1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ cấp cục vụ tại ban dân vận trung ương

93 229 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 1,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thời gian qua, việc nâng cao năng lực của đội ngũ này đã được Ban Dân vận Trung ương quan tâm và đạt được một số thành tựu nhất định, tuy nhiên, do quá trình công tác thường xuyên thuyên

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-

VŨ KIỀU OANH

NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN LÝ CỦA ĐỘI NGŨ CÁN

BỘ CẤP CỤC/VỤ TẠI BAN DÂN VẬN TRUNG ƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH

Hà Nội - 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-

VŨ KIỀU OANH

NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN LÝ CỦA ĐỘI NGŨ CÁN

BỘ CẤP CỤC/VỤ TẠI BAN DÂN VẬN TRUNG ƯƠNG

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả xin cam đoan bản luận văn: “Nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ tại Ban Dân vận Trung ương” là công trình nghiên

cứu của riêng tác giả

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và đƣợc trích dẫn đầy

đủ nguồn tham khảo hoặc từ các tài liệu đƣợc nêu ở mục các tài liệu tham khảo

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, tác giả xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Mạnh Hùng (Hội đồng lý luận Trung ương) là người trực tiếp hướng dẫn tác giả trong quá trình nghiên cứu thực hiện luận văn này Nếu không có sự chỉ bảo tận tình

và hướng dẫn kịp thời cùng những tài liệu phục vụ nghiên cứu giá trị kèm những lời động viên khích lệ của TS Nguyễn Mạnh Hùng thì luận văn này không thể hoàn thành

Tác giả xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, khoa Kinh tế Chính trị, và các cơ quan, đoàn thể của trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tác giả trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường

Xin trân trọng cảm ơn các lãnh đạo, cán bộ công tác tại Ban Dân vận Trung ương mà đặc biệt là TS Hà Ngọc Anh – Phó Trưởng Ban Dân vận Trung ương đã tạo điều kiện giúp đỡ tác giả trong quá trình thực hiện, cung cấp các tài liệu, số liệu liên quan đến luận văn

Cuối cùng, tác giả muốn dành lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè và người thân đã hết lòng ủng hộ và tạo điều kiện cho tác giả trong quá trình học tập và nghiên cứu, để tác giả có thể yên tâm hoàn thành luận văn này

Do điều kiện và thời gian nghiên cứu luận văn không nhiều nên nội dung của luận văn không tránh khỏi hạn chế nhất định Tác giả rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô giáo, bạn bè và những người quan tâm

Xin trân trọng cảm ơn !

Trang 5

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT i

DANH MỤC CÁC BẢNG ii

DANH MỤC CÁC HÌNH iii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN LÝ CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CẤP CỤC/VỤ TẠI CÁC BAN ĐẢNG TRUNG ƯƠNG 6

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 6

1.1.1 Các công trình liên quan đến đề tài 6

1.1.2 Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu 8

1.2 Cơ sở lý luận về nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ ở các Ban Đảng Trung ương 9

1.2.1 Tổng quan về năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ tại các Ban Đảng Trung ương 9

1.2.2 Nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ tại các Ban Đảng Trung ương 17

1.3 Kinh nghiệm về nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ tại các Ban Đảng Trung ương 30

1.3.1 Kinh nghiệm của một số cơ quan, đơn vị 30

1.3.2 Một số bài học kinh nghiệm với Ban Dân vận Trung ương 32

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34

2.1 Khung lý thuyết 34

2.2 Quy trình nghiên cứu 34

2.3 Phương pháp thu thập dữ liệu 36

2.3.1 Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp 36

2.3.2 Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp 36

2.3.3 Phương pháp xử lý dữ liệu 37

Trang 6

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN LÝ CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CẤP CỤC/VỤ TẠI BAN DÂN VẬN TRUNG ƯƠNG THỜI GIAN

QUA 38

3.1 Đặc điểm của đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ tại Ban Dân vận ảnh hưởng đến nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ 38

3.1.1 Khái quát về Ban Dân vận Trung ương 38

3.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của Ban Dân vận Trung ương ảnh hưởng đến nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ 39

3.2 Thực tiễn nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ tại Ban Dân vận Trung ương thời gian qua 42

3.2.1 Nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ tại Ban 43

3.2.2 Tiêu chí đánh giá khả năng sáng tạo, xử lý công việc, tổ chức, điều hành, quản lý hoạt động thực tiễn 45

3.2.3 Nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức, phong cách làm việc của đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ tại Ban Dân vận Trung ương 48

3.2.4 Công tác quy hoạch đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ tại Ban Dân vận Trung ương 49

3.2.5 Đánh giá về công tác kiểm tra, giám sát việc nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ tại Ban Dân vận Trung ương 53

3.3 Đánh giá thực trạng nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ tại Ban Dân vận Trung ương thời gian qua 54

3.3.1 Những ưu điểm 54

3.3.2 Những hạn chế 55

3.3.3 Nguyên nhân của hạn chế 56

CHƯƠNG 4: QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN LÝ CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CẤP CỤC/VỤ TẠI BAN DÂN VẬN TRUNG ƯƠNG THỜI GIAN TỚI 58

4.1 Bối cảnh mới và những vấn đề đặt ra đối với nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ tại Ban Dân vận Trung ương 58

Trang 7

4.2 Quan điểm, phương hướng nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ tại Ban Dân vận Trung ương thời gian tới 59

4.2.1 Quan điểm nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ tại Ban Dân vận Trung ương thời gian tới 59 4.2.2 Phương hướng nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ tại Ban Dân vận Trung ương thời gian tới 60

4.3 Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ tại Ban Dân vận Trung ương thời gian tới 61

4.3.1 Hoàn thiện chủ trương, chính sách và tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng về công tác dân vận 61 4.3.2 Đẩy mạnh hơn nữa công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác dân vận 64 4.3.3 Nâng cao hiệu quả công tác quy hoạch, tuyển chọn và luân chuyển cán bộ 66 4.3.4 Chế độ chính sách đối với cán bộ làm công tác dân vận 68 4.3.5 Đẩy mạnh đánh giá kết quả thực hiện công việc theo khung năng lực 69 4.3.6 Hoàn thiện tiêu chuẩn chức danh theo khung năng lực quản lý 69

KẾT LUẬN 73 DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO 75 PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Trang 9

tổ chức, điều hành, quản lý hoạt động thực tiễn 47Bảng 3.4: Thang điểm đánh giá tiêu chí Nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức, phong cách làm việc của đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ tại Ban Dân vận Trung ƣơng49Bảng 3.5: Tổng hợp trình độ đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ tại Ban đến tháng 7 năm

2015 50Bảng 3.6: Thang điểm đánh giá tiêu chí Công tác quy hoạch đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ tại Ban Dân vận Trung ƣơng 52Bảng 3.7: Thang điểm đánh giá tiêu chí Đánh giá về công tác kiểm tra, giám sát việc nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ tại Ban Dân vận Trung ƣơng 53

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1: Khung lý thuyết nghiên cứu của luận văn 34Hình 3.1: Sơ đồ mô hình lựa chọn, bố trí cán bộ 51

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Công cuộc đổi mới do Đảng ta đề xướng và lãnh đạo đã và đang triển khai thực hiện toàn diện và từng bước đi vào chiều sâu Để có thể thực hiện những nhiệm

vụ to lớn của đất nước ở thời kỳ mới thì việc nâng cao năng lực quản lý cho đội ngũ

cán bộ cấp Cục/Vụ giữ một vị trí đặc biệt quan trọng để hoàn thành nhiệm vụ mà

Đảng giao cho

Cán bộ cấp Cục/Vụ tại Ban Dân vận Trung ương có vai trò quan trọng đối với nhiều nghị quyết, chính sách của Đảng Họ là người tham mưu đồng thời là đội ngũ thực thi, triển khai, giám sát, đánh giá hiệu quả đường lối, chính sách về Dân vận trên phạm vi cả nước, là người tham gia cụ thể hóa đường lối dân vận của Đảng, chính sách và giải pháp lớn về công tác dân vận; do vậy, đòi hỏi các cán bộ này phải có năng lực quản lý tốt, toàn diện cả về vĩ mô và vi mô Để thực hiện được vai trò nói trên thì Năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ tại Ban Dân vận Trung ương là yếu tố quan trọng, ảnh hưởng và có tính quyết định đến kết quả hoạt động của Ban Dân vận Trung ương

Thời gian qua, việc nâng cao năng lực của đội ngũ này đã được Ban Dân vận Trung ương quan tâm và đạt được một số thành tựu nhất định, tuy nhiên, do quá trình công tác thường xuyên thuyên chuyển, điều động và được đào tạo ở nhiều lĩnh vực khác nhau nên năng lực quản lý của cán bộ cấp Cục/Vụ tại Ban còn nhiều bất cập như: thiếu tính đồng đều về năng lực, chủ yếu sử dụng kinh nghiệm sẵn có từ cơ quan trước đó mà ít được đào tạo bài bản, thời gian công tác liên tục tại Ban thường ngắn Ngoài ra, bộ máy hoạt động của Ban Dân vận Trung ương đi vào hoạt động

đã lâu, phần đông cán bộ công tác tại Ban Dân vận có bề dày công tác, có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực dân vận thì tuổi đời lại tương đối cao (cán bộ từ 51 tuổi trở lên chiếm trên 40%), phải thực thi nhiều nhiệm vụ mà Bộ Chính trị giao phó, vừa quản lý bộ máy hoạt động của các tỉnh, thành phố trên toàn quốc; lực lượng còn lại gồm những cán bộ chưa có nhiều kinh nghiệm trong công tác dân vận (do được

Trang 12

thuyên chuyển, điều động công tác từ các bộ, ban, ngành khác hoặc từ các tỉnh về); trong khi đó nếu tuyển dụng cán bộ mới tốt nghiệp các trường đại học, hoặc tu nghiệp từ nước ngoài về vào công tác thì kinh nghiệm và kiến thức thực tế hạn chế

và cũng không đúng theo trình tự quy hoạch cho cán bộ cấp Cục/Vụ

Do vậy, việc nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ Cán bộ cấp Cục/Vụ tại Ban

là điều kiện quan trọng và cấp bách nhằm đáp ứng các nhiệm vụ mới, trong bối cảnh nước ta đang hội nhập sâu, rộng với các nước, các khu vực trên thế giới đồng thời trước các thách thức mới đặt ra đối với vai trò và hiệu quả lãnh đạo của Đảng hiện nay

Bên cạnh đó, đến nay chưa có một công trình cụ thể nào nghiên cứu cung cấp cơ sở lý luận về nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ tại Ban Dân vận Trung ương cũng như đánh giá việc nâng cao năng lực quản lý hiện tại của đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ tại Ban Dân vận Trung ương trong hệ thống các Ban Đảng Trung ương

Từ những lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài: “Nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ tại Ban Dân vận Trung ương” làm đề tài nghiên

cứu trong luận văn tốt nghiệp của mình, đây là luận văn có ý nghĩa về mặt lý luận

Nhiệm vụ nghiên cứu:

Tác giả tập trung thực hiện 4 nhiệm vụ nghiên cứu chính như sau:

- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về nâng cao năng lực quản

lý của đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ;

Trang 13

- Tổng hợp một số kinh nghiệm nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ cán

bộ cấp Cục/Vụ ở một số đơn vị và rút ra bài học kinh nghiệm cho Ban Dân vận Trung ương;

- Đánh giá thực trạng nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ cấp Cục/

Vụ tại Ban Dân vận Trung ương theo khung lý thuyết đưa ra;

- Đề xuất một số quan điểm, giải pháp để nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ tại Ban Dân vận Trung ương nhằm đáp ứng yêu cầu hoàn thành nhiệm vụ chính trị mà Đảng giao phó trong thời gian tới

3 Câu hỏi nghiên cứu

“Giải pháp trọng tâm nào nhằm nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ cán

bộ cấp Cục/Vụ tại Ban Dân vận Trung ương đáp ứng yêu cầu hoàn thành nhiệm vụ chính trị mà Đảng giao phó trong giai đoạn tới?”

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: các hoạt động nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ

cán bộ cấp Cục/Vụ tại Ban Dân vận Trung ương

Phạm vi nghiên cứu:

- Phạm vi về nội dung: nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ nói

chung là một chủ đề nghiên cứu rộng lớn, song trong phạm vi nghiên cứu của Luận văn này tác giả tập trung nghiên cứu các khía cạnh của nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ bám sát chức năng của Ban Dân vận Trung ương với tư cách là

cơ quan tham mưu của BCH TW mà trực tiếp và thường xuyên là BCT, BBT về chủ trương, chính sách và giải pháp lớn về công tác dân vận và thực hiện các nhiệm vụ được quy định rõ tại quyết định số 38 – QĐ/TW ngày 15/7/2002 của Bộ Chính trị Cách lựa chọn phạm vi nội dung này vừa đảm bảo tính khách quan về nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ nói chung đồng thời đảm bảo tính đặc thù của cán bộ Ban Dân vận Trung ương bên cạnh đó cũng đảm bảo được nét đặc thù của

Việt Nam

- Phạm vi về không gian và thời gian:

Trang 14

+ Phạm vi về không gian: luận văn chỉ nghiên cứu đội ngũ cán bộ cấp

Cục/Vụ và tương đương tại Ban Dân vận Trung ương

+ Phạm vi về thời gian: số liệu được khai thác, phân tích, đánh giá từ năm

2011 đến nay (tức là từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đến nay)

- Phạm vi đối tượng khảo sát: nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ

cấp Cục/Vụ tại Ban Dân vận Trung ương được phản ánh bởi năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ đã công tác (sau đó nhận nhiệm vụ mới hoặc về hưu), đang công tác và sẽ được tuyển dụng Tuy nhiên, do đặc thù cơ quan Ban Dân vận Trung ương có nhiều cán bộ luân chuyển công tác từ các tỉnh, thành phố tới đồng thời luân chuyển từ Ban đi nơi khác, bên cạnh đó do sự hạn chế về nguồn lực, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ đang công tác tại Ban Dân vận Trung ương (trong phạm vi về thời gian) Cách lựa chọn này vẫn đảm bảo tính khách quan bởi các cán bộ hiện đang công tác tại Ban Dân vận Trung ương đại diện cho cả các cán bộ mới được thuyên chuyển công tác tại Ban và các cán bộ sắp thuyên chuyển công tác tới cơ quan mới theo sự phân công của Đảng

5 Những đóng góp của Luận văn

- Hệ thống hóa và bổ sung thêm một số vấn đề lý luận cơ bản để nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ tại Ban Dân vận Trung ương, làm

cơ sở xây dựng và hoàn thiện chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Ban Dân vận Trung ương hàng năm và cả nhiệm kỳ 2016 – 2020

- Tổng kết một số bài học kinh nghiệm về nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ và rút ra bài học kinh nghiệm cho Ban Dân vận Trung ương

- Đánh giá toàn diện, khách quan thực trạng nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ tại Ban Dân vận Trung ương

- Đề xuất một số giải pháp trọng tâm nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ tại Ban Dân vận Trung ương trong thời gian tới nhằm đáp ứng

những nhiệm vụ chính trị quan trọng của Đảng giao phó

6 Kết cấu của Luận văn

Luận văn được thiết kế theo bố cục gồm: phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được kết cấu gồm 4 chương chính, cụ thể:

Trang 15

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn về nâng

cao năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ tại các Ban Đảng Trung ương

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Thực trạng nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ cấp

Cục/Vụ tại Ban Dân vận Trung ương thời gian qua

Chương 4: Quan điểm, giải pháp nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ cán

bộ cấp Cục/Vụ tại Ban Dân vận Trung ương thời gian tới

Trang 16

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN LÝ CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CẤP

CỤC/VỤ TẠI CÁC BAN ĐẢNG TRUNG ƯƠNG

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1 Các công trình liên quan đến đề tài

Vấn đề đào tạo bồi dưỡng và nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ tại các cơ quan đã có một số công trình nghiên cứu, sách, bài viết đề cập đến một số khía cạnh liên quan đến đề tài Liên quan đến đề tài này có một số công trình và bài viết sau:

- GS.TS Nguyễn Phú Trọng và PGS.TS Trần Xuân Sầm: “Luận cứ khoa học

cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” NXB Chính trị quốc gia, Hà nội, 2001: Trên cơ sở các quan

điểm lý luận và tổng kết thực tiễn, đã phân tích, lý giải, hệ thống hóa các căn cứ khoa học của việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đặc biệt là đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp, từ đó đưa ra những kiến nghị về phương hướng, giải pháp nhằm củng

cố, phát triển đội ngũ này cả về chất lượng, số lượng và cơ cấu cho phù hợp với yêu cầu của sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

- Theo cơ sở Đề tài nghiên cứu khoa học “Đổi mới công tác xây dựng đội

ngũ cán bộ tham mưu của các cơ quan đảng ở Trung ương”; mã số: KHBĐ (2014)

– 02, do đồng chí Nguyễn Văn Quynh, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban

Tổ chức Trung ương làm Chủ nhiệm Đề tài thì trong điều kiện Đảng ta là một đảng duy nhất cầm quyền, đội ngũ cán bộ tham mưu các cơ quan đảng ở Trung ương có vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác xây dựng đảng Năng lực đội ngũ cán bộ tham mưu có ảnh hưởng trực tiếp tới việc đề ra và tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối trong thực tiễn Thời gian qua, bên cạnh những kết quả đạt được cũng bộc

lộ nhiều hạn chế, bất cập, yếu kém về năng lực đội ngũ và công tác tham mưu Có nhiều nguyên nhân, trong đó nổi bật là nhận thức về vị trí, vai trò đội ngũ cán bộ

Trang 17

tham mưu và công tác tham mưu chưa đầy đủ; sự chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ tham mưu và nâng cao năng lực công tác tham mưu chưa tương xứng với vai trò và yêu cầu đặt ra

- Học viện chính trị Nguyễn Ái Quốc, năm 1992 có đề tài nghiên cứu cấp Bộ

về: “Mẫu hình và con đường hình thành người cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp cơ

sở” Nội dung đề tài đề cập đến cấn đề đặc điểm, hình mẫu và con đường hình

thành cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp cơ sở chủ yếu là từ thực tiễn, thực tế số lượng công việc mà đội ngũ cán bộ lãnh đạo này phải đảm bảo rất nhiều nhưng chất lượng đầu vào lại thấp hơn yêu cầu thực tế, việc nghiên cứu cũng chỉ ra rằng về lâu dài cần phải chủ động tạo nguồn cho cán bộ cơ sở và có sự tham mưu về tạo nguồn cho cán bộ cơ sở Vì thế, nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo này là rất lớn

- Lê Văn Hoà: “Nâng cao năng lực lãnh đạo của đội ngũ cán bộ chủ chốt

chính quyền cơ sở”- Luận văn thạc sỹ, Học viện hành chính quốc gia, 2003: Trên

cơ sở khái quát những nội dung cơ bản về chính quyền cơ sở, cán bộ cơ sở, đồng thời làm sáng tỏ các nội dung về lãnh đạo, năng lực lãnh đạo, các yếu tố cấu thành năng lực của đội ngũ cán bộ chủ chốt chính quyền cơ sở, luận văn đã đánh giá thực trạng năng lực của đội ngũ cán bộ chủ chốt chính quyền cơ sở ở nước ta giai đoạn

từ 1999-2004, đồng thời đưa ra giải pháp cơ bản nâng cao năng lực lãnh đạo của đội ngũ cán bộ chủ chốt chính quyền cơ sở ở nước ta

- Trần Thị Mai: “Nâng cao năng lực đội ngũ công chức cấp xã các tỉnh miền

Tây Nam Bộ”- Luận văn thạc sỹ, Học viện Hành chính quốc gia năm 2011: Thông

qua việc nghiên cứu thực tiễn năng lực đội ngũ công chức tại các tỉnh khu vực miền Tây Nam Bộ, luận văn đã đề xuất được một số giải pháp quan trọng nhằm góp phần nâng cao năng lực công chức cấp xã tại các tỉnh khu vực miền Tây Nam Bộ

- Nghị quyết Đại hội lần thứ X của Đảng nêu rõ: “Tổ chức cơ quan tham mưu chuyên trách của Đảng tinh gọn, có năng lực cao cải tiến lề lối làm việc, nâng cao năng lực nghiên cứu, đề xuất, tham mưu, hướng dẫn, kiểm tra của các cơ quan tham mưu của Đảng các cấp” Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI nêu: “Kiện

Trang 18

toàn, nâng cao năng lực các cơ quan tham mưu, đội ngũ cán bộ làm công tác tham mưu, nhất là ở cấp chiến lược” Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ tham mưu là một trong những nội dung, mục đích của nhiệm vụ đổi mới công tác xây dựng đội ngũ cán bộ tham mưu các cơ quan đảng ở Trung ương

- Nghị quyết 30C/NQ-CP ngày 08/11/2011 của chính phủ cũng đã đề cập là:

“Đến năm 2020 xây dựng được một nền hành chính thực sự trong sạch, minh bạch, chuyên nghiệp, hiện đại và hoạt động có hiệu lực, hiệu quả đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và phục vụ người dân, doanh nghiệp

và xã hội, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có đủ phẩm chất, năng lực và trình độ, đáp ứng yêu cầu phục vụ nhân dân và sự phát triển của đất nước” thì việc quan tâm đến năng lực quản lý để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ tại các Ban Đảng Trung ương là việc làm rất cần thiết

1.1.2 Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu

Mặc dù đã có một số công trình nghiên cứu, sách, bài viết đề cập đến một số khía cạnh liên quan đến luận văn như đã nói ở trên, Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một công trình hay luận văn nào nghiên cứu cung cấp cơ sở lý luận về nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ tại Ban Dân vận Trung ương cũng như đánh giá thực trạng nâng cao năng lực quản lý hiện tại của đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ tại Ban Dân vận Trung ương, từ đó đề xuất giải pháp nâng cao năng lực quản lý cho đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ tại Ban Dân vận Trung ương, một trong những ban đặc thù về công tác dân vận trực thuộc BCT, BBT

Để thực hiện luận văn này, tác giả sẽ kế thừa các một số kết quả đã có ở các công trình nghiên cứu nói trên, song tiếp tục nghiên cứu làm rõ:

- Thực trạng nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ tại Ban Dân vận Trung ương

- Đề xuất một số giải pháp tiếp tục nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ cán

bộ cấp Cục/Vụ trong thời gian tới nhằm đáp ứng những nhiệm vụ chính trị quan

trọng của Đảng giao phó

Trang 19

1.2 Cơ sở lý luận về nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ

ở các Ban Đảng Trung ương

1.2.1 Tổng quan về năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ tại các Ban Đảng Trung ương

1.2.1.1 Khái niệm, đặc điểm và nội hàm của Năng lực quản lý

Để có thể đi sâu tìm hiểu nội hàm của năng lực quản lý, tác giả sẽ làm rõ về khái niệm năng lực, quản lý và năng lực quản lý

(a) Có rất nhiều nghiên cứu về năng lực, theo quan điểm của những nhà tâm

lý học năng lực là tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao Các năng lực hình thành trên cơ sở của các tư chất tự nhiên của cá nhân mới đóng vai trò quan trọng, năng lực của con người không phải hoàn toàn do

tự nhiên mà có, phần lớn do công tác, do tập luyện mà có

Tâm lý học chia năng lực thành các dạng khác nhau như năng lực chung và năng lực chuyên môn Năng lực chung là năng lực cần thiết cho nhiều ngành hoạt động khác nhau như năng lực phán xét tư duy lao động, năng lực khái quát hoá, năng lực học tập, năng lực tưởng tượng Năng lực chuyên môn là năng lực đặc trưng trong lĩnh vực nhất định của xã hội như năng lực tổ chức, năng lực âm nhạc, năng lực kinh doanh, hội họa, toán học Năng lực chung và năng lực chuyên môn có quan hệ qua lại hữu cơ với nhau, năng lực chung là cơ sở của năng lực chuyên môn, nếu chúng càng phát triển thì càng dễ đạt được thành năng lực chuyên môn Ngược lại sự phát triển của năng lực chuyên môn trong những điều kiện nhất định lại có ảnh hưởng đối với sự phát triển của năng lực chung Trong thực tế mọi hoạt động có kết quả và hiệu quả cao thì mỗi người đều phải có năng lực chung phát triển ở trình độ cần thiết và có các năng lực chuyên môn tương ứng với lĩnh vực công việc của mình

Những năng lực cơ bản này không phải là bẩm sinh, mà nó phải được giáo dục phát triển và bồi dưỡng ở con người Năng lực của một người phối hợp trong mọi hoạt động là nhờ khả năng tự điều khiển, tự quản lý, tự điều chỉnh ở mỗi cá nhân được hình thành trong quá trình sống và giáo dục của mỗi người

Trang 20

Năng lực còn được hiểu theo một cách khác, năng lực là tính chất tâm sinh lý của con người chi phối quá trình tiếp thu kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo tối thiểu là cái mà người đó có thể dùng khi hoạt động Trong điều kiện bên ngoài như nhau những người khác nhau có thể tiếp thu các kiến thức kỹ năng và kỹ xảo đó với nhịp

độ khác nhau có người tiếp thu nhanh, có người phải mất nhiều thời gian và sức lực mới tiếp thu được, người này có thể đạt được trình độ điêu luyện cao còn người khác chỉ đạt được trình trung bình nhất định tuy đã hết sức cố gắng Thực tế cuộc sống có một số hình thức hoạt động như nghệ thuật, khoa học, thể thao Những hình thức mà chỉ những người có một số năng lực nhất định mới có thể đạt kết quả

Để nắm được cơ bản các dấu hiệu khi nghiên cứu bản chất của năng lực cần phải xem xét trên một số khía cạnh sau: Năng lực là sự khác biệt tâm lý của cá nhân người này khác người kia, nếu một sự việc thể hiện rõ tính chất mà ai cũng như ai thì không thể nói về năng lực Năng lực chỉ là những khác biệt có liên quan đến hiệu quả việc thực hiện một hoạt động nào đó chứ không phải bất kỳ những sự khác nhau cá biệt chung chung nào

Khái niệm năng lực không liên quan đến những kiến thức kỹ năng, kỹ xảo đã được hình thành ở một người nào đó Năng lực chỉ làm cho việc tiếp thu các kiến thức kỹ năng, kỹ xảo trở nên dễ dàng hơn Năng lực con người bao giờ cũng có mầm mống bẩm sinh tuỳ thuộc vào sự tổ chức của hệ thống thần kinh trung ương, nhưng nó chỉ được phát triển trong quá trình hoạt động phát triển của con người, trong xã hội có bao nhiêu hình thức hoạt động của con người thì cũng có bấy nhiêu loại năng lực Do đó khi xem xét kết quả công việc của một người cần phân tích rõ những yếu tố đã làm cho cá nhân hoàn thành công việc, người ta không chỉ xem cá nhân đó làm gì, kết quả ra sao mà còn xem làm như thế nào chính năng lực thể hiện

ở chỗ người ta làm tốn ít thời gian, ít sức lực của cải vật chất mà kết quả lại tốt

Hoặc, Theo Từ điển tiếng Việt “năng lực làm việc” là khả năng, điều kiện chủ

quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó” Một số khái niệm khác lại cho rằng năng lực là khả năng đáp yêu cầu nhiệm vụ được giao của một đối tượng nhất định Theo Bernard Wynne và David Stringer, “Năng lực bao gồm kỹ năng tích

Trang 21

luỹ được, kiến thức, cách cư xử và thái độ của một cá nhân áp dụng để hoàn thành một công việc nào đó” Còn theo định nghĩa tại Báo cáo về nhóm năng lực chủ chốt của Phòng Dịch vụ công cộng và Văn phòng quan hệ lao động của Thống đốc Bang NewYork Hoa Kỳ, thì năng lực được hiểu là: “tất cả các đặc điểm, tính cách của một người góp phần tạo nên kết quả công việc của người đó và góp phần đạt được mục tiêu chung của tổ chức Năng lực bao gồm: Kiến thức, kỹ năng, khả năng và những đặc điểm khác như giá trị, động cơ, sáng kiến và khả năng tự kiểm soát bản thân

Các khái niệm khác nhau xuất phát từ những góc nhìn khác nhau, do đó, khi nghiên cứu năng lực làm việc cần chú ý một số điểm sau:

- Năng lực cá nhân là khả năng thực hiện một hoạt động nào đó của cá nhân

đó Do vậy khi xem xét năng lực của một đối tượng cụ thể chúng ta phải xem xét trong một lĩnh vực hoạt động cụ thể Một cá nhân có thể có năng lực làm việc trong lĩnh vực này nhưng không có năng lực làm việc trong lĩnh vực khác

- Năng lực được phát huy tối đa còn phụ thuộc vào môi trường, điều kiện hoạt động cụ thể vì vậy khi nghiên cứu năng lực cần xem xét năng lực trong mối liên hệ với môi trường hoạt động của một doanh nghiệp cụ thể

- Năng lực có thể thay đổi thông qua hoạt động Do vậy, người ta có thể chủ động tạo ra và phát triển năng lực hoặc ngược lại, nếu không chú ý thỏa đáng, năng lực cũng có thể bị thui chột và không phát huy được trong công việc

Tóm lại, có thể khái niệm năng lực: được hiểu là tất cả kiến thức, kỹ năng, thái độ, phẩm chất đạo đức của một cá nhân để thực hiện một công việc nhất định của người đó nhằm đạt được một mục tiêu của tổ chức Năng lực có thể chia thành nhiều dạng như: năng lực quản lý, năng lực chuyên môn, năng lực tư duy Từ các nhận định trên, ta có thể mô tả năng lực theo công thức:

Năng lực = Kiến thức + Kỹ năng + Thái độ làm việc (b) Vậy quản lý là gì?

Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, kiểm soát các nguồn lực

và hoạt động của hệ thống xã hội nhằm đạt được mục đích của hệ thống với hiệu lực, hiệu quả cao một cách bền vững trong điều kiện môi trường luôn biến động

Trang 22

(c) Xuất phát từ một số khái niệm cơ bản về năng lực và quản lý, tác giả đưa

ra khái niệm về Năng lực quản lý nhằm làm rõ hơn những đặc điểm giữa năng lực

và năng lực quản lý, từ đó, có những vận dụng linh hoạt trong công tác nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ tại Ban Dân vận Trung ương

Qua phân tích ở trên ta có thể thấy năng lực quản lý phụ thuộc vào bối cảnh

và mục đích sử dụng những năng lực đó Năng lực quản lý còn là những đòi hỏi của các công việc, các nhiệm vụ và các vai trò Vì vậy, năng lực quản lý được xem như

là những phẩm chất tiềm tàng của một cá nhân và những đòi hỏi của công việc

Có rất nhiều cách tiếp cận để tìm hiểu về năng lực quản lý, các nhà nghiên cứu trên thế giới đã sử dụng những mô hình năng lực khác nhau trong tiếp cận của mình:

- Những mô hình dựa trên cơ sở tính cách và hành vi cá nhân của cá nhân theo đuổi cách xác định “con người cần phải như thế nào để thực hiện được các vai trò của mình”;

- Những mô hình dựa trên cơ sở các kiến thức hiểu biết và các kỹ năng được đòi hỏi theo đuổi việc xác định “con người cần phải có những kiến thức và kỹ năng gì” để thực hiện tốt vai trò của mình;

- Những mô hình dựa trên cơ sở các kết quả và tiêu chuẩn đầu ra theo đuổi việc xác định con người “cần phải đạt được những gì ở nơi làm việc” Mô hình tiếp cận với sản phẩm đầu ra được các nhà nghiên cứu và thực hành trên thế giới ủng hộ rất nhiều

Theo McLagan (1989), thì năng lực được hiểu là một tập hợp các kiến thức, thái độ, và kỹ năng hoặc cách chiến lược tư duy mà tập hợp này là cốt lõi và quan trọng cho việc tạo ra những sản phẩm đầu ra quan trọng

Theo Bernard Wyne và David Stringer (1997), thì năng lực là kỹ năng, hiểu biết, hành vi, thái độ được tích luỹ mà một người sử dụng để đạt được kết quả công việc mong muốn của họ

Từ các nhận định trên, ta có thể mô tả năng lực theo công thức:

Năng lực quản lý = Kiến thức + Kỹ năng + Thái độ làm việc

Trong đó:

Trang 23

* Kiến thức: Là những hiểu biết về một sự vật hoặc hiện tượng mà con người

có được thông qua trải nghiệm thực tế hoặc được tích lũy từ giáo dục

* Kỹ năng: Là khả năng áp dụng tri thức khoa học vào thực tiễn để giải quyết một công việc cụ thể nào đó

* Hành vi, thái độ: Hành vi, thái độ đối với một công việc được hiểu là quan điểm, quan niệm về giá trị, thế giới quan, suy nghĩ, tình cảm, ứng xử của cá nhân ấy với công việc đang đảm nhận

Như vậy, năng lực quản lý là một tập hợp các kiến thức, kỹ năng và thái độ được tích luỹ mà một người sử dụng để đạt được kết quả công việc mong muốn của họ

Từ các nhận định của các nhà khoa học, chúng ta thấy rằng “Năng lực quản lý” gắn liền với việc thực hiện công việc, được thể hiện bằng kết quả công việc

“Năng lực quản lý” mang đặc thù công việc và đặc trưng cá nhân Khi xem xét năng lực quản lý là làm việc của một cá nhân cần gắn với một công việc cụ thể chứ không thể phân tích chung cho mọi công việc Điều này có nghĩa là các năng lực quản lý luôn bị chi phối bởi bối cảnh cụ thể: Môi trường, bối cảnh cụ thể của đất nước, tổ chức, và vị trí cụ thể trong tổ chức đó

Từ quan điểm của Bernard và David Stringer (1997) và McLagan (1989) về năng lực, có thể vận dụng vào năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ tại Ban Đảng Trung ương gồm khả năng đưa ra sáng kiến có giá trị, dám chịu trách nhiệm, sáng tạo, có khả năng phân biệt cái gì quan trọng đối với công việc, cái gì không quan trọng và có khát vọng, mong muốn đạt được kết quả

Năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ tại Đảng Trung ương là khả năng để làm được công việc được giao, đề xuất xử lý các tình huống trong công việc theo chức năng nhiệm vụ của Ban Đảng Trung ương kể cả các công việc phát sinh

Như vậy, đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ tại Ban Đảng Trung ương phải biết sử dụng tổng hợp các tài sản của mình như kiến thức, kỹ năng và cá tính để đạt được các mục tiêu và mục đích cụ thể Năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ tại Ban Đảng Trung ương gắn với bối cảnh mang tính cá nhân và năng động Ngoài các kiến thức về trình độ lý luận chính trị, quản lý Nhà nước, chuyên môn nghiệp vụ

Trang 24

và kỹ năng thực thi nhiệm vụ đã được trang bị, đối với mỗi cán bộ cấp Cục/Vụ tại Ban Đảng Trung ương còn bao gồm cả khả năng quan hệ giữa cán bộ cấp Cục/Vụ tại Ban với nhau, quan hệ với lãnh đạo, quản lý ban Đảng, cán bộ công chức,với các ngành, đoàn thể cùng khối và với các tổ chức bên ngoài và nhân dân trên cơ sở những thái độ,

kỹ năng giao tiếp cần thiết (riêng đối với mỗi cán bộ cấp Cục/Vụ tại Ban Dân vận Trung ương còn bao hàm cả tính Đảng trong công tác dân vận)

Vì vậy, năng lực quản lý đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ tại Ban Đảng Trung

ương là tổng thể các kiến thức, kỹ năng, thái độ làm việc Năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ tại Ban Đảng Trung ương được thể hiện thông qua kết quả,

chất lượng các công việc của cán bộ cấp Cục/Vụ tại Ban đó đảm nhận

1.2.1.2 Tiêu chí đánh giá năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ ở các Ban Đảng Trung ương

Căn cứ khái niệm về năng lực của Bernard và David Stringer (1997), McLagan (1989), căn cứ chức năng, nhiệm vụ của cán bộ cấp Cục/Vụ Ban Dân vận Trung ương, Năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ tại Ban Đảng Trung ương được tiếp cận trên cơ sở 3 nhóm yếu tố:

- Kiến thức

- Kỹ năng

- Thái độ làm việc

(a) Tiêu chí về kiến thức

Kiến thức của đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ tại Ban Đảng Trung ương ảnh hưởng bởi quá trình đào tạo của bản thân từng cán bộ cấp Cục/Vụ tại Ban Đảng Trung ương và khả năng tiếp cận kiến thức của họ Trình độ đào tạo của cán bộ cấp Cục/Vụ tại Ban Đảng Trung ương thể hiện ở bằng cấp, chứng chỉ, chứng nhận trình

độ đã được đào tạo Trình độ đào tạo thể hiện cấp độ kiến thức, kỹ năng chuyên môn cá nhân thu nhận được từ khoá đào tạo Như vậy, trình độ đào tạo cho biết người cán bộ cấp Cục/Vụ tại Ban Đảng Trung ương đó được đào tạo như thế nào, với chuyên môn gì, thời gian bao lâu và bằng cấp như thế nào Thông tin từ “trình

độ đào tạo” cho ta biết khả năng có thể thực hiện được công việc mang tính nghề

Trang 25

nghiệp mà cá nhân được đào tạo, là một trong những tiêu chuẩn đầu tiên để làm một loại công việc chuyên môn được đào tạo hay đảm trách một vị trí công việc nào đó Như vậy cán bộ cấp Cục/Vụ tại Ban Đảng Trung ương cần có kiến thức cơ bản sau:

(*) Kiến thức chung: Là trình độ được đào tạo qua các trường lớp có văn bằng chuyên môn phù hợp với yêu cầu của công việc Trình độ chuyên môn đào tạo ứng với văn bằng hiện tại của Trưởng, Phó trưởng Ban Dân vận Trung ương , xã, thị trấn là từ trung cấp trở lên Tuy nhiên, khi xem xét về trình độ chuyên môn của cán bộ cấp Cục/Vụ tại Ban Đảng Trung ương cần phải lưu ý đến sự phù hợp giữa chuyên ngành đào tạo với yêu cầu thực tế của công việc

(*) Kiến thức về chuyên môn nghiệp vụ gồm: Các kiến thức cơ bản về chuyên môn nghiệp vụ; Kiến thức để nắm các mục tiêu và đối tượng quản lý, hệ thống các nguyên tắc và cơ chế quản lý của nghiệp vụ thuộc phạm vi mình phụ trách.(3) Hiểu biết về pháp luật gồm: Am hiểu về chính sách pháp luật của Nhà nước về lĩnh vực được phân công; Thông hiểu các thủ tục hành chính, nghiệp vụ của ngành mình quản lý

(b) Tiêu chí về kỹ năng

Kỹ năng của cán bộ cấp Cục/Vụ tại Ban Đảng Trung ương là mức độ thành thạo trong tiến hành một hoạt động cụ thể nào đó Kỹ năng của cán bộ cấp Cục/Vụ tại Ban Đảng Trung ương là một yếu tố quyết định tạo nên năng lực làm việc của cán bộ cấp Cục/Vụ tại Ban Đảng Trung ương cán bộ cấp Cục/Vụ tại Ban Đảng Trung ương phải có các kỹ năng sau:

(*) Kỹ năng tư duy (cán bộ cấp Cục/Vụ tại Ban Đảng Trung ương có khả năng tư duy và tổng hợp công việc một cách linh hoạt để vận dụng vào thực tiễn, có khả năng giải quyết vấn đề một cách tự tin và sáng tạo)

Kỹ năng tư duy là khả năng phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề Kỹ năng

tư duy là đề cập đến năng lực tư duy của cán bộ cấp Cục/Vụ tại Ban Đảng Trung ương cán bộ cấp Cục/Vụ tại Ban Đảng Trung ương có khả năng nhận biết được vấn

đề kể cả vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện công việc và tham mưu với lãnh

Trang 26

đạo giải quyết vấn đề một cách tự tin, sáng tạo Kỹ năng này đòi hỏi phải hiểu chức năng nhiệm vụ của đơn vị của bản thân mình và các chính sách pháp luật liên quan đến lĩnh vực đó

(*) Kỹ năng về chuyên môn nghiệp vụ là khả năng tổ chức công việc một cách có kế hoạch gồm: Kỹ năng lập kế hoạch, kỹ năng thực thi nhiệm vụ, kỹ năng làm việc độc lập

Kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ là khả năng của cán bộ cấp Cục/Vụ tại Ban Đảng Trung ương thể hiện được kiến thức và tài năng trong quá trình hoạt động thuộc chuyên môn của mình Nó bao gồm kỹ năng thực hiện các hoạt động chuyên môn và kỹ năng thực hiện các quy trình chuyên môn

(*) Kỹ năng làm việc với con người

Vai trò của người cán bộ cấp Cục/Vụ tại Ban Đảng Trung ương là cầu nối giám sát đưa các chính sách pháp luật của Nhà nước, các chương trình, kế hoạch công tác của phường/xã/thị trấn đến với người dân để dân hiểu và thực hiện đúng pháp luật; là người thực tiếp thực hiện giao tiếp, trao đổi thông tin, tiếp nhận thông tin từ xã hội, rồi tiến hành phản hồi những thông tin nhận được, giao tiếp với cơ quan, tổ chức doanh nghiệp, công dân Vì vậy người cán bộ cấp Cục/Vụ tại Ban Đảng Trung ương phải có kỹ năng quan hệ, liên quan đến khả năng giao tiếp, phối hợp, chia sẻ và động viên, thu hút người khác với tư cách cá nhân hoặc nhóm

(c) Tiêu chí về thái độ làm việc

Thái độ làm việc của cán bộ cấp Cục/Vụ tại Ban Đảng Trung ương là ý thức, trách nhiệm trong thực thi nhiệm vụ ở vị trí công tác đang đảm nhận Thái độ làm việc của cán bộ cấp Cục/Vụ tại Ban Đảng Trung ương ảnh hưởng bởi phẩm chất cá nhân, đạo đức nghề nghiệp Phẩm chất đạo đức cần của người cán bộ cấp Cục/Vụ tại Ban Đảng Trung ương đó là sự trung thực, khách quan, là ý thức làm việc, trách nhiệm đối với công việc, tinh thần học tập, sáng tạo trong công việc Thái độ làm việc của cán bộ cấp Cục/Vụ tại Ban Đảng Trung ương gồm: Nhận thức về công việc; Yêu thích và tự hào với công việc; Thái độ ứng xử trong thực thi nhiệm vụ

Trang 27

1.2.2 Nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ tại các Ban Đảng Trung ương

1.2.2.1 Khái niệm và sự cần thiết của việc nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ tại các Ban Đảng Trung ương

(a) Một số khái niệm về nâng cao năng lực quản lý

Xét về lĩnh vực hoạt động quản lý nhà nước (mà cụ thể là ở Ban Đảng Trung ương) thì hiệu quả quản lý được nói đến như một công cụ quan trọng đảm bảo chất lượng được nâng cao Không thể phủ nhận rằng nâng cao năng lực quản lý sẽ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước Việc nâng cao năng lực quản lý có ý nghĩa nhằm đánh giá đúng mức khả năng của bộ máy quản lý, trên cơ sở đó tìm ra những phương pháp tối ưu để nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan Ban Đảng

Theo Wikipedia thì nâng cao năng lực quản lý được định nghĩa là “Các hoạt

động tăng cường kiến thức, kỹ năng, hành vi của các cá nhân, hoàn thiện cơ cấu tổ chức và các quá trình hoạt động, nhằm làm cho tổ chức có thể thực hiện được sứ mệnh, mục đích của nó”

Nhiều quan niệm thì cho rằng nâng cao năng lực quản lý có nghĩa là đào tạo

và phát triển nguồn nhân lực Thực tế yếu tố này chỉ là vấn đề cơ bản của nội dung nâng cao năng lực quản lý Trên thực tế, dù là bất kỳ ai đi nữa, người quản lý, người

ra các quyết định, các chuyên gia, khi thực hiện đầy đủ năng lực quản lý của họ thì bản thân họ phát huy được khả năng của họ nhiều hơn Họ cần đến một môi trường

tổ chức và thể chế hỗ trợ để thể hiện những cố gắng, khả năng và năng lực quản lý của bản thân họ Sự không hợp lý của thể chế và tổ chức được coi như là một sự cản trở lớn đối với hiệu quả quản lý của các thành phố và giảm khả năng của các chuyên gia và của mọi người

Theo cách tiếp cận này, hoạt động nâng cao năng lực quản lý trong bất kỳ lĩnh vực nào cũng sẽ thể hiện hiệu quả hơn theo chiến lược gồm hai phần:

Thứ nhất, làm cho vai trò quản lý tương xứng với năng lực của nó Khi mà năng lực quản lý yếu kém, thì việc chủ thể quản lý lựa chọn các biện pháp nâng cao năng lực quản lý là điều cần phải đánh giá cân nhắc cẩn thận

Trang 28

Thứ hai, nâng cao năng lực quản lý bằng cách củng cố lại các thể chế công cộng Điều này có nghĩa là vạch ra các quy tắc và kiềm chế hiệu quả nhằm kiểm soát các hoạt động độc đoán của cấp cao hơn và đấu tranh chống lại các hiện tượng tiêu cực

So với cách tiếp cận về năng lực quản lý thì cách tiếp cận nâng cao năng lực quản lý hoặc phát triển năng lực quản lý giải quyết những vấn đề thể chế vĩ mô Nó

có thể được xem như là cách tiếp cận tổng hợp nhất Với nâng cao năng lực quản lý

có một số các đặc điểm được đưa ra như sau:

Thứ nhất, việc nâng cao năng lực quản lý hướng đến xây dựng “năng lực

quản lý” Mục đích làm tăng chức năng quản lý ở những mặt về kế hoạch, chính sách và cải cách lĩnh vực công Nó giải quyết những vấn đề về tăng trưởng tổng thể,

đa mục tiêu liên quan đến nhiều tổ chức trong cả lĩnh vực công và lĩnh vực tư như môi trường, sức khỏe cộng đồng, xuất khẩu

Thứ hai, nâng cao năng lực quản lý cũng đề cập đến vấn đề cải cách tổ chức

sẽ bị ảnh hưởng do sự không đồng bộ những điều kiện hỗ trợ như trách nhiệm, minh bạch hóa, niềm tin xã hội

Thứ ba, đề cập đến vấn đề môi trường thể chế riêng biệt của từng quốc gia là

yếu tố quan trọng xác định tốc độ và hướng phát triển

Thứ tư, nó khẳng định ở mức độ vĩ mô, những yếu tố xác định năng lực

(chính trị, văn hóa xã hội văn minh, cấu trúc xã hội và sự chân thực giữa cá nhân, nguồn lực xã hội, quốc gia, sắc tộc, tôn giáo ) phải phù hợp với hoàn cảnh Vậy nên những công cụ trợ giúp truyền thống (đào tạo, tư vấn quản lý, điều kiện, cải cách chính sách) không thể cải thiện môi trường thể chế của một đất nước mà không có điều kiện phù hợp

Như vậy, chúng ta có thể hiểu, nâng cao năng lực quản lý được hiểu là sự tổng hợp các biện pháp để phát triển hay cải thiện năng lực quản lý trên lĩnh vực công tác đó Có thể áp dụng một hay nhiều biện pháp nâng cao năng lực quản lý,

tuy nhiên dùng biện pháp nào và vào thời điểm nào còn tùy thuộc vào điều kiện tình hình thực tế, thì mới đạt được kết quả như mong muốn

Trang 29

(b) Sự cần thiết của việc nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ tại các Ban Đảng Trung ương

Nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ tại các Ban Đảng Trung ương có tầm quan trọng và ý nghĩa rất lớn đối với quá trình xây dựng và công cuộc đổi mới đất nước hiện nay Điều đó được thể hiện trên nhiều khía cạnh:

Nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ tại các Ban Đảng Trung ương sẽ đáp ứng được yêu cầu về phát triển kinh tế xã hội Nguồn nhân lực luôn luôn đóng vai trò quyết định vào quá trình sản xuất, tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội Với những thành tựu đạt được từ công cuộc đổi mới, nền kinh tế đã

có những bước phát triển khá, đời sống nhân dân được cải thiện Tuy nhiên những đổi mới trong cơ cấu kinh tế còn chậm, tỷ lệ thiếu việc làm ở nông thôn cao, sự phân hóa giàu nghèo có xu hướng gia tăng giữa khu vực thành thị và nông thôn Do

đó yêu cầu về phát triển kinh tế nhanh và bền vững được đặt ra và để làm được điều

đó thì đào tạo thích ứng nguồn nhân lực là một yếu tố quan trọng để thực hiện các mục tiêu kinh tế, xã hội Đối với nguồn nhân lực là đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ tại các Ban Đảng Trung ương những người là lực lượng chủ chốt thực thi các nhiệm vụ quản lý kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng tại địa phương, người cụ thể hóa các chính sách của BCT, BBT đến với nhân dân thì yêu cầu nâng cao năng lực

là không thể không đặt ra

Nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ tại các Ban Đảng Trung ương sẽ đáp ứng được yêu cầu cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Đảng đối với nhân dân Cải cách hành chính hiện nay đang được xem là một động lực mạnh mẽ để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phát huy dân chủ và cải thiện nhiều mặt đời sống nhân dân ở nhiều quốc gia trên thế giới Ở Việt Nam công cuộc cải cách hành chính được thực hiện từng bước và đã thu được nhiều kết quả đáng kể Cải cách hành chính đang thể hiện rõ vai trò của mình trong việc đẩy nhanh sự phát triển đất nước Sự phát triển của nông nghiệp, công nghiệp và dịch

vụ, đầu tư nước ngoài có xu hướng tăng, nhiều vấn đề mới nảy sinh cần phải được giải quyết Bên cạnh đó là bối cảnh toàn cầu hóa đang đặt Việt Nam trước rất nhiều

Trang 30

cơ hội và thách thức mới Điều đó có nghĩa là cải cách hành chính ở Việt Nam còn rất nhiều vấn đề đặt ra cần được tiếp tục giải quyết trong đó đặc biệt chú trọng tới cải cách đội ngũ cán bộ, công chức nói chung và cán bộ, công chức chính quyền cơ

sở nói riêng Trong nền hành chính quan liêu trước đây, đội ngũ cán bộ công chức không đáp ứng được yêu cầu mới, chỉ đạo thực hiện máy móc, giáo điều, thiếu kinh nghiệm thực tiễn, dẫn tới những chính sách nóng vội sao chép không phù hợp làm cho tình hình khủng hoảng kinh tế, xã hội trầm trọng Hiện nay với sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã tạo ra những bước chuyển căn bản từ trong tư duy nhận thức đến điều chỉnh hàng loạt các chính sách, thể chế Trong chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước với mục tiêu xây dựng nền hành chính nhà nước dân chủ trong sạch vững mạnh từng bước hiện đại, hàng loạt các chủ trương, giải pháp đã được đưa ra Trong đó một giải pháp hết sức quan trọng đó là xây dựng đội ngũ cán bộ công chức trong sạch, có năng lực, thiết lập kỷ cương, chống quan liêu, tham nhũng Cải cách hành chính là vấn đề quan trọng trong việc hoàn thiện bộ máy công quyền có quan hệ trực tiếp tới lợi ích của nhân dân

Nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ còn là giải pháp

để tránh nguy cơ tụt hậu Với xu hướng hội nhập và phát triển về kinh tế như hiện nay, nếu không Nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ tại các Ban Đảng Trung ương sẽ không đáp ứng được yêu cầu về sự phát triển kinh tế xã hội khi đời sống nhân dân và mặt bằng dân trí ngày một nâng cao Ngoài ra nếu không Nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ tại các Ban Đảng Trung ương sẽ không vươn tới một nền công vụ hiện đại là xu hướng phát triển chung ở các quốc gia Trên thực tế đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ tại các Ban Đảng Trung ương nói chung và tại Ban Dân vận Trung ương nói riêng về năng lực còn hạn chế Một số cán bộ chưa đủ trình độ chuyên môn nghiệp vụ để giải quyết công việc, trình độ và năng lực chưa ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ, còn hẫng hụt về nhiều mặt: tri thức và năng lực quản lý nhà nước về xã hội, kinh tế thị trường, pháp luật, hành chính và khả năng vận dụng khoa học công nghệ hiện đại Chính vì thế

mà yêu cầu về chỉnh đốn và Nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ cấp

Trang 31

Cục/Vụ tại các Ban Đảng Trung ương trong giai đoạn hiện nay là rất cần thiết và có vai trò quan trọng

1.2.2.2 Nội dung và tiêu chí để đánh giá việc nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ tại các Ban Đảng Trung ương

Bước vào thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, để đạt được mục tiêu nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ tại các Ban Đảng Trung ương

đã đề ra, các cơ quan, ban ngành trong khối đã đưa ra quan điểm và định hướng chung để nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ tại Ban là:

- Coi đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ tại Ban là đội ngũ cán bộ then chốt trong việc triển khai thực hiện các chương trình, kế hoạch hành động của BCT, BBT

- Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ tại Ban chuyên nghiệp, có kiến thức và kỹ năng cần thiết và tâm huyết, giỏi chuyên môn, đủ tinh thông giải quyết được công việc hiệu quả đáp ứng được yêu cầu trong tình hình mới

- Phân công nhiệm vụ rõ ràng cho các cán bộ cấp Cục/Vụ tại Ban và trên cơ

sở tiêu chuẩn chức danh sẽ xác định các định mức công việc rõ ràng làm căn cứ đánh giá kết quả công việc hàng tháng, quí, năm

- Có chính sách đầu tư thích đáng để nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ tại Ban, xây dựng các cơ quan mẫu trong cùng khối để các đơn

vị khác học tập và nhân rộng, tiến tới có đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ tại Ban Đảng Trung ương vừa có phẩm chất đạo đức tốt và có năng lực chuyên môn vững vàng đáp ứng được các yêu cầu trong tình hình mới

Xuất phát từ những cơ sở nêu trên, tác giả đưa ra một số tiêu chí để đánh giá việc nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ tại các Ban Đảng Trung ương, như sau:

(a) Tiêu chí đánh giá về nâng cao trình độ

Để có thể đánh giá được tiêu chí này, có thể dựa trên việc đánh giá công tác đào tạo, bồi dưỡng và tập huấn đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ tại các Ban

Cán bộ quản lý là một nghề vì vậy cần phải được đào tạo bài bản thì mới đảm đương được nhiệm vụ Nâng cao trình độ ở đây được hiểu là trình độ về chuyên môn, nghiệp vụ và trình độ cả về góc độ quản lý

Trang 32

Đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ tại các Ban Đảng Trung ương được bổ nhiệm chủ yếu từ các cán bộ công chức tại các phòng ban và có nhiều cán bộ luân chuyển công tác

từ các tỉnh, thành phố tới đồng thời luân chuyển từ Ban đi nơi khác Tuy vậy phần nhiều cán bộ cấp Cục/Vụ tại các Ban Đảng Trung ương do hoàn cảnh khác nhau nên việc học tập để nâng cao trình độ chuyên môn còn hạn chế và chủ yếu là sau khi được bầu, bổ nhiệm vào vị trí quản lý mới đi học thêm để nâng cao hơn Vì vậy để đáp ứng theo yêu cầu thì đang còn một khoảng cách mà chúng ta đã phân tích trên vì vậy cần phải bổ sung cập nhật các kiến thức và các kỹ năng quản lý thông qua công tác đào tạo

(b) Tiêu chí đánh giá khả năng sáng tạo, xử lý công việc, tổ chức, điều hành, quản lý hoạt động thực tiễn

Dựa trên việc đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ của cán bộ cấp Cục/Vụ là một công việc hết sức quan trọng của công tác quản lý cán bộ, cụ thể là đánh giá đánh giá khả năng sáng tạo, nhanh nhạy trong xử lý công việc, trong công tác quản lý, điều hành Trong đó:

Khả năng Sáng tạo trong công việc: là khả năng tìm cách giải quyết công việc một cách khoa học để đạt kết quả cao nhất; vận dụng sáng tạo những kiến thức đã học vào trong công việc; khai thác được những thế mạnh của Cục/Vụ mình phụ trách

Năng lực lập kế hoạch bao gồm: xác định rõ các công việc cần làm trong

tháng/quí/năm; có các kế hoạch giải pháp và công cụ phù hợp để đạt mục tiêu; các

kế hoạch ứng phó với sự bất định và thay đổi; khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn lực của Cục/Vụ mình phụ trách; thống nhất được các hoạt động tương tác giữa các Cục/Vụ trong Ban; lập kế hoạch làm cho việc kiểm soát được dễ dàng

Năng lực tổ chức, điều hành, quản lý hoạt động thực tiễn bao gồm: giải quyết

công việc theo thứ tự ưu tiên; từ chối những công việc không quan trọng và không cấp bách; phân công những công việc phù hợp cho cấp dưới; hoàn thành công việc đúng thời hạn, chất lượng tốt; dành thời gian đào tạo chuyên môn nghiệp vụ cho nhân viên

Qua việc đánh giá chúng ta có thể thấy được năng lực quản lý hiện tại của các cán bộ để có thể thực hiện các giải pháp nâng cao năng lực quản lý hoặc bố trí cán bộ một cách phù hợp

Trang 33

(c) Tiêu chí đánh giá về nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức, phong cách làm việc

Tiếp tục nâng cao phẩm chất chính trị, được đánh giá trên tiêu chí: Luôn luôn chấp hành nghiêm chỉnh đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước

và quy định, quy tắc ứng xử của cơ quan, nơi cư trú Nâng cao đạo đức cách mạng, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội thực dụng; đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và các tệ nạn tham nhũng, tiêu cực

Đạo đức là sự tổng hòa những nguyên tắc, quy định, chuẩn mực nhằm hướng con người tới cái chân, thiện, mỹ, chống lại cái giả, cái ác, cái sai trong mỗi thời đại lịch sử, phù hợp với tiến bộ xã hội để con người tự giác điều khiển hành vi của mình trong quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với xã hội Đã là cán bộ Ban Đảng Trung ương thì phải có đạo đức cách mạng Giữ được đạo đức cách mạng mới là người cán bộ chân chính

Tác phong và lề lối làm việc phù hợp với công việc của Ban Đảng, luôn thể hiện được tinh thần sẵn sàng làm việc, niềm đam mê và thái độ làm việc nghiêm túc

(d) Tiêu chí về công tác quy hoạch

Quy hoạch để lựa chọn được những người thực sự có đức, có tài để đưa vào nguồn kế cận, dự bị; từng bước thử thách, giao nhiệm vụ từ thấp đến cao, có kế hoạch cụ thể để đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện ở trường, lớp và trong thực tiễn nhằm tạo nguồn bổ sung cán bộ, lãnh đạo, quản lý các cấp có đủ phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của thời kỳ mới Công tác quy hoạch bố trí chức danh cán bộ chủ chốt đảm bảo tính kế thừa và liên tục trong đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ cần thực hiện theo nguyên tắc tập trung dân chủ, khách quan và công khai Nếu làm tốt công tác quy hoạch đối với các chức danh cán bộ chủ chốt cấp Cục/Vụ thì việc

dự kiến nhân sự trước khi Đại hội Đảng sẽ đảm bảo chất lượng theo yêu cầu quy hoạch Thay thế cán bộ là quy luật khách quan của xã hội do đó để chủ động trong việc thay thế cán bộ cấp Cục/Vụ thì nhiệm vụ quan trọng của công tác cán bộ là tạo nguồn cán bộ sau này trên cơ sở quy hoạch

Chú trọng tạo nguồn cán bộ cho quy hoạch bao gồm: thu hút nhân tài, tiếp nhận tuyển dụng những học viên có kết quả học tập tốt trong quá trình đào tạo, bồi

Trang 34

dưỡng, những cán bộ có thành tích xuất sắc trong hoạt động thực tiễn, những sinh viên xuất sắc có khả năng trở thành cán bộ quản lý

Nâng cao chất lượng công tác quy hoạch theo hướng: chủ động, có tầm nhìn

xa, đáp ứng cả trước mắt và lâu dài, cấp dưới cơ bản phải có độ tuổi trẻ hơn cấp trên, nguồn quy hoạch mới phải có độ tuổi trẻ hơn cán bộ đang đương chức Trong quy hoạch phải có người dân tộc thiếu số, có cán bộ nữ

Ngoài quy trình “quy hoạch” thông thường đang áp dụng, việc phát hiện và bồi dưỡng cái mới, cái độc đáo cũng rất cần thiết, nhằm tạo nên những nhân tố mới,

có tính đột phá Điều kiện mới đòi hỏi sử dụng cán bộ theo cách mới, nhằm khuyến khích cái “Tôi” của cán bộ, chứ không chỉ nhìn vào những phẩm chất quen thuộc và phổ biến mà hầu như cán bộ nào được “quy hoạch” và bổ nhiệm đều thuộc lòng

(e) Tiêu chí đánh giá về công tác kiểm tra giám sát

Trong những năm qua công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực quản lý; công tác quy hoạch của đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ tại các Ban Đảng Trung ương được thực hiện tương đối khoa học nhưng chưa sâu, số lượng các cuộc kiểm tra còn chưa nhiều, và chất lượng các đợt kiểm tra còn thấp thế nên chất lượng nâng cao năng lực quản lý còn hạn chế Việc kiểm tra, giám sát cần phải thực hiện thường xuyên, nghiêm túc hàng tháng, hàng quý, hàng năm Sau mỗi đợt kiểm tra, cần đánh giá cán bộ cấp Cục/Vụ phải thực hiện theo từng bước: cán bộ cấp Cục/Vụ tự đánh giá; tập thể cán bộ cấp Cục/Vụ, nhân viên ở đơn

vị, ban lãnh đạo và đại diện tổ chức đảng ở đơn vị, trao đổi, thảo luận một cách dân chủ, hướng tới sự hoàn thiện nhân cách, năng lực con người Nếu cán bộ cấp Cục/Vụ, được đa số cán bộ, nhân viên trong đơn vị và ở địa bàn dân cư công nhận

đó là cán bộ tốt, phù hợp với hồ sơ cán bộ, công chức thì tập thể lãnh đạo của đơn vị tôn trọng ý kiến của đa số và chấp nhận Ngoài ra, việc kiểm tra giám sát không chỉ dừng lại ở công tác cán bộ, mà phải ở tất cả các khâu như: công tác quy hoạch (đã làm đúng các bước quy hoạch chưa), công tác đào tạo đã thực hiện đủ và đúng các lĩnh vực cần đào tạo chưa, bố trí cán bộ đã đúng với chuyên môn chưa

Trang 35

Nhìn chung, các tiêu chí trên được đưa ra dựa trên các quan điểm và định

hướng chung do BCT, BBT và tính chất công việc đặc thù của Ban Đảng nói chung Tuy nhiên, đối với Ban Dân vận Trung ương – là một trong những Ban chịu sự quản

lý của Ban Đảng (trực tiếp là BCT, BBT) có những nét đặc thù riêng biệt, mà khi đánh giá dựa trên các tiêu chí đã đề cập ở trên phải hết sức lưu ý các đặc điểm riêng sau: xuất phát từ Quy định số 78/QĐ-BCT của Bộ Chính trị, đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ tại Ban Dân vận Trung ương có hai đặc điểm riêng so với đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ tại các cơ quan nhà nước khác, đó là:

Để có thể đảm nhiệm được những nhiệm vụ mà Bộ Chính trị, Ban Bí thư giao phó đòi hỏi bản thân các cán bộ cấp Cục/Vụ công tác tại Ban phải có tính Đảng tức là có lập trường tư tưởng vững vàng, kiên định với đường lối của Đảng, Bác Hồ

đã lựa chọn; đồng thời lại phải có tính quần chúng (hay tác phong dân vận), tính quần chúng ở đây được hiểu là những đồng chí trưởng thành từ phong trào quần chúng, có hiểu biết về công tác vận động quần chúng, được quần chúng tín nhiệm

Dựa trên các đặc điểm trên, nên khi đánh giá thực trạng việc nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ tại Ban Dân vận Trung ương cần có sự khách quan, cụ thể và phù hợp với Ban

1.2.2.3 Yêu cầu đặt ra đối với nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ tại các Ban Đảng Trung ương

Tiêu chuẩn chung của cán bộ lãnh đạo, quản lý đã được quy định tại các văn bản của Trung ương, tuy nhiên, trong từng giai đoạn cụ thể, với mỗi đối tượng cán

bộ thuộc các Ban Đảng Trung ương lại cần có những yêu cầu mới Trong bối cảnh khoa học - công nghệ phát triển và đất nước đang hội nhập sâu rộng với thế giới trên nhiều lĩnh vực, để việc nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ tại các Ban Đảng Trung ương được thuận lợi và đạt hiệu quả thì đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ hiện nay rất cần hội tụ những yếu tố cơ bản sau:

Thứ nhất, đội ngũ cán bộ phải có trình độ, năng lực Đây là yêu cầu cơ bản,

quan trọng của cán bộ trong mọi thời kỳ Có trình độ chuyên môn tốt mới bảo đảm cho cán bộ hoàn thành công việc được giao Trình độ của cán bộ được đánh giá là

Trang 36

tốt khi đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ đó Cụ thể trong thời kỳ hiện nay khi khoa học - công nghệ phát triển, người cán bộ phải có trình độ về công nghệ, làm chủ khoa học - công nghệ trong lĩnh vực chuyên môn của mình; thì khi được đào tạo, bồi dưỡng mới nhanh lĩnh hội và nâng cao năng lực quản lý của bản thân cán bộ cấp Cục/Vụ

Thứ hai, cán bộ phải có văn hóa làm việc khoa học, hiệu quả, vì dân Công

cuộc cải cách hành chính đã được đẩy mạnh từ nhiều năm nay cũng là nhằm mục tiêu này Lối làm việc tùy tiện, nặng về hành chính, quan liêu, thói cửa quyền, hách dịch của một bộ phận cán bộ tồn tại khá lâu đã làm ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, chính quyền, làm giảm hiệu quả công việc trong các cơ quan nhà nước Chính vì vậy, xây dựng văn hóa làm việc chuyên nghiệp, có tính kế hoạch cao, dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm là cần thiết

Thứ ba, người cán bộ phải có bản lĩnh vững vàng Trong tình hình hiện nay,

đây được xem là một trong những yêu cầu hàng đầu Bản lĩnh mà trước hết là bản lĩnh chính trị của người cán bộ chính là yếu tố quan trọng, có bản lĩnh người cán bộ sẽ không bị tác động, ảnh hưởng của những yếu tố tiêu cực Đó là những cám dỗ từ mặt trái cơ chế thị trường, từ chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch

1.2.2.4 Nhân tố ảnh hưởng đến nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ tại các Ban Đảng Trung ương

Các nhân tố ảnh hưởng tới nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ tại Ban Đảng Trung ương có thể chia thành:

(a) Các nhân tố bên ngoài

Bao gồm các yếu tố khách quan và các yếu tố ảnh hưởng của quá trình hội nhập quốc tế về kinh tế, văn hóa, chính trị, giáo dục,… đồng thời với đó là ảnh hưởng của các nhiệm vụ chung mang tính khu vực và quốc tế nhằm ứng phó với các vấn đề toàn cầu như: khủng bố, biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, dịch bệnh, khủng hoảng kinh tế,… và các yếu tố bên trong, bao gồm cả các yếu tố chủ quan cá nhân và các yếu tố nội tại của tổ chức Cụ thể có thể chia ra thành các yếu tố như sau:

(*) Ảnh hưởng của quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng;

Trang 37

(*) Ảnh hưởng bởi các nhiệm vụ quốc tế ngày càng nhiều và cấp thiết;

(*) Ảnh hưởng của đặc thù thể chế chính trị quốc gia;

(*) Ảnh hưởng bởi trình độ, năng lực của nguồn nhân lực;

(*) Ảnh hưởng bởi các chính sách của Đảng ở từng giai đoạn

(b) Các nhân tố bên trong

* Nhân tố về sức khỏe và hiệu quả công tác

Đây là một trong những nhân tố quan trọng bậc nhất thể hiện được rõ nhất chất lượng của nhân lực trong mỗi tổ chức Tuy nó không phải là một trong những tiêu chí chính để đánh giá năng lực cán bộ nhưng nó lại là nhân tố mang tính quyết định Ngoài việc có sức khỏe tốt để có thể đảm đương nhiệm vụ và áp lực của công việc, cá nhân là đối tượng cán bộ cấp Cục/Vụ Trung ương phải có hiệu quả công tác tốt thể hiện qua một số nội dung cơ bản sau đây:

- Thứ nhất, đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ Trung ương phải có kết quả công tác

tốt thể hiện qua kết quả thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, đáp ứng được yêu cầu của công việc Trên thực tế, trong điều kiện đất nước chưa ổn định về mặt chính trị, giáo dục, chẳng hạn như ở Việt Nam thời kỳ đầu của nhà nước xã hội chủ nghĩa, việc thu hút những người có tài năng nhưng chưa qua đào tạo chuyên môn để ra giúp đất nước

là cần thiết và cần phải được tiến hành để hình thành cán bộ phục vụ cho đất nước Còn trong điều kiện chính trị ổn định như ngày nay, việc đặt ra tiêu chí về trình độ chuyên môn là nhằm đảm bảo tính pháp lý cho các hoạt động quản lý nhân sự Ban Đảng Trung ương, tránh trường hợp lợi dụng, thao túng trong quản lý công chức tại các cơ quan Ban Đảng Trung ương, gây ảnh hưởng tình hình chính trị đất nước

Kết quả thực hiện nhiệm vụ chuyên môn là một biểu hiện của kỹ năng thực hành nghề nghiệp Thường thì những cá nhân có trình độ chuyên môn cao thì có kỹ năng thực hành nghề nghiệp tốt Tuy nhiên, khả năng vận dụng những kiến thức chuyên môn của mỗi người không giống nhau dẫn đến hiệu quả thực hiện công việc cũng khác nhau Đối với các đối tượng là đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ ở các Ban Đảng Trung ương, yêu cầu cơ bản nhất là phải có khả năng vận dụng kiến thức chuyên môn

Trang 38

một cách linh hoạt để đạt hiệu quả công việc cao nhất Đây là một trong những yếu tố tạo thành năng lực công tác của mỗi cá nhân

- Thứ hai, đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ ở các Ban Đảng Trung ương phải có kết

quả công tác tốt thể hiện qua những đóng góp sáng kiến kinh nghiệm Sáng kiến kinh nghiệm là những kinh nghiệm, sáng kiến, kỹ năng, kỹ xảo mà các cán bộ cấp Cục/Vụ ở các Ban Đảng Trung ương qua quá trình thực tiễn công tác rút ra, đồng thời có sự vận dụng linh hoạt sáng tạo để cải tiến, mang lại kết quả tốt hơn so với lúc ban đầu (được đánh giá định lượng)

- Thứ ba, đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ ở các Ban Đảng Trung ương phải có kết

quả công tác tốt thể hiện khả năng sử dụng ngoại ngữ chuyên môn trong xu hướng hội nhập Các Ban Đảng Trung ương có thẩm quyền cao nhất trong việc tham mưu, ban hành nghị quyết chiến lược và triển khai các hoạt động quan hệ, hợp tác quốc tế của Trung ương, địa phương Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu và rộng như hiện nay, các cơ quan Ban Đảng Trung ương cần có sự trao đổi, học hỏi kinh nghiệm với bên ngoài, với các nhà nước và tổ chức quốc tế, đòi hỏi mỗi cán bộ, công chức cần phải có trình độ ngoại ngữ nhất định làm “chìa khóa” để hội nhập Ngoài việc sử dụng ngoại ngữ giao tiếp, công chức Ban Đảng, nhất là các đối tượng đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ ở các Ban Đảng Trung ương cần phải có khả năng giao tiếp ngoại ngữ chuyên ngành nhằm đáp ứng yêu cầu về nghiên cứu, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn trong nước và nước ngoài để tham mưu xây dựng nghị quyết, chủ trương, chính sách cho lãnh đạo trong việc triển khai hoạt động hợp tác quốc tế về chính trị của quốc gia

Về yêu cầu cụ thể, đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ ở các Ban Đảng Trung ương phải có các kỹ năng cần thiết (nghe, nói, đọc, viết) đối với một ngoại ngữ nhất định

và nhà quản lý có thể kiểm tra các kỹ năng này dựa theo một số khung chương trình quốc tế được công bố hiện nay như: toefl, Ielts, toeic, v.v

- Thứ tư, đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ ở các Ban Đảng Trung ương phải có

năng lực công tác tốt thể hiện qua khả năng ứng dụng công nghệ thông tin trong thực hiện nhiệm vụ công tác chuyên môn

Trang 39

Trong bối cảnh của một nền hành chính hiện đại, “chính phủ điện tử” đang được áp dụng rộng rãi tại khắp các quốc gia trên thế giới, do đó, khả năng ứng dụng công nghệ thông tin là một yêu cầu vừa là cơ bản, vừa là đòi hỏi cao đối với các công chức trong các Ban Đảng Trung ương, nhất là các đối tượng cán bộ cấp Cục/Vụ ở các Ban Đảng Trung ương Hiệu quả của bộ máy Ban Đảng Trung ương được đánh giá thông qua việc đáp ứng nhanh nhất, tốt nhất những yêu cầu của Bộ Chính Trị, Ban Bí thư, của người dân Trong thực thi nhiệm vụ, nếu công chức có khả năng ứng dụng công nghệ thông tin đáp ứng tốt yêu cầu công việc, sẽ là nhân tốquan trọng giúp cho công việc của cơ quan được thuận lợi Chính vì thế, tiêu chí về khả năng ứng dụng công nghệ thông tin của công chức hành chính nói chung, của đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ ở các Ban Đảng Trung ương nói riêng là tiêu chí quan trọng và cần thiết

Về yêu cầu cụ thể, đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ ở các Ban Đảng Trung ương ngoài việc phải thành thạo các ứng dụng công nghệ thông tin phổ biến phục vụ công việc chuyên môn (có thể dựa theo một số chương trình ứng dụng như: Word, Excel, Ascess, Powerpoint, v.v.)

- Thứ năm, đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ ở các Ban Đảng Trung ương phải có năng

lực công tác tốt thể hiện qua kỹ năng giao tiếp ứng xử trong thực thi nhiệm vụ, cụ thể:

+ Có thái độ nhã nhặn trong giao tiếp, phù hợp với quan niệm và phép tắc xã giao của xã hội đương thời

+ Có sự chuẩn mực, lễ độ trong giao tiếp với từng đối tượng: với nhân dân, với cấp trên, cấp dưới và với đồng nghiệp

Cá nhân cán bộ cấp Cục/Vụ có khả năng giao tiếp, ứng xử tốt sẽ tạo được sự hài hòa trong việc giải quyết công việc, tạo được sự hài lòng cho người tiếp xúc, từ

đó góp phần thực hiện được tốt nhiệm vụ được giao, góp phần bảo vệ chế độ một Đảng Tiêu chí này còn thể hiện tinh thần, thái độ phục vụ nhân dân (đạo đức công vụ) của các đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ ở các Ban Đảng Trung ương trong bối cảnh hiện nay

- Thứ sáu, đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ ở các Ban Đảng Trung ương phải có kết

quả công tác tốt thể hiện qua khả năng nghiên cứu, tham mưu, cụ thể hóa các Nghị

Trang 40

quyết, chính sách của Bộ Chính trị, Ban Bí thư; do đó, ngoài kỹ năng thực hành nghề nghiệp tốt, đội ngũ công chức, nhất là các đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ ở các Ban Đảng Trung ương phải thể hiện được năng lực nghiên cứu tốt mới có thể kịp thời tham mưu, đề xuất với Bộ Chính trị, Ban Bí thư trong việc ban hành nghị quyết, chính sách để làm công cụ cho công tác quản lý, điều hành của Đảng

* Nhân tố về độ tuổi, giới tính

Do công tác dân vận gắn liền với mọi hoạt động của đời sống xã hội của quần chúng nhân dân nên cán bộ phải có đủ hiểu biết, kinh nghiệm thực tế và hệ thống lý luận đầy đủ, vững vàng Vì thế, độ tuổi phải không quá trẻ để đảm bảo đủ kinh nghiệm, trình độ và năng lực thực hiện các nhiệm vụ tham mưu cho BCT, BBT, ở đây thường phải kinh qua nhiều vị trí công tác đặc biệt là ở cơ sở, do vậy độ tuổi thường trên 45 tuổi, đồng thời phải đảm bảo tỉ lệ nam, nữ hợp lý để thuận tiện cho công tác ở những nơi, những vùng, những vấn đề đòi hỏi sự hiểu biết sâu sắc về tâm lý, mong muốn, nguyện vọng đa dạng của quần chúng nhân dân Ngoài ra, cán

bộ dân vận cũng phải có am hiểu sâu sắc về văn hóa vùng miền, văn hóa địa phương để tham mưu chính xác các chính sách cho BCT, BBT

Như vậy, dù nhân tố là bên ngoài hay bên trong thì nó đều có những ảnh

hưởng nhất định đến năng lực cán bộ cấp Cục/Vụ ở các Ban Đảng Trung ương nói chung và Ban Dân vận Trung ương nói riêng; việc đánh giá xem nhân tố nào là quan trọng và có ảnh hưởng hơn thì còn phụ thuộc vào quá trình công tác hay phát triển của cá nhân đó, từ đó đưa ra được những nhận định và đánh giá mang tính khách quan nhất

1.3 Kinh nghiệm về nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ tại các Ban Đảng Trung ương

1.3.1 Kinh nghiệm của một số cơ quan, đơn vị

Để nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ, tạo niềm tin,

uy tín trong nhân dân, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước các đơn vị đã có sự linh hoạt trong cách làm và tùy tình hình thực tế

để có vận dụng sáng tạo, phù hợp, như:

Ngày đăng: 25/04/2016, 11:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Bí thƣ, 2015. Kết luận số 114-KL/TW ngày 14/7/2015 của về nâng cao hiệu quả công tác dân vận của cơ quan nhà nước các cấp. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết luận số 114-KL/TW ngày 14/7/2015 của về nâng cao hiệu quả công tác dân vận của cơ quan nhà nước các cấp
2. Ban chấp hành Trung ƣơng, 2011. Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI. Hà Nội: NXB Chính trị quốc gia – Sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia – Sự thật
3. Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng cộng sản Việt Nam, 2012. Nghị quyết số 12-NQ/TW “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 12-NQ/TW “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”
4. Ban Dân vận Trung ƣơng, 2007. Tập bài giảng về công tác dân vận ở cơ sở. Hà Nội: NXB. Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập bài giảng về công tác dân vận ở cơ sở
Nhà XB: NXB. Chính trị quốc gia
5. Ban Dân vận Trung ƣơng, 2015. Báo cáo tổng kết tình hình hoạt động của Ban Dân vận Trung ương giai đoạn 2010 – 2015 và kế hoạch giai đoạn 2015 – 2020. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết tình hình hoạt động của Ban Dân vận Trung ương giai đoạn 2010 – 2015 và kế hoạch giai đoạn 2015 – 2020
6. Bộ Chính trị, 2002. Quyết định số 38 - QĐ/TW ngày 15/7/2002 của Bộ Chính trị Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ban Dân vận Trung ương trực thuộc Bộ Chính trị. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 38 - QĐ/TW ngày 15/7/2002 của Bộ Chính trị Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ban Dân vận Trung ương trực thuộc Bộ Chính trị
7. Bộ Chính trị, 2010. Quyết định số 290 - QĐ/TW ngày 25/2/2010 của Bộ Chính trị về việc Ban hành quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị.Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 290 - QĐ/TW ngày 25/2/2010 của Bộ Chính trị về việc Ban hành quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị
8. Bộ Chính trị, 2002. Quyết định 38 - QĐ/TW ngày 15/7/2002 của Bộ Chính trị (khóa IX). Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định 38 - QĐ/TW ngày 15/7/2002 của Bộ Chính trị (khóa IX)
9. Bộ tƣ pháp, 2003. Pháp lệnh cán bộ, công chức (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2000 và 2003). Hà Nội: Nhà xuất bản chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp lệnh cán bộ, công chức (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2000 và 2003)
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị Quốc gia
10. Bộ Chính trị, 2010. Quyết định số 290-QĐ/TW ngày 25/2/2010 của về việc ban hành quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 290-QĐ/TW ngày 25/2/2010 của về việc ban hành quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị
11. Chính phủ, 2011. Nghị quyết 30c/NQ-CP ngày 8/11/2011 của Chính phủ ban hành chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn 2011 – 2020. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 30c/NQ-CP ngày 8/11/2011 của Chính phủ ban hành chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn 2011 – 2020
12. Đảng cộng sản Việt Nam, 1991. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
13. Phan Huy Đường, 2014. Lãnh đạo các khu vực công. Hà Nội: NXB. Đại học quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lãnh đạo các khu vực công
Nhà XB: NXB. Đại học quốc gia
14. Phan Huy Đường, 2010. Quản lý nhà nước về kinh tế. Hà Nội: NXB. Đại học quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà nước về kinh tế
Nhà XB: NXB. Đại học quốc gia
15. Nguyễn Hoàng Giáp, 2012. Một số vấn đề quốc tế trong giai đoạn hiện nay. Hà Nội: NXB. Chính trị quốc gia – Sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề quốc tế trong giai đoạn hiện nay
Nhà XB: NXB. Chính trị quốc gia – Sự thật
16. Tô Tử Hạ và cộng sự, 2012. Chế độ công chức và luật công chức của các nước trên thế giới. Hà Nội: NXB.CTQG Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế độ công chức và luật công chức của các nước trên thế giới
Nhà XB: NXB.CTQG
17. Trần Hải Hà và Vũ Trung Kiên, 2008. Nhận thức về công tác dân vận của Đảng Cộng sản Việt Nam từ sau ngày đất nước thống nhất 30-4-1975. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận thức về công tác dân vận của Đảng Cộng sản Việt Nam từ sau ngày đất nước thống nhất 30-4-1975
18. Phạm Minh Hạc, 2001. Tuyển tập tâm lý học. Hà Nội: NXB. Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập tâm lý học
Nhà XB: NXB. Giáo dục
19. Trần Hiệp, 1996. Tâm lý học xã hội – những vấn đề lý luận,. Hà Nội: NXB.Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học xã hội – những vấn đề lý luận
Nhà XB: NXB.Khoa học xã hội
20. Lê Văn Hoà, 2003. Nâng cao năng lực lãnh đạo của đội ngũ cán bộ chủ chốt chính quyền cơ sở. Luận văn thạc sỹ. Học viện hành chính quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao năng lực lãnh đạo của đội ngũ cán bộ chủ chốt chính quyền cơ sở

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Khung lý thuyết nghiên cứu của luận văn - Nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ cấp cục vụ tại ban dân vận trung ương
Hình 2.1 Khung lý thuyết nghiên cứu của luận văn (Trang 44)
Bảng 2.1 Thang điểm đánh giá nâng cao năng lực quản lý đƣợc sử dụng - Nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ cấp cục vụ tại ban dân vận trung ương
Bảng 2.1 Thang điểm đánh giá nâng cao năng lực quản lý đƣợc sử dụng (Trang 47)
Bảng 3.1 : Tổng hợp tình hình đào tạo, nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ - Nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ cấp cục vụ tại ban dân vận trung ương
Bảng 3.1 Tổng hợp tình hình đào tạo, nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ (Trang 53)
Bảng 3.2 : Thang điểm Đánh giá tiêu chí Nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ cấp - Nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ cấp cục vụ tại ban dân vận trung ương
Bảng 3.2 Thang điểm Đánh giá tiêu chí Nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ cấp (Trang 54)
Bảng 3.3: Thang điểm đánh giá tiêu chí Đánh giá khả năng sáng tạo, xử lý công việc, tổ - Nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ cấp cục vụ tại ban dân vận trung ương
Bảng 3.3 Thang điểm đánh giá tiêu chí Đánh giá khả năng sáng tạo, xử lý công việc, tổ (Trang 57)
Bảng 3.4: Thang điểm đánh giá tiêu chí Nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức, - Nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ cấp cục vụ tại ban dân vận trung ương
Bảng 3.4 Thang điểm đánh giá tiêu chí Nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức, (Trang 59)
Hình 3.1: Sơ đồ mô hình lựa chọn, bố trí cán bộ - Nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ cấp cục vụ tại ban dân vận trung ương
Hình 3.1 Sơ đồ mô hình lựa chọn, bố trí cán bộ (Trang 61)
Bảng 3.6: Thang điểm đánh giá tiêu chí Công tác quy hoạch đội ngũ cán bộ cấp - Nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ cấp cục vụ tại ban dân vận trung ương
Bảng 3.6 Thang điểm đánh giá tiêu chí Công tác quy hoạch đội ngũ cán bộ cấp (Trang 62)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w