- Chị con gái thốt ra `- Anh sinh viên kêu lên - Bác cu - li xe thở dai - Một nhà nho lầm bầm Đọc kĩ những lời nói của các nhân vật trên đây và suy nghĩ để trả lời câu hỏi: Vì sao vi
Trang 2NGUYEN THUC PHƯƠNG
NGU VAN 12
TAP HAI
NHA XUAT BAN DAI HOC QUOC GIA HA NOI
Trang 3L069 NOV DAN
Cac bạn học sinh lớp 12 thân mến!
Năm học 2008 - 2009 là năm thay sách cuối cùng để hoàn chỉnh bộ
sách giáo khoa ở phổ thông Sách Ngữ uữăn 12 cũng được biên soạn theo hướng đổi mới với nhiều bài mục mới lần đầu tiên được đưa vào chương trình, kể cả Văn, Tiếng Việt, Làm văn Sách giáo khoa đổi mới đòi hỏi phải có phương pháp học tập mới, không chỉ để thu nhận kiến thức, mà quan trọng hơn, là để vận dụng kiến thức vào bài tập một cách thuần thục và sáng tạo Đây là hướng đổi mới quan trọng để
nâng cao chất lượng thực của việc dạy - học Ngữ văn trong nhà trường
hiện nay
Vì những lí do nói trên, chúng tôi biên soạn bộ sách Học tốt Ngữ
ăn 12 (tập một & tập hai) nhằm giúp các bạn có được một phương pháp học tập phù hợp nhất trong điều kiện thực tế của mình Tư tưởng của cuốn sách là tự học; tôn trọng người học, không áp đặt mà
cố gắng gợi mở những vấn để cơ bản nhất của nội dung bài học và chỉ
ra những cách thức học tập có hiệu quả thiết thực để người học suy
nghĩ vận dụng Sách được biên soạn theo đúng trình ty cdc bai trong
Ngữ van 12 (tập một & tập hai)
Tập một gồm 18 tuần, tập hai gồm 17 tuần
Cấu trúc các đơn u‡ bài học nÏư sau:
VĂN: gồm hai phần:
- Đọc - hiểu văn bản: tác giả, tác phẩm (tìm hiểu các vấn dé cơ bản)
- Luyện tập: nhiều dạng bài tập (hướng dẫn cách giải)
TIENG VIET & LAM VAN: gém hai phản:
- Kiến thức cần nhớ: hướng dẫn người học tự tìm ra kiến thức mới
- Thực hành luyện tập: nhiều dạng bài tập (củng cố kiến thức và vận dụng kiến thức một cách thông minh, sáng tạo)
Hi vọng cuốn sách sẽ là người bạn đồng hành, giúp ích thiết thực
cho việc học môn Ngữ văn 12 của các bạn
Hà Nội, ngày 30 tháng 4 năm 2008
Tae giả
Trang 4Xem SGK Về nhà văn-Tô Hoài, cẩn chú ý những điểm sau đây:
- Tô Hoài là một trong những nhà văn lớn có nhiều đóng góp cho nền
văn học hiện đại Việt Nam, với số lượng tác phẩm đạt kỉ lục gần 200 đầu sách thuộc nhiều thể loại khác nha truyện ngắn, tfuyện dài kì, tiểu
thuyết, kí, hồi kí, tự truyện, tiểu luận và kinh nghiệm sáng tác - chủ yếu
bằng con đường tự học-và cẩn mẫn sáng tác trong hơn sáu mươi năm lao động nghệ thuật bền bỉ, liên tục và sáng tạo
- Tô Hoài có vốn hiểu biết đặc biệt phong phú, sâu sắc về những nét riêng trong phong tục, tập quán của nhiễu vùng khác nhau trên
đất nước ta Ông cũng là nhà văn luôn hấp dẫn người đọc bởi lối trần
thuật hóm hỉnh, sinh động của người từng trải, với vốn từ vựng giàu
có - nhiều khi rất bình dân và thông tục - nhưng nhờ cách sử dụng
đắc địa và tài ba nên có sức lôi cuốn, lay động người đọc mạnh mẽ
- Séng tác của Tô Hoài thiên về điễn tả những sự thật của đời thường Theo ông: “Viết văn là một quá trình đấu tranh để nói ra sự thật Đã là sự thật thì không tẩm thường, cho dù phải đập vỡ những
thần tượng trong lòng người đọc” (Tô Hoài trả lời phỏng vấn của báo
An ninh Thế giới, ngày 29 - ï - 2007) Đó là một quan niệm mới mẻ,
tiến bộ của nhà văn
- Năm 1996, ông được tặng Giải thưởng Hồ-Chí Minh về văn học
nghệ thuật
B Tác phẩm
ø Xuất xứ
Truyện ngắn Vợ chồng A Phủ (1952) là thành quả nghệ thuật tốt
đẹp của Tô Hoài sau tám tháng đi thực tế ở vùng núi Tây Bắc, cùng
5
Trang 5sống với những người dân đã “để thương, để nhớ” cho nhà văn, thôi thúc ông phải viết một cái gì để “trả món nợ lòng cho những con
người mà ông yêu mến nhất” Vợ chồng A Phử đã ra đời cùng với tập
Truyện Tây Bắc (1954) của,Tô Hoài.được tặng giải Nhất - Giải thưởng
Hội Văn nghệ Việt Nam 1954 - 1955 Sau hơn nửa thế kỉ, đến nay Vợ
chồng A Phủ vẫn giữ nguyên vẹn giá trị và sức thu hút đối với nhiều
thế hệ người đọc
© Đọc uăn bản
Truyện ngắn Vợ chồng A Phủ gồm hai phần kể lại hai quãng đời của đôi vợ chồng người H'Mông ở vùng núi cao Tây Bắc nước tạ trong thời gian kháng chiến chống Pháp: quãng đời ở Hồng Ngài trong nhà thống lí Pá Tra (bóng fối) và quãng đời ở Phiểng Sa khi họ đã trở
thành những con người mới của chế độ mới (ánh sáng)
Văn bản trong SGK thuộc phần I Cách đọc như sau:
- Đọc lần đầu toàn bộ văn bản để nắm được cốt truyện và diễn biến
truyện, sơ bộ cảm nhận được số phận bi thảm và cuộc sống khổ nhục,
bị áp bức, bóc lột thậm tệ của hai nhân vật Mị và A Phủ trong nhà
thống lí Pá Tra
- 8au đó, đọc kĩ các đoạn quan trọng để suy ngẫm sâu hơn về hai
nhân vật đó, đặc biệt là nhân vật Mị:
_+ Doan ké về đêm tình mùa xuân, Mị muốn di chai bi A Sử trói
+ Đoạn kể về A Phủ bị trói đứng chờ chết ở cọc dây mây, được
Mị cắt dây trói cứu sống, và hai-người đìu nhau cùng trến thoát khói Hồng Ngài
ø Tìm hiểu tác phẩm
1 Số phận uà tính cách nhân vét-Mi
a) Cánh ngộ bị bắt về làm dâu gạt nợ, cuộc sống bị đày đọa tải cực
ở nhà thống lí Pá Tra
- Lúc nào cũng vậy; dù làm tà, Mi công có nềt, mặt huẫn nếi mi
- Cuộc sống cia Mi như con rùa lùi lũi ở xó cửa “
- Hình ảnh gây ấn tượng sâu đậm nhất về số phận bi đát, cuộc đời
bị giam hãm của Mị là cái cửa số lỗ vuông bằng bàn tay mờ mờ trăng trắng ở buông Mị, trông ra không biết là sương hay nắng, và Mị nghĩ mình sẽ ngồi ở đấy nhìn ra “cái cửa sổ cuộc đời” ấy cho đến khi nào
chết thì thôi ; :
Trang 6- Mị phải làm việc quần quật từ sáng đến tối không bằng con trâu,
con ngựa còn có lúc được gãi chân, nhai cỏ; lại còn bị đánh đập dã
man, bị trói đứng trong buồng
- Nhà thống lí Pá Tra là cái địa ngục trần gian đã vùi dap Mi, giam hãm, trói buộc Mị, làm cho Mị khô héo dân, giết chết cả tuổi thanh
xuân của cô gái trẻ đẹp, thổi sáo giỏi, biết bao nhiêu người mê đi theo
Mi, dén dtmg nhan vach cita buéng Mi
- Mi là con dâu gạt nợ của nhà thống lí Pá Tra, là nô lệ không
công, là “công cụ biết nói” trong cái địa ngục trần gian ở Hồng Ngài -
đó là số phận bi thảm, cay đắng, xót xa của một con người bị áp bức, bóc lột thậm tệ dưới chế độ phong kiến khắc nghiệt và tàn bạo trên
vùng núi cao
b) Diễn biến tâm trạng và hành động của Mị
Cuộc sống bị chà đạp tủi cực như vậy không làm mất đi sức sống của Mị Sức sống ấy vẫn tiểm tàng trong lòng cô gái trẻ, giống như
một vạc than hồng vẫn âm ỉ cháy, chỉ chờ một cơn gió thổi đến là
bùng lên thành ngọn lửa sáng Ngọn lửa ấy đã cháy sáng lên trong
đêm tình mùa xuân phơi phới, Mị muốn đi chơi xuân và cô đã quyết
định đi chơi xuân Kí ức tuổi thánh xuân trỗi dậy mãnh liệt, Mị khao
khát được sống lại với tuổi trẻ, tình yêu, hạnh phúc của mình trong
tiếng sáo bồi hồi gọi bạn tình đang lơ lửng đầu làng Mị dang tim lai
mình, tìm lại những gì đã bị mất đi trong những tháng năm bị đày
đọa Đến cả khi đã bị A Sử trói đứng trong buồng, thì tiếng sáo vẫn
đập đờn trong đâu Mị, ước mơ vẫn ngùn ngụt cháy trong lòng Mị Mới biết sức sống tiểm tàng của Mị.mãnh liệt biết chừng nào trong hành
động dám đi chơi xuân, bất chấp cả luật lệ hà khắc của nhà thống lí
Pá Tra đối với đàn bà, con gái, dâu con trong nhà
Sau đêm tình mùa xuân bị trói đứng trong buồng, cuộc sống của Mị càng bị o ép, trói buộc hơn Những đêm mùa đông dài trên miễn núi
cao, Mị chỉ còn biết thức với ngọn lửa, sống với ngọn lửa trong tâm
trạng cô đơn, buồn tủi cho số kiếp của mình Cứ tưởng cô gái ấy hoặc
đã cúi đầu cam chịu, hoặc đã buông xuôi cho số phận cuộc đời Nhưng tình thương đã trỗi dậy trong cô và tình thương đó đã thúc giục cô hành động để cứu người, và sau đó là tự cứu mình Qua nhiều đêm nhìn thấy A Phủ bị trói đứng chờ chết trên cọc dây mây, Mị vẫn dửng dưng như không Nhưng đến cái đêm cuối cùng đáng ghi nhớ ấy, khi nhìn thấy những dòng nước mắt chảy trên gò má xám đen của A Phủ
7
Trang 7
thì trong lòng Mị bỗng có sự đổi khác Dòng nước mắt ấy gợi nhớ
dòng nước mắt của Mị khi bị trói đứng trong buông năm trước Tìmh
thương gọi tình thương Mi không thấy sợ, đã jấy dao cắt dây trói cho
A Pha va thúc giục A Phủ chạy đi Nhưng đứng lặng trong bóng tối
một lúc, Mị lại vụt chạy theo A Phủ, và hai mgười cùng trốn khỏi
Hồng Ngài Hành động cắt đây trói cứu A Phủ và cùng A Phủ trốn
khối Hồng Ngài là bước ngoặt quyết định để đổi đời Mi, như có người
đã nói: “Khi Mị cắt đây trói cứu A Phủ cũng là lúc-Mị cắt sợi dây trói
buộc đời mình với nhà thống 1í Pá Tra” (Dé day tốt Vỡn lớp 12) Ở
đây, cắt đây trói cho A Phủ là hành động cứu người, xuất phát từ tình thương và sự đồng cảm giai cấp; còn chạy theo A Phủ để trốn khỏi Hồng Ngài là hành động ứ/ cứu mình mang ý nghĩa tự giải thoát,
theo đúng quy luật “tức nước vỡ bờ”, có áp bức có đấu tranh, Đây là quá trình vùng lên tự phát để đổi đời của Mị, để sau đó, sẽ là quá
VI 007015 IEEE BE OO AND On 4c (ái, sáng của ‹dách
mạng ở khu du kích Phiểng Sa
2 Tính cách nhân uật A Phủ
Tác giả cho A Phủ xuất hiện đột ngột trong cuộc đánh nhau với À
Sử, rồi bị bắt, bị trói, bị đánh đập tàn bạo trong cuộc xử kiện lạ lùng, sau đó mới kể về lai lịch của nhân vật Qua đó, người đọc có một ấn
tượng khá đậm nét về tính cách của nhân vật: đó là một chàng trai
cứng cỏi, mạnh mệ, gan bướng, năng nổ hoạt động Tính cách đó được thể hiện qua các sự việc sau:
- Trong trận đánh nhau với A Sử: “Một người to lớn chạy vụt ra
vung tay ném con quay rất to vào mặt A Sử Con quay gỗ ngát lăng
vào giữa mặt Nó vừa kịp bưng tay lên, A Phù đã xộc tới, nắm cái vòng cổ, kéo dập đầu xuống, xé vai áo, đánh tới tấp” Thật là mạnh
mé, dif đội, hạ gục ngay đối thủ
- Giữa những trận mưa đòn trong cuộc xử kiện: A Phủ gan góc
không hé kêu rên, “im như cái tượng đá”, mặc dù “mặt sưng lên, môi
và đuôi mắt dập chảy máu”, “hai cái đầu gối sưng bạnh lên như mặt
- Khi về làm công gạt nợ cho nhà thống lí Pá Tra: Đốt rừng, cày nương, cuốc nương, săn bò tót, bẫy hổ, chăn bò, chăn ngựa, quanh năm một thân một mình bôn ba rong ruổi ngoài gò ngoài rừng, “cái gì cũng
làm phăng phăng” Nhưng vẫn là một A Phú cứng cỏi, gan bướng ngay
cả khi đánh mất bò, đối diện với Pá Tra, vẫn tự tin ở sức mình “Tôi
Trang 8về lấy súng, thế nào cũng bắn được con hổ này to lắm”; “Cho tôi đi
Được con hổ ấy còn nhiều tiền hơn con bò” `
Là một chàng trai nghèo miền núi, sống tự lập, lao động giỏi và khỏe mạnh, ham thích những công việc nặng nhọc-xà- mạo hiểm (bẫy
hổ, săn bò tót) có tính cách cứng cỏi, mạnh mẽ vậy mà Á Phủ vẫn không thoát khỏi-số phận nô lệ như Mị ở nhà thống lí Pá Tra - một số
phận thê thảm mà cái chết đang đến dần trên cọc dây mây oan
nghiệt, nếu không được người cùng cảnh ngộ cứu thoát khỏi cái địa
ngục trần gian này
3 Đặc sắc nghệ thuật của Tõ Hoài trong truyện ngắn “Vợ chông A Phủ”
- Nhân vật được khắc họa sinh động và có cá tính rõ nét (đặc biệt
là Mị) Mị và A Phủ có số phận giống nhau nhưng tính cách khác
nhau và được ‡áe giả thể hiện bằng những thủ pháp thích hợp Xem phần phân tích hai nhân vật trong muc 1 va 2 6 trên)
- Ngòi bút tả cảnh của Tô Hoài vô cùng đặc sắc Cảnh miễn núi hiện
ra với những nét sinh hoạt, phong tục riêng (Đoạn tả cảnh xử kiện, cảnh
mùa xuân, ngày Tết trên vùng núi cao, đặc biệt đoạn tả tiếng sáo gọi bạn
tình lửng lơ bay ngoài đường rất thơ mộng, trữ tình, ) '
- Nghệ thuật kể chuyện thành công với cách dẫn truyện khéo, mạch truyện diễn biến liên tục, hấp dẫn
- Ngôn ngữ của Tô Hoài sinh động, chọn lọc và sáng tạo với lối văn
giàu tính tạo hình
Lưu ý, anh (chị) đọc kĩ phần Ghi nhớ để nắm uững bài học
II LUYỆN TẬP
Hướng dẫn giải bài tập trong SGK:
Bài tập yêu cầu phát biểu ý kiến về giá trị nhân đạo của tác phẩm qua số phận hai nhân vật Mị và A Phủ Anh (chi) cin hướng tới những vấn để sau-đây của hai nhân vật để tổng hợp, khái quát thành
giá trị nhân đạo của tác phẩm:
- 8ố phận bi day đọa tủi cực của Mị và A Phủ -> gợi lên niềm
thương cảm, xót đau trong người đọc (Hình ảnh cái cửa sổ lỗ vuông
trong buồng Mị; Mị bị trói đứng trong buồng; A Phủ bị trói trên cọc
đây mây để chờ chết)
Trang 9- Cuộc sống nội tâm, ước mơ khao khát mang ý nghĩa nhân văn:
+ Sức sống tiểm tàng, ước mơ được sống lại với tuổi trẻ, tình
yêu, hạnh phúc của Mị
+ Muốn sống một cuộc sống tự do, đám đánh lại con nhà quan
để bảo vệ cho bạn trai làng của A Phủ
2 TH AE EHE n0) P-fùng Hie A giất thoái e04 bài, gan người khốn khổ
VIẾT BÀI LÀM VĂN SỐ 5: NGHỊ LUẬN VĂN HỌC
I CÁCH VIẾT BÀI VĂN NGHỊ LUẬN VỀ MỘT TÁC PHẨM, MỘT
ĐOẠN TRÍCH VĂN XUÔI
Đề 1 Phân tích truyện ngắn Tính thân thể dục của Nguyễn Công Hoan
a) Gợi ý tìm hiểu đề, định hướng bài uiết
Anh (chị) đọc lại truyện ngắn này trong Ngữ oăn 11, tập một, trang
172 - 177 và suy nghĩ về những phương diện sau đây:
- Đặc sắc của kết cấu truyện - sự giống nhau và khác nhau giữa các
sự việc (các cảnh) trong truyện Tác giả kết cấu truyện bằng một chuỗi
sự việc (cảnh bắt người đi xem đá bóng) nhằm nói lên điều gì?
- Mau thuẫn và tính chất trào phúng của truyện thể hiện ở những
+ Cảnh anh Mịch nhăn nhó với ông Lí
+ Cảnh bác Phô gái phân trần với ông Lá
10
Trang 10+ Cảnh bà cụ phó Bính xin ông Lí cho thằng Sang đi thay con
+ Cảnh thằng Cò cùng đứa con trốn vào đống rơm bị người tuân
phát hiện
+ Cuối cùng là cảnh ông Lí và tuần áp giải 94 người xếp hàng đi
lên huyện
Phân tích mâu thuẫn giữa hình thức và thực chất của cái gọi là
“tỉnh thần thể dục” trong truyện ngắn này, từ đó nêu lên nghệ thuật
trào phúng của truyện
- Kết bài: Đánh giá chung về truyện ngắn Tỉnh thần thể dục
Đề 2 Nhận xét về giọng văn và nghệ thuật sử dụng ngôn từ trong
truyện Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân (có so sánh với chương Hạnh phúc củu một tang gia trong Số đỏ của Vũ
Trọng Phụng)
Dé bai này thuộc dạng nhận xét về một vấn để (một mặt) nào đó
của tác phẩm truyện (ở đây, là nghệ thuật sử dụng ngôn từ, một nét
đặc sắc trong nghệ thuật viết truyện ngắn của Nguyễn Tuân qua tác
phẩm Chữ người tử tù, có kết hợp so sánh với nghệ thuật sử dụng
ngôn từ của Vũ Trọng Phụng trong chương Hạnh phúc của một tang
gia, trích tiểu thuyết Số đỏ)
Anh (chị) dựa vào hướng dẫn trong sách giáo khoa để tìm hiểu để
\ oe lại bài học về tác phẩm này đã học năm lớp 11
\\ Chú ý: đòn châm biếm, đả kích chủ yếu ở chỗ tác giả đã hư cấu, sáng tạo ra một cuộc nhầm lẫn để có cơ hội đả kích mạnh mẽ kẻ
thù
11
Trang 11_ THAW 20
NHAN VAT GIAO TIEP
I PHAN TICH NGU LIEU
1 Doc doan vin Vo nhdt của Kim Lân và trả lời câu hỏi
a) Trong hoạt động giao tiếp trên đây có nhiều nhân vật giao tiếp:
- Cặp nhân vật giao tiếp chính với nhau là Tràng và cô gái được gọi là “Thị”
- Ngoài ra, còn có mấy cô gái bạn với cô được gọi là “Thị”
Đặc điểm của các nhân vật giao tiếp:
- Về lứa tuổi: còn trẻ (các cô gái chưa chồng và Tràng cũng chưa
có vợ) i
- Giới tính: có cả nam (Trang) và nữ (các cộ gái)
- Tầng lớp xã hội: thuộc lớp người lao động nghèo trong xã hội, đi
kiếm sống hàng ngày trong nạn đói khủng khiếp năm 1945
- b) Các nhân vật giao tiếp chuyển đổi vai người nói, vai người nghe
và luân phiên lượt lời nhừ sau:
- Đầu tiên là câu hò của Tràng (vai người nói: hò cho đỡ nhọc, nhưng cũng có ý hướng vào các cô gái đang ngồi ở đấy - và họ
chính là vai người nghe) -
- Tiếp đó, các cô gái đẩy vai cô ả này (“thị”) ra với hắn và nói câu
tiếp theo: các cô gái là vai người nói, còn vai người nghe ở đây
là cô ả (“thị”) và có thể là cả Tràng nữa
- Cô ả (“thị”) lên tiếng tiếp theo: cô là vai người nói, còn vai
ae nghe lúc này lại là các cô gái và Tràng Như vậy, lượt lời (đầu tiên của “thị” không chỉ hướng tới Tràng (“Này, nhà tôi ơi, nói thật hay nói khoác đấy?”) mà hướng tới cả các cỗ gái
nữa (“Có khối cơm trắng mấy giò đấy|” - câu này vừa hướng tới các cô gái lại có thể hướng tới cả at nữa)
- Tràng trả lời cô ả (“thị”): Tràng là vai người nói, “thị” là vai
- La sối cùng vai ng nó là th; đủ: vớ gyfï nghệ a eng
e) Các nhân vật giao tiếp đều bình đẳng về vị trí xã hội, họ đều là
những người lao động nghèo đi kiếm sống trong nạn đói năm 1945
12
Trang 12d) Khi bắt đầu giao tiếp, Tràng chưa hể quen với các cô gái, nhưng cách giao tiếp dân dã giữa họ đã khiến họ từ quan hệ xa lạ chuyển
thành quan hệ thân tình Ngay câu hò của Tràng cũng là lời giao tiếp
có khả năng xóa đi “khoảng cách xa lạ” để tạo ra “quan hệ thân tình” khiến các cô gái mới có thể cười như nắc nẻ và nỏi với “thị”: “Rìa anh
ấy gọi!”, còn “thị” thì lại có thể nói ngay một câu thật thân tình với Tràng: “Này, nhà tôi ơi ”
e) Như vậy, những đặc điểm về vị thế xã hội, quan hệ thân - sơ, lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp, đã chi phối lời nói của các nhân vật khá
rõ (qua cách xưng hô, cách nói năng và những điệu bộ, cử chỉ phụ trợ cho lời nói, )
2 Đọc đoạn văn trong Chí Phèo của Nam Cao và phân tích theo những câu hỏi đã nêu trong SGK
a) Trong đoạn văn trên, có các nhân vật giao tiếp:
- âu nói với các bà vợ
- Oâu nói với dan lang
- Câu nói cuối cùng với Lí Cường, nhưng cũng là câu nói cho Chí Phèo nghe
b) Vị thế xã hội của Bá Kiến đã chỉ phối cách nói và lời nói của Bá Kiến:
- Đối với các bà vợ là vị thế gia trưởng; cách nói: quát, lời nói: đuổi vào nhà
- Đối với người làng là vị thế chánh tổng; cách nói: có dịu hơn nhưng nội dung lời nói vẫn là bảo họ đi về nhà
- Đối với Chí Phèo, trước đây là chủ - tớ, bây giờ là vị thế địch
thủ của nhau, Chí lại đến nhà để ăn vạ, nên cách nói của Bá
Kiến lúc này là ngọt nhạt, khéo léo; lời nói nhẹ nhàng, vừa
xoa dịu vừa nâng vị thế của Chí Phèo, kết tội Lí Cường,
- Đối với Lí Cường là vị thế cha - con, cách nói: quát mắng, lời
nói: ra lệnh
13
Trang 13c) Đối với Chí Phèo, Bá Kiến đã thực hiện một chiến lược giao tiếp
có thể nói là rất hoàn hảo để đánh gục đối thủ, bằng cả lời nói và
hành động theo các bước sau đây:
- Trước hết, Bá Kiến đuổi hết mọi người về để cô lập địch thủ và
chỉ đối thoại với riêng Chí Phèo
- Sau d6, Bá Kiến tìm mọi cách để “hg nhiệt” cơn tức giận của
Chí Phèo
- Tiếp theo, Bá Kiến nông oị thế của Chí Phèo lên ngang hàng
với mình và nhận Chí Phèo là có họ hàng '
- Cuối cùng, Bá Kiến kế: tội Lí Cường, con trai mình, rồi ra lệnh
cho Lí Cường phải đón tiếp Chí Phèo chu đáo để làm cho Chí Phéo ha da, tin theo minh
d) Với chiến lược giao tiếp như trên, Bá Kiến đã đạt được mục đích
và hiệu quả giao tiếp, cô lập được địch thủ để từng bước thuyết phục
Chí Phèo nghe theo mình Và không chỉ Chí Phèo, mà những người
nghe trong cuộc hội thoại với Bá Kiến như các bà vợ, dân làng, con trai đều nghe và làm theo lời của Bá Kiến
Cuối cùng, đọc kĩ uà học thuộc phần Ghi nhớ trong SGK để nắm
uững bài học
Il LUYEN TAP
1 Phân tích sự chỉ phối của vị thế xã hội ở các nhân vật đối với lời
nói của họ trong đoạn trích Tinh thôn thể dục của Nguyễn Công Hoan
Trong đoạn đối thoại này, có hai nhân vật giao tiếp là ông Lí và
anh Mich Vi thế xã hội của hai nhân vật này khác nhau, thậm chí
đối lập nhau trong xã hội thực dân phong kiến trước Cách mạng
tháng Tám:
- Ông Lí có vị thế xã hội cao, „là người đại diện cho chính quyển
thực dân phong kiến ở làng, thuộc giai cấp thống trị, nắm quyển sinh
- Anh -Mịch có vị thế xã hội thấp, là người nông dân nghèo lam
thuê cho ông Nghị, thuộc giai cấp bị trị, bị áp bức bóc lột, bị o ép
nhiều bể, quyển sống không được bảo đảm
Đoạn đối thoại trên diễn ra trong cuộc lùng bắt người đi xem đá bóng theo lệnh của quan trên: ông Lí là người đi bắt, anh Mịch là
người van xin để khỏi phải đi xem đá bóng
14
Trang 14Dựa vào những gợi ý trên, anh (chị) hãy chỉ rõ sự chỉ phối của vị thế
xã hội đối với lời nói của hai nhân vật giao tiếp: ông Lí và anh Mịch
2 Phân tích mối quan hệ giữa đặc điểm về vị thế xã hội, nghề nghiệp, giới tính, văn hóa, của các nhân vật giao tiếp với đặc điểm
trong lời nói của từng người ở đoạn trích Những trò lố hay là Va-ren
va Phan Bội Châu của Nguyễn Ái Quốc
- Chị con gái (thốt ra)
`- Anh sinh viên (kêu lên)
- Bác cu - li xe (thở dai)
- Một nhà nho (lầm bầm)
Đọc kĩ những lời nói của các nhân vật trên đây và suy nghĩ để trả
lời câu hỏi: Vì sao viên đội sếp Tây lại có thể quát tháo dân chúng
bằng những lời thô bỉ và hống hách như vậy? (ở vị thế xã hội nào?)
Vì sao, cùng một đối tượng là quan Toàn quyền, túà mỗi nhân vật trong đám đông lại có những lời khác nhau về y như vậy?
3 Đọc đoạn trích Tế đèn của Ngô Tất Tố và phân tích theo nHững
câu hỏi nêu trong SGK
a) Bà lão hàng xóm và chị Dậu có cùng một vị thế xã hội như nhau:
họ đều là những người nông dân nghèo trong xã hội thực dân phong
kiến trước Cách mạng tháng Tám Quan hệ của họ là quan hệ láng
giéng “tối lửa tắt đèn” có nhau, thực chất là tình thương yêu giai cấp
giữa những người lao động với nhau Vị thế và quan hệ đó đã chỉ phối
Nế thói tà Bệnh: sói của Hữổ ogsli đổi 93 “khâu ấ xố Anh (chị) phân
tích để làm sáng tỏ
b) Sự tương tác vẻ hành động nói giữa lượt lời của hai nhân vật
giao tiếp được thể hiện nÏhư sáu: j
- Cau 1: Bac trai da Ikha réi chi? (Ba lao hdi tham)
- Cau 2: Cam on cy, nha chéu da tinh t4o nhu thutng (Chj Déu cdm on)
(Những câu sau cũng có nội dung và cách nói tương tự như vậy)
18
Trang 15c) Lời nói và cách nói của các nhân vật cho thấy:
- Tink cách tốt đẹp: bà cụ thương người, quan tâm nhiệt tình đến
người bị nạn; chị Dậu thương chồng, săn sóc chồng chu đáo,
mang ơn người đã cứu giúp chồng minh
- Văn hóa đáng trọng: tuy là người lao động nhưng cách ứng xử
và lời nói của họ đều chứng tỏ họ là những người có văn hóa
Xem SGK Về tác giả Kim Lân, cẩn chú ý các điểm sau:
- Kim Lân là một cây bút chuyên viết truyện ngắn Thế giới nghệ thuật của ông thường tập trung ở khung cánh nông thôn và hình
tượng người nông dân Ông có những trang viết đặc sắc về phong tục
và đời sống làng quê: những “thú đồng quê” hay “phong lưu đồng
ruộng” như chơi non bộ, thả chim, đánh vật, chọi gà, chó săn, Ông viết chân thật và xúc động về cuộc sống và người dân quê mà ông hiểu sâu sắc cảnh ngộ và tâm lí của họ - những con người gắn bó tha thiết với quê hương và cách mạng :
- Kim Lân viết truyện có duyên,-cách dựng truyện khéo, nhân vật sống “như thật” trong cuộc đời, cách viết dân đã mà tỉnh tế, thuần phác
mà tài hoa với nét hóm hỉnh riêng của một con người từng trải, yêu đời
Đặc biệt ngôn ngữ của ông thuần thục, tự nhiên như ngôn ngữ của người
dân quê Ông được xem là một trong số ít cây bút viết về nông thôn hay
nhất (nông thôn ở đổng bằng Bắc Bộ) trong văn xuôi hiện đại nước ta
im Lân viết ít, nhưng những truyện ngắn của ông là những truyện “để
đời”, Pa dd du (00 Vuiả
như Làng, Vợ nhạt,
16
Trang 168 Tác phẩm
» Xuất xứ
Vợ nhặt là truyện ngắn xuất sắc nhất của Kim Lân in trong đập
Son ché xdu xi (1962) Tiền thân của truyện ngắn này là tiểu thuyết
Xóm ngụ cư - được viết ngay sau Cách mạng tháng Tám nhưng dang
lở và bị mất bản thảo Sau khi hòa bình lập lại (1954), Kim Lân dựa
vào một phần cốt truyện cũ để viết truyện ngắn này
» Đọc uăn bản
Tuy có lược một số đoạn, nhưng văn bản vẫn còn khá dài: Mặc dầu
vậy, anh (chị) vẫn phải đọc một lần toàn bộ văn bản để có cảm nhận chưng về cốt truyện và nhân vật Sau đó, đi sâu vào tác phẩm, chọn đọc
kĩ những đoạn cần thiết để suy nghĩ, thưởng thức thêm cái ý vị sâu xa và thú vị của truyện ngắn này Có thể đọc kĩ lại các đoạn sau đây:
- Tràng dẫn người “vợ nhặt” đi qua xóm ngụ cư về nhà
- Cảnh bà cụ Tứ ðặp người con dâu mới trong đêm
- Cảnh buổi sáng hôm sau: một không khí mới mẻ và bữa cơm đầu
1 Mạch truyện uà các đoạn
Mạch truyện đã được tác giả dẫn dắt một cách tự nhiên như vốn nó
diễn ra trong cuộc sống của những ngày đói năm 1945 ở một xóm ngụ
cư, tạo ra sức lôi cuốn và hấp dẫn đối với người đọc Câu chuyện chỉ xảy ra từ chiều hôm trước đến sáng hôm sau trong gia đình bà cụ Tứ
gồm người mẹ, anh con trai và người con dâu mới (vợ nhặt) qua các ' đoạn sau:
+ Tràng dẫn người vợ mới qua xóm ngụ cư về nhà trong buổi chiểu
ngày đói
- Tràng nhớ lại những lần gặp gỡ người đàn bà ở chỗ đẩy xe thóc
,giờ đây đã thành vợ của mình
¡_~ Bà cụ Tứ về, Tràng thưa chuyện với mẹ, và câu chuyện giữa mẹ
chồng và con dâu mới trong đêm
17
Trang 17- Buổi sáng hôm sau: một không khí gia đình thật ấm cúng hiệr
lên trong căn nhà lụp xụp của Tràng và a cơm đầu đón “nàng dât
mới”, niềm vui lẫn với hờn tủi
- Đoạn kết: tiếng trống thúc thuế vang lên đồn dập iach dinh
nhưng trong óc Tràng lại hiện lên hình ảnh đoàn người đi phá khc thóc Nhật và lá cờ đổ bay phấp phới
+ Người như Tràng (vừa nghèo, vừa xấu, lại là dân ngụ cư) mà
lấy được vợ, thậm chí có vợ theo!
+ Thời buổi đói khát này, người như Tràng, nuôi thân chẳng xong mà lại dám lay vg!
Nhưng khốn nỗi, nếu không phải năm đói, người ta không đói quá,
thì ai thèm lấy Trang Bởi đây là “vợ nhặt”, có cẩn cheo cưới gì đâu
Năm đói thế nào cũng xong, có thế người như Tràng mới lấy được vợ : Sự ý vị của điều lạ của tình huống nay la: một người không thể lấy vọ
-' được mà lại có vợ một cách thật dễ dàng như Tràng nên khi Tràng dẫn
người đàn bà lạ về đã làm cho cả xóm ngụ cư phải ngạc nhiên, bàn ra tán
vào (phân tích và chứng minh qua đoạn mở đầu tác phẩm) Tiếp đó là sụ ngạc nhiên của bà cụ Tứ, mẹ Tràng (chứng minh qua đoạn Tràng đón mẹ
- về để thưa chuyện với mẹ, tr.8) và của chính Tràng nữa: chuyện có vợ bất
ngờ cả với chính anh ta vì nó diễn ra nhanh quá đến mức không thể nào
tin được (“Nhìn thị ngồi ngay giữa nhà, đến bây giờ hắn vẫn còn ngờ ngọ
như không phải thế Ra hắn đã có vợ rồi đấy ư?”)
~ Người trong xóm ngụ cư mừng cho Tràng và cũng lo cho Tràng
Trang 18Như vậy, có thể nói chính tình huống “vợ nhặt” đã giúp nhà văn triển khai câu chuyện một cách tự nhiên Với tình huống truyện độc
đáo này, Kim Lân đã nói lên sâu sắc niềm khát khao tổ ấm gia đình
và tình thương giữa những con người nghèo khổ ngay trên bờ vực
thẳm của cái chết Đây là nội dưng nhân đạo chủ nghĩa cảm động
nhất của tác phẩm
3 Niêm khát khao tổ ấm gia đình của nhân uật Tràng
Kim Lân rất hiểu người nông dân Ông đã có những phát hiện rất
tinh tế và sâu sắc niểm khát khao tổ ấm gia đình qua nhân vật Tràng trong tác phẩm:
- Lúc quyết định lấy người đàn bà làm vợ: mặc dầu “chợn” nhưng
Tràng vẫn tặc lưỡi: “Chậc, ker Kim Lan _viết: “Sau không biết nghĩ
thế nào hắn: tặc lưỡi một cái ” Đó chính la niém khát khao tổ ấm gia
đình như một tiém thức, một tình cảm đã có từ lâu trong lòng người
nông dân nghèo khé nay,-gid đẩy bật lên thành tiếng nói, thành hành
động
- Khi đẫn vụ yỀ quả xôm ngụ = tâm trạng Trăng lô ra tới DI
đắc: “mặt hắn có một vẻ gì phớn phở khác thường Hắn tủm tỉm cười nụ
một mình và-hai mắt thì sáng lên lấp lánh”, “cái mặt cứ vênh lên tự đắc
với.mình” Kim.Lâđ& điễn tế thật tính tế cái vẻ hãnh diện hồn nhiên
của một con người lần: đâu tiên dẫn vợ mình đi qua xóm lang
- Trong buổi sáng đâu tiên-có-gia đình: Tràng bỗng nhận ra nột sự:
thay đổi mới mẻ, khác ta: từ nhà cửa, sân vườn cho đến mẹ và vợ
hắn đệu Rhác “Bỗng nhiên hắn thấy hắn thương yêu gắn bó với cái
nhà hắn lạ lùng”: Và “một nguồn vui sướng, phấn chấn đột ngột tràn
ngập trong.lòng? Bởi vĩ hắn đã có một gia đình Hắn sẽ cùng vợ sinh
con đề cái ở đây Bây giờ hắn mới thấy hắn “nên người”, hắn thấy hắn có “bổn phận” phải lo lắng chơ vợ con sau này Khát khao tổ ấm
gia đình của Tràng đã được Kim Lân diễn tả thật thấm thía và lay -
động, người đọt thấy rõ hạnh phúc gia đình đã lay động mạnh mẽ và làm biến chuyển, thay đổi tình cảm của nhân vật, nâng con người của
Tràng lên cao hơn, đẹp hơn Đây là một đoạn văn tràn đây tư tướng
nhân đạo vä-nhân văn của Kim Lân khi viết về những người nông
dân nghèo khổ đang trên bờ vực thẳm của cái chết nhưng họ vẫn hướng về sự sống, về tổ ấm gia đình ê
19
Trang 194 Tấm lòng của bà cụ Tứ
Nếu ở nhân vật Tràng là niểm khát khao tổ ấm gia đình thì ở bà
'eụ Tứ là tình thương đối với con trai và con dấu trong những ngày đói
nhiều vì thương con trai, và nhất là con dầu Mới gặp con dâu lần đâu
mà tình thương đã trào lên trong lòng người mẹ nghèo khổ, bà đã gọi
thị là “con” thật tự nhiên và nói chuyện cũng thật thân tình với thị
Ta hiểu đó không còn là tình dâu con trong nhà mà đã thành tình giai cấp giữa những người nghèo khổ với nhau trong lúc đói khát này
- Trong buổi sáng hôm sau, bà cụ đã dậy sớm dọn dep nha cửa và
cố tạo ra niềm vui cho cöfñi trai và con dâu - cho dù niểm vui đó thật
mong manh tội nghiệp Và chỉ tiết nghệ thuật đặc sắc của Kim Lân - nổi cháo cám - đã nói lên sâu sắc tấm lòng người râe nông dân với hai đứa con trong bữa cơm đầu đón “nàng dâu mới” Đó là những con người “đằng sau manh áo rách là những tấm lòng vàng” - một điển hình bà mẹ nông dân nhân hậu mà nhà văn đã đem đến cho ta trong
truyện ngắn xuất sắc này
5 Nghệ thuật uiết truyện ngắn của Kim lv
' Ở tác phẩm “Vợ nhặt” đã bộc lộ rõ cái tài và cái duyên viết mine
ngắn của Kim Lân Đặc sắc nghệ thuật của tác phẩm này được thể hiện ở các phương diện sau:
- Trước hết, tác giả đã sáng tạo ra được một tình huống truyện độc
đáo cuốn hút người đọc, từ tình huống truyện đó mà nhà văn đã triển
khai câu chuyện một cách tự nhiên, lôgíc qua nhiều cảnh sinh động, gợi cảm Đây là một thủ pháp nghệ thuật quan trọng, cỗ ý nghĩa then chốt đối với việc xây dựng cốt truyện, kết cấu tác phẩm, khắc họa tâm lí
nhân vật và bộc lộ chủ để của truyện ngắn này (như đã phân tích trên)
- Cách kể chuyện hấp dẫn, cách dựng cảnh gây ấn tượng với nhiều chỉ tiết đặc sắc (chẳng hạn, chỉ tiết hai lần Tràng gặp người đàn bà ở chỗ đẩy xe thóc, đặc biệt là chi tiết “thị ngồi sà xuống, cắm đâu ăn một chặp bốn bát bánh đúc liền chẳng chuyện trò gì”, chỉ tiết nổi cháo
cám của bà cụ 'Tứ, chỉ tiếŸ Tràng nhớ lại hình ảnh những người đi phá
kho thóc của Nhật và lá cờ đỏ bay phấp phới ở cuối truyện,, )
Trang 20- Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật tỉnh tế, sâu sắc, có nhiều
phát hiện (chẳng hạn, ở nhân vật Tràng qua các cảnh khác nhau: cảnh gặp người đàn bà ở chỗ đẩy xe thóc, cảnh đưa vợ về nhà qua xóm ngụ
cư, tâm trạng sốt ruột chờ mẹ về để thưa chuyện, và nhất là sự thay đổi
tình cảm, nhận thức của nhân vật trong buổi sáng khi đã có gia
đình, ); đối thoại sinh động (dẫn chứng qua các cảnh trong truyện); sử
dụng ngôn ngữ nông thôn nhuần nhị tự nhiên (dẫn chứng) Vì Kim Lân
là một nhà văn của nông thôn, rất hiểu- nông thôn và thạo ngôn ngữ
của nông dan “Van Kim Lan bao giờ cũng hóm hỉnh sắc sảo nhưng trung hậu” (Nguyễn Đăng Mạnh)
Cuối cùng, doc ki phan a trong SGK để nắm uững bài học
II LUYỆN TẬP
A Hướng dẫn giải bài tập tròng SGK
1 Đây là bài tập thuộc về cảm nhận riêng của từng người Anh_
(chị) tự làm theo sự lựa chọn và cảm nhận của-mình
2 Phân tích ý nghĩa đoạn kết của thiên truyện
Gợi ý: Đoạn kết khép lại câu chuyện: bằng tiếng trống thúc thuế vang
lên đổn dập ngoài đình Người mẹ chỉ biết đó là tiếng trống thúc thuế,
và càng thêm đau khổ trong nạn đới này Nhưng người con dâu và anh
con trai lại nghĩ sang một sự việc khác, một hướng khác: những đoàn
người đi phá kho thóc của Nhật và hình ảnh lá cờ đỏ bay phấp phới
Cái tên gọi Việt Ninh đã vang lên trong óc họ như một hì vọng, một niểm tin Vậy là, cách mạng đã đến với những người nghèo khổ ngay
trong trận đói khủng khiếp này Câu kết thiên truyện nói về cuộc sống của những con người trên bờ vực thẳm của cái chết đã bừng sáng lên, đem đến cái dư vị lạc quan cho câu chuyện, niềm tin cho người đọc:
“Trong óc Tràng vẫn thấy đám người đói và lá cờ đồ bay phấp phới ”
Ta hiểu, những người đói, sau trận đói khủng khiếp này, đã nhất tể
đi theo lá cờ đỏ dẫn đường, đi theo cách mạng, để làm nên cuộc Cách
mạng tháng Tám vĩ đại liền ngay sau đó
B Bài tập bổsung ˆ
Trong truyện ngắn Vợ nhặt, Kìm Lân đã sáng tạo nên một chỉ tiết nghệ thuật đặc sắc ở cuối truyện: nổi chớo cám mà bà cụ Tứ đã dành cho con trai và con dâu trong bữa cơm đầu tiên đón dâu mới Hãy viết lời bình chỉ tiết này trong khoảng một trang
21
Trang 21a) Chỉ tiết đó hàm chứa nhiều ý nghĩa sâư sắc:
¿ Nói-lên tấm lòng của người mẹ nông đân nghèo thương yêu con trai và con dâu trong ngày đầu của tổ ấm gia đình
_> Vẫn còn đọng lại dư vị chua xót, tải hờn của nạn -đói đang bủa vây quanh niểm vui mới nhen nhỏm của tổ ấm gia đình
b) Nghệ thuật: tác giả trần thuật lại chỉ tiết này một cách sinh động, day kich tinh, hap din ~ : š
_NGHỊ LUẬN VỀ MỘT-TÁC.PHẨM,
MỘT ĐOẠN TRÍCH VĂN XUÔI
Đây là bài văn nghị luận về một vấn để văn học Để chuẩn bị tốt
cho bài làm này, anh (chị) cân:
- Xem lại bài Nghị tuận oÈ một ý kiến ban uễ uãn học đã học để
nắm được yêu cậu, loại bài và các bước làm bài
- Đọc lại các văn bản văn học vã lí luận văn học trong sách giáo khoa
LGOIYMOTSODEBAI ` ˆ -
Sách giáo khoa gợi ý ba để bài để anh (chi) tham Tu làm quen
và biết được mức độ, cách ra để, yêu cầu của để, -
Đề 1: Về câu nói của Nguyễn Văn Siêu về-văn chương
Đề 2:.Giá.trị giáo dục của tác phẩm văn-học See 4
Đê3: Bình luận ý kiến của nhà văn Pháp La BBruy© về giá trị giáo
dục tư tưởng, tình cảm của tác phẩm văn: học -
Dưới đây, giới thiệu thêm hai để để anh (chị) suy nghĩ thêm:
Đề 4: Bình luận câu nói của C Béc-na: “Nghệ thuật là tôi Khoa học là chúng ta” Câu nói đó giúp anh (chị) hiểu: di về phong cách
nghệ thuật của nhà văn
Dé 5: Nha văn Nguyễn Khải có nói: SE ei `
“Văn chương có quyền nhưng không chỉ aide tả cái xấu xa, cái
ghê tởm, cái hèn nhát Thanh nam châm thu hút mọi thế hệ vẫn là cái cao thượng, cái tốt đẹp, cái thủy chung” :
„(Báo Văn nghệ số Tết Tân Mùi, 16-2-1991)
Anh (ehị) có đồng ý với ý kiến trên không? Hãy bình luận để làm sáng tổ vấn để mà nhà văn Nguyễn Khải đã nêu
Trang 22II GỢI Ý CÁCH LÀM BÀI
1 Ba đề 1, 2, 3 anh (chị) có thể tham khảo phần gợi ý của SGK
2 Hai đề 4, 5 anh (chị) trao đổi trong nhóm học tập
Gợi ý thêm: l
Đề 4: Từ sự khác nhau giữa nghệ thuật và khoa học mà bàn sâu thêm
về nét chủ yếu của phong cách nghệ thuật: đó là dấu ấn riêng
của nhà văn để lại trên tác phẩm của họ, như Buy - phông nói:
“Phong cách chính là người”
Dé 5: Dé bài yêu cầu bàn về phạm vi miêu tả của văn chương qua
câu nói của nhà văn Nguyễn Khải
Xem SGK Về tác giả Nguyễn Trung Thành, cân chú ý các điểm sau:
- Có thể xem Nguyễn Trung Thành (tức Nguyên Ngọc) là nhà văn có
sở trường viết về vùng đất Tây Nguyên hùng vĩ, thơ mộng và anh hùng, bất khuất của dân tộc Việt Nam: ông am hiểu kĩ về vùng đất, phong
tục, tập quán và con người Tây Nguyên mà ông từng yêu mến, gắn bó
trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống MI Ông đã viết về
những con người ấy với lòng trân trọng, cảm phục: trong kháng chiến
chống Pháp là tiểu thuyết Đđ? nước đứng lên, và trong kháng chiến chống Mĩ là truyện ngắn Ring xa nu - ca hai đều được xem là những
đỉnh ead cua văn học hiện đại
- Cùng với Nguyễn Thi, Lê Anh Xuân, Phan Tứ, Anh Đức, Nguyễn Quang Sáng, Nguyễn Trung Thành thuộc thế hệ những nhà vắn - chiến
sĩ được đào luyện trong hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc,
23
Trang 23mang những phẩm chất mới và hết lòng phục vụ hai cuộc kháng chiến đó bằng ngòi bút chiến đấu của mình, đúng như câu nói của Chủ tịch Hỗ Chí
Minh: “Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy” (Mặt trận văn hóa
nghệ thuat - NBS)
ˆ_ « Truyện của Nguyễn Trung Thành có lối viết trong sáng, chặt chẽ, ngôn ngữ đẹp, giàu chất sống hiện thực ñhưng lại có tẩm khái quát cao, đậm chất sử thi và cảm hứng lãng mạn: - tất cả đã tạo nên sức
cuốn hút và hấp dẫn đối với người đọc Một số tác phẩm của ông đã gây ấn tượng mạnh và để lại dấu ấn lâu bền trong nhiều thế hệ độc
và dựng thành phim)
B Tác phẩm
e Xuất xứ:
Truyện ngắn Rừng xờ nu được viết năm 1965; ra mắt lần đầu tiên trên
tạp chí Văn nghệ quân giải phóng miền Trung Trung Bộ (s6 2.- 1965), sau
đó in trong tập Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc, là tác phẩm
nổi tiếng nhất trong số các sáng tác của Nguyễn:Trung Thành viết trong
những năm chống MI Theo tác giả kế lại trong Vẻ một truyện ngắn -
Rừng xù nu (tháng 2 - 1990), những nhân vật Tnú, Dít, cụ Mết đều là những con người có thật, tác giả đã từng gặp ở Tây Nguyên, bước vào tác
phẩm với một tư thế mới, dáng vẻ mới phù hợp với thời điểm lịch sử của
truyện trong những ngày đồng khởi chống Mĩ ở Tây Nguyên (Dít và cụ
Mết vẫn được gìữ tên cũ, còn Tnú là tên tác giả mới đặt cho anh Ba, vi “cdi
tên Đề nó Kinh quá, không hợp với Tây Nguyên”) Dĩ nhiên, khi đi vào tác
phẩm, những con người thật đó đã được điển hình hóa, khái quát hóa
thành những nhân vật văn học có tâm cao hơn, mang chất sử thi đẹp hơn
e Đọc uăn bản
Đọc toàn văn bản một lần để nắm được cốt, truyện và diễn biến câu chuyện, có cảm nhận chung về tác phẩm; sau đó đọc kĩ những đoạn
quan trọng, chú ý các đoạn sau đây:
- Đoạn mở đâu: miêu tả cánh rừng xà nu dưới tâm đại bác
- Đoạn kế bọn lính giặc đánh đập dã man và giết chết mẹ con Mai
- Đoạn từ “Tnú không cứu sống được Mai” đến “ mình phải cầm
gidol ” (trang 47)
- Đoạn kể về hai bàn tay của Tnú bị giặc đốt cháy thành mười ngọn đuốc.'
Trang 24- Đoạn kết: Tnú lại ra đi Và những rừng xà nu nối tiếp chạy đến
chân trời
e Tìm hiểu tác phẩm
1 Ý nghĩa của thiên truyện ngắn qua:
a) Nhan đề tác phẩm: Rừng xờ nu Cũng giống như Bài ca chim Cho-
rao của Thu Bồn, Bóng cây Kơ-nia của Ngoc Anh (phỏng theo dân ca
Tây Nguyên), Nguyễn Trung Thành lấy một hình ảnh tiêu biểu, quen thuộc của vùng đất Tây Nguyên là Rừng xò nu như một biểu trưng dep
đẽ để nói lên sức sống bền vững, trường tổn của người dân Tây Nguyên,
tượng trưng cho tỉnh thắn đấu tranh kiên cường, bất khuất và khí thế
chiến thắng của họ trong công cuộc chống Mi cứu nước của cả dân tộc
Rừng xà nu đã trở thành một hình tượng mang vẻ đẹp sử thi hào hùng,
tráng lệ của truyện ngắn chống Mi này, và ngay từ nhan để, đã tạo ra sức cuốn hút, mời gọi người đọc đến với tác phẩm
-b) Đoạn văn miêu tả cánh rừng xà nu dưới tầm đại bác: Doan sân
mở đầu đã tạo một “không khí” rất ấn tượng cho câu chuyện về làng
Xô Man chống Mi sẽ kể trong tác phẩm Đại bác giặc đã.bắn gãy hàng
vạn cây xà nu nhưng những cây xà nu con lại mọc lên, ngọn xanh rờn,
hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời Trong đau thương, xà nu
vẫn sinh sôi nảy nở và trường tôn bất diệt như sức sống của dân làng
Xô Man trong công cuộc đánh MI, và “cứ thế hai ba năm nay cũng
không thấy gì khác ngoài những đổi xà nu nối tiếp tới chân trời” Đoạn văn đã tô đậm, khắc sâu ý nghĩa của nhan dé va góp phần bộc
lộ sâu sắc chủ để của tác phẩm
e) Hình ảnh những ngọn đổi, cánh rừng xa nu trai ra hit tam mat,
chạy tít tắp đến tận chân trời luôn trở đi trở lại trong tác phẩm có tác
dụng nhấn mạnh thêm hình tượng biểu trưng -của truyện, gây ấn
tượng trong người đọc và tạo ra mối liên hệ mật thiết giữa cây xă nu
với các thế hệ dân làng Xô Man chống MI (Trong truyện, tác giả đã nhắc đến cây xà nu tới 20 lần bằng những câu văn dep)
2 “Rừng xà nu là truyện của một đời, uà được kể trong một đêm”
(Nguyên Ngọc)
a) Người anh hùng mà cuộc đời được kể trong cái đêm dài ấy là
Tnú Anh là chiến sĩ giải phóng quân, được cấp trên cho phép về thăm
nhà trong một đêm, và trong cái đêm đáng ghi nhớ ấÿ;ˆngoài trời mưa lâm thâm, rì rào như gió nhẹ, bên bếp lửa nhà sàn bập bùng ngọn lửa
xà nu cháy đượm, cụ Mết đã kể cho dân làng nghe về cuộc đời của Tnú
Trang 25- một cuộc đời-bình thường như bao cuộc đời khác của dân làng Xô
Man nhưng đó là cúộc đời anh hùng bất khuất của người con của núi
rừng Tây Nguyên đã-đứng lên đánh thắng giặc Mĩ xâm luge va bon tay sai, dé bao vệ buôn làng và góp phần bảo vệ đất nước, Ba năm đi
bộ đội về thăm làng; Tnú đã trưởng thành, nhưng anh vẫn hòa chung
vào với dân làng, vẫn giữ vẹn nguyên truyền thống kiên cường bất
khuất của núi rừng quê hương, vẫn là một cây xà nu vững chãi trong
Ring xa nu bat ngàn, bất tận của Tây Nguyên hùng vi
Cuộc đời của 'Tnú được cụ Mết bắt đầu kể cho dân làng nghe như
một huyền thoại của quê hương: “Nó đấy! Nó là người Strá mình Cha
mẹ nó chết sớm, làng Xô Man này nuôi nó Đời nó khổ, nhưng bụng
nó sạch như nước suối làng ta Đêm nay tao kể chuyện nó cho cả làng
nghe, để mừng nó về thăm làng Người Strá ai có cái tai, ai có cái
bụng thương núi, thương nước, hãy lắng mà nghe, mà nhớ Sau này
tao chết rổi, chúng mày phải kể lại cho con cháu nghe ” Và câu
chuyện về cuộc đời người anh hùng ấy được già làng Mết kể lại bằng tiếng nói rất trầm hòa trong tiếng mưa đêm rì rào, bên bếp lửa xà nu bập bùng như lời kể khan Đam Săn, Xinh Nhã thuở nào vọng về, nghe thiêng liêng mà gần gũi, ấm áp Cuộc đời của Tnú như một cuốn phim quay chậm, hiện lên trước mắt mọi người một con người
bình thường mà đẹp, giản dị mà anh hùng, đau thương mà bất khuất,
và con người ấy đã trưởng thành, đã chiến thấng kẻ thù của buôn làng
anh, cũng là kẻ thù chung của đất nước Qua cuộc đời ấy, ta thấy rõ những phẩm chất đẹp đẽ và đáng quý của người anh hùng
- Tnú, trước hết cũng là một con người, như bao con người khác, anh
rất thương yèu-vợ con, và tìm mọi cách để bảo vệ Mai, và đứa con nhỏ
bị giặc bắt, bị chúng đánh đập dã man Chứng kiến cảnh đó, “hai con mắt anh đã thành hai cục lửa lớn”; cụ Mết đã không ngăn nổi anh, và
“một tiếng hét dữ dội, Tnú đã nhảy xổ vào giữa bọn lính”, “hai cánh tay rộng lớn như hai cánh lim chắc của anh ôm chặt lấy mẹ con Mai”
- „ Anh căm thù bọn giặc đến tàn sát buôn làng, giết hại người dân
làng Xô Man cũng như đã đánh đập và giết chết vợ con anh một cách
vô cùng tàn bạo, dã man KH
- Nhưng phẩm chất cơ bản nhất và đáng quý nhất của Tnú là lòng
yêu nước, yêu buôn làng và trung thành với cách mạng, tin tưởng vào Đảng, vào cán bộ Tnú đã nhắc lại lời cụ Mết một cách đỉnh nĩnh, tin
tưởng: “Cán bộ là Đảng Đảng còn, núi nước này còn” Và khi mười
ngón tay đã cháy thành mười ngọn đuốc, nghe lửa cháy trong lổng
26
Trang 26
ngực, cháy ở bụng, Tnú vẫn nghe lời anh Quyết, không kêu, không
thèm kêu van
- Cuộc đời Tnú đây đau khổ do tội ác của kẻ thù gây nên Vợ con
anh bị giặc giết hại, bản thân anh bị giặc đốt mười ngón tay, mỗi ngón chỉ còn hai đốt Nhưng “bàn tay hận thù” ấy đã thành “bàn tay
trả thù”, và trong một trận chiến đấu, anh đã bóp chết tên khỉ huy
đồn bằng đôi bàn tay tàn tật khi nó cố thủ trong hầm
Tóm lại, từ trong đau thương, mất mát, Tnú đã đứng dậy và trưởng
thành trong ngọn lửa yêu nước và cách mạng của cuộc kháng chiến chống Mi, Từ một em liên lạc chưa biết chữ, thành một du kích gan
dạ, dũng cảm của buôn làng,:và cuối cũng, Tnú đã xin gia nhập bộ đội
để thành một chiến sĩ giải phóng quân có ý thức đây đủ về vai trò và nhiệm vụ của mình, có đủ sức mạnh để chiến thắng kẻ thù Từ truyền thống kiên cường bất khuất của nú: rừng Tây Nguyên, anh đã ra đi để góp phần bảo vệ buôn làng, và khi về, anh lại làm đẹp thêm truyền thống đó của quê hương Chính cụ Mết đã phải thốt lên lời khen:
“Anh lực lượng” Được!” Lời khen của người già làng xác nhận anh đã
trưởng thành, xứng đáng với quê hương, là niềm tự hào của người Strá, của dân làng Xô Man Người anh hùng ở đây luôn gắn bó với cội nguồn, với mọi người, mang vẻ đẹp gần gũi, thân quen, chinh vi thé
b) Trong câu chuyện bi tráng về cuộc đời Tnú, bốn lần cụ Mết nhắc
tới ý Tnú đã không cứu sống được vợ con là để nhấn mạnh một diéu:
chúng ta chưa chuẩn bị được lực lượng, chưa có đủ uũ khí để đánh
giặc 0à thẳng giặc Hai bàn tay không thì làm sao mà thắng giặc? -
Ngùn ngụt cảm thù như lửa cháy, nhưng Tnú “chỉ có hai bàn tay
_ trắng” thì làm sao cứu được vợ con; không những thế, chính Tnú cũng
bị giặc trói lại và tra tấn dã man như ta đã biết Nhấn mạnh điều
này, là để cụ Mết nhắc nhở con cháu đến một điều hệ trọng nhất, cốt
tử nhất - nó là điều sống còn cho dân làng Xô Man: “Nghe rõ chưa, các
con, rõ chưa Nhớ lấy, ghi lấy Sau này tao chết rồi, bay còn sống phải
nói lại cho con cháu: chúng nó đã cầm súng, mình phải cẩm giáo! ”
(nhấn mạnh do NB§) Nghe như lời di huấn, lời trăng trối thiêng liêng:của người già làng đối với con cháu trơng buôn Bởi đây chính là
sự lựa chọn con đường đi đúng đắn nhất của buôn làng, của Tây
Nguyên, của cả dân tộc lúc này: Để cho sự sống của đất nước uà nhân dân mãi mãi trường tôn, không có cách nào khác là phải đứng lên,
câm uũ khí chống lại bè tiêu diệt kẻ thù tàn ác Qua lời nhắc nhở của
27
Trang 27
cụ Mết với dân làng Xô Man, tác giả đã đặt ra một điều có ý nghĩa lớn lao của dân tộc và thời đại Đây cũng là chủ để tư tưởng sâu sắc của
thiên truyện ngắn này
c) Câu chuyện của Tnú cũng như của dân làng Xô Man nói lên chân
lí lớn của dân tộc ta trong thời đại chống Mi cứu nước lúc bấy giờ để chống lại một kẻ thù tàn ác nhất: phải dùng bạo lực cách mạng để
chống lại bạo lực phản cách mạng, vũ trang chiến đấu là con đường tất yếu để tự giải phóng của nhân dân Làng Xô Man ở Tây Nguyên
cũng như toàn miển Nam, cả nước ta đã chiến thắng giặc Mi bằng con
đường ấy để làm sáng ngời lên chânh lí ấy của dân tộc và của thời đại
Và cũng chính vì thế mà câu chuyện bi tráng của cuộc đời Tnú mang ý
nghĩa điển hình cho số phận và con đường của cộng đồng làng Xô Man
Đó cũng là lí do cụ Mết muốn chân lí ấy phải được nhớ, được ghỉ để
truyền cho con cháu
d) Các hình tượng cụ Mết; Mai, Dít, bé Heng đã góp phần lchông nhỏ
làm nổi bật nhân vật chính và tư tưởng của tác phẩm
- Cụ Mết là người kể lại chuyện cuộc đời Tnú cho dân làng nghe, cũng chính là người đã nói lên cái chân lí lớn lao của dân tộc và thời
đại: “Chúng nó đã cẩm súng,*mình phải cắm giáo! ”
- Mai là vợ của Tnú, qua việc Mai dạy chữ cho Tnú và việc Mai và
con bị giặc tra tấn, giết chết một cách tàn bạo đã-làm nổi bật tính cách, hành động và phẩm chất của Tnú
- Dít là em Mai, “nhưng tôi muốn Dít sẽ là mối tình sau của Tnú,
một mối tình sẽ lờ mờ và chắc chắn hiện lên ở cuối truyện” (Nguyên
Ngọc); Dít lại là bí thư chỉ bộ làng Xô Man Nhân vật này cùng góp
phần làm rõ tính cách của Tnú và bộc lộ tư tưởng cơ bản của tác phẩm
- Bé Heng là thế hệ tiếp theo của Tnú, là những cây xà nu con trong Ring xd nu bat ngàn, chắc chắn bé Heng cũng sẽ là một Tnú trong tương lai để đi tiếp bước đường của anh, thực hiện ước mơ và lí
tưởng của anh
3 Hình ảnh rừng xà nu 0ò hình tượng nhân uật Tnú gắn kết uới nhau như thế nào?
- Hình ảnh cánh rừng xà nu là hình ảnh thiên nhiên biểu trưng cho
sức sống mãnh liệt, cho ý chí kiên cường bất khuất và khí thế chiến
thắng của nhân dân Tây Nguyên, của dân làng Xô Man trong cuộc
kháng chiến chống Mĩ cứu nước :