1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

THỰC TRẠNG Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG CHĂN NUÔI

29 796 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 1,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

I. Thực trạng xử lý chất thải chăn nuôi Nhiều báo cáo nghiên cứu đều đã khẳng định là hầu hết các chất thải trong chăn nuôi đều chưa được xử lý trước khi thải ra môi trường. Số phân không được xử lý và tái sử dụng lại là nguồn cung cấp phần lớn các khí nhà kính (chủ yếu là CO2, N2O) làm trái đất nóng lên, ngoài ra còn làm rối loạn độ phì của đất, gây phì dưỡng, ô nhiễm đất và ô nhiễm nước. Chưa kể nguồn khí thải CO2 phát tán do hơi thở của vật nuôi. Ô nhiễm do chăn nuôi đặc biệt là chăn nuôi lợn không chỉ làm hôi tanh không khí mà còn ảnh hưởng nặng tới môi trường sống dân cư, nguồn nước và tài nguyên đất ảnh hưởng chính đến kết quả sản xuất chăn nuôi. Các hoạt động gây ô nhiễm do chăn nuôi vẫn đang tiếp tục diễn ra ở nhiều nơi trên cả nước. Tình trạng chăn nuôi thả rông, chăn thả trên đất dốc, đầu nguồn nước,... còn khá phổ biến góp phần làm tăng diện tích xói mòn, suy giảm chất lượng đất, nước, giảm thiểu khả năng sản xuất nông nghiệp trên vùng rộng lớn.

Trang 2

Chuyên đề:

THỰC TRẠNG Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG CHĂN NUÔI,

BIỆN PHÁP XỬ LÝ CHẤT THẢI BẰNG Ủ PHÂN HỮU CƠ

Trang 3

I Thực trạng xử lý chất thải chăn nuôi

Nhiều báo cáo nghiên cứu đều đã khẳng định

là hầu hết các chất thải trong chăn nuôi đều chưa được xử lý trước khi thải ra môi trường Số phân không được xử lý và tái sử dụng lại là nguồn cung cấp phần lớn các khí nhà kính (chủ yếu là CO2, N2O) làm trái đất nóng lên, ngoài ra còn làm rối loạn độ phì của đất, gây phì dưỡng, ô nhiễm đất

và ô nhiễm nước Chưa kể nguồn khí thải CO2 phát tán do hơi thở của vật nuôi.

Trang 4

Ô nhiễm do chăn nuôi đặc biệt là chăn nuôi lợn

không chỉ làm hôi tanh không khí mà còn ảnh hưởng nặng tới môi trường sống dân cư, nguồn nước và tài nguyên đất ảnh hưởng chính đến kết quả sản xuất chăn nuôi Các hoạt động gây ô nhiễm do chăn nuôi vẫn đang tiếp tục diễn ra ở nhiều nơi trên cả nước

Tình trạng chăn nuôi thả rông, chăn thả trên đất dốc, đầu nguồn nước, còn khá phổ biến góp phần làm tăng diện tích xói mòn, suy giảm chất lượng đất, nước, giảm thiểu khả năng sản xuất nông nghiệp trên vùng rộng lớn

Trang 5

Theo số liệu của Tổng cục thống kê, năm

2014 đàn lợn nước ta có khoản 26,76 triệu con, đàn trâu bò khoảng 7,75 triệu con, đàn gia cầm khoảng 327,69 triệu con Trong đó chăn nuôi nông

hộ hiện tại vẫn chiếm tỷ trọng khoảng 65-70% về

số lượng và sản lượng Từ số đầu gia súc, gia cầm đó có quy đổiđược lượng chất thải rắn (phân chất độn chuồng, các loại thức ăn thừa hoặc rơi vãi) đàn gia súc, gia cầm của thải ra khoảng trên

76 triệu tấn, và khoảng trên 30 triệu khối chất thải lỏng (nước tiểu, nước rửa chuồng, nước từ sân chơi, bãi vận động, bãi chăn)

Trang 6

Phân của vật nuôi chứa nhiều chất chứa nitơ, phốt pho, kẽm, đồng, chì, Asen, Niken(kim loại nặng)

… và các vi sinh vật gây hại khác không những gây ô nhiễm không khí mà còn làm ô nhiễm đất, làm rối loạn độ phì đất, mặt nước mà cả nguồn nước ngầm

Đi kèm theo đó là gần 14,5 triệu tấn thức ăn chăn nuôi được sản xuất từ 203 nhà máy Quá trình sản xuất thức ăn chăn nuôi từ các nhà máy đã thải ra môi trường lượng rất lớn chất khí gây hiệu ứng nhà khí kính (GHG)và các chất thải khác gây ô nhiễm môi trường

Trang 7

Ngoài ra, ô nhiễm môi trường còn có thể xảy ra trong quá trình giết mổ, sơ chế sản phẩm động vật; Trong các cơ sở sản xuất thuốc thú y, chẩn đoán xét nghiệm bệnh động vật;Trong quá trình xử lý các ổ dịch

và xử lý xác động vật bị dịch bệnh…là không nhỏ

Quá trình sinh sống của gia súc, gia cầm ngoài thải ra chất thải như nói trên thì còn bài thải các loại khi hình thành từ quá trình hô hấp của vật nuôi và thải ra các loại mầm bệnh, ký sinh trùng, các vi sinh vật có thể gây hại trực tiếp hoặc gián tiếp đến sức khỏe con người

và môi trườngsinh thái như

Trang 8

Nếu các chất thải chăn nuôi đặc biệt phân chuồngkhông được xử lý hiệu quả sẽ là một trong những nguồn gây ô nhiễm lớn cho môi trường, ảnh hưởng xấu đến đời sống, sức khoẻ của cộng đồng dân cư trước mắt cũng như lâu dài Vấn đề đặt ra là phát triển chăn nuôi nhưng phải bền vững

để hạn chế tối đa mức độ gây ô nhiễm và bảo vệ được môi trường sinh thái

II Xử lý chất thải bằng ủ phân

Trang 9

Hiện nay có nhiều biện pháp xử lý chất

thải như:

- Quy hoạch chăn nuôi

- Xử lý chất thải chăn nuôi bằng hầm Biogas (Hệ thống khí sinh học)

- Xử lý chất thải bằng chế phẩm sinh học

- Xử lý bằng công nghệ ép tách phân

- Xử lý nước thải bằng ô xi hóa

- Xử lý chất thải bằng ủ phân hữu cơ

(Compost)

Trang 10

Hầm bioga

Trang 11

Máy ép tách phân

Trang 12

1 Xử lý chất thải bằng ủ phân hữu cơ

(Compost).

Đây là hình thức xử lý chất thải đơn giản

nhất, với quy mô nhỏ nhất và mang lại hiệu quả cao Vừa giảm thiểu lượng chất thải chăn nuôi, vừa mang lại hiệu quả kinh tế, cung cấp phân bón cho nông nghiệp

Trang 13

a Đặc điểm:

Là phương pháp sinh học Phân, rác được ủ thành đống hoặc thành luống, nổi lên trên mặt đất hoặc chìm dưới hố,

hoặc nửa nổi nửa chìm.

Trang 15

Đống ủ có thể được trát kín bằng bùn Trong suốt quá trình ủ, oxy sẽ được tiêu thụ dần đến hết,

và điều kiện chuyển từ hiếu khí sang kị khí, nhiệt

độ có thể tăng từ 60-70C ngoài ra nó cũng có thể được đảo xới định kì để cung cấp thêm oxy ào bên trong

Trang 16

Quy trình

Trang 17

b Đối tượng áp dụng

Rác thải sinh hoạt, rác thải sản xuất của các làng nghề, loại giàu

tinh bột: chế biến sắn, làm bún…

Phế thải công nghiệp: vỏ hạt cà

phê, bã thân cây mía, công nghiệp giấy

Phế thải nông nghiệp và chăn nuôi: rơm rạ, phân, nước tiểu gia

súc, gia cầm…

Trang 18

c Cách ủ

Ủ nóng : Khi lấy phân ra khỏi chuồng để ủ, phân

được xếp thành từng lớp ở nơi có nền không thấm nước, nhưng không được nén Sau đó tưới nước phân lên, giữ độ ẩm trong đống phân 60 – 70%

Có thể trộn thêm 1% vôi bột (tính theo khối lượng) trong trường hợp phân có nhiều chất độn Trộn

thêm 1 – 2% supe lân để giữ đạm Sau đó trát bùn bao phủ bên ngoài đống phân Hàng ngày tưới

nước phân lên đống phân

Trang 19

Sau 4 – 6 ngày, nhiệt độ trong đống phân có thể lên đến 60oC Các loài vi sinh vật phân giải chất hữu cơ phát triển nhanh và mạnh Các loài vi sinh vật háo khí chiếm ưu thế Do tập đoàn vi sinh vật hoạt động mạnh cho nên nhiệt độ trong đống phân tăng nhanh và đạt mức cao Để đảm bảo cho các loài vi sinh vật háo khí hoạt động tốt cần giữ cho đống phân tơi, xốp, thoáng.

Trang 20

Phương pháp ủ nóng có tác dụng tốt trong việc tiêu diệt các hạt cỏ dại, loại trừ các mầm

mống sâu bệnh Thời gian ủ tương đối ngắn Chỉ

30 – 40 ngày là ủ xong, phân ủ có thể đem sử

dụng Tuy vậy, phương pháp này có nhược điểm

là để mất nhiều đạm

Trang 21

Ủ nguội : Phân được lấy ra

khỏi chuồng, xếp thành lớp và nén chặt Sau đó ủ đất bột hoặc đất bùn khô đập nhỏ, rồi nén chặt Thường đống phân được xếp với chiều rộng 2 – 3 m, chiều dài tuỳ thuộc vào chiều dài nền đất Các lớp phân được xếp lần lượt cho đến độ cao 1,5 – 2 m Sau đó trát bùn phủ bên ngoài.

Trang 22

Do bị nén chặt cho nên bên trong đống phân thiếu oxy, môi trưởng trở nên yếm khí, khí cacbonic trong đống phân tăng Vi sinh vật hoạt động chậm, bởi vậy nhiệt độ trong đống phân không tăng cao và chỉ ở mức 30 – 35oC Đạm trong đống phân chủ yếu ở dạng amôn cacbonat,

là dạng khó phân huỷ thành amôniăc, nên lượng đạm bị mất giảm đi nhiều.Theo phương pháp này, thời gian ủ phân phải kéo dài 5 – 6 tháng phân ủ mới dùng được Nhưng phân có chất lượng tốt hơn ủ nóng

Trang 23

Ủ nóng trước, nguội sau : Phân chuồng lấy ra

xếp thành lớp không nén chặt ngay Để như vậy cho vi sinh vật hoạt động mạnh trong 5 – 6 ngày Khi nhiệt độ đạt 50 – 60oC tiến hành nén chặt để chuyển đống phân sang trạng thái yếm khí.Sau khi nén chặt lại xếp lớp phân chuồng khác lên, không nén chặt Để 5 – 6 ngày cho vi sinh vật hoạt động Khi đạt đến nhiệt độ 50 – 60oC lại nén chặt

Trang 24

Cứ như vậy cho đến khi đạt được độ cao cần thiết thì trát bùn phủ chung quanh đống phân Quá trình chuyển hoá trong đống phân diễn ra như sau: ủ nóng cho phân bắt đầu ngấu, sau đó chuyển sang ủ nguội bằng cách nén chặt lớp phân

để giữ cho đạm không bị mất

Để thúc đẩy cho phân chóng ngấu ở giai đoạn ủ nóng, người ta dùng một số phân khác làm men như phân bắc, phân tằm, phân gà, vịt… Phân men được cho thêm vào lớp phân khi chưa bị nén chặt

Trang 25

Ủ phân theo cách này có thể rút ngắn được thời gian so với cách ủ nguội, nhưng phải có thời gian dài hơn cách ủ nóng.

Tuỳ theo thời gian có nhu cầu sử dụng phân

mà áp dụng phương pháp ủ phân thích hợp để vừa đảm bảo có phân dùng đúng lúc vừa đảm bảo được chất lượng phân

Trang 27

cả tổng thể và chi tiết chăn nuôi theo quốc gia,

miền, vùng sinh thái, cụm tỉnh cho từng chủng loại gia súc, gia cầm, với số lượng phù hợp để không quá tải gây ô nhiễm môi trường là biện pháp quan trọng có tầm chiến lược Kỹ thuật xử lý chất thải

chăn nuôi là áp dụng các phương pháp lý học,

hóa học và sinh học để giảm thiểu ô nhiễm môi

trường Thông thường người ta kết hợp giữa các phương pháp với nhau để xử lý chất thải chăn

nuôi hiệu quả và triệt để hơn

Trang 29

CÁM ƠN THẦY VÀ CÁC BẠN

LẮNG NGHE

Ngày đăng: 25/04/2016, 07:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w