất khẩu hàng nông sản
1.3.3.1 Tăng cường nghiên cứu thị trường xuất khẩu hàng nông
sản
Nghiên cứu thị trường xuất khẩu hàng nông sản là quá trình thu
thập, xử lý và phân tích số liệu thị trường một cách hệ thống làm cơ sở
Trang 29cho các quyết định quản trị Mỗi quốc gia khác nhau có phong tục, tập
quán, nhu cầu, thị hiếu và sở thích khác nhau Do khoảng cách về địa
lý của các quốc gia là lớn nên việc nghiên cứu thị trường xuất khẩu
hàng nông sản trở nên khó khăn Khi nghiên cứu thị trường xuất
khẩu hàng nông sản cần trả lời được các câu hỏi sau: Nước nào là
thị trường mục tiêu? Quy mô thị trường ra sao? Sản phẩm nào có
thể xuất khẩu sang thị trường đó? Quy định về chất lượng, chủng
loại, vệ sinh an toàn thực phẩm và kiểm dịch như thế nào? Chính
sách ngoại thương của nước sở tại có gì khó khăn, thuân lợi? Mặt
khác, cần chú ý đến các chính sách ngoại thương của nước nhập
khẩu sản phẩm hàng nông sản Mỗi quốc gia đều có chính sách
riêng của nước mình nhằm khuyến khích và xúc tiến sản xuất kinh
doanh và sản xuất hàng hàng nông sản Nhưng có một điều mà
không một quốc gia nào làm khác được, đó là xuất khẩu hàng hàng
nông sản là khá lựa chọn hợp lý nhất để thâm nhập vào thị trường
thế giới nhằm đổi mới nền kinh tế của mình, do hoạt động xuất nhập
khẩu cũng có thể coi là chìa khoá mở ra các giao dịch quốc tế cho
một quốc gia Nhằm tiếp cận thâm nhập thị trường thế giới, nhìn
chung hầu hết các nước, nhất là các nước có nền kinh tế phát triển đều
áp dụng các chính sách như:
- Chính sách giá thâm nhập vào các thị trường
- Chính sách phát triển mạnh dựa vào hiệu ứng kinh nghiệm và lợi
thế quy mô
Trang 30- Chính sách phân biệt rõ rệt đổi với đổi mới sản phẩm và dịch
vụ khách hàng trên các thị trường khác nhau
- Chính sách tiêu chuẩn hoá nhất định trên cơ sở hạn chế lượng các
hàng nông sản phẩm cho phép thực hiện đa đạng hoá các mẫu mã, kiểu
dáng sản phẩm
- Chính sách ngoại thương dựa vào kết quả, là một loại xuất
khẩu hàng hoá mà các hàng hoá hữu hình được đưa ra thị trường
nước ngoài và nhập khẩu hàng hoá là các hàng hoá hữu hình được
mang vào trong nước Đây là nguồn thu nhập chính và chỉ tiêu quốc
tế ở hậu hết các quốc gia Với việc xuất hay nhập tuy không phải lúc
nào cũng vậy, nhưng ngoại thương là loại hoạt động nước ngoài
quan trọng nhất của một công ty của một quốc gia, vì công ty có thể
xuất khẩu bằng cách sử dụng công suất dư thừa trong sản xuất, như
thế sẽ giảm nhu cầu tăng vốn, có thể dùng dịch vụ môi giới trong
mậu dịch để đảm nhận các chức năng xuất nhập khẩu, do đó sẽ giảm
bộ phận nhân viên được đào luyện để thực hiện kinh doanh ở nước
ngoài
- Chính sách ngoại thương dựa trên luật lệ, luật trong nước và
quốc tế sẽ xác định điều mà nhà nước quản trị công ty quốc tế được
và không được làm, gồm luật trong nước ở quốc gia và quốc gia mà
công ty có hoạt động kinh doanh, như thuế, vận chuyển hàng hoá
giao dịch ngoại tệ Chỉ bằng cách hiệu được các hiệp ước được ký
giữa các quốc gia và luột mỗi nước nơi họ có thể hoạt động, các công
ty có thể kinh doanh có lợi từ việc bán sản phẩm của mình
Trang 311.3.3.2 Chính sách tài chính, tín dụng khuyến khích sản xuất
thúc đẩu xuất khẩu hàng nông sản
Nhu cầu về vốn cho sản xuất kinh doanh của các hộ, đơn vị sản
xuất hàng nông sản ngày càng lớn để sản xuất hàng xuất khẩu Đa
số nguồn vốn sản xuất hàng nông sản hiện nay là của cá nhân hoặc
hộ gia đình Các nguồn vốn chủ yếu bao gồm nhiều hình thức
nhưng chủ yếu gồm hai hình thức sở hữu là vốn tự có và vốn vay
+ Vốn tự có, là loại vốn và người sản xuất tự bỏ ra, đây là
nguồn vốn có vị trí đặc biệt quan trọng, đặc biệt trong điều kiện
hiện nay, khi cơ chế vay vốn vẫn chưa được thông thoáng Ngoài
phần vốn tự có ra, khi người sản xuất thiếu vốn để mở rộng sản xuất
thì người sản xuất có thể vay thêm vốn trên thị trường vốn
+ Vốn vay, đây là nguồn vốn mà các doanh nghiệp, nhà sản
xuất hàng nông sản đang thiếu Vốn vay nhằm bổ sung thêm vào
nguồn vốn kinh doanh, đổi mới và trang bị thêm cơ sở vật chất,
trang thiết bị nhằm phục vụ mở rộng sản xuất và kinh doanh
Như vậy, để kích thích sản xuất và thúc đẩy xuất khẩu hàng
nông sản thì cần phải có một giải pháp mạnh, hiệu quả về các lĩnh
vực như: Tài chính, tín dụng… để đảm bảo cho hoạt động sản xuất
hàng nông sản diễn ra trong tình trạng không được thiếu vốn và chi
phí trả lãi suất khi có vốn phải ở mức ưu đãi hoặc mức chấp nhận
được Mặt khác, trong hoạt động xuất khẩu hàng nông sản cũng phải
cần có một mức vốn nhất định để có thể tạo điều kiện cho các doanh
Trang 32nghiệp của nước nhập khẩu có thời gia trả chậm, nhằm mở rộng
thêm khách hàng và thị trường xuất khẩu
1.3.3.3 Nâng cao khả năng cạnh tranh các mặt hàng nông sản
Yếu tố quan trọng trong việc chiếm ưu thế, tăng khả năng
cạnh tranh để phát huy trong sản xuất và xuất khẩu hàng nông sản là
mẫu mã phải đa dạng, luôn được cải tiến, kiểu dáng sản phẩm phải
theo kịp thói quen tiêu dùng của thị trường xuất khẩu, sản phẩm
phải phù hợp và dự đoán được những biến đổi khí hậu của từng địa
phương, sản phẩm phải mang tính đồng bộ, tính hoàn thiện sản
phẩm, công dụng phải được rõ nét, độ an toàn luôn được chú ý, chất
lượng hàng hóa luôn được quan tâm…đặc biệt phải có những sản
phẩm được thiết kế kiểu dáng sáng tạo làm giảm khả năng cạnh
tranh của hàng hoá Vậy, để tăng cường sức cạnh tranh của hàng
nông sản khi suất khẩu thì các doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu
hàng nông sản cần phải lớn mạnh, quy mô sản xuất không manh
mún, nhà xưởng sản xuất phải rộng rãi, khang trang, máy móc kỹ
thuật cần phải được hiện đại hóa hơn nhằm đáp ứng được yêu cầu
của những đơn hàng lớn Đặc biệt tránh tình trạng khi có đơn hàng
lớn lại gặp phải thiếu nguyên liệu, thiếu lao động, phải huy động các
cơ sở gia công đơn lẻ, dẫn đến chất lượng hàng hoá không đồng
đều, hoặc thời gian bị kéo dài không đảm bảo hợp đồng Mặt khác,
cần có sự liên kết và hợp tác chặt chẽ giữa các nhà sản xuất, nhà
kinh doanh, cần có chiến lược hợp tác lâu dài, phát huy được thế
mạnh của cộng đồng Lực lượng lao động cần được ổn định…
Trang 331.3.3.4 Chính sách thể chế, tổ chức
Chính sách mặt hàng xuất khẩu
Mỗi quốc gia (đặc biệt đối với các nước có nền kinh tế chậm
phát triển) đều có những lợi thế riêng về nguồn lực, nguồn nguyên
liệu nhằm sản xuất ra những hàng nông sản khác nhau Ví dụ như:
Việt Nam là nước đông dân nên có lợi thế về lao động, ngoài ra cũng
có cả lợi thế về nguyên liệu để sản xuất hàng nông sản Còn nước
Lào là nước lại có lợi thế về nguồn nguyên liệu dùng để sản xuất
hàng nông sản Như vậy, mỗi nước sẽ căn cứ vào tình hình thực tế
của nước đó và căn cứ vào nhu cầu của từng nước nhập hàng nông
sản để từ đó ưu tiến sản xuất ra những mặt hàng nông sản nào có lợi
thế cho riêng mình, nhằm xuất khẩu sang các nước có nhu cầu và thị
hiếu sản phẩm đó
Chính sách thị trường
Trong quá trình sản xuất và tiêu thụ hàng nông sản, thì yếu tố thị
trường là yếu tố vô cùng quan trọng, cụ thể như: Khi các mặt hàng
nông sản được sản xuất ra, nếu không có thị trường để tiêu thụ thì
hàng sẽ không bán được, khi đó sản xuất bị ngừng chệ… Như vậy,
để gia tăng được sản xuất thì vấn đề thị trường tiêu thụ phải được
quan tâm Cụ thể, để thúc đẩy xuất khẩu các mặt hàng nói chung và
mặt hàng nông sản nói riêng thì nước xuất khẩu phải quan tâm đến
việc nghiên cứu thị trường (nhu cầu, thị hiếu…), mở rộng thị trường
và tìm ra cho mình những thị trường mục tiêu, để có thể
khai thác tối đa các nhu cầu của thị trường đó
Trang 34Các chính sách khuyến khích xuất khẩu khác
Bên cạnh các chính sách mặt hàng và chính sách thị trường, thì
các chính sách khuyến khích xuất khẩu khác (như: Chính sách thuế
xuất khẩu, thuế doanh nghiệp, chính sách tín dụng…) cũng cần được
quan tâm một cách thoả đáng Có như vậy mới làm tăng khả năng
cạnh tranh của các mặt hàng nông sản của nước này so với nước
khác trên thị trường quốc tế, chính điều này sẽ làm tăng khả năng
xuất khẩu mặt hàng nông sản của nước đó
1.4 Kinh nghiệm thúc đẩy xuất khẩu nông sản của một số
nước và bài học kinh nghiệm cho tỉnh Chăm pa sắc
1.4.1 Kinh nghiệm thúc đẩy xuất khẩu nông sản của một số
nước
1.4.1.1 Kinh nghiệm của Việt Nam
Thời kỳ 1991-1995 giai đoạn đầu thực hiện chính sách mở
cửa kinh tế ở Việt Nam thời kỳ mà hệ thống xã hội chủ nghĩa ở
Đông Âu và Liên Xô bị tan rã hoàn toàn thị thị trường xuất khẩu
sản phảm xuất khẩu của Việt Nam chiếm 80% sau đó là Châu
Âu(15%) châu phí là 3% và thị trường Châu Mỹ là 2% Thị
trường xuất khẩu được mở rộng theo hướng đã đạng hoá và đa
phương hoá các quan hệ kinh tế Quan hệ thương mại mở rộng
đến các Châu Lục, các khối kinh tế khu vực quốc tế Hiện nay
Việt Nam có quan hệ xuất khẩu với khoảng 220 nước và khu vực
trên thế giới Sự chuyển đổi cơ cấu thị trường xuất khẩu đảm bảo
được yêu cầu xuất khẩu hàng hoá là một trong những thành tựu
Trang 35lớn trong những năm Năm 1985 thị trường Liên Xô và một số
nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu còn chiếm 57% tppmgr lo,
ngạch xuất khẩu của Việt Nam nhưng đến năm 1991 còn 11%
năm 1992 là 5% năm 1993 là 6% năm 1994 là 3% đến nay chiếm
xấp xỉư 2% Thay voà đó châu Á đã nhanh chóng trở thành thị
trường xuất khẩu chính của Việt Nam năm 1991 xuất khẩu của
Việt Nam sang chấu á khoảng 77% năm 1994 là 75% nhưng năm
gần đây do khai thác thông hai thị trường châu âu và Bắc Mãy
nên tỷ trọng của các nước châu á giảm dần những vẫn ở mức cao
và chiếm khoảng 58% vào năm 1999 Trong số các nước châu á
thì thị trường Nhậ Bản và các nước ASEAN đóng vai tò lớn
chiếm 80% tổng kim ngạch buôn bán của Việt Nam vào những
năm đầu của thời kỳ 90 Nhật Bản chiếm 30% kim ngạch xuất
khẩu của Việt Nam nhưng chỉ chiếm 10% kim ngạch nhập khẩu
của Việt Nam Hiện nay thì hàng hoá của Việt Nam đã thâm nhập
ngày càng nhiều vào thị trường Nhật Bản, ASEAN Đông Bắc Á,
EU và Bắc Mỹ, Mỹ là thị trường tiềm năng rất lớn của Việt Nam
Việc thâm nhập vào thị trường EU, Nhật Bản và Bắc Mỹ đem lại
hiệu quả cho hoạt động ngoại thương Buôn bán với các nước
Châu Phi và Châu Đại Dương được mở rộng Năm 1989 việc
xuất khẩu hàng hoá đến khu vực này chưa vượt qua con số1 triệu
USD, năm 1991 giá trị xuất khẩu sang thị trường Châu Phi chỉ
đạt 0,2% đến năm 1994 là 1,4% Hiện nay giá trị xuất khẩu sang
thị trường Châu Phi đạt gần 70 triệu USD và Châu Đại Dương
Trang 36đạt 1,1 tỷ USD Sự chuyển dịch cơ cấu thị trường xuất khẩu đã
góp phần đưa nền kinh tế Việt Nam vượt qua những giai đoạn
khó khăn khi thế giới diễn ra biến động lớn về chính trị đầu
những năm 90, hay khủng hoảng tiền tệ khu vực 1997-1998
Những năn gần đây Việt Nam đã thực hiện chủ trương khôi phục
lại thị trường Đông Âu một thị trường truyền thống và có tiềm
năng lớn của ngoại thương của Việt Nam
Sang giai đoạn 1996 - 2007 thời kỳ Việt Nam đẩy mạnh
tiến trình hội nhập kinh tế với các nước khác trong khu vực và
trên thế giới Thông qua việc ký kết thực hiện các hiệp định song
phương, quan tọng nhất là hiệp định thương mại với Mỹ… thì cơ
cấu thị trường xuất khẩu của Việt Nam thay đổi các nước công
nghiệp phát triển trở thành thị trường xuất khẩu chủ lực của Việt
Nam Sau đó đến các nước ASEAN chiếm 20% giá trị hàng hoá
xuất nhập khẩu của Việt Nam Như vậy cơ cấu thị trường xuất
khẩu hiện tại của Việt Nam tương tự như các nước ASEAN và
Trung Quốc Điều này biểu hiện tính quy luật của tiến trình triển
khai chính sách mở cửa nền kinh tế Tuy nhiên, sự tương đồng về
thị trường cũng rất quyết liệt, muốn giành được chỗ đứng trên thị
trường nhập hẩu đòi hỏi tính cạnh tranh của sản phẩm xuất khẩu
phải mang tính vượt trội Hiệnnay Việt Nam vẫn duy trì chính
sách xâm nhập vào các thị trường có nền kinh tế mạnh như EU,
Mỹ, Nhật Bản, … và một số thị trường tiềm năng khác Các thị
trường có mức tăng trưởng nhanh vẫn tiếptục được giữ vững là:
Trang 37Nam Phi, Thụy Sĩ, Ailen, Trung Quốc, Irắc, Bồ Đào Nha, các
nước tiểu vương quốc A rập thống nhất, áo, Canada, Philipin,
Anh…
1.4.1.2 Kinh nghiệm của Thái Lan
Trong những năm qua, Chính phủ Thái Lan đã đề ra và thực
hiện nhiều chính sách phát triển hàng nông sản như: Chính sách
khuyến nông, chính sách ưu đãi thuế xuất khẩu hàng nông sản,
chính sách rồn đền để sản xuất tập trung, chính sách khuyến khích
nghiên cứu để sản xuất ra các giống mới… các chính sách này nhằm
phát huy tích cực tự lực, khai thác sự sáng tạo của người dân, tận
dụng các nguồn lực ở địa phương để phát triển kinh tế của từng tỉnh
Dựa trên các thế mạnh của từng vùng, từng miền, từng loại đất sẽ
chọn và phát triển một số sản phẩm đặc thù có chất lượng để tiêu
dùng và xuất khẩu Mục tiêu cuối cùng là sản phẩm giành được các
thị trường ngách trên thị trường thế giới và được nhân biết thông
qua chất lượng chế biến của nước Thái Lan
Như vậy, các sản phẩm, hàng nông sản là những sản phẩm của
địa phương, nhưng được cải tiến trong khâu chế biến và chất lượng
để phù hợp với nhu cầu thị hiếu của khách hàng trong và ngoài
nước Một trong những yếu tố góp phần vào sự thành công trong
việc phát triển các hàng nông sản, đặc biệt là tăng khả năng xuất
khẩu của mặt hàng này ra nước ngoài là, Thái Lan đã rất chú trọng
và phát triển hoạt động marketing rất hiệu quả, hoạt động marketing
này không chỉ thực hiện ở trong nước mà còn hoạt động rất hiệu quả
Trang 38ở các nước ngoài Thể hiện rõ nhất trong hoạt động marketing của
Thái Lan là hoạt động quảng cáo, các chiến dịch khuyến khích mua
hàng của Thái Lan, hay việc nồng nghép quảng bá, khuyến mãi vào
hoạt động du lịch của Thái Lan
1.4.2 Bài học kinh nghiệm cho tỉnh Chăm pa sắc nước
CHDCND Lào
- Tăng cường, củng cố mối quan hệ toàn diện giữa Việt
Nam với các nước trnong khu vực và thế giới
- Tăng cường các hoạt động xúc tiến thương mại, thường
xuyên cung cấp các thông tin cập nhật về thị trường của các nước
trên thế giới cho các doanh nghiệp Các thông tin ở đây bao gồm
các thông tin về luật pháp, về giá cả, cạnh tranh, biến đổi troing
nhu cầu tiêu dùng… Để làm tốt điều này, đòi hỏi phải có sự nỗ
lực của các cơ quan tham tán thương mại Nhà nước có thể thành
lập các văn phòng đại diệntheo từng khu vực địa lý ở các nước,
hoặc các hiệp hội của mỗi ngành phải hỗ trợ các doanh nghiệp
trong việc tìm kiếm các thông tin mới Ngoài ra, cần có sự phối
hợp các doanh nghiệp trong việc đáp ứng các đơn hàng lớn, có
thể tổ chức các lớp học định kỳ hoặc thường xuyên bồi dưỡng
kiến thức cho các doanh nghiệp
- Hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động
xuất khẩu Nhà nước ơ nước cần đổi mới hoạt động của các bộ
phận thương vụ, đại diện thương mại ở nước ngoài nhằm xúc tiến
được các cơ hội làm ăn cho các doanh nghiệp, gắn với nhu cầu
Trang 39tiếp thị và hiệu quả của các doanh nghiệp Các cơ quan này cần
chú trọng tìm hiểu thông tin thị trường và cung cấp kịp thời cho
các doanh nghiệp trong nước, đảm bảo tính nhanh nhạy và giúp
cho doanh nghiệp có thể đáp ứng kịp thời những thay đổi của thị
trường và nắm bắt được những nhu cầu mới phát sinh kiện toàn
bộ máy và nâng cao chất lượng hoạt động của các bộ, ngành liên
quan nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước về xuất nhập khẩu,
có quy chế phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý, điều
hành hoạt động xuất nhập khẩu nhằm thực hiện tốt luật thương
mại
- Áp dụng các biện pháp khuyến khích vật chất cụ thể nhằm
thúc đẩy xuất khẩu những mặt hàng có tỷ trọng chế biến cao,
tránh xuất khẩu hàng hóa nguyên vật liệu thô hoặc chưa qua chế
biến Nhà nước có chính sách hõo trợ mạnh mẽ và đồng bộ cho
các doanh nghiệp đầu tư công nghệ thiết bị để có thể nâng cao
chất lượng, đa dạng hóa mặt hàng xuất khẩu, đưa ra các biện
pháp khuyến khích mang tính chất cụ thể, tránh tình trạng ưu đãi
chung trên các báo cáo, giấy tờ mà không đưa ra các bước đi rõ
ràng Đối với thông tin về cung cầu, thị hiếu các yêu cầu về chất
lượng, các thủ tục hải quan đặc biệt, phổ biến cụ thể, rộng rãi với
doanh nghiệp có nhu cầu Ngoài ra, có thể đưa ra các điều kiẹn
tín dụng, tỷ lệ lãi suất ưu đãi hơn đối với các nguồn vốn vay để
mở rộng xuất khẩu những hàng hóa cần được ưu tiên Tuy nhiên
việc phát triển các ngành hàng xuất khẩu ít bất lợi về thuế suất
Trang 40chỉ là các biện pháp ngắn hạn Trong chiến lược xuất khẩu dài
hạn lại phải ưu tiên cho các mặt hàng có giá trị tăng cao, đặc biệt
là các mặt hàng có xu hướng thị hiếu tăng mạnh trong tương lai
Có như vậy, mới duy trì được các thị trường truyền thống và
thâm nhập vào các thị trường tiềm năng khác trên thế giới
Nhà nước đầu tư thành lập ngân hàng dữ liệu công nghệ và
áp dụng chế độ đăng ký, kiểm tra chất lượng bắt buộc đối với
hàng xuất khẩu Do trình độ còn hạn chế và do công nghệ còn
thấp nên các vấn đề chất lượng gặp rất nhiều khó khăn trên thị
trường quốc tế Để giải quyết các vấn đề khó khăn đó, nhà nước
hỗ trợ các doanh nghiệp đổi mới công nghệ thông qua cung cấp
các thông tin về công nghệ và áp dụng chế độ đăng ký, kiểm tra
chất lượng bắt buộc đối với hàng xuất khẩu Nó vừa thúc đẩy các
doanh nghiệp quan tâm nữa đến vấn đề công nghệ, vừa nâng cao
uy tín của hàng hóa Lào trên thị trường thế giới Đối với các
doanh nghiệp sản xuất những mặt hàng xuất khẩu thì:
Để thâm nhập vào thị trường quốc tế một cách sâu rộng đòi
hỏi các doanh nghiệp phải có sự liên kết với nhau, có như vậy,
chúng ta mới đáp ứng được đơn đặt hàng lớn của các nước Đồng
thời mỗi doanh nghiệp xuất khẩu phải có nguồn vốn đủ lớn, năng
nlực sản xuát đủ mạnh thì mới có đủ sức mạnh cạnh tranh trên thị
trường quốc tế Doanh nghiệp sản xuất những mặt hàng xuất
khẩu cũng cần chú ý đến kinh nghiệm kinh doanh quốc tế và phải
thường xuyên cung cấp các thông tin về thị trường