1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản trị rủi ro trong bảo hiểm vật chất xe cơ giới tại công ty cổ phần bảo hiểm hàng không chi nhánh hà nội

78 592 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ ---o0o--- ĐẶNG HUYỀN TRANG QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG BẢO HIỂM VẬT CHẤT XE CƠ GIỚI TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM HÀNG KHÔNG – CHI NHÁNH HÀ N

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-o0o -

ĐẶNG HUYỀN TRANG

QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG BẢO HIỂM VẬT CHẤT

XE CƠ GIỚI TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM

HÀNG KHÔNG – CHI NHÁNH HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

Hà Nội - 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-o0o -

ĐẶNG HUYỀN TRANG

QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG BẢO HIỂM VẬT CHẤT

XE CƠ GIỚI TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM

HÀNG KHÔNG – CHI NHÁNH HÀ NỘI

Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng

Mã số: 60 34 02 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS PHẠM NGỌC THẮNG

Hà Nội - 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Em xin cam đoan luận văn thạc sỹ với đề tài “Quản trị rủi ro trong bảo hiểm vật chất xe cơ giới tại Công ty Cổ phần bảo hiểm Hàng Không – Chi nhánh Hà Nội”

là kết quả của quá trình học tập và nghiên cứu của riêng em

Các số liệu, tài liệu sử dụng trong luận văn hoàn toàn đƣợc thu thập ban đầu hoặc trích dẫn từ các nguồn tin cậy, bảo đảm tính chính xác, rõ ràng; việc xử lý, phân tích và đánh giá các số liệu đƣợc thực hiện một cách trung thực, khách quan

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Em xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới Ban giám hiệu trường Đại học Kinh Tế - Đại học Quốc Gia Hà Nội, đến quý thầy cô trong Khoa Tài Chính – Ngân Hàng, Đại học Kinh Tế - Đại học Quốc Gia Hà Nội; Công ty Cổ phần Bảo hiểm Hàng Không – Chi nhánh Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi để em hoàn thành luận văn này

Em xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới TS Phạm Ngọc Thắng, người đã nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ về kiến thức, phương pháp nghiên cứu, phương pháp trình bày để em có thể hoàn thiện nội dung và cả hình thức của luận văn

Cuối cùng, em xin dành lời cảm ơn chân thành tới gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã tận tình hỗ trợ, giúp đỡ em trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu

Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến tất cả mọi người!

Trang 5

TÓM TẮT

Mục đích của luận văn là phân tích thực trạng quản trị rủi ro trong bảo hiểm vật chất xe cơ giới tại Công ty cổ phần bảo hiểm Hàng Không – chi nhánh Hà Nội

để từ đó đề xuất các giải pháp hạn chế rủi ro tại Công ty

Để đạt đƣợc mục đích nghiên cứu trên, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn là:

- Khái quát, hệ thống hóa các nguyên nhân và cách thức quản trị rủi ro trong bảo hiểm vật chất xe cơ giới thông qua nghiên cứu cơ sở lý luận về rủi ro trong bảo hiểm vật chất xe cơ giới

- Phân tích thực trạng rủi ro và quản trị rủi ro trong bảo hiểm vật chất xe cơ giới tại Công ty cổ phần bảo hiểm Hàng không – Chi nhánh Hà Nội giai đoạn 2008 – 2014, trên cơ sở xem xét các số liệu thực tế, kết quả nghiên cứu điều tra, phỏng vấn thực tế cán bộ ngân hàng Từ đó đánh giá những kết quả đạt đƣợc và hạn chế tại Chi nhánh Hà Nội Đề xuất một số giải pháp hạn chế rủi ro trong bảo hiểm vật chất xe cơ giới tại Công ty

Trang 6

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT i

DANH MỤC CÁC BẢNG ii

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ iii

DANH MỤC BIỂU ĐỒ iii

LỜI NÓI ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG BẢO HIỂM VẬT CHẤT XE CƠ GIỚI 4

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về công tác quản trị rủi ro trong bảo hiểm vật chất xe cơ giới 4

1.2 Cơ sở lý luận về quản trị rủi ro trong bảo hiểm vật chất xe cơ giới 6

1.2.1 Các nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới 6

1.2.2 Những vấn đề cơ bản về bảo hiểm vật chất xe cơ giới 7

1.2.3 Rủi ro trong Bảo hiểm vật chất xe cơ giới 19

1.2.4 Quản trị rủi ro Bảo hiểm vật chất xe cơ giới 21

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 29

2.1 Cách tiếp cận thiết kế nghiên cứu 29

2.2 Phương pháp nghiên cứu: 29

2.3 Tổ chức thu thập số liệu 31

2.4 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 31

CHƯƠNG 3 : THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG BẢO HIỂM VẬT CHẤT XE CƠ GIỚI TẠI CÔNG TY BẢO HIỂM HÀNG KHÔNG – CHI NHÁNH HÀ NỘI 33

3.1 Khái quát chung về Công ty cổ phần Bảo hiểm Hàng Không – Chi nhánh Hà Nội33 3.1.1 Giới thiệu chung về Công ty cổ phần Bảo hiểm Hàng Không (VNI) 33

3.1.2 Quá trình hình thành của VNI – Chi nhánh Hà Nội 34

3.1.3 Tổ chức bộ máy 35

3.1.4 Kết quả kinh doanh của VNI Chi nhánh Hà Nội 36

Trang 7

3.2 Thực trạng Quản trị rủi ro Bảo hiểm vật chất xe cơ giới tại VNI Chi nhánh Hà Nội39

3.2.1 Kết quả kinh doanh bảo hiểm vật chất xe cơ giới tại Chi nhánh Hà Nội39

3.2.2 Kết quả phân tích số liệu điều tra theo bảng hỏi 44

3.2.3 Thư ̣c trạng quản lý bảo hiểm vật chất xe cơ giới tại Công ty bảo hiểm Hàng Không - Chi nhánh Hà Nội……….46

3.3 Đánh giá năng lực quản trị rủi ro tại VNI – Chi nhánh Hà Nội 48

3.3.1 Kết quả đạt được 48

3.3.2 Hạn chế: 48

CHƯƠNG 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO BẢO HIỂM VẬT CHẤT XE CƠ GIỚI 53

4.1 Định hướng phát triển hoạt động kinh doanh bảo hiểm vật chất xe cơ giới của VNI – Chi nhánh Hà Nội trong thời gian tới 53

4.2 Đề xuất một số giải pháp hoàn thiê ̣n công tác quản tri ̣ rủi ro bảo hiểm vâ ̣t chất xe cơ giới tại Công ty Cổ phần bảo hiểm Hàng Không – Chi nhánh Hà Nô ̣i 53

4.2.1 Xây dựng chiến lược kinh doanh và quản trị doanh nghiệp đồng bộ 53

4.2.2 Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát nội bộ 54

4.2.3 Nâng cao trình độ và kỹ năng của cán bộ, công nhân viên trong Công ty 56

4.2.4 Xây dựng cơ sở dữ liệu đầy đủ về khách hàng tham gia bảo hiểm nhằm kiểm soát được những rủi ro có thể xảy ra 58

4.2.5 Có sự liên kết giữa Hiệp hội bảo hiểm (Trong đó các DNBH và VNI) và Ủy ban an toàn giao thông trong việc giảm thiểu những tai tạn xảy ra 59

4.2.6 Xây dựng chính sách bồi thường và giải quyết bồi thường 60

4.3 Một số kiến nghị nhằm nâng cao năng lực QTRR Bảo hiểm vật chất xe cơ giới 61

4.3.1 Kiến nghị với Công ty cổ phần Bảo hiểm Hàng Không 61

4.3.2 Kiến nghị với Nhà nước 62

KẾT LUẬN 64

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 65

Trang 8

7 VNI Công ty Cổ phần Bảo hiểm Hàng Không

Trang 9

ii

DANH MỤC CÁC BẢNG

1 Bảng 3.1 Tổng hợp vốn điều lệ của các doanh nghiệp bảo

2 Bảng 3.2 Doanh thu của VNI - Chi nhánh Hà Nội giai đoạn

3 Bảng 3.3 Kết quả doanh thu theo nhóm nghiệp vụ của VNI -

Chi nhánh Hà Nội giai đoạn 2011 - 2014 37

4 Bảng 3.4 Kết quả doanh thu bảo hiểm vật chất XCG tại VNI

– Chi nhánh Hà Nội giai đoạn 2011 - 2014 39

5 Bảng 3.5 Tỷ lệ bồi thường bảo hiểm vật chất XCG tại VNI –

chi nhánh Hà Nội trong giai đoạn 2008 - 2014 40

6 Bảng 3.6

Tỷ lệ trích lập dự phòng bồi thường bảo hiểm vật chất xe cơ giới so với tổng số tiền bồi thường của VNI – chi nhánh Hà Nội giai đoạn 2008 - 2013

42

Trang 10

iii

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ

1 Sơ đồ 1.1 Quy trình khai thác bảo hiểm xe cơ giới 13

2 Sơ đồ 1.2 Quy trình giám định và bồi thường bảo hiểm vật

29

5 Sơ đồ 3.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy VNI - Chi nhánh Hà Nội 35

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

1 Biểu đồ 3.1 Doanh thu của VNI – Chi nhánh Hà Nội giai

2 Biểu đồ 3.2 Doanh thu bảo hiểm vật chất XCG tại VNI – chi

nhánh Hà Nội giai đoạn 2011 - 2014 39

3 Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ đánh giá tính đầy đủ của cơ sở dữ liệu

4 Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ (%) đánh giá các rủi ro về trục lợi bảo hiểm 45

Trang 11

1

LỜI NÓI ĐẦU

1 Về tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm qua, Việt Nam luôn là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao so với các nước trong khu vực cũng như trên thế giới Nền kinh tế phát triển kéo theo sự gia tăng về số lượng các phương tiện vận tải Số lượng phương tiện gia tăng nhanh trong bối cảnh điều kiện cơ sở hạ tầng giao thông ở nước ta còn quá nhiều bất cập (vừa thiếu về số lượng vừa yếu về chất lượng) thì điều không thể tránh khỏi tình trạng tai nạn giao thông sẽ gia tăng nhanh Cộng thêm đó là ý thức chấp hành luật lệ an toàn giao thông của người dân chưa cao càng làm cho tình trạng tai nạn giao thông trở thành vấn nạn khó có lời giải ở nước ta Để hạn chế và khắc phục hậu quả do tai nạn giao thông gây ra, nhiều chủ phương tiện

đã tìm đến bảo hiểm như là một biện pháp đề phòng hữu hiệu Số lượng xe tham gia bảo hiểm càng nhiều thì nguy cơ rủi ro mà chúng chuyển giao cho doanh nghiệp bảo hiểm càng lớn Vì vậy yêu cầu cấp thiết đối với các doanh nghiệp bảo hiểm là phải xây dựng được mô hình quản trị rủi ro hiệu quả nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh, đảm bảo tăng trưởng và phát triển bền vững

Công ty Cổ phần Bảo hiểm Hàng không ra đời trong bối cảnh tình hình kinh

tế thế giới và trong nước có nhiều biến động phức tạp, khó dự đoán Sau gần 6 năm hoạt động VNI đã phần nào khẳng định được vị trí của mình trên thị trường bảo hiểm Việt Nam, không ngừng tăng trưởng và gia tăng thị phần qua các năm Trong chuỗi thành tích đó không thể không nhắc đến sự phát triển nhanh chóng và bền vững của bảo hiểm vật chất xe cơ giới - nghiệp vụ bảo hiểm có tốc độ tăng trưởng cao đóng góp phần lớn doanh thu toàn công ty Nhận thấy tầm quan trọng của việc phát triển của nghiệp vụ này, những năm qua VNI nói chung và VNI– Chi nhánh

Hà Nội nói riêng đã rất chú trọng tới công tác quản trị rủi ro bảo hiểm vật chất xe cơ giới và coi đây như là một trong những giải pháp để nâng cao hiệu quả kinh doanh Tuy nhiên, giống như nhiều doanh nghiệp bảo hiểm khác, thực tiễn công tác quản trị rủi ro trong bảo hiểm vật chất xe cơ giới ở VNI – Chi nhánh Hà Nội chỉ mới bước đầu hình thành, mô hình tổ chức quản trị rủi ro còn non yếu, công cụ lượng

Trang 12

Trong luận văn này tác giả sẽ đi sâu nghiên cứu và trả lời các câu hỏi:

+ Các rủi ro trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm vật chất xe cơ giới?

+ Thực trạng quản trị rủi ro trong kinh doanh bảo hiểm vật chất xe cơ giới tại VNI- Chi nhánh Hà Nội?

+ Các giải pháp nâng cao khả năng quản trị rủi ro trong kinh doanh bảo hiểm vật chất xe cơ giới?

- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tại Công

ty cổ phần bảo hiểm Hàng Không – Chi nhánh Hà Nội

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Quản trị rủi ro trong bảo hiểm vật chất xe cơ giới

- Phạm vi nghiên cứu : Quản trị rủi ro trong bảo hiểm vật chất xe cơ giới tại Công ty cổ phần bảo hiểm Hàng Không – Chi nhánh Hà Nô ̣i giai đoa ̣n 2011 – 2014

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, học viên đã sử dụng phương pháp thống kê mô tả và thu thập cả dữ liệu sơ cấp và dữ liệu thứ cấp.Trong đó giữ liệu thứ cấp đóng vai trò quan trọng Dữ liệu thứ cấp được lấy từ những nguồn như: Công ty cổ phần Bảo hiểm Hàng không, Tổng Công ty Bảo hiểm dầu khí Việt Nam (PV Insurance), Công

ty cổ phần Bảo hiểm Petrolimex (PJICO), Tổng Công ty Bảo Minh, Hiệp hội bảo

Trang 13

3

hiểm Việt Nam, các báo, tạp chí và internet liên quan đến bảo hiểm Dữ liê ̣u sơ cấp được tác giả thu thập bằng phương pháp điều tra, phỏng vấn chuyên gia

5 Kết cấu của luận văn

Kết cấu luận văn bao gồm :

Lời nói đầu

Chương 1 Cơ sở lý luận và tổng quan về công tác quản trị rủi ro trong bảo hiểm vật chất xe cơ giới

Chương 2 Phương pháp luận và thiết kế nghiên cứu

Chương 3 Thực trạng quản trị rủi ro trong bảo hiểm vật chất xe cơ giới tại VNI – Chi nhánh Hà Nội

Chương 4 Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực quản trị rủi ro trong bảo hiểm vật chất xe cơ giới

Kết luận

Trang 14

4

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC QUẢN

TRỊ RỦI RO TRONG BẢO HIỂM VẬT CHẤT XE CƠ GIỚI

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về công tác quản trị rủi ro trong bảo hiểm vật chất xe cơ giới

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, kinh tế càng phát triển, càng mở cửa thì cạnh tranh diễn ra càng khốc liệt cả về quy mô (phạm vi) lẫn mức độ, doanh nghiệp bảo hiểm cũng không nằm ngoài xu thế đó Cạnh tranh trong ngành bảo hiểm là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp bảo hiểm về sản phẩm, chất lượng, dịch

vụ, nguồn nhân lực, trình độ ứng dụng công nghệ thông tin, phát triển kênh phân phối Đặt trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam sẽ phải cạnh tranh với các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài có tiềm lực tài chính và kỹ năng quản lý hiệu quả Do vậy, việc nghiên cứu nhằm nâng cao năng lực quản trị rủi ro chính là đòi hỏi tất yếu đặt ra đối với mỗi doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam hiện nay để đảm bảo hiệu quả đầu tư, bảo toàn, phát triển vốn và đặc biệt

là duy trì vị thế trước sự gia nhập mạnh mẽ của các doanh nghiệp bảo hiểm quốc tế

1.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Trên thế giới có khá nhiều nghiên cứu liên quan đến hoạt động của bảo hiểm như:

Trong công trình nghiên cứu “ The insurance industry and the financial services authority” của Boleat vào năm 1998 đã xem xét vai trò và tác động của chính phủ tới hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm Việc các chính phủ có xu hướng giảm dần sự phân biệt giữa doanh nghiệp bảo hiểm và các thể chế tài chính khác có thể mang lại lợi ích cho các doanh nghiệp bảo hiểm song lại tạo các các điều kiện bất lợi về chi phí

Tác giả Frederic Mishkin phân tích hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm

trong chương 12 “Các tổ chức tài chính phi ngân hàng” trong cuốn Tiền tệ, ngân hàng và thị trường tài chính đã đánh giá: các doanh nghiệp bảo hiểm là một trong

các tổ chức tài chính phi ngân hàng cùng với các quỹ trợ cấp, quỹ tương hỗ, các

Trang 15

5

công ty tài chính, chính phủ ( khi đứng ra làm trung gian tài chính) Qua các ví dụ thực tế, tác giả đã chỉ ra rằng khi có thu nhập đầu tư cao sẽ khiến cho các doanh nghiệp bảo hiểm có thể giữ cho phí bảo hiểm thấp Tuy nhiên, khi đầu tư giảm cùng với sự sụt giảm lãi suất, cộng với sự gia tăng ồ ạt của tai nạn và các khoản bồi thường đã gây nên tổn thất nặng nề cho các doanh nghiệp bảo hiểm

1.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Xung quanh chủ đề bảo hiểm có khá nhiều công trình đề cập đến, trong đó đáng chú ý có một số công trình sau:

Giáo trình Quản trị kinh doanh bảo hiểm của trường ĐH Kinh tế quốc dân do PGS.TS Nguyễn Văn Định chủ biên năm 2009 và giáo trình Nguyên lý bảo hiểm

của trường ĐH Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh do PGS.TS Phan Thị Cúc chủ biên đã làm rõ các vấn đề cơ bản về công tác quản tri ̣ trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm Đặc biệt vấn đề đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm bao gồm vai trò , các nguyên tắ c, các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm, các hình thức đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm, cách thức tổ chức hoạt động đầu tư và phương pháp đánh giá hiệu quả đầu tư

Nguyễn Hoàng Trung (2013), Một số kiến nghi ̣ và giải pháp nhằm nâng cao hiê ̣u quả khai thác của đại lý bảo hiểm

Luâ ̣n án bằng viê ̣c tổng hợp và phân tích đã đánh giá được m ột cách khái quát tình hình kinh doanh bảo hiểm trên thị trường bảo hiểm Việt Nam hiện nay Vớ i viê ̣c thi ̣ trường Viê ̣t Nam ngày càng phát triển , các công ty bảo hiểm nước ngoài đang ồ a ̣t vào thi ̣ trường Viê ̣t nam thì các côn g ty bảo hiểm Viê ̣t Nam đang chi ̣u sức

ép khá lớn và gặp nhiều khó khăn Chính vì vậy để tồn tại và phát triển được buộc các công ty bảo hiểm Viê ̣t Nam phải có được những chiến lược ma ̣nh mẽ trong quá trình kinh doanh Luâ ̣n án đã đưa ra được những biê ̣n pháp giải quyết cho các công

ty để nâng cao hiê ̣u quả khai thác bảo hiểm đă ̣c biê ̣t là khai thác qua đa ̣i lý bảo hiểm, mô ̣t mô hình cần sự đầu tư và chiến lược của các công ty

Trịnh Chi Mai (2013), Hiệu quả hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam

Trang 16

đã xây dựng được lý luận và phương pháp xác định chỉ tiêu vốn chủ sở hữu tối thiểu của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ trong cơ cấu vốn để đảm bảo cho hoạt động đầu tư đạt được hiệu quả theo hệ thống đánh giá trên

Qua các công trình nghiên cứu nói trên có thể thấy rằng phần lớn các công trình tập trung chủ yếu vào việc đánh giá kết quả hoạt động đầu tư, kinh doanh của của doanh nghiệp bảo hiểm nói chung mà chưa đi sâu vào bất cứ loại hình kinh doanh bảo hiểm nào nổi bật Bên cạnh việc đầu tư kinh doanh bảo hiểm thì các công trình nghiên cứu cũng chưa nêu ra được tầm quan trọng của quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh của bảo hiểm trong khi đó là yếu tố vô cùng quan trọng làm lên thành công của doanh nghiệp Xuất phát từ nhu cầu cần thiết, đặc biệt trong bối cảnh xã hội ngày càng phát triển như Việt Nam hiện nay, với mong muốn góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận cũng như đưa ra những giải pháp hữu ích cho công tác

quản trị rủi ro tại các doanh nghiệp bảo hiểm, tôi đã lựa chọn đề tài: “Quản trị rủi

ro trong bảo hiểm vật chất xe cơ giới tại Công ty Cổ phần bảo hiểm Hàng Không – Chi nhánh Hà Nội”

1.2 Cơ sở lý luận về quản trị rủi ro bảo hiểm vật chất xe cơ giới

1.2.1 Các nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới

Bảo hiểm xe cơ giới là nghiệp vụ bảo hiểm mũi nhọn của nhiều Doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam Trên thị trường bảo hiểm Việt Nam hiện nay có nhiều loại hình Bảo hiểm xe cơ giới Cho nên, chủ xe có nhiều quyền chọn lựa và có thể lựa chọn loại hình bảo hiểm phù hợp nhất với nhu cầu bảo hiểm của mình Đó là các loại hình bảo hiểm:

Trang 17

7

- Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe đối với người thứ ba: Đây là loại hình bảo hiểm bắt buộc theo quy định của Luật kinh doanh bảo hiểm nhằm giải quyết bồi thường cho các thiệt hại về người và tài sản của bên thứ ba do lỗi của chủ

xe phương tiện khi điều khiển xe cơ giới gây ra

- Bảo hiểm vật chất xe (thân xe): nhằm bồi thường các thiệt hại cho chính các phương tiện xe cơ giới được bảo hiểm, xảy ra do các rủi ro, tai nạn bất ngờ ngoài sự kiểm soát của chủ xe

- Bảo hiểm hàng hóa vận chuyển trên xe: nhằm bồi thường những tổn thất, thiệt hại đối với hàng hóa trong quá trình vận chuyển thuộc trách nhiệm bảo hiểm

- Bảo hiểm tai nạn lái phụ xe và người ngồi trên xe: nhằm giải quyết chi trả tiền bảo hiểm cho những trường hợp bị thiệt hại về thân thể đối với lái xe và những người ngồi trên xe bị tai nạn khi đang ở trên xe hoặc lên xuống xe trong quá trình xe đang tham gia giao thông

1.2.2 Những vấn đề cơ bản về bảo hiểm vật chất xe cơ giới

1.2.2.1 Đối tượng và phạm vi bảo hiểm

a) Đối tượng bảo hiểm

Đối tượng bảo hiểm là đối tượng ở trong tình trạng chịu sự rủi ro mà vì mục đích đảm bảo an toàn, phục hồi, tái tạo lại đối tượng bảo hiểm mà một hợp đồng bảo hiểm đã được ký kết Theo đó, bảo hiểm vật chất xe cơ giới có đối tượng bảo hiểm là chính những chiếc xe cơ giới còn giá trị, tham gia lưu thông trên đường bộ, (thường được chia làm 4 loại chính là môtô, xe gắn máy, xe ôtô và xe chuyên dụng khác) Để xác định đối tượng xe cơ giới, người ta thường dùng các tiêu thức sau để nhận diện:

Thứ nhất, xe cơ giới phải được gắn động cơ (khác với xe không có động cơ

như xe đạp, xe do gia súc kéo…)

Thứ hai, xe cơ giới di chuyển trên đất liền không cần đường dẫn bằng chính

động cơ gắn trên nó (khác với tàu hỏa, xe điện…)

Thứ ba, xe cơ giới phải có tối thiểu một chỗ ngồi cho người điều khiển

Tuy nhiên, để được coi là một đối tượng bảo hiểm, xe cơ giới phải đáp ứng

Trang 18

8

một số điều kiện sau: (i) Phải có giá trị sử dụng; (ii) Xác định được giá trị bằng tiền tệ; (iii) Đảm bảo an toàn về mặt kỹ thuật và môi trường, phải được lưu hành hợp pháp (tức là được cơ quan có thẩm quyền cấp đăng ký xe, giấy phép, chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và môi trường, giấy phép lưu hành xe)

Đối với xe mô tô, xe máy chủ xe thường tham gia bảo hiểm toàn bộ vật chất thân xe Ở Việt Nam hiện nay loại hình bảo hiểm này hầu như chưa được thực hiện

Đối với xe ô tô, các chủ xe có thể tham gia toàn bộ hoặc tham gia từng bộ phận (tổng thành) của xe Căn cứ vào đặc điểm kĩ thuật xe ô tô được chia thành các tổng thành sau: tổng thành thân vỏ, tổng thành hệ thống lái, tổng thành hộp số, tổng thành động cơ, tổng thành trục trước, tổng thành trục sau, tổng thành bánh xe Ngoài ra một số loại xe còn có tổng thành các bộ phận chuyên dụng theo yêu cầu được lắp đặt trên xe như xe cứu thương, cứu hoả, xe chở container… Trong đó, tổng thành thân vỏ chiếm tỷ trọng lớn nhất và chịu ảnh hưởng nhiều nhất từ hậu quả của rủi ro Vì vây, đối với nghiệp vụ bảo hiểm vật chất xe, các công ty bảo hiểm phi nhân thọ ở Việt Nam hiện nay thường bán hai loại hình của sản phẩm là bảo hiểm toàn bộ xe hoặc bảo hiểm thân vỏ xe

b) Phạm vi bảo hiểm

Phạm vi bảo hiểm là giới hạn những rủi ro khi xảy ra gây tổn thất cho xe cơ giới sẽ được người bảo hiểm chịu trách nhiệm bồi thường

Rủi ro được bảo hiểm là những thiệt hại vật chất xe do:

- Tai nạn do đâm va, lật đổ: trường hợp này rất dễ xảy ra và cần được bảo hiểm nhất

- Tai nạn do thiên tai: cháy, nổ, bão, lụt, động đất, sét đánh, mưa…

- Mất cắp: Trong trường hợp này chỉ mất cắp toàn bộ xe mới được bảo hiểm, mất cắp bộ phận xe không được bảo hiểm là do các nguyên nhân sau:

Thứ nhất, tránh trục lợi bảo hiểm, vì chủ xe có thể tháo bộ phận xe giấu đi và

đòi nhà bảo hiểm phải bồi thường

Thứ hai, bộ phận xe thường có giá trị không cao Do đó, chi phí xác nhận

mất cắp lớn hơn so với số tiền được bồi thường

Trang 19

9

Thứ ba, nâng cao tinh thần trách nhiệm của người mua bảo hiểm trong việc

bảo vệ tài sản của mình

- Tai nạn do rủi ro bất ngờ khác gây nên

Ngoài việc được bồi thường những thiệt hại vật chất xảy ra cho xe được bảo hiểm trong những trường hợp nêu trên, các công ty bảo hiểm còn thanh toán cho chủ xe tham gia bảo hiểm những chi phí cần thiết và hợp lý như :

+ Chi phí ngăn ngừa và hạn chế tổn thất phát sinh thêm khi xe bị thiệt hại do các rủi ro được bảo hiểm

+ Chi phí bảo vệ xe và kéo xe thiệt hại tới nơi sửa chữa gần nhất

+ Chi phí giám định thuộc trách nhiệm của bảo hiểm

+ Chi phí ra toà (nếu có)

Rủi ro loại trừ: Công ty bảo hiểm không nhận bảo hiểm và không chịu bồi

thường cho những thiệt hại vật chất của xe xảy ra do:

Thứ nhất, hao mòn tự nhiên, hỏng hóc do sử dụng, lão hóa, mất giá, giảm

dần chất lượng, hỏng hóc do khuyết tật hoặc hư hỏng thêm do sửa chữa, trong quá trình sửa chữa (bao gồm cả chạy thử)

Thứ hai, hư hỏng về điện hoặc bộ phận máy móc, thiết bị (kể cả máy thu

thanh điều hoà nhiệt độ), săm lốp hư hỏng mà không do tai nạn gây ra

Thứ ba, mất cắp bộ phận của xe

Ngoài ra để tránh những „nguy cơ đạo đức‟ lợi dụng bảo hiểm, những hành

vi vi phạm pháp luật, luật lệ an toàn giao thông hay một số rủi ro đặc biệt khác, những thiệt hại, tổn thất xảy ra bởi những nguyên nhân sau cũng không được bồi thường:

Một là, hành động cố ý của chủ xe, lái xe

Hai là, xe không đủ điều kiện kỹ thuật và thiết bị an toàn để lưu hành theo

qui định trong điều lệ trật tự an toàn giao thông vận tải đường bộ của liên bộ giao thông vận tải- nội vụ

Ba là, chủ xe (lái xe) vi phạm nghiêm trọng luật an toàn giao thông đường bộ như:

+ Xe không có giấy phép lưu hành;

Trang 20

10

+ Xe không có bằng lái hoặc có nhưng không hợp lệ ;

+ Lái xe bị ảnh hưởng của rượu, bia, ma tuý hoặc các chất kích thích tương

tự khác trong khi điều khiển xe;

+ Xe chở chất cháy, nổ trái phép;

+ Xe chở quá trọng tải hoặc quá số hành khách qui định;

+ Xe đi vào đường cấm;

+ Xe đi đêm không có đèn ;

+ Xe sử dụng để tập lái, đua thể thao, chạy thử sau khi sửa chữa

Bốn là, loại trừ rủi ro có tính “xã hội” với hậu quả lan rộng như: chiến tranh,

bạo loạn…

Năm là, loại trừ những thiệt hại có tính chất hậu quả gián tiếp như: Giảm giá

trị thương mại; ngừng sản xuất, sử dụng, khai thác

Sáu là, tai nạn xảy ra ngoài lãnh thổ nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt

Nam (trừ trường hợp có thỏa thuận riêng)

Bảy là, một số trường hợp khác xuất phát từ phía chủ xe:

+ Chủ xe cung cấp thông tin không đầy đủ, trung thực khi kê khai các nội dung trong giấy bảo hiểm (về tình trạng xe, địa bàn hoạt động của xe)

+ Không thực hiện đầy đủ các quy định về: thông báo tai nạn, truy đòi người thứ ba, vấn đề này phụ thuộc vào yêu cầu quản lý rủi ro của người bảo hiểm, vào những yếu tố khác của hợp đồng như là phí bảo hiểm

Cần lưu ý rằng, trong thời hạn bảo hiểm, nếu chủ xe chuyển quyền sở hữu xe cho chủ xe khác thì quyền lợi bảo hiểm vẫn có hiệu lực với chủ xe mới Tuy nhiên, nếu chủ xe cũ không chuyển quyền lợi bảo hiểm cho chủ xe mới thì công ty bảo hiểm

sẽ hoàn lại phí cho họ và làm thủ tục bảo hiểm cho chủ xe mới nếu họ có yêu cầu

1.2.2.2 Giá trị bảo hiểm, số tiền bảo hiểm, phí bảo hiểm

a) Giá trị bảo hiểm

Xe cơ giới là một loại tài sản được bảo hiểm nên giá trị bảo hiểm xác định bởi giá trị thực tế của xe trên thị trường tại thời điểm tham gia bảo hiểm hay ký kết hợp đồng bảo hiểm Giá trị bảo hiểm được coi là cơ sở để xác định số tiền bảo hiểm,

Trang 21

11

làm căn cứ áp dụng các hình thức bảo hiểm theo mức giá trị bảo hiểm khác nhau (như: bảo hiểm dưới giá trị, ngang giá trị, trên giá trị) và để chi trả bồi thường thiệt hại thực tế cho chủ xe khi có sự kiện bảo hiểm Trên thực tế, giá trị của mỗi loại xe trên thị trường khác nhau và giá cả xe cũng luôn biến động nên thông thường các công ty bảo hiểm dựa vào yếu tố: loại xe, tuổi của xe, thời gian sử dụng xe, thể tích làm việc của xilanh… để xác định giá trị xe tham gia bảo hiểm

Một phương pháp xác định giá trị bảo hiểm các công ty bảo hiểm thường hay

áp dụng đó là căn cứ vào giá trị ban đầu của xe và mức độ khấu hao Cụ thể:

Giá trị bảo hiểm = Giá trị mới – Khấu hao sử dụng (nếu có)

Để đánh giá chính xác giá trị bảo hiểm cần phải kiểm tra xe trước khi nhận bảo hiểm sau đó sẽ đánh giá giá trị thực tế của xe tham giá bảo hiểm

Đối với những xe mới bắt đầu di vào hoạt động việc xác định giá trị ban đầu của xe không quá khó, có thể căn cứ vào các giấy tờ hóa đơn mua bán xe, biên lai lệ phí trước bạ để xác định giá trị xe Đối với các loại xe đã qua sử dụng việc đánh giá đòi hỏi nhiều công đoạn phức tạp để đánh giá về giá trị ban đầu và tình trạng khấu hao cung như tình trạng kỹ thuật và hình thức bên ngoài của xe Trên cơ sở đó công

ty bảo hiểm và chủ xe sẽ thảo luận và đi đến kết luận về giá trị bảo hiểm Đồng thời, chủ xe có thể quyết định tham gia tham gia bảo hiểm với số tiền bảo hiểm nhỏ hơn hay ngang giá trị thực tế của xe Việc quyết định số tiền bảo hiểm sẽ là cơ sở để xác định số tiền bồi thường khi có tổn thất xảy ra

b) Số tiền bảo hiểm

Số tiền bảo hiểm là một khoản tiền nhất định được ghi trong đơn bảo hiểm hoặc giấy chứng nhận bảo hiểm để xác định giới hạn trách nhiệm của người bảo hiểm trong việc bồi thường hoặc chi trả tiền bảo hiểm Như vậy, khi tham gia bảo hiểm vật chất xe cơ giới cho toàn bộ xe hoặc bộ phận của xe tức là chủ xe đã mua bảo hiểm cho toàn bộ hay một phần giá trị của chiếc xe và phần giá trị được bảo hiểm đó được coi là số tiền bảo hiểm (tức là mức trách nhiệm bồi thường cao nhất của công ty bảo hiểm cho những thiệt hại đối với xe tham gia bảo hiểm mỗi vụ tai nạn)

Trang 22

12

Cũng như các loại hình bảo hiểm tài sản khác, trong nhiều trường hợp chủ xe

có thể tham gia với số tiền bảo hiểm nhỏ hơn giá trị bảo hiểm (bao gồm cả trường hợp tham gia bảo hiểm cho bộ phận xe) hoặc tham gia với số tiền bảo hiểm bằng giá trị bảo hiểm tùy thuộc vào khả năng tài chính và mục đích sử dụng Theo nguyên tắc bảo hiểm thì số tiền bảo hiểm không vượt quá giá trị bảo hiểm, tuy nhiên trường hợp chủ xe tham gia với số tiền bảo hiểm lớn hơn giá trị bảo hiểm theo điều khoản

“giá trị thay thế mới” thì vẫn được chấp nhận

c) Phí bảo hiểm

Phí bảo hiểm vật chất xe cơ giới là khoản tiền nhất định mà người tham gia

bảo hiểm phải nộp cho công ty bảo hiểm sau khi kí kết hợp đồng bảo hiểm

Mức phí của hợp đồng bảo hiểm thiệt hại vật chất xe cơ giới được xác định bằng tỷ lệ phí bảo hiểm nhân với số tiền bảo hiểm

Tỷ lệ phí cơ bản thường áp dụng cho thời hạn một năm hợp đồng, cùng với

tỷ lệ phí cơ bản đó là quy định về tỷ lệ giảm phí đối với những hợp đồng có thời hạn dưới một năm

Nhìn chung tỷ lệ phí bảo hiểm cũng được định lượng dựa trên phương pháp thống kê, kết quả tính toán về tần suất xảy ra tổn thất và chi phí trung bình/1 tổn thất và định mức chi phí quản lý của người bảo hiểm

- Xác suất thống kê những vụ tai nạn giao thông xảy ra

- Thiệt hại bình quân mỗi vụ tai nạn giao thông xảy ra

- Thời hạn bảo hiểm (ngắn hạn hoặc dài hạn)

Như vậy phí bảo hiểm phải đóng cho mỗi đầu xe đối với mỗi loại xe cũng có thể được tính theo công thức sau:

P= f + d

Trang 23

13

Trong đó: P: Phí thu đầu mỗi xe

f : phí bồi thường

d: phụ phí

Việc xác định phí bảo hiểm chủ yếu dựa trên cơ sở một số yếu tố sau:

Một là, những yếu tố liên quan đến bản thân chiếc xe và vấn đề sử dụng xe:

- Loại xe: Mỗi loại xe có những đặc điểm kỹ thuật, mức độ an toàn khác

nhau nên phí bảo hiểm vì thế cũng khác nhau

- Mục đích sử dụng xe: Xe lăn bánh trên đường càng nhiều thì mức độ rủi ro

tai nạn càng lớn

- Phạm vi địa bàn hoạt động: xe hoạt động trên những địa bàn có mức độ

phức tạp, nguy hiểm cao nên xác suất gặp rủi ro lớn vì thế mức phí bảo hiểm cho những loại xe này phải cao hơn các xe khác

- Thời gian xe đã qua sử dụng, giá trị xe: vì xe sử dụng càng lâu, mức độ

hao mòn càng nhiều nên tính an toàn càng thấp, khả năng gặp rủi ro lớn

Hai là, những yếu tố liên quan đến người được bảo hiểm, người điều khiển xe

- Giới tính,Tuổi tác của người lái xe

- Kinh nghiệm của người lái xe: Theo số liệu thống kê những lái xe trẻ tuổi bị tai

nạn nhiều hơn so với lái xe lớn tuổi, đặc biệt tình trạng tai nạn trong nhóm thanh thiếu niên sử dụng xe cơ giới ngày một tăng

- Tiền sử của lái xe: cho biết các hành vi vi phạm an toàn giao thông, mức độ

liên quan đến các vụ tai nạn giao thông phát sinh…

- Quá trình tham gia bảo hiểm của người được bảo hiểm

Ba là, việc tính phí bảo hiểm còn tùy thuộc vào giới hạn phạm vi bảo hiểm

và có sự phân biệt giữa bảo hiểm lẻ và bảo hiểm cả đội xe

Cơ chế thưởng bằng việc giảm phí cũng được áp dụng như một biện pháp giữ khách hàng Ở Việt nam hiện nay, tỷ lệ phí bảo hiểm của các công ty bảo hiểm nhìn chung đều có sự phân biệt giữa ôtô và môtô, giữa bảo hiểm toàn bộ và và bộ phận xe

Trang 24

14

Tỷ lệ phí cũng được điều chỉnh cho những trường hợp mở rộng phạm vi bảo hiểm; trường hợp áp dụng mức miễn thường tăng lên và theo số năm xe đã qua sử dụng

1.2.2.3 Quy trình khai thác bảo hiểm và giám định,bồi thường tổn thất

a) Quy trình khai thác bảo hiểm

Sơ đồ 1.1: Quy trình khai thác bảo hiểm xe cơ giới

Tìm kiếm/ nhận thông tin

Phân tích, tìm hiểu, đánh giá rủi ro

Tiến hành đàm phán, chào phí

Theo dõi thu phí, trả hoa hồng Tiếp nhận giải quyết SĐBS

Xin ý kiến các phòng liên quan

Cấp đơn bảo hiểm

Xem xét, đề nghị bảo hiểm

Chấp nhận bảo hiểm

Trên phân cấp

Trang 25

15

Cụ thể như sau:

Trách nhiệm của cán bộ khai thác bảo hiểm :

+ Nhận thông tin

+ Phân tích, tìm hiểu, đánh giá rủi ro

Trong trường hợp đơn bảo hiểm trong phân cấp lãnh đạo phòng sẽ

+ Xem xét đề nghị bảo hiểm

Lãnh đạo phòng và cán bộ khai thác bảo hiểm sẽ :

+ Tiến hành đàm phán và chào phí

+ Chấp nhận bảo hiểm và Cấp đơn bảo hiểm

+ Theo dõi thu phí bảo hiểm, tiếp nhận giải quyết sửa đổi bổ sung

Nếu trường hợp đơn bảo hiểm nằm ngoài phân cấp của lãnh đạo phòng thì việc xem xét đề nghị bảo hiểm và quyết định mức phí sẽ được lãnh đạo cấp trên xem xét và quyết định Sau khi có quyết định nếu được đồng ý cán bộ khai thác bảo hiểm sẽ tiếp tục thực hiện các bước tiếp theo

b) Giám định và bồi thường tổn thất

Giám định tổn thất là quá trình giám định những thiệt hại trong vụ tai nạn Công tác giám định nhằm mục đích xác định xem rủi ro xảy ra có thuộc phạm vi được bảo hiểm hay không Nếu có thì mức độ tổn thất là bao nhiêu để làm cơ sở xác định trách nhiệm bồi thường của nhà bảo hiểm Nếu không xác định chính xác mức

độ thiệt hại thực tế, trách nhiệm của lái xe và trách nhiệm của công ty bảo hiểm sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả hoạt động cũng như uy tín của công ty đối với các khách hàng Thông thường có hai loại giám định tổn thất là giám định độc lập và giám định của công ty bảo hiểm

Giám định của công ty bảo hiểm: việc giám định tổn thất xảy ra được giao

cho giám định viên của công ty bảo hiểm

Giám định độc lập: Việc thực hiện giám định tổn thất xảy ra được giao cho

một giám định viên không thuộc của khách hàng cũng không thuộc của công ty bảo hiểm nhằm đảm bảo tính khách quan

Trang 26

16

Thông thường đối với bảo hiểm vật chất xe cơ giới việc giám định tổn thất được thực hiện dưới sự có mặt của chủ xe hoặc lái xe hoặc người đại diện hợp pháp nhằm xác định nguyên nhân và mức độ thiệt hại Chỉ trong trường hợp hai bên không đạt được sự thống nhất thì mới chỉ định giám định viên kỹ thuật làm trung gian thực hiện giám định Kết luận của giám định viên kỹ thuật được coi là kết luận cuối cùng Trường hợp kết luận của giám định viên kỹ thuật khác với kết luận của giám định viên bảo hiểm thì chi phí giám định do công ty bảo hiểm chịu và ngược lại chủ xe phải chịu chi phí này

Trong trường hợp đặc biệt nếu doanh nghiệp bảo hiểm không thể thực hiện được việc lập biên bản giám định thì có thể căn cứ vào các biên bản, đánh giá của các cơ quan có thẩm quyền và các hiện vật thu được, bản lời khai của nhân chứng

và các bên có liên quan để xác định mức độ thiệt hại

Quá trình giám định đòi hỏi phải đáp ứng các yêu cầu: nhanh chóng, kịp thời, chính xác, tỉ mỉ, khách quan, trung thực…và phải thực hiện theo nguyên tắc chung trong công tác giám định là:

- Xác định nguyên nhân tai nạn, từ đó xác định trách nhiệm của bảo hiểm

- Xác định mức độ thiệt hại thuộc phạm vi, trách nhiệm của nhà bảo hiểm

- Tất cả các thiệt hại thuộc phạm vi, trách nhiệm của nhà bảo hiểm phải được tiến hành giám định

- Trong trường hợp đặc biệt nếu không tiến hành giám định được hoặc thiệt hại nhỏ (dưới 1 triệu đồng) thì căn cứ vào biên bản của các cơ quan chức năng, căn

cứ vào ảnh chụp, các hiện vật thu được, thông báo tai nạn của chủ xe và lái xe để xác định thiệt hại và trách nhiệm của bảo hiểm

- Khi tiến hành giám định phải có đại diện của chủ xe, chủ tài sản bị thiệt hại hoặc người có trách nhiệm được uỷ quyền quản lý, sử dụng

Trang 27

Hoàn chỉnh hồ sơ

Thống nhất giá trị tổn thất/ Quyết toán nghiệm thu sửa chữa

Tổn thất toàn

bộ

Tổn thất theo đánh giá thiệt hại Tổn thất cần

sửa chữa

Đánh giá giá trị còn lại

Khảo sát xem xét giá trị hiện tại

Theo dõi, sửa chữa Giám định bổ sung

Trang 28

18

Cụ thể như sau:

Đối với quy trình giám định

Bước 1: Tiếp nhận thông tin từ phía khách hàng:

Khi xảy ra tai nạn gây tổn thất, khách hàng một mặt phải tìm cách cứu chữa hạn chế tổn thất, mặt khác phải nhanh chóng thông báo với công ty bảo hiểm Khách hàng không được phép thay đổi hiện trường khi chưa có ý kiến của công ty bảo hiểm, trừ trường hợp phải thi hành chỉ thị của cơ quan có thẩm quyền

Khi đã nhận được thông báo tai nạn của khách hàng, giám định viên cần nắm bắt các thông tin cơ bản để thuận lợi cho việc tiến hành giám định như: tên chủ xe; biển kiểm soát; số giấy chứng nhận bảo hiểm, hiệu lực, loại hình tham gia; địa điểm, thời gian xảy ra tai nạn; thông tin ban đầu về tổn thất thuộc phạm vi, trách nhiệm bảo hiểm; số điện thoại, địa chỉ để liên lạc của chủ xe…

Bước 2: Tiến hành giám định:

Công việc giám định phải được tiến hành khẩn trương, khoa học và chuẩn xác Các kết luận đưa ra phải hợp lý, nhất quán, phù hợp với thực tế

Giám định viên sau khi đã giám định, thống nhất giữa các bên và đi đến kết luận cuối cùng sẽ tiến hành hoàn thiện hồ sơ tai nạn để giải quyết bồi thường một cách nhanh chóng

Việc bồi thường sẽ được giám định viên thực hiện theo các bước sau:

(Bước 1) Xem xét hồ sơ khách hàng: Nhân viên bồi thường xem xét, đối

chiếu các thông tin của khách hàng trong hợp đồng gốc theo số hồ sơ Sau đó, thông báo cho khách hàng đã nhận đầy đủ giấy tờ hoặc những giấy tờ nào thiếu cần báo ngay với khách hàng để bổ sung kịp thời vào hồ sơ bồi thường

(Bước 2) Xác định số tiền bồi thường: Sau khi đã hoàn tất hồ sơ bồi thường,

bộ phận bồi thường tính toán số tiền bồi thường cho khách hàng dựa trên:

- Điều khoản của hợp đồng bảo hiểm

- Biên bản giám định, bản kê khai tổn thất

- Bảng theo dõi phí nộp

- Báo giá

Trang 29

19

- Trách nhiệm của người thứ ba (nếu có)

Bước 3: Thông báo bồi thường: Sau khi xác định được số tiền bồi thường,

nhà bảo hiểm sẽ thông báo cho khách hàng chấp nhận bồi thường và đề xuất các hình thức bồi thường với khách hàng

Bước 4: Truy đòi tiền bồi thường của các bên liên quan: Nếu tổn thất xảy ra

có liên quan tới trách nhiệm của người thứ ba, công ty bảo hiểm sẽ thế quyền khách hàng đòi phần trách nhiệm đó Hoặc đòi bồi thường của các nhà tái bảo hiểm nếu hợp đồng đó được tái đi

- Trường hợp tổn thất bộ phận: Các công ty bảo hiểm thường giới hạn mức bồi thường đối với tổn thất bộ phận bằng bảng tỷ lệ giá trị tổng thành xe

- Trường hợp tổn thất toàn bộ: Số tiền bồi thường lớn nhất bằng số tiền bảo hiểm và phải trừ khấu hao cho thời gian xe đã sử dụng hoặc chỉ tính giá trị tương đương với giá trị xe ngay trước khi xảy ra tổn thất

Bảo hiểm trùng: Trong trường hợp chủ xe tham gia bảo hiểm vật chất xe

theo một hay nhiều đơn bảo hiểm khác, theo đúng nguyên tắc hoạt động của bảo hiểm, tổng số tiền mà chủ xe nhận được từ tất cả các đơn bảo hiểm chỉ đúng bằng thiệt hại thực tế

1.2.3 Rủi ro trong Bảo hiểm vật chất xe cơ giới

Khi tham gia bảo hiểm, người tham gia bảo hiểm đã thực hiện chuyển giao rủi ro của đối tượng bảo hiểm sang cho doanh nghiệp bảo hiểm Đối với hầu hết mọi người khi nói đến rủi ro thường nghĩ đến những hậu quả không có lợi hoặc không phải là kết quả mà chúng ta mong đợi Rủi ro trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm là sự không chắc chắn về hậu quả trong tương lai, gây tổn thất cho doanh nghiệp bảo hiểm Mức độ và tính chất rủi ro khác nhau sẽ gây ra những hậu quả khác nhau cho doanh nghiệp bảo hiểm

Bảo hiểm xe cơ giới là một trong những nghiệp vụ truyền thống của các doanh nghiệp bảo hiểm Trên thực tế, nghiệp vụ bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ

xe ô tô đối với người thứ ba và bảo hiểm vật chất xe ô tô thường chiếm tỷ trọng lớn trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm Do vậy, số tiền bồi thường

Trang 30

20

tổn thất của bảo hiểm vật chất xe cơ giới cũng thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng

số tiền bồi thường mà doanh nghiệp bảo hiểm phải chi trả trong quá trình hoạt động Các loại rủi ro trong bảo hiểm vật chất xe cơ giới có thể gặp phải:

Thứ nhất, hành vi gian lận khi khai báo không chính xác thông tin, thuật

ngữ thông tin bất cân xứng giữa người mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm Người mua bảo hiểm luôn có xu hướng cung cấp thông tín theo hướng có lợi cho mình, với mức phí bảo hiểm thấp nhưng khi có sự cố thì lại được hưởng mức chi trả cao Ví dụ điển hình về cung cấp thông tin không chính xác như: khai sai về tình trạng của phương tiện, người điều khiển phương tiện Nguyên tắc bảo hiểm của các doanh nghiệp bảo hiểm luôn từ chối bồi thường nếu xe chở quá tải trọng cho phép Điều này dẫn đến hệ lụy là khách hàng đối phó bằng cách cho lái xe luôn cầm theo

02 phiếu vận chuyển, một để trình công an, bảo hiểm khi có kiểm tra, tai nạn và một trình cho nơi giao hàng

Thứ hai, khai tăng giá trị bồi thường Hành vi trục lợi này rất phổ biến và

mang tính cơ hội nhằm làm tăng thêm phần được bồi thường từ doanh nghiệp bảo hiểm cho các phương tiện gặp rủi ro Hành vi gian lận này còn phát sinh trong việc khai vượt mức độ thương tật, đối với các chấn thương liên quan đến tai nạn giao thông

Thứ ba, dàn dựng tại nạn giả và hiện trường giả Đây là hành vi trục lợi bảo

hiểm có tổ chức của người mua bảo hiểm Đối với hành động gian lận này có thể coi là lừa đảo có tổ chức nhằm chiếm đoạt tài sản của doanh nghiệp bảo hiểm

Thứ tư, gian lận trong nội bộ doanh nghiệp bảo hiểm Đây là hành vi cấu kết

giữa nhân viên doanh nghiệp bảo hiểm với người mua bảo hiểm nhằm trục lợi bảo hiểm Các nghiên cứu trên thế giới cho thấy khoảng hơn 30% số lượng các vụ gian lận bảo hiểm có sự hợp tác của nhân viên bảo hiểm, chủ yếu xuất phát từ hai nguyên nhân: Do mối quan hệ lâu dài giữa hai bên, nhân viên bảo hiểm không muốn mất khách hàng lớn, do đó, buộc phải thực hiện theo mong muốn của khách hàng; hoặc nhân viên bảo hiểm có thể bị hấp dẫn bởi các cám dỗ vật chất đã liên kết với khách hàng nhằm trục lợi bảo hiểm Các loại rủi ro này có thể xuất hiện tại tất cả các khâu trong quá trình kinh doanh bảo hiểm: khai thác, giám định, bồi thường

Trang 31

21

1.2.4 Quản trị rủi ro Bảo hiểm vật chất xe cơ giới

1.2.4.1 Khái niệm quản trị rủi ro trong bảo hiểm vật chất xe cơ giới

Trong bảo hiểm vật chất xe cơ giới, rủi ro tồn tại tất yếu trong quá trình tiến hành hoạt động kinh doanh Có rủi ro được bảo hiểm, có rủi ro không Nhưng cho

dù là rủi ro nào thì khi xảy ra nó đều gây ra những ảnh hưởng nhất định cho doanh nghiệp bảo hiểm Vấn đề là doanh nghiệp bảo hiểm có thể chấp nhận rủi ro ở mức

độ nào là hợp lý trên cơ sở xem xét mối quan hệ với thu nhập

Vậy Quản trị rủi ro trong doanh nghiệp là gì? Đó là quá trình nhận dạng các rủi ro và tổn thất tiềm năng và tìm kiếm các biện pháp để đối phó với các rủi ro và tổn thất tiềm năng đó nhằm đảm bảo an toàn tối đa cho doanh nghiệp

Quản trị rủi ro trong Bảo hiểm vật chất xe cơ giới nhằm mục đích:

- Hạn chế tối đa khả năng xảy ra tổn thất cho doanh nghiệp bảo hiểm về Bảo hiểm vật chất xe cơ giới, duy trì một mức độ rủi ro cho phép trong phạm vi năng lực tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm

- Góp phần bảo đảm hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm diễn

ra suôn sẻ

- Duy trì và mở rộng thị phần kinh doanh về nghiệp vụ

- Bảo đảm sự tồn tại và phát triển bền vững của doanh nghiệp bảo hiểm

Sơ đồ 1.3: Quy trình quản trị rủi ro

Trang 32

22

1.2.4.2 Nội dung của quản trị rủi ro Bảo hiểm vật chất xe cơ giới

Bất kỳ hoạt động quản trị rủi ro nào trong doanh nghiệp bảo hiểm cũng gồm

3 bước của quy trình quản trị rủi ro như trên Với bảo hiểm vật chất xe cơ giới, quy trình này bao gồm:

a) Nhận dạng rủi ro Bảo hiểm vật chất xe cơ giới

Nhận dạng rủi ro trong bảo hiểm vật chất xe cơ giới là việc nhận biết và xác định được các loại rủi ro mà doanh nghiệp bảo hiểm có thể gặp phải trong nghiệp

vụ Khi tiến hành nhận diện rủi ro, doanh nghiệp bảo hiểm phải đặt ra những câu hỏi và tự mình trả lời: doanh nghiệp đã nhận diện được các rủi ro mà họ phải đối mặt hay chưa? Các rủi ro đó có thể phát hiện bằng cách nào? Các rủi ro đã được nhận diện một cách triệt để và theo hệ thống chưa…? Khi doanh nghiệp bảo hiểm nhận biết và xác định được chính xác các rủi ro trong quá trình hoạt động của mình thì việc phân tích tần số và mức độ nghiêm trọng của từng rủi ro và đánh giá tác động có thể có của chúng đối với doanh nghiệp bảo hiểm từ những rủi ro này, để rồi đưa ra các biện pháp kiểm soát rủi ro và tài trợ rủi ro

Rủi ro trong bảo hiểm vật chất xe cơ giới có thể được phát hiện dựa trên các nhân tố:

(1) Loại xe và nhóm xe được bảo hiểm: Rủi ro và mức độ rủi ro của những loại xe và nhóm xe khác nhau là khác nhau Sự phân loại này dựa trên cơ sở tốc đa của xe, tỷ lệ gia tốc, chi phí và mức độ khó khăn khi sửa chữa và sự khan hiếm của phụ tùng Thông thường các loại xe đặc chủng nhập đơn chiếc của các hãng như BMW, AUDI, TOYOTA, HUYNDAI có mức độ rủi ro thấp nhưng khi rủi ro xảy

ra chi phí thay thế phụ tùng và sửa chữa rất đắt

(2) Các yếu tố cá nhân liên quan đến chủ xe, lái xe: Tuổi, khả năng điều khiển xe của chủ xe và lái xe Số liệu thống kê cho thấy những lái xe trẻ tuổi bị tai nạn nhiều hơn so với người lái xe lớn tuổi Tuy nhiên với những lái xe quá lớn tuổi thì rủi ro là rất lớn

(3) Mục đích sử dụng xe: Đây là yếu tố rất quan trọng vì nó giúp Công ty bảo hiểm biết được về mức độ rủi ro có thể xảy ra Xe do một người về hưu sử dụng

Trang 33

23

cho mục đích lưu hành trong phạm vi địa phương trên đường ít rủi ro hơn xe của người kinh doanh vận tải hành khách đường dài Xe càng lưu hành nhiều trên đường nhiều thì rủi ro tai nạn càng lớn

(4) Năng lực của chính nhân viên trong doanh nghiệp bảo hiểm phụ trách kinh doanh bảo hiểm vật chất xe cơ giới và nguồn lực của doanh nghiệp bảo hiểm phục vụ cho công tác quản trị rui ro Nếu năng lực của nhân viên tốt thì khả năng phát hiện rủi ro cao ngay từ khi khách hàng có nhu cầu tham gia bảo hiểm tại Công

ty cũng như trong cả quá trình thực hiện bảo hiểm Năng lực này lại phụ thuộc nhiều vào điều kiện cơ sở vật chất (hệ thống công nghệ thông tin, phương tiện kỹ thuật ) phục vụ cho công tác quản trị rủi ro của doanh nghiệp bảo hiểm Khi những điều kiện này đủ và đáp ứng được yêu cầu thì đây sẽ là nhân tố góp phần nâng cao khả năng nhận diện, khả năng xử lý rủi ro một cách nhanh chóng, kịp thời, chính xác và hiệu quả

(5) Các yếu tố về thị trường như lạm phát, cạnh tranh Ảnh hưởng của các yếu tố này là rất khó xác định nhưng không vì thế mà doanh nghiệp bảo hiểm có thể

bỏ qua

b) Đo lường và đánh giá rủi ro Bảo hiểm vật chất xe cơ giới

Sau khi xác định được các rủi ro tiềm năng, bước quan trọng tiếp theo của quá trình quản lý rủi ro là đánh giá tầm quan trọng của rủi ro Đây là một bước rất quan trọng trong hoạt động quản trị rủi ro Bảo hiểm vật chất xe cơ giới bởi đo lường và đánh giá rủi ro chính xác là cơ sở, là tiền đề cho việc đưa ra các quyết định

có hiệu quả về mức độ chấp nhận rủi ro và biện pháp phòng ngừa, kiểm soát rủi ro Bảo hiểm vật chất xe cơ giới của doanh nghiệp bảo hiểm

Đo lường rủi ro trong bảo hiểm vật chất xe cơ giới của doanh nghiệp bảo

hiểm bao gồm: (1) Đo lường tần số xảy ra rủi ro, (2) Đo lường mức độ nghiêm trọng của rủi ro hay mức độ tổn thất khi rủi ro xảy ra Giữa tần số và mức độ

nghiêm trọng có mối liên hệ với nhau Mối liên hệ có thể là: tần số xảy ra rủi ro cao

và mức độ nghiêm trọng thấp (trong tình huống này, số lượng tình huống rủi ro lớn nhưng tổn thất lại không nhiều) hoặc tần số xảy ra sự cố thấp song lại có mức độ

Trang 34

24

nghiêm trọng cao Một nhà quản trị rui ro giỏi là người phải xác định được đâu là mối liên hệ giữa chúng và định lượng được tổn thất này bằng một con số gần đúng nhất với thiệt hại thực tế khi rủi ro xảy ra thật Phí bảo hiểm là biểu hiện của việc lượng hóa rủi ro này Nếu việc đo lường tần suất xảy ra rủi ro và mức độ nghiêm trọng tổn thất lớn hơn thực tế sẽ gây ra sự lãng phí cho doanh nghiệp bảo hiểm do phải trích lập dự phòng lớn trong khi doanh nghiệp bảo hiểm lại có thể thực hiện kinh doanh sinh lời từ số tiền chênh lệch đó Nghiêm trọng hơn khi tổn thất xảy ra trên thực tế lớn hơn mức độ đo lường dự kiến, do trích lập dự phòng ít, doanh nghiệp bảo hiểm không có đủ tài chính để trang trải chi phí phát sinh dẫn đến tình trạng doanh nghiệp lúng túng trong việc khắc phục tổn thất về tài chính mà rủi ro gây ra Do vậy, đo lường rủi ro cần phải thật chính xác và đây là một bước không thể thiếu trong công tác quản trị rủi ro trong bảo hiểm vật chất xe cơ giới của doanh nghiệp bảo hiểm

c) Kiểm soát rủi ro trong Bảo hiểm vật chất xe cơ giới

Một khi khả năng dẫn đến tổn thất đã được xác định và định lượng, nhà quản trị rui ro cần tiến hành kiểm soát rủi ro nhằm đảm bảo an toàn cho doanh nghiệp mình Kiểm soát rủi ro trong bảo hiểm vật chất xe cơ giới là việc sử dụng các biện pháp nhằm giảm thiểu hoặc ngăn chặn rủi ro và mức độ tổn thất do rủi ro trong Bảo hiểm vật chất xe cơ giới gây ra Đây là một khâu thể hiện rõ nhất chiến lược mỗi doanh nghiệp bảo hiểm về vấn đề quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm vật chất xe cơ giới doanh nghiệp bảo hiểm có thể lựa chọn các công cụ quản

lý rủi ro: né tránh rủi ro (bằng cách loại trừ các cơ hội dẫn đến rủi ro), chấp nhận rủi

ro (doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận tổn thất đó), chuyển giao rủi ro, ngăn ngừa và giảm thiểu tổn thất để đối phó với các vấn đề có thể gặp phải sao cho tổn thất xảy

ra nằm trong khả năng tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm

Không riêng quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh Bảo hiểm vật chất xe

cơ giới mà bất kỳ một cơ chế quản trị rủi ro nào muốn thành công không chỉ dừng ở

3 bước nhận diện rủi ro, đánh giá rủi ro và kiểm soát rủi ro một cách đơn thuần và đơn lẻ Nó phải được tiến hành đồng thời qua tất cả các bước trong toàn bộ quy

Trang 35

25

trình quản trị rủi ro và phải biết biến rủi ro tiềm ẩn thành cơ hội, mang lại giá trị gia tăng cho doanh nghiệp Một mô hình quản trị rủi ro doanh nghiệp hiệu quả bao gồm một số đặc điểm chủ đạo:

+ Không chỉ dừng ở các rủi ro cần có bảo hiểm vật chất, mà phải bao trùm tất cả các loại hình rủi ro khác nhau có ảnh hưởng đến mọi phương diện của hoạt động kinh doanh (rủi ro chiến lược, rủi ro tuân thủ, rủi ro báo cáo tài chính, rủi ro hoạt động)

+ Là một quy trình liên tục, mang tính hệ thống, có sự tham gia của tất cả các cá nhân và các bộ phận chức năng trong doanh nghiệp

+ Không chỉ dừng ở việc giúp giảm thiểu mất mát vật chất, mà còn phải tối

đa cơ hội cho doanh nghiệp

+ Thể hiện sự gắn kết chặt chẽ với chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp, qua

đó trở thành công cụ đảm bảo quyền lợi của các thành viên trong doanh nghiệp và trở thành một bộ phận không thể tách rời của quản trị doanh nghiệp và kiểm soát nội bộ

1.2.4.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới quản trị rủi ro Bảo hiểm vật chất xe cơ giới

a) Nhân tố chủ quan

* Bộ máy tổ chức, giám sát

Bất kỳ một tổ chức khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh đều tổ chức cho mình một bộ máy để điều hành công việc Vì vậy với việc phân tích bộ máy tổ chức chúng ta có thể đánh giá mô hình quản trị rủi ro mà doanh nghiệp bảo hiểm đang tiến hành Bộ máy tổ chức chuyên biệt: mỗi phòng ban đảm nhận một công việc, không chồng chéo chức năng nhiệm vụ của các phòng ban khác sẽ là điều kiện tốt để thực hiện thành công chiến lược kinh doanh và chiến lược quản trị rủi ro trong doanh nghiệp bảo hiểm

Cần có một cơ chế giám sát đủ mạnh và bộ phận giám sát độc lập để có thể nhanh chóng phát hiện những nội dung không còn phù hợp với sự thay đổi của môi trường trong chính sách quản trị rủi ro của doanh nghiệp để từ đó kịp thời đưa ra các biện pháp điều chỉnh góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động quản trị rủi ro, đảm bảo lợi nhuận cho doanh nghiệp bảo hiểm

Trang 36

26

* Chiến lược và chính sách quản trị rủi ro

Một chiến lược và chính sách quản trị rủi ro đúng đắn sẽ dẫn đường cho việc nhận dạng và đánh giá rủi ro chính xác, kiểm soát rủi ro hiệu quả Khi đó doanh nghiệp bảo hiểm có thể chủ động và tự tin đối phó với các rủi ro và ngược lại chiến lược chính sách quản trị rủi ro không đúng và chưa đầy đủ sẽ làm doanh nghiệp bảo hiểm bị động trong việc đương đầu với rủi ro bởi lúc này doanh nghiệp bảo hiểm không có bất kỳ một sự chuẩn bị cả về tài chính và tinh thần cho việc giải quyết tình huống trái ngược với điều mình đã tiên liệu (xác định không đúng, không đầy đủ các rủi ro, tần số xảy ra rủi ro cũng như mức độ tổn thất khi rủi ro mang lại)

* Chất lượng nguồn nhân lực

Chất lượng nguồn nhân lực là yếu tố cơ bản, quyết định đến hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như hoạt động quản trị rủi ro của bất kể một doanh nghiệp không riêng doanh nghiệp bảo hiểm Nguồn nhân lực có chất lượng cao giúp tăng năng suất và hiệu quả công việc Chất lượng chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ cán bộ nhân viên làm công tác kinh doanh và quản trị rủi ro bảo hiểm vật chất xe cơ giới ảnh hưởng rất lớn đến quá trình thực hiện các bước của quy trình quản trị rủi ro

* Điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật

Rủi ro là điều không một ai mong muốn gặp trong cuộc sống Thế nhưng bảo hiểm lại là ngành kinh doanh dựa trên những rủi ro đó Để kinh doanh thành công, doanh nghiệp bảo hiểm phải xác định, hiểu rõ chúng Muốn vậy, ngoài việc xác định trên chính đối tượng bảo hiểm và những yếu tố liên quan đến đối tượng bảo hiểm trong thời điểm khi khách hàng có ý định tham gia bảo hiểm tại công ty còn phải theo dõi đến khi hết hiệu lực hợp đồng bảo hiểm

Vì vậy, hệ thông thông tin quản lý có vai trò quan trọng, giúp cung cấp thông tin và đưa ra những dự báo về nguy cơ rủi ro mà doanh nghiệp bảo hiểm có thể gặp phải trong quá trình bảo hiểm cho một đối tượng bảo hiểm

Ngoài ra, cơ sở vật chất kỹ thuật còn giúp nâng cao năng suất lao động và hiệu quả công việc Phương tiện làm việc đầy đủ, hiện đại cho phép áp dụng các mô

Trang 37

27

hình định lượng tiên tiến trong việc xác định, phân tích đo lường, đánh giá và kiểm soát rủi ro toàn diện, chính xác, hiệu quả

b) Nhân tố khách quan

* Từ môi trường tự nhiên, kinh tế xã hội

Môi trường tự nhiên là nguồn rủi ro cơ bản đối với bất cứ cá nhân doanh nghiệp nào Những thay đổi của môi trường tự nhiên như động đất, núi lửa, bão, lũ lụt luôn

là hiểm họa gây ra các tổn thất cho con người, tác động đến đời sống của người dân, tác động đến các lĩnh vực ngành nghề sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế

Môi trường chính trị, pháp lý, xã hội là nhân tố thúc đẩy sự phát triển của hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp Chính trị ảnh hưởng trực tiếp đến sự

ổn định nền kinh tế nói chung Thể chế chính trị ổn định rất có lợi cho sự phát triển kinh tế và ngược lại Hệ thống pháp luật là “khung xương sống” của nền kinh tế Hệ thống pháp luật đầy đủ, đồng bộ và ổn định sẽ giúp doanh nghiệp bảo hiểm xây dựng chiến lược, chính sách quản trị rủi ro đúng đắn, chính xác và hiệu quả

Khi hiểu rõ các định chế, chuẩn mực xã hội sẽ giúp doanh nghiệp bảo hiểm tìm được hướng đi đúng cho hoạt động kinh doanh, hoạt động quản trị rủi ro cho mình cũng như có các biện pháp để thực hiện và ứng phó kịp thời với thay đổi của

xã hội

Tóm lại, một môi trường kinh tế xã hội ổn định, lành mạnh, một hệ thống các văn bản pháp lý đầy đủ, đồng bộ và ổn định … sẽ tạo điều kiện cho các chủ thể trong nền kinh tế cũng như các doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động có hiệu quả, từ đó tác động trực tiếp và gián tiếp đến hiệu quả công tác quản trị rủi ro của doanh nghiệp bảo hiểm

* Từ phía khách hàng:

Khách hàng là một đối tượng tham gia trực tiếp vào quá trình quản trị rủi ro bảo hiểm vật chất xe cơ giới của doanh nghiệp bảo hiểm Do đó khách hàng cũng trở thành một nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới khả năng quản trị rủi ro của doanh nghiệp bảo hiểm Việc khách hàng khai báo đầy đủ và chính xác thông tin về xe được bảo hiểm, mục đích sử dụng xe và các vấn đề có liên quan khác cũng như có

Trang 38

28

các biện pháp quản lý, sử dụng và bảo vệ xe … là những điều kiện tốt giúp doanh nghiệp bảo hiểm đánh giá đúng năng lực tài chính của khách hàng, xác định chính xác rủi ro có thể gây thiệt hại cho doanh nghiệp bảo hiểm trước khi ra quyết định có thực hiện bảo hiểm cho khách hàng hay không, nếu có thì có biện pháp gì để né tránh và giảm thiểu được nguy cơ rủi ro

Kết luận chương 1

Đối với lĩnh vực bảo hiểm nói chung và bảo hiểm vật chất xe cơ giới nói riêng thì rủi ro chính là hàng hoá để kinh doanh Do vậy, điều quan trọng nhất đối với doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm là phải xác định, nhận diện được rủi ro để từ đó

có phương thức ứng xử phù hợp Chương 1 của luận văn này được xây dựng nhằm khái quát cơ sở lý luận về rủi ro trong bảo hiểm vật chất xe cơ giới và quản trị rủi ro trong bảo hiểm vật chất xe cơ giới Nội dung được phân tích tại Chương 1 sẽ là nền tảng để phân tích, đánh giá thực trạng quản trị rủi ro bảo hiểm vật chất xe cơ giới tại Bảo hiểm hàng không – Chi nhánh Hà Nội

Trang 39

29

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

2.1 Cách tiếp cận thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu các nguyên nhân gây ra rủi ro trong kinh doanh bảo hiểm vật chất XCG có vai trò quan trọng trong việc tìm ra các giải pháp hạn chế rủi ro trong bảo hiểm vật chất XCG Thông qua phần nghiên cứu lý thuyết tại Chương 1, mô hình nghiên cứu sẽ được xác định trong Chương này để định hướng cho việc thiết

kế phương pháp thu thập số liệu, phân tích số liệu

Trên cơ sở mô hình nghiên cứu, các nguyên nhân được phân tích, mô tả và chuyển đổi sang dạng câu hỏi để phỏng vấn một số đối tượng có liên quan về việc đánh giá công tác quản trị rủi ro trong bảo hiểm vật chất XCG tại chi nhánh Các kết quả phỏng vấn sẽ được phân tích sử dụng phương pháp thống kê sơ bộ và đơn giản

để đưa ra các kết luận ban đầu về công tác quản trị rủi ro trong bảo hiểm vật chất XCG tại VNI – Chi nhánh Hà Nội

Các kết quả nghiên cứu từ việc phỏng vấn sẽ được kiểm định thông qua việc phân tích tình hình quản trị rủi ro trong bảo hiểm vật chất xe cơ giới tại Công ty

2.2 Phương pháp nghiên cứu:

Để đánh giá hạn chế trong quản trị rủi ro bảo hiểm vật chất xe cơ giới tại VNI – Chi nhánh Hà Nội tác giả đã phát phiếu điều tra trên cơ sở xây dựng bộ câu hỏi phù hợp với đặc điểm của từng bộ phận cấu thành nguyên nhân và các biện pháp hạn chế rủi ro trong bảo hiểm vật chất xe cơ giới, xem xét tổng hợp ý kiến nhận xét đánh giá của cán bộ nhân viên Công ty nhằm tìm ra các biện pháp hạn chế rủi ro trong bảo hiểm vật chất XCG tại VNI – Chi nhánh Hà Nội

Như vậy nghiên cứu được thực hiện thông qua phương pháp định tính Tác giả sử dụng phương pháp phân tích so sánh, tổng hợp (phân tích mô tả) để rút ra các kết luận, đánh giá có tính định tính về nguyên nhân trong rủi ro và cách thức quản trị rủi ro tại VNI – Chi nhánh Hà Nội

Các bước phân tích được tiến hành như sau:

Ngày đăng: 25/04/2016, 14:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Công ty cổ phần bảo hiểm hàng không – Chi nhánh Hà Nội, 2008-2014. Báo cáo tài chính các năm 2008-2014. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tài chính các năm 2008-2014
2. Công ty cổ phần bảo hiểm hàng không – Chi nhánh Hà Nội, 2008-2014. Báo cáo thường niên năm 2008; 2009; 2010; 2011, 2012,2013,2014. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thường niên năm 2008; 2009; 2010; 2011, 2012,2013,2014
3. Công ty cổ phần bảo hiểm hàng không – Chi nhánh Hà Nội, 2008-2014. Báo cáo về tổn thất và bổi thường tại Chi nhánh Hà Nội các năm trong khoảng từ năm 2008 đến năm 2014. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo về tổn thất và bổi thường tại Chi nhánh Hà Nội các năm trong khoảng từ năm 2008 đến năm 2014
4. Phạm Thị Định và Nguyễn Văn Định, 2008. Kinh tế Bảo hiểm. Hà Nội: Nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế Bảo hiểm
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc dân
5. Nguyễn Văn Định, 2010. Quản trị kinh doanh Bảo hiểm. Hà Nội: Nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị kinh doanh Bảo hiểm
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc dân
6. Quốc hội, 2000. Luật kinh doanh bảo hiểm số 24/2000/QH10 ngày 09/12/2000 và các văn bản hướng dẫn thi hành; Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật kinh doanh bảo hiểm số 24/2000/QH10 ngày 09/12/2000 và các văn bản hướng dẫn thi hành
7. Quốc hội, 2010. Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều Luật Kinh doanh bảo hiểm số 61/2010/QH12 ngày 24/11/2010 và các văn bản hướng dẫn thi hành; Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều Luật Kinh doanh bảo hiểm số 61/2010/QH12 ngày 24/11/2010 và các văn bản hướng dẫn thi hành

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

1  Bảng 3.1  Tổng  hợp  vốn  điều  lệ  của  các  doanh  nghiệp  bảo - Quản trị rủi ro trong bảo hiểm vật chất xe cơ giới tại công ty cổ phần bảo hiểm hàng không   chi nhánh hà nội
1 Bảng 3.1 Tổng hợp vốn điều lệ của các doanh nghiệp bảo (Trang 9)
1  Sơ đồ 1.1  Quy trình khai thác bảo hiểm xe cơ giới  13 - Quản trị rủi ro trong bảo hiểm vật chất xe cơ giới tại công ty cổ phần bảo hiểm hàng không   chi nhánh hà nội
1 Sơ đồ 1.1 Quy trình khai thác bảo hiểm xe cơ giới 13 (Trang 10)
2  Sơ đồ 1.2  Quy trình giám định và bồi thường bảo hiểm vật - Quản trị rủi ro trong bảo hiểm vật chất xe cơ giới tại công ty cổ phần bảo hiểm hàng không   chi nhánh hà nội
2 Sơ đồ 1.2 Quy trình giám định và bồi thường bảo hiểm vật (Trang 10)
Sơ đồ 1.1: Quy trình khai thác bảo hiểm xe cơ giới - Quản trị rủi ro trong bảo hiểm vật chất xe cơ giới tại công ty cổ phần bảo hiểm hàng không   chi nhánh hà nội
Sơ đồ 1.1 Quy trình khai thác bảo hiểm xe cơ giới (Trang 24)
Sơ đồ 1.2: Quy trình giám định và bồi thường bảo hiểm vật chất xe cơ giới - Quản trị rủi ro trong bảo hiểm vật chất xe cơ giới tại công ty cổ phần bảo hiểm hàng không   chi nhánh hà nội
Sơ đồ 1.2 Quy trình giám định và bồi thường bảo hiểm vật chất xe cơ giới (Trang 27)
Sơ đồ 1.3: Quy trình quản trị rủi ro - Quản trị rủi ro trong bảo hiểm vật chất xe cơ giới tại công ty cổ phần bảo hiểm hàng không   chi nhánh hà nội
Sơ đồ 1.3 Quy trình quản trị rủi ro (Trang 31)
Sơ đồ 2.1: Chu trình đánh giá công tác quản trị rủi ro bảo hiểm vật chất XCG - Quản trị rủi ro trong bảo hiểm vật chất xe cơ giới tại công ty cổ phần bảo hiểm hàng không   chi nhánh hà nội
Sơ đồ 2.1 Chu trình đánh giá công tác quản trị rủi ro bảo hiểm vật chất XCG (Trang 40)
Bảng 3.1: Tổng hợp vốn điều lệ của các doanh nghiệp bảo hiểm - Quản trị rủi ro trong bảo hiểm vật chất xe cơ giới tại công ty cổ phần bảo hiểm hàng không   chi nhánh hà nội
Bảng 3.1 Tổng hợp vốn điều lệ của các doanh nghiệp bảo hiểm (Trang 43)
Sơ đồ 3.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy VNI - Chi nhánh Hà Nội - Quản trị rủi ro trong bảo hiểm vật chất xe cơ giới tại công ty cổ phần bảo hiểm hàng không   chi nhánh hà nội
Sơ đồ 3.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy VNI - Chi nhánh Hà Nội (Trang 46)
Bảng 3.2: Doanh thu của VNI - Chi nhánh Hà Nội giai đoạn 2008 - 2014 - Quản trị rủi ro trong bảo hiểm vật chất xe cơ giới tại công ty cổ phần bảo hiểm hàng không   chi nhánh hà nội
Bảng 3.2 Doanh thu của VNI - Chi nhánh Hà Nội giai đoạn 2008 - 2014 (Trang 46)
Bảng 3.3: Kết quả doanh thu theo nhóm nghiệp vụ của VNI - Quản trị rủi ro trong bảo hiểm vật chất xe cơ giới tại công ty cổ phần bảo hiểm hàng không   chi nhánh hà nội
Bảng 3.3 Kết quả doanh thu theo nhóm nghiệp vụ của VNI (Trang 48)
Bảng 3.4: Kết quả doanh thu bảo hiểm vật chất XCG tại VNI – Chi nhánh Hà - Quản trị rủi ro trong bảo hiểm vật chất xe cơ giới tại công ty cổ phần bảo hiểm hàng không   chi nhánh hà nội
Bảng 3.4 Kết quả doanh thu bảo hiểm vật chất XCG tại VNI – Chi nhánh Hà (Trang 50)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w