Đường cơ sở baseline “Đường cơ sở”[3] baseline là một đường mà căn cứ vào nó chính phủ quốc gia ven biển sẽ tuyên bố bề rộng của “lãnh hải”[4] hướng về phía biển cả[5] được tính từ đường
Trang 1GIỚI THIỆU QUY CHẾ PHÁP LÝ MỘT SỐ VÙNG BIỂN VIỆT NAM PHÙ HỢP VỚI CÔNG ƯỚC CỦA LIÊN HỢP QUỐC VỀ LUẬT BIỂN 1982
Hà Nam Ninh Đại học Khoa học và Công nghệ biển Tokyo
1 Giới thiệu sơ lược về hàng hải (maritime)
Như chúng ta đã biết, công nghiệp hàng hải là ngành công nghiệp liên quan tới vận tải hàng hóa bằng đường biển (shipping) Nghiệp vụ chủ yếu của một công ty vận tải biển (shipping company) là chuyên chở hàng hóa từ cảng A đến cảng B bằng đường biển, lợi nhuận của họ là cước phí vận tải (freight)
Một trong những nghiệp vụ quan trọng nhất của ngành hàng hải là nghiệp vụ dẫn đường (navigation) Để dẫn tàu an toàn (safe navigation), người sĩ quan hành hải (navigation officer) cần phải tích lũy một số kiến thức nhất định, trong đó các kiến thức
về qui tắc phòng ngừa va chạm tàu thuyền trên biển[1] (regulations for preventing collision at sea) và luật biển[2] (the law of the sea) cũng rất cần thiết
2 Công Ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 - United Nations Convention
on the Law of the Sea 1982
Công ước về luật biển được Liên hợp quốc thông qua ngày 10 tháng Mười Hai năm
1982, và đến ngày 16 tháng 11 năm 1994 đã bắt đầu có hiệu lực khi được 60 quốc gia phê chuẩn Do đó công ước này được gọi tắt là Luật Biển 1982 (UNCLOS82 - United Nations Convention on the Law of the Sea 1982 – Công Ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982) Luật Biển 1982 không chỉ được áp dụng riêng cho ngành hàng hải Luật Biển 1982 còn có vai trò rất quan trọng đối với chủ quyền của các quốc gia ven biển Đồng thời luật biển này cũng quy định về quyền lợi của những quốc gia không có biển
Hình 1 Lô-gô của công ước của Liên hợp quốc về luật biển Bài viết này sẽ giới thiệu sơ lược về một số vùng biển Việt Nam cùng một số quy chế pháp lý chủ yếu của các vùng biển ấy, phù hợp với công ước của Liên hợp quốc về luật
Trang 2biển 1982.
3 Đường cơ sở (baseline)
“Đường cơ sở”[3] (baseline) là một đường mà căn cứ vào nó chính phủ quốc gia ven biển sẽ tuyên bố bề rộng của “lãnh hải”[4] hướng về phía biển cả[5] được tính từ đường cơ
sở Đường cơ sở cũng được dùng làm căn cứ gốc để xác định các vùng biển khác phía ngoài lãnh hải Thông thường, đường cơ sở là đường ngấn nước thủy triều thấp nhất Tuy nhiên, khi bờ biển có sự lồi lõm đáng kể, khi biển khoét xâu vào đất liền, hoặc khi
có những đảo ven bờ, quốc gia ven biển có quyền áp dụng đường cơ sở thẳng[6]
Ngày 12 tháng Mười Một năm 1982, Chính phủ Việt Nam đã ra tuyên bố về đường
cơ sở và vùng hải phận quốc gia (lãnh hải) cho vùng bờ biển từ cửa Vịnh Bắc Bộ cho tới vùng biển trong vịnh Thái Lan Việt Nam tuyên bố đường cơ sở thẳng với 11 đoạn được nối qua 12 điểm men theo bờ biển[7] Chi tiết về tọa độ của các điểm nối và hình vẽ được nêu ra trong bảng 1 và hình 3
Hình 2 Khái quát về các vùng biển theo UNCLOS82 Tọa độ và tên điểm trong bảng 1 được sao chép từ tuyên bố 12 tháng Mười Một năm 1982 bởi Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam về đường cơ sở xác định lãnh hải của Việt Nam (tuyên bố VN1982) Tuy nhiên, tên địa danh đã được người viết điều chỉnh cho phù hợp với sự thay đổi của cơ quan quản lý hành chính hiện thời Ký hiệu N (north) có nghĩa là “vĩ độ bắc”, ký hiệu E (east) có nghĩa là “kinh độ đông”
Trang 3Bảng 1 Tọa độ các điểm nối đường cơ sở của Việt Nam
Tên
điểm
Cam-pu-chia, nằm giữa biển, trên đường nối từ Thổ Chu
A1 N09015’0 E103027’0 Hòn Nhạn, quần đảo Thổ Chu, tỉnh Kiên Giang A2 N08022’8 E104052’4 Hòn Đá Lẻ, phía cực nam của Hòn Khoai, tỉnh Cà
Mau A3 N08037’8 E106037’5 Hòn Tài Lớn, Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu A4 N08038’9 E106040’3 Hòn Bông Lang, Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu A5 N08039’7 E106042’1 Hòn Bảy Cạnh, Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu A6 N09058’0 E109005’0 Hòn Hai, nhóm đảo Phú Quí, tỉnh Bình Thuận A7 N12039’0 E109028’0 Hòn Đôi, tỉnh Khánh Hòa
A8 N12053’8 E109027’2 Mũi Đại Lãnh, tỉnh Phú Yên
A9 N13054’0 E109021’0 Hòn Ông Căn, tỉnh Bình Định
A10 N15023’1 E109009’0 Đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi
A11 N17010’0 E107020’6 Đảo Cồn Cỏ, tỉnh Quảng Trị
Cũng theo Tuyên bố VN1982, nước ta đã bảo lưu quyền bổ xung tuyên bố về đường cơ sở và lãnh hải cho hai vùng quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa[8]
4 Nội thủy (internal waters)
Theo công ước UNCLOS82, “nội thủy”[9] là vùng nước tính từ đường cơ sở về phía đất liền của quốc gia ven biển
Trang 4Hình 3 Đường cơ sở của Việt Nam theo tuyên bố VN1982 Căn cứ theo tuyên bố VN1982, vùng nội thủy của Việt Nam là các vùng biển phía trong đường cơ sở (vẽ trong hình 3) và các vùng nước nối liền với các vùng biển ấy Cũng theo tuyên bố VN1982, nước ta đã khẳng định vùng biển phía tây kinh tuyến
108 độ trong Vịnh Bắc Bộ là vùng nội thủy của Việt Nam theo tính chất của vùng nước
Trang 5lịch sử[10].
Việt Nam có chủ quyền toàn vẹn đầy đủ và tuyệt đối trong vùng nội thủy của
mình Có thể hiểu một cách đơn giản rằng “vùng nội thủy được coi như một phần lãnh thổ kéo dài ra phía biển của tổ quốc” Ở đó ta có thể áp đặt mọi luật lệ của nhà nước lên mọi đối tượng có hoạt động trong vùng nội thủy đó Bất cứ sự vi phạm nào đối với vùng nội thủy của Việt Nam của tổ chức hay cá nhân nước ngoài, khi chưa được sự cho phép của cơ quan quản lý hành chính đại diện cho chính phủ Việt Nam, hành vi đó dù vô tình hay cố ý đều bị coi là vi phạm chủ quyền và luật pháp Việt Nam Đối với hàng hải, các tàu biển treo cờ quốc tịch nước ngoài khi muốn đi vào vùng nội thủy của Việt Nam đều phải làm thủ tục xin phép tại cơ quan biên phòng Việt Nam theo pháp luật hiện hành
5 Lãnh hải (territorial sea)
“Lãnh hải” (territorial sea) là vùng biển liền kề với nội thủy, bề rộng của lãnh hải[11] (một số tài liệu dùng từ “hải phận quốc gia”) tùy thuộc vào sự lựa chọn của chính phủ quốc gia ven biển Tuy nhiền theo công ước UNCLOS82, bề rộng của lãnh hải không vượt quá 12 hải lý[12] tính từ đường cơ sở Việt Nam đã tuyên bố trong VN1982 về bề rộng lãnh hải là 12 hải lý
Trong vùng lãnh hải quốc gia ven biển có chủ quyền toàn vẹn và đầy đủ[13] Quốc gia ven biển có quyền thực thi mọi biện pháp để bảo vệ chủ quyền trên vùng lãnh hải Tuy nhiên, trên vùng lãnh hải của một quốc gia, tàu thuyền dân sự được hưởng quyền
“đi qua không gây hại” (innocent passage)[14] Như vậy chủ quyền của quốc gia ven biển
đối với vùng lãnh hải là chủ quyền toàn vẹn đầy đủ nhưng không tuyệt đối Quy định
về hành động đi qua không gây hại[15] được giải thích rất chi tiết trong công ước UNCLOS82
Trang 66 Vùng tiếp giáp lãnh hải (contiguous zone)
Vùng tiếp giáp lãnh hải[16] là vùng biển liền kề với vùng lãnh hải Vùng tiếp giáp lãnh hải được tính bắt đầu từ mép ngoài của lãnh hải và mở rộng cho tới khoảng cách 24 hải lý từ đường cơ sở
Trong tuyên bố VN1982, Việt Nam tuyên bố bề rộng vùng lãnh hải là 12 hải lý và vùng tiếp giáp lãnh hải là 24 hải lý từ đường cơ sở.
Trên vùng tiếp giáp lãnh hải, quốc gia bờ biển được quyền cưỡng chế pháp lý đối với các đối tượng nước ngoài khi họ có hành động phương hại đến các luật lệ về thuế khóa, tài chính, biên phòng và y tế của vùng lãnh thổ và lãnh hải
Tàu bay được quyền
tự do qua lại Tầu thuyền được tự do đi lại
Tầu thuyền được phép
đi qua không gây hại
Hình 4 Qui chế pháp lý của các vùng biển
Lãnh thổ Nội thủy Lãnh hải
Quốc gia bờ biển có
chủ quyền toàn vẹn
đầy đủ và tuyệt đối
Quốc gia
bờ biển có chủ quyền toàn vẹn đầy đủ nhưng
không tuyệt đối
Tiếp giáp lãnh hải Vùng đặc quyền kinh
tế
Vùng thềm lục địa
Biển cả
Quốc gia ven biển được quyền khai thác tài nguyên trong lòng biển
Quốc gia ven biển được quyền khai thác tài nguyên trên đáy biển
và trong lòng đất dưới đáy biển
Quốc gia bờ biển có quyền chế tài liên quan +Thuế quan +Tài chính
+Biên phòng
+Y tế
Trang 77 Vùng đặc quyền kinh tế (exclusive economic zone)
Vùng đặc quyền kinh tế[17] là vùng biển phía ngoài và liền kề với vùng lãnh hải của quốc gia ven biển Quốc gia ven biển có quyền tuyên bố quyền lợi vùng đặc quyền kinh
tế tới giới hạn phía ngoài cùng không quá 200 hải lý từ đường cơ sở Quốc gia ven biển
có quyền thăm dò, khai thác, bảo tồn và quản lý tài nguyên tự nhiên trong vùng đặc quyền kinh tế Quốc gia ven biển có quyền thực hiện quyền khai thác quản lý tài nguyên
đó trong lòng biển, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển Nội dung chi tiết về qui chế pháp lý của vùng đặc quyền kinh tế được ghi rõ trong công ước UNCLOS82 phần 5 (part V)
Trên thực tế khu vực Biển Đông, vùng đặc quyền kinh tế của các nước lân cận lại trùm lẫn lên nhau Nội dung này sẽ được nói đến ở những phần sau
8 Thềm lục địa (continental shelf)
Thềm lục địa[18] của quốc gia bờ biển là phần đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, bắt đầu tính từ mép ngoài của lãnh hải tới mép ngoài của thềm lục địa địa lý hoặc 200 hải lý (NM) từ đường cơ sở Trong trường hợp thềm lục địa địa lý tiếp tục kéo dài thoai thoải vượt qua giới hạn 200 hải lý thì quốc gia ven biển có quyền mở rộng vùng thềm lục địa vượt ra ngoài 200 hải lý (NM) nhưng không vượt quá 350 hải lý (NM) từ đường
cơ sở
Quốc gia ven biển có quyền khảo sát và khai thác tài nguyên trong vùng thềm lục địa
9 Biển cả (high sea)
Biển cả[19] là vùng biển phía ngoài vùng đặc quyền kinh tế của các quốc gia ven biển Các quốc gia có biển và quốc gia không có biển đều được chung hưởng nguồn lợi tài nguyên từ khu vực biển cả
Hình 5 Xác định thềm lục địa theo UNCLOS82
200NM
350NM
Vùng thềm
lục địa
200NM
350NM
Vùng thềm lục địa
200NM
350NM
Vùng thềm lục địa
Trang 810 Phân chia vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa ở khu vực Biển Đông.
Phương án phân chia vùng đặc quyền kinh tế và vùng thềm lục địa tại Biển Đông theo đường trung tuyến[20]
Hình 6 Chia Biển Đông theo đường trung tuyến Như chúng ta đã biết, khoảng cách bờ biển giữa các nước có quyền lợi kinh tế liên quan đến Biển Đông không đủ lớn để các nước tuyên bố vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa tách biệt với nhau Những chuyên gia của Liên hợp quốc trong lĩnh vực
Trang 9này đã đề nghị phương án phân chia theo đường trung tuyến như trong hình 6.
Phương án chia Biển Đông (vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa) theo đường trung tuyến là phương pháp khá công bằng Vùng diện tích biển mà quốc gia ven biển được quyền khai thác tài nguyên tỉ lệ thuận với chiều dài bờ biển quốc gia Quốc gia nào có đường bờ biển dài thì phần diện tích vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa cũng lớn
Tuy nhiên các quốc gia trong vùng đều không áp dụng phương án phân chia như vậy Mỗi một quốc gia đều có những tuyên bố riêng biệt về vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Hình 7 chỉ ra sự tranh chấp giữa các quốc gia liên quan tới khu vực Biển Đông
Hình 7 Các quốc gia tuyên bố quyền lợi tại Biển Đông Trong những tuyên bố liên quan tới Biển Đông, tuyên bố của Trung Quốc là một tuyên bố bất công bằng nhất Ranh giới do Trung Quốc vạch ra cách xa bờ biển tỉnh Hải Nam của họ tới hơn 900 hải lý (NM), và khoảng cách gần nhất tới các nước khu vực Đông Nam Á chỉ là 50 hải lý Tuyên bố này của Trung Quốc hoàn toàn trái ngược với
Trang 10cơ sở của công ước UNCLOS82
11 Mối quan hệ Việt-Trung liên quan tới Biển Đông.
Trải mấy ngàn năm lịch sử, người Hán bên Trung Quốc liên tục có các hành động bành chướng lân bang Họ không những sử dụng sức mạnh quân sự để xâm phạm lẫn nhau, ngay cả khi chưa thực sự chiếm đóng thì cũng tuyên bố sự cai trị “khống” của họ Trong sử Trung Quốc còn chép lại việc Hán cao tổ (202TCN) lấy “khống” đất của Triệu
Đà[21] để phong cho Ngô Nhuế Đến khi nhà Hán thôn tính Nam Việt của họ Triệu (111TCN), vua Hán lại tiếp tục sáp nhập “khống” Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam của các vua Hùng[22] vào với nước Hán Cứ tuyên bố trước đã, để đó, đến 144 năm sau (năm 43) thì cho Mã Viện sang chiếm đóng thật Mưu đồ bành chướng[23] của người Hán chưa bao giờ dừng lại qua hai nghìn năm, cái kịch bản xưa cứ diễn đi diễn lại cho đến tận ngày nay
Hai quần đảo trên Biển Đông là Hoàng Sa và Trường Sa vốn đã thuộc chủ quyền của Việt Nam từ thế kỷ 17 Tuy nhiên trong suốt thời gian khoảng trăm năm qua (từ năm 1909), khi thì dùng quân sự, khi thì bằng những tuyên bố cai trị “khống”, lân bang liên tục gặm nhấm đất đai của tổ tiên[24]
Thời gian đây, cuộc hải chiến Hoàng Sa[25] ngày 19 tháng 1 năm 1974, 54 người lính Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh Quần đảo Hoàng Sa bị Trung Quốc cưỡng chiếm
từ đó đến nay Mười bốn năm sau, ngày 14 tháng 3 năm 1988, người TQ tiếp tục gây ra cuộc hải chiến Trường Sa[26] Chiến sự diễn ra tại khu vực các đảo Gạc Ma, Cô Lin, và Len Đao Trong trận chiến ngày 14 tháng 3 năm 1988, Việt Nam bị bắn cháy chìm 3 tàu, 3 chiến sĩ hy sinh, 11 người khác bị thương, 70 người bị mất tích Sau này Trung Quốc đã trao trả cho phía Việt Nam 9 người bị bắt, 61 người vẫn mất tích và được xem
là đã tử trận Việt Nam bảo vệ được chủ quyền tại các đảo Cô Lin và Len Đao Trung Quốc chiếm đảo Gạc Ma từ ngày 16 tháng 3 năm 1988 và vẫn giữ cho đến nay Hành động dùng quân sự để chiếm đoạt biển đảo năm 1974 và 1988 của Trung Quốc là hành động vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế, ảnh hưởng đến hòa bình thế giới, đi ngược lại lợi ích chung hưởng hòa bình của nhân loại
Không những thế, Trung Quốc còn liên tục có những tuyên bố gây tranh cãi trong thời gian qua Đó là cuối năm 2005, Trung Quốc công bố tấm bản đồ vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Trung Quốc tại biển Đông (hình 8) Theo Công ước UNCLOS82, một quốc gia ven biển chỉ được phép tuyên bố vùng thềm lục địa đến giới hạn xa nhất là 350 hải lý tính từ đường cơ sở Tuy nhiên, với tấm bản đồ ấy, nơi xa nhất cách đường cơ sở của Trung Quốc hơn 900 hải lý Nơi gần bờ biển Việt Nam nhất chỉ
có 50 hải lý (khoảng 90km) Cuối năm 2007, chỉ hai năm sau tuyên bố gây tranh cãi trên, Quốc vụ viện Trung Quốc tuyên bố thành lập thành phố cấp huyện Tam Sa[27]
Trang 11(Hình 9) trực thuộc tỉnh Hải Nam để “quản lý” Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam Mỗi khi Trung Quốc có động thái vi phạm chủ quyền của Việt Nam trên khu vực Biển Đông, chính phủ Việt Nam đều lên tiếng chính thức phản đối Tuy nhiên, sau tuyên bố thành lập Tam Sa của Trung Quốc, không chỉ chính phủ lên tiếng phản đối, mà còn có rất nhiều người Việt Nam biểu tình[28] phản đối hành động vi phạm nghiêm trọng chủ quyền nước ta Đó là những cuộc biểu tình ở Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, ở Mỹ, Pháp, Anh… và một số nơi khác Trong khi đó một cựu quan chức ngoại giao[29] của Trung Quốc lấy lý do hội nhập quốc tế để chống chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa yêu nước của người Việt Nam Trong khi họ đề cao chủ nghĩa dân tộc cho nhân dân của họ, họ lại mưu đồ chống chủ nghĩa dân tộc của chúng ta Trung ương Đảng ta đã rất sáng suốt khi
đề ra đường lối “hội nhập nhưng không hòa tan”, người Việt sẽ mãi là người Việt Việt Nam muốn làm bạn với tất cả nhưng chủ quyền của Việt Nam là bất khả xâm phạm.
Hình 8 Tuyên bố của Trung Quốc
”ranh giới” trên biển
Hình 9 Tuyên bố của Quốc vụ viện Trung Quốc – thành lập Tam Sa
Trang 1212 Lời kết.
Nghị quyết Trung ương 4 khoá X về “Chiến lược kinh tế biến Việt Nam đến năm 2020” đã nêu rõ đến năm 2020 đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu
từ biển, kinh tế trên biển và ven biển đóng góp khoảng 53-55% tổng GDP của cả nước Tuy nhiên, còn khá nhiều người chưa hiểu về nguồn lợi từ biển và những vấn đề liên quan đến chủ quyền của Việt Nam ở Biển Đông Bởi vậy để có thể thực hiện NQTW4 khóa X “Chiến lược kinh tế biến Việt Nam đến năm 2020”, đã rất cấp bách, bằng nhiều phương pháp và phương tiện phổ biến cho mọi người dân những kiến thức liên quan tới quyền lợi của nước ta tại Biển Đông Người ta cần biết nhiều hơn nữa về những người như nhà sử học Dương Trung Quốc, tiến sỹ Nguyễn Nhã, giáo sư Hoàng Xuân Hãn,… Quĩ nghiên cứu Biển Đông (SEAS Foundation) cũng tập hợp được các học giả yêu nước để cùng tìm đến một giải pháp hòa bình cho Biển Đông
Song song với việc củng cố kiến thức về Biển Đông, chúng ta cũng cần phải nâng cao tinh thần dân tộc đặc biệt là giới thanh niên trí thức – chủ nhân tương lai của đất nước Điều này cũng đã được Trung ương đưa vào nghị quyết[30] để thực hiện
Chú thích
[1] Công Ước về Luật Quốc Tế cho Phòng Ngừa Va Chạm Tàu Thuyền Trên Biển 1972
- Convention on the International Regulations for Preventing Collisions at Sea,
1972 (COLREGs) Công ước này do Tổ chức Hàng hải Quốc tế ban hành Một số
URL tham khảo nội dung bằng tiếng Anh:
http://www.imo.org/Conventions/contents.asp?doc_id=649&topic_id=257
http://www.sailtrain.co.uk/Irpcs/
Trang web của Tổ chức Hàng hải Quốc tế - International Maritime Organization (IMO): http://www.imo.org/
[2] Công Ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 - United Nations Convention on the Law of the Sea 1982 (UNCLOS82) Một số URL tham khảo nội dung bằng tiếng
Anh:
http://www.un.org/Depts/los/convention_agreements/texts/unclos/closindx.htm http://www.globelaw.com/LawSea/lsconts.htm
[3] Đường cơ sở - UNCLOS82, Part II, Article 5, “baseline”
[4] Lãnh hải - hải phận - UNCLOS82, Part II, “territorial sea”
Legal status of the territorial sea, of the air space over the territorial sea and of its bed and subsoil
1 The sovereignty of a coastal State extends, beyond its land territory and internal waters and, in the case of an archipelagic State, its archipelagic waters, to an adjacent