Phương pháp nghiên cứu Phương pháp luận nghiên cứu của Luận văn dựa trên quan điểmcủa Đảng và Nhà nước Việt Nam về công tác quản lý nhà nước,quan điểm và chính sách cải cách hành chính,
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày 7 tháng 11 năm 2006, Việt Nam chính thức là thành viênthứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) Đây là sự kiện
có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, thúc đẩy mạnh mẽ quá trình cảicách, phát huy nguồn lực của đất nước và thu hút, sử dụng có hiệuquả các thế mạnh bên ngoài Từ thời điểm này, nền kinh tế ViệtNam chính thức hội nhập vào sân chơi lớn nhất của thế giới, “sựphát triển kinh tế của mỗi quốc gia luôn bị chi phối, ràng buộc lẫnnhau thông qua các thể chế, sự kiện kinh tế quốc tế Cũng như cácngành kinh tế khác, du lịch không tránh khỏi sự tác động, ràng buộctất yếu trên” [20] Điều này đặt ra cho công tác quản lý nhà nước vềlưu trú du lịch cơ hội, vận hội và trách nhiệm mới
Theo ông Iswaran, Quốc vụ khanh đặc trách công nghiệp vàthương mại Singapore, trong bài phát biểu với báo chí1 tại Diễn đànkinh tế Việt Nam, tháng 5/2007, thì thách thức mới cho các nềnkinh tế thế giới và châu Á hiện nay, trong đó có Việt Nam, là cuộccạnh tranh toàn cầu ngày càng khốc liệt Châu Âu và Mỹ, hiện đónggóp đến 40% GDP của thế giới, đang nỗ lực điều chỉnh chính sáchkinh tế để cạnh tranh với châu Á nhằm đảm bảo việc làm và thunhập cho người dân của đất nước họ Trung Đông, với tổng GDP
Trang 2hàng năm khoảng 1.000 tỉ USD [42] là một vùng đất đầy tiềm năng
và cơ hội, cũng đang tham gia tích cực hơn vào đấu trường kinh tếtoàn cầu
Ở châu Á, những quan tâm truyền thống về an ninh, chạy đua
vũ trang không dịu đi nhưng cũng không căng thẳng hơn, song sự
ổn định là mối quan tâm của hầu hết các quốc gia trong khu vực.Thêm vào đó, các mối nguy cơ mới như khủng bố, tranh chấp, dịchbệnh đang trở thành các yếu tố gây bất ổn toàn khu vực Để vượtqua những thách thức đó, các nước đang phát triển châu Á và ViệtNam chúng ta không có con đường nào khác hơn là nỗ lực, hợp tác
để cùng làm cho chiếc bánh trên thị trường chung lớn dần lên, đónggóp vào sự ổn định và phát triển của khu vực ASEAN và châu Á
Theo đánh giá của nhiều chuyên gia kinh tế, du lịch là ngànhdịch vụ lớn nhất thế giới, chiếm tới 40% giá trị thương mại toàncầu Du lịch còn là ngành sử dụng khoảng 1/10 lao động trên toànthế giới, đặc biệt là ngành kinh tế có khả năng tạo việc làm chovùng sâu, vùng xa và vùng nông thôn Trong bức thông điệp nhânNgày Du lịch thế giới, ngày 27 tháng 9 năm 2006, Tổng Thư ký Tổ
chức Du lịch Thế giới đã khẳng định: “Du lịch - Công cụ quan
trên thế giới là một trong những ngành có tốc độ tăng trưởng nhanh
Trang 3nhất, tốc độ tăng trưởng nguồn khách đạt khoảng 3,8%/ năm vàdoanh thu ngoại tệ tăng khoảng 14,6%/năm
Cũng theo dự báo của UNWTO [50], năm 2010, lượng khách
du lịch quốc tế trên toàn thế giới ước lên tới 1.046 triệu lượt khách,thu nhập từ du lịch dự kiến đạt 900 tỷ USD và ngành du lịch sẽ tạothêm khoảng 150 triệu việc làm, chủ yếu tập trung ở khu vực Châu
Á - Thái Bình Dương Đối với Việt Nam, trong văn kiện Đại hộiĐảng toàn quốc lần thứ IX, du lịch đã được xác định là ngành kinh
tế mũi nhọn trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Văn kiệnĐại hội X của Đảng cũng xác định, du lịch là ngành kinh tế dịch vụquan trọng, góp phần tăng trưởng GDP quốc gia và chuyển dịch cơcấu kinh tế - xã hội
Từ năm 1990 đến nay, du lịch đã phát triển vượt bậc, liên tụctăng trưởng ở mức hai con số, góp phần xóa đói giảm nghèo, tạoviệc làm và tăng nguồn thu ngoại tệ cho đất nước Chiến lược pháttriển du lịch Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010 [25] đặt mục tiêu tăngtrưởng đạt 11-11,5%/năm Năm 2010 khách quốc tế vào Việt Nam
du lịch ước từ 5,5 đến 6 triệu lượt, khách nội địa đạt từ 25 đến 26triệu lượt, số lượng và chất lượng cơ sở lưu trú du lịch phát triểnđáp ứng nhu cầu lưu trú đa dạng của các đối tượng khách Thu nhập
du lịch, năm 2010, ước đạt tới 4 đến 4,5 tỷ USD, trong đó doanh thu
Trang 4thuộc lĩnh vực kinh doanh lưu trú luôn chiếm 70 - 75%, đóng gópcủa ngành du lịch sẽ chiếm 6,5% GDP của cả nước.
Cùng với tốc độ phát triển chung của Ngành Du lịch, các loại
cơ sở lưu trú du lịch đã và đang phát triển nhanh cả về số lượng vàchất lượng, cơ bản đáp ứng nhu cầu đa dạng của du khách Hệ thốngCSLTDL và các dịch vụ bổ sung trong cơ sở lưu trú du lịch đangngày càng góp phần tích cực tạo nên sức hấp dẫn chung của sảnphẩm du lịch Việt Nam Tuy nhiên, trước thực trạng phát triển quánhanh và đa dạng, cầu lưu trú du lịch hiện luôn vượt quá cung nhưhiện nay, giá buồng lưu trú du lịch ở Việt Nam cao so với khu vực
và thậm chí cả một số nơi trên thế giới, nhiều nhà đầu tư không thểhoặc khó có thể có được địa điểm để đầu tư xây dựng cơ sở lưu trú
du lịch mới xứng tầm, cạnh tranh không lành mạnh vẫn xảy ra, và
để cơ sở lưu trú du lịch thực sự phát triển ổn định, bền vững tronggiai đoạn phát triển mạnh cả về lượng và chất, nâng cao năng lựccạnh tranh, mở rộng hợp tác và tích cực, chủ động hội nhập với khuvực và thế giới, đáp ứng các yêu cầu về phát triển bên trong, côngtác quản lý nhà nước cần phải chuyển biến mạnh mẽ hơn nữa Tuynhiên, vấn đề đặt ra trong bối cảnh hiện nay đối với các nhà quản lý
và những nhà khoa học là cải thiện như thế nào, cách thức ra saovẫn còn là vấn đề thời sự cần phải được nghiên cứu đầy đủ và thấuđáo
Trang 5Xuất phát từ thực tiễn đó, học viên lựa chọn đề tài cho Luận
văn Thạc sỹ du lịch học là " s" để tiến hành nghiên cứu.
2 Lịch sử nghiên cứu trong và ngoài nước
Quản lý nhà nước về cơ sở lưu trú du lịch trong xu hướng hộinhập đã và đang là vấn đề cấp bách của Ngành Du lịch Việt Namtrước đây và trong xu hướng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế quốc
tế hiện nay của Việt Nam hiện nay Vấn đề đã được một số tổ chức,
cá nhân, cơ quan nghiên cứu, các báo, tạp chí trong và ngoài nướcnhiều lần đề cập đến ở các khía cạnh khác nhau Tuy nhiên, cácnghiên cứu này mang tính khái quát cho Ngành Du lịch Việt Nam,chưa đi sâu vào từng lĩnh vực cụ thể, cơ bản Một trong những khíacạnh cần nghiên cứu là cơ sở lưu trú du lịch
Đề tài nghiên cứu cấp ngành năm 2006 của Tổng cục Du lịch:
“Thực trạng và giải pháp chủ yếu phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn” đã đề cập đến một số nội dung chủ
yếu như: (i) xu hướng phát triển của du lịch trên thế giới; (ii) quanđiểm, chỉ đạo của Đảng và Nhà nước nhằm phát triển du lịch ViệtNam thành ngành kinh tế mũi nhọn trong xu hướng hội nhập; và(iii) thực trạng Ngành Du lịch Việt Nam, các định hướng, giải pháphiện nay của Ngành trong việc thực hiện các mục tiêu của Đảng vàNhà nước giao để từng bước đưa du lịch thành ngành kinh tế mũinhọn
Báo cáo “Tăng cường năng lực quản lý và xúc tiến các hoạt
động thương mại dịch vụ của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập”
Trang 6thuộc Dự án VIE/02/009 do nhóm tác giả trường Đại học Kinh tếQuốc dân Hà Nội và chuyên gia tư vấn Viện Nghiên cứu Chính sáchQuốc gia Nhật Bản thực hiện năm 2006 Bản báo cáo là công trìnhnghiên cứu công phu, hữu ích đối với Ngành Du lịch Việt Nam, qua
đó một số nội dung đã được nhóm nghiên cứu làm rõ như: (i) thựctrạng, xu hướng phát triển của ngành du lịch Việt Nam trong xuhướng hội nhập, (ii) kết quả điều tra, phân tích, đánh giá sản phẩm
du lịch Việt Nam, (iii) phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội vàthách thức đối với Ngành Du lịch Việt Nam và (iv) một số khuyếnnghị, giải pháp nhằm phát triển bền vững Ngành Du lịch
Ngân hàng thế giới thực hiện “Bản báo cáo tóm tắt Du lịch
Việt Nam” năm 2002, đây là công trình nghiên cứu, phân tích sâu
sắc thực trạng Ngành Du lịch Việt Nam, phân tích SWOT (điểmmạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức), đưa ra một số khuyến nghị
và giải pháp nhằm phát triển du lịch trong xu hướng hội nhập Tuynhiên, bên cạnh phương pháp luận rất hữu ích được báo cáo nêu lên,các số liệu và một số kiến nghị đưa ra trong bản Báo cáo cho đếnnay đã không còn phù hợp, lạc hậu với thực tế của nền kinh tế ViệtNam nói chung và Ngành Du lịch nói riêng
Bên cạnh các công trình nghiên cứu trên, Kỷ yếu hội thảo:
“WTO - những giải pháp phát triển du lịch Việt Nam” do Tạp chí
Du lịch Việt Nam phối hợp với Ban Quốc tế - Báo Điện tử ĐảngCộng sản Việt Nam tổ chức cũng có nội dung liên quan Ở đây tậphợp các công trình, tham luận của các nhà nghiên cứu, cán bộ đang
Trang 7công tác trong và ngoài Ngành Du lịch bàn về thực trạng, giải phápđột phá để đẩy mạnh tốc độ phát triển du lịch trong giai đoạn hậuWTO của Việt Nam, công tác đào tạo và sử dụng nguồn nhân lựctrong Ngành Du lịch
Ngoài ra, còn một số Luận văn, bài viết liên quan đến quản lýnhà nước về du lịch Tuy nhiên, vấn đề quản lý nhà nước trong lĩnhvực lưu trú du lịch thì chưa được quan tâm một cách đầy đủ Nhưvậy, đề tài này cần thiết được triển khai để giải quyết các vấn đềliên quan cả về mặt lý luận và thực tiễn
3 Mục tiêu nghiên cứu của Luận văn
Mục tiêu của Luận văn tập trung vào những nội dung sau:
- Hệ thống hóa cơ sở khoa học về công tác quản lý nhà nước,quản lý nhà nước về cơ sở lưu trú du lịch trong điều kiện hội nhậpkinh tế quốc tế của Việt Nam Xác định xu hướng phát triển của cơ
sở lưu trú du lịch trong khu vực và trên thế giới, kinh nghiệm quản
lý nhà nước chuyên ngành lưu trú du lịch của một số nước trongkhu vực
- Phân tích thực trạng cơ sở lưu trú du lịch ở Việt Nam, côngtác quản lý nhà nước của Ngành Du lịch đối với lĩnh vực lưu trú dulịch trong bối cảnh hội nhập
- Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cường quản
lý nhà nước trong lĩnh vực lưu trú du lịch ở Việt Nam
Trang 84 Đối tượng và giới hạn nghiên cứu
a.Đối tượng nghiên cứu: Công tác quản lý nhà nước về cơ sở
lưu trú du lịch trước xu thế hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
b Giới hạn nghiên cứu:
- Phạm vi về không gian và nội dung nghiên cứu: Đề tài tậptrung nghiên cứu về thực trạng hệ thống cơ sở lưu trú du lịch vàcông tác quản lý nhà nước về lĩnh vực lưu trú du lịch trong xuhướng hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam
- Phạm vi về thời gian: Do tính chất phát triển mạnh mẽ, nhạycảm của ngành lưu trú du lịch và sự biến động không ngừng củakinh tế thế giới, kinh tế khu vực và ở Việt Nam, đề tài nghiên cứu,tham khảo và đánh giá các số liệu, tài liệu đã công bố chủ yếu từnăm 2002 đến năm 2008, kết quả nghiên cứu có thể áp dụng cho 5năm sau
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận nghiên cứu của Luận văn dựa trên quan điểmcủa Đảng và Nhà nước Việt Nam về công tác quản lý nhà nước,quan điểm và chính sách cải cách hành chính, đổi mới kinh tế, pháttriển du lịch, chiến lược phát triển hệ thống cơ sở lưu trú du lịch củaNgành Du lịch trong quá trình mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế.Ngoài ra, Luận văn sử dụng một số phương pháp cụ thể sau:
Trang 9- Nghiên cứu tài liệu
Mục đích của phương pháp này nhằm thu thập tài liệu liên quanđến lý luận về khoa học quản lý nhà nước, quản lý nhà nước về lưutrú du lịch, ngành khách sạn và lý thuyết hội nhập kinh tế quốc tế.Bên cạnh đó, việc nghiên cứu tài liệu góp phần thu thập kết quảnghiên cứu đã công bố, liệt kê chủ trương, chính sách của Đảng vàNhà nước liên quan đến vấn đề của Luận văn, làm nổi bật nội dungnghiên cứu, tạo cơ sở tin cậy về lý luận và thực tiễn để áp dụng giảiquyết các nội dung của Luận văn
và tổng hợp thành nội dung nghiên cứu hoàn chỉnh
Trang 10- Phương pháp phỏng vấn chuyên gia
Phỏng vấn là đưa ra câu hỏi đối với người đối thoại để thu thậpthông tin Trong Luận văn này, do tính đặc thù của chuyên mônthuộc lĩnh vực quản lý nhà nước chuyên ngành của một số nướctrong khu vực cũng như những vấn đề cấp bách hiện nay của Ngành
Du lịch Việt Nam và hệ thống cơ sở lưu trú du lịch chưa được công
bố, thông qua phỏng vấn Bà Đỗ Thị Hồng Xoan, Vụ trưởng VụKhách sạn - Tổng cục Du lịch, tiếp xúc trực tiếp với cán bộ Tổngcục Du lịch Thái Lan, Bộ Du lịch Malaysia, Luận văn đã được cácchuyên gia trên cung cấp thông tin chuyên môn, gợi ý phương ángiải quyết vấn đề rất thực tiễn Đây là một trong những phươngpháp hữu ích giúp Luận văn cập nhật thực tế hiện nay của Ngành
Du lịch, lưu trú du lịch ở khu vực và Việt Nam
6 Kết quả nghiên cứu
Hệ thống lý luận cơ bản về cơ sở lưu trú du lịch, thực trạng hộinhập, quản lý nhà nước về lưu trú du lịch ở Việt Nam trong xuhướng hội nhập và một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệuquả công tác quản lý nhà nước góp phần đẩy nhanh hơn nữa tốc độphát triển hệ thống cơ sở lưu trú du lịch cả về lượng và chất
7 Kết cấu của Luận văn
Trang 11Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung Luận văn đượccấu trúc thành 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước trong lĩnh vực lưu trú du lịch trước xu thế hội nhập quốc tế.
Chương này tập trung nêu các vấn đề về khoa học quản lý,quản lý nhà nước; lý luận về lưu trú du lịch và hội nhập kinh tế quốc
tế Kinh nghiệm về quản lý cơ sở lưu trú du lịch của một số quốcgia trong khu vực và bài học thực tiễn đối với Việt Nam
Chương 2: Thực trạng cơ sở lưu trú du lịch và công tác quản lý nhà nước về lưu trú du lịch ở Việt Nam.
Chương 2 chủ yếu phân tích thực trạng phát triển của cơ sở lưutrú du lịch và công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực lưu trú dulịch ở Việt Nam trong xu hướng hội nhập; phân tích cơ hội, tháchthức và những hạn chế của quản lý nhà nước cần phải khắc phục đểphát triển hơn nữa số lượng, chất lượng cơ sở lưu trú du lịch đápứng các mục tiêu của Đảng và Nhà nước về du lịch trong giai đoạnmới của đất nước
Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cường quản lý nhà nước về cơ sở lưu trú du lịch trong xu hướng hội nhập
Chương này có các nội dung:
Trang 12- Mục tiêu và định hướng phát triển cơ sở lưu trú du lịch ở ViệtNam; quan điểm và mục tiêu cải cách công tác quản lý nhà nướctrong xu thế hội nhập;
- Phương hướng phát triển du lịch và cơ sở lưu trú du lịch ởViệt Nam; một số giải pháp và kiến nghị với Chính phủ, Ngành Dulịch và các cơ quan có thẩm quyền để tăng cường công tác quản lýnhà nước trong xu hướng hội nhập
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG LĨNH VỰC LƯU TRÚ DU LỊCH TRƯỚC XU THẾ HỘI
NHẬP QUỐC TẾ
Trang 131.1 Khái niệm cơ bản và phân loại cơ sở lưu trú du lịch
1.1.1 Lịch sử của lưu trú
Cho đến nay, đã có nhiều tác giả cũng như các công trìnhnghiên cứu khác nhau viết về lịch sử, xuất xứ và nhu cầu về lưu trúnói chung và lưu trú du lịch nói riêng Hầu hết các công trình nàyđều khẳng định ngành kinh doanh lưu trú ra đời và chính thức đượcthừa nhận khi xã hội xuất hiện nền sản xuất hàng hóa, khi đó sự dichuyển của con người diễn ra mạnh mẽ Theo Trịnh Xuân Dũng(1999) [36] và Trần Đức Thanh (1999) [34], sự phát triển của ngànhkinh doanh lưu trú du lịch được chia thành 4 giai đoạn phát triển cơbản như sau:
1.1.1.1 Giai đoạn chế độ nô lệ
Thời kỳ này đã có nhiều cuộc hành hương, thăm viếng lẫnnhau, đi chữa bệnh hoặc di chuyển vì các mục đích tôn giáo Dòngngười này thường đi về các quốc gia hoặc nơi có các thánh địa tôngiáo như Hy Lạp, Ý, Ai Cập, Palestin, Những điểm họ đến là cáckhu dân cư dọc đường quốc lộ, chùa, đền, nhà thờ, suối nước nóng,
… Ban đầu, chủ nhà thường phục vụ khách nơi ở, chỗ nghỉ và thức
ăn, khi ra về khách hay biếu lại chủ nhà món quà tương đương vớicông phục vụ của chủ Đây có thể nói là khởi thủy của hoạt độngkinh doanh lưu trú sau này Bên cạnh đó, cùng với hoạt động nàycủa dân cư, chính quyền sở tại nơi khách lưu trú có những quy định
Trang 14nhằm đảm bảo an ninh, trật tự, trị an chung cho khách và cộng đồngdân cư như: trách nhiệm của chủ nhà cho khách lưu trú, quy định vềhình thức sổ sách, cách thức ghi chép thân thế khách lưu trú đối vớichủ nhà, nghiêm cấm khách có các hành vi làm tổn hại đến thuầnphong, mỹ tục, văn hóa của địa phương, …
1.1.1.2 Giai đoạn chế độ phong kiến
Trong giai đoạn này, nghề thủ công phát triển tương đối mạnh,giao lưu thương mại giữa các quốc gia, các vùng miền trong cùngmột quốc gia hoặc vùng lãnh thổ phát triển nhanh Điều này dẫn đếnviệc hình thành các trung tâm buôn bán ở các đầu mối giao thôngquan trọng như cửa sông, thành phố lớn, các làng nghề thủ côngtruyền thống, Ở những nơi này đã xuất hiện các cơ sở lưu trú phục
vụ khách và thương nhân lưu lại qua đêm cùng một số dịch vụ phục
vụ khách như ăn, uống, tắm, giặt, Ngoài việc nâng cao chất lượngdịch vụ cơ bản như trên, các cơ sở này còn mở thêm các dịch vụ vuichơi giải trí và những dịch vụ bổ sung khác phục vụ khách và kinhdoanh thêm đáp ứng nhu cầu của khách và nhu cầu tăng thêm doanhthu cho chủ nhà
Bên cạnh đó, do xã hội phong kiến đã có sự phân hóa giàu,nghèo, phân hóa giai cấp thống trị và hình thành bộ máy thống trị,giai cấp thống trị và những người giàu có đã xây dựng những cơ sởlưu trú tại các khu nghỉ hè, nghỉ đông hoặc tại các nơi có nguồn tàinguyên tự nhiên đa dạng, đẹp, đáp ứng được nhu cầu thư giãn, chữabệnh và một số nhu cầu khác Như vậy, ngoài các cơ sở lưu trú
Trang 15truyền thống, giai đoạn này đã bắt đầu xuất hiện loại hình lưu trú tạithành phố, khu đông dân cư và các khu nghỉ dưỡng.
1.1.1.3 Giai đoạn tư bản chủ nghĩa
Cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19, cùng với việc phát minh ra máyhơi nước, công nghiệp phát triển mạnh, giao lưu kinh tế, văn hóa,chính trị diễn ra sôi động trên toàn thế giới Nhu cầu về lưu trú vànghỉ ngơi dường như tăng nhanh, thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽcủa hệ thống lưu trú không chỉ về số lượng mà cả về các loại hình
và chất lượng dịch vụ Đối tượng phục vụ của các cơ sở lưu trú thời
kỳ này rất đa dạng Nhu cầu của khách về dịch vụ tăng lên khôngngừng và chất lượng phục vụ ngày càng hoàn thiện
1.1.1.4 Giai đoạn giữa hai cuộc chiến tranh thế giới
Chiến tranh thế giới bùng nổ, kéo theo việc một số quốc gia lớntrên thế giới lâm vào tình trạng chiến tranh Ngành kinh doanh lưutrú cũng tạm ngưng tốc độ phát triển do sự bất ổn của kinh tế, chínhtrị Nhưng từ khi chiến tranh kết thúc, khoảng từ năm 1950 trở lạiđây, ngành này tiếp tục phát triển với quy mô lớn, có thể nói đây là
“thời kỳ vàng son” của ngành, là nơi diễn ra các cuộc họp, hội nghịquan trọng, nơi lưu trú, sinh hoạt của nhiều tầng lớp trong xã hội.Ngành lưu trú, đặc biệt là kinh doanh lưu trú du lịch trở thành ngànhkinh tế quan trọng của nhiều quốc gia, là một bộ phận cơ bản,không thể thiếu được đối với hoạt động kinh doanh du lịch quốc tế,trở thành đầu mối thực hiện công tác “xuất khẩu tại chỗ” mang lại
Trang 16hiệu quả kinh tế - xã hội cao Đồng thời đây cũng là nơi tái phânchia nguồn thu nhập xã hội giữa các tầng lớp dân cư, giữa các địaphương, các quốc gia thông qua du lịch.
1.1.2 Khái niệm cơ bản về lưu trú, cơ sở lưu trú du lịch và hội nhập
1.1.2.1 Khái niệm lưu trú
Theo Từ điển Tiếng Việt trực tuyến www.vdict.com, "lưu trú"
có nghĩa là "ở lại", Từ điển trực tuyến leipzig.de định nghĩa “lưu trú” là “ở tạm”, Từ điển Tiếng Việtwww.vi.wikitionary.org thì "lưu trú" cũng được khái niệm là "ởtạm" Bên cạnh đó, trong Danh mục thuật ngữ của Tổ chức Tiêuchuẩn Quốc tế "ISO 18513 trong lĩnh vực dịch vụ du lịch - kháchsạn và các loại hình khác của lưu trú du lịch"3 thì khái niệm cơ sởlưu trú có nghĩa là nơi cung cấp tối thiểu hai dịch vụ: (i) ngủ và (ii)các trang thiết bị vệ sinh
www.informatik.uni-Qua các quan điểm nêu trên, trong phạm vi Luận văn này,chúng ta có thể đưa ra và hiểu thêm một định nghĩa về cơ sở lưu trú
như sau: Cơ sở lưu trú có nghĩa là nơi cung cấp tối thiểu hai dịch
vụ: (i) ngủ và (ii) các trang thiết bị vệ sinh cá nhân phục vụ con người ở nơi nào đó trong một khoảng thời gian nhất định.
Trang 171.1.2.2 Khái niệm và phân loại cơ sở lưu trú du lịch ở Việt Nam
Theo Điều 4, Luật Du lịch [18] thì: "Cơ sở lưu trú du lịch là cơ
sở cho thuê buồng, giường và cung cấp các dịch vụ khác phục vụkhách lưu trú, trong đó khách sạn là cơ sở lưu trú du lịch chủ yếu
Cơ sở lưu trú du lịch bao gồm: khách sạn, làng du lịch, biệt thự kinhdoanh du lịch, căn hộ kinh doanh du lịch, nhà nghỉ du lịch, bãi cắmtrại du lịch, nhà ở có phòng cho khách du lịch thuê và các loại cơ sởlưu trú du lịch khác"
Bên cạnh đó, theo Thông tư số 88/2008/TT-BVHTTDL ngày
31 tháng 12 năm 2008 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch hướngdẫn thực hiện Nghị định số 92/2007/NĐ-CP ngày 01 tháng 6 năm
2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật
Du lịch về lưu trú du lịch thì các loại cơ sở lưu trú du lịch ở ViệtNam được hiểu như sau:
Khách sạn (hotel) là cơ sở lưu trú du lịch, có quy mô từ mười
buồng ngủ trở lên, đảm bảo chất lượng về cơ sở vật chất, trang thiết
bị và dịch vụ cần thiết phục vụ khách lưu trú và sử dụng dịch vụ,bao gồm các loại sau:
- Khách sạn thành phố (city hotel) là khách sạn được xây dựngtại các đô thị, chủ yếu phục vụ khách thương gia, khách công vụ,khách tham quan du lịch;
- Khách sạn nghỉ dưỡng (hotel resort) là khách sạn được xâydựng thành khối hoặc thành quần thể các biệt thự, căn hộ, băng-ga-
Trang 18lâu (bungalow) ở khu vực có cảnh quan thiên nhiên đẹp, phục vụnhu cầu nghỉ dưỡng, giải trí, tham quan của khách du lịch;
- Khách sạn nổi (floating hotel) là khách sạn di chuyển hoặcneo đậu trên mặt nước;
- Khách sạn bên đường (motel) là khách sạn được xây dựng gầnđường giao thông, gắn với việc cung cấp nhiên liệu, bảo dưỡng, sửachữa phương tiện vận chuyển và cung cấp các dịch vụ cần thiếtphục vụ khách du lịch
Làng du lịch (holiday village) là cơ sở lưu trú du lịch gồm tập
hợp các biệt thự hoặc một số loại cơ sở lưu trú khác như căn hộ,băng-ga-lâu (bungalow) và bãi cắm trại, được xây dựng ở nơi có tàinguyên du lịch, cảnh quan thiên nhiên đẹp, có hệ thống dịch vụ gồmcác nhà hàng, quầy bar, cửa hàng mua sắm, khu vui chơi giải trí, thểthao và các tiện ích khác phục vụ khách du lịch
Biệt thự du lịch (tourist villa) là biệt thự có trang thiết bị, tiện
nghi cho khách du lịch thuê, có thể tự phục vụ trong thời gian lưutrú Có từ ba biệt thự du lịch trở lên được gọi là cụm biệt thự dulịch
Căn hộ du lịch (tourist apartment) là căn hộ có trang thiết bị,
tiện nghi cho khách du lịch thuê, có thể tự phục vụ trong thời gianlưu trú Có từ mười căn hộ du lịch trở lên được gọi là khu căn hộ dulịch
Bãi cắm trại du lịch (tourist camping) là khu vực đất được quy
hoạch ở nơi có cảnh quan thiên nhiên đẹp, có kết cấu hạ tầng, có cơ
Trang 19sở vật chất kỹ thuật du lịch và dịch vụ cần thiết phục vụ khách cắmtrại
Nhà nghỉ du lịch (tourist guest house) là cơ sở lưu trú du lịch,
có trang thiết bị, tiện nghi cần thiết phục vụ khách du lịch nhưkhách sạn nhưng không đạt tiêu chuẩn xếp hạng khách sạn
Nhà ở có phòng cho khách du lịch thuê (homestay) là nơi sinh
sống của người sở hữu hoặc sử dụng hợp pháp trong thời gian chothuê lưu trú du lịch, có trang thiết bị, tiện nghi cho khách du lịchthuê lưu trú, có thể có dịch vụ khác theo khả năng đáp ứng của chủnhà
Các cơ sở lưu trú du lịch khác gồm tàu thủy du lịch, tàu hỏa dulịch, ca-ra-van (caravan), lều du lịch
Thực tiễn tại các quốc gia trên thế giới, cách phân loại của một
số tài liệu về quản trị kinh doanh khách sạn và định hướng phân loạicủa Tổ chức Du lịch Thế giới thì một số loại hình cơ sở lưu trú dulịch khác như nhà nghỉ du lịch, làng du lịch, căn hộ du lịch, bãi cắmtrại du lịch và nhà ở có phòng cho khách du lịch thuê, ít có sựphân biệt, chia nhỏ về loại hình [13], [50] Khách sạn là loại hìnhphổ biến nhất nên việc phân loại được các quốc gia chú trọng, việcphân loại này góp phần đưa hình ảnh, chất lượng khách sạn đến gầnhơn với khách du lịch và khách dự kiến có nhu cầu sử dụng dịch vụtại khách sạn Bên cạnh đó, mỗi quốc gia có cách khái quát, địnhhướng tên gọi cơ sở lưu trú du lịch của mình một cách khác nhaunhằm tạo thuận tiện cho việc triển khai công tác quản lý nhà nước
Trang 20trong lĩnh vực Trong khu vực ASEAN, Thái Lan phân loại cơ sởlưu trú du lịch thành khách sạn, khách sạn nghỉ dưỡng, căn hộ chothuê và nhà nghỉ du lịch; Ma-lay-xi-a chia cơ sở lưu trú du lịchthành khách sạn, nhà nghỉ du lịch, khách sạn nghỉ dưỡng, căn hộcho khách du lịch thuê, ký túc xá, nhà trọ du lịch Như vậy, đốitượng quản lý được chú trọng nhất và chủ yếu nhất vẫn là kháchsạn
Về cơ bản, khách sạn được phân thành các đối tượng như sau:
Phân loại khách sạn theo vị trí địa lý:
Trang 21của khách sạn Ví dụ: Tại Mỹ, khách sạn có từ 500 buồng được xếpvào loại quy mô lớn; từ 125 buồng tới cận 500 buồng có quy môtrung bình; còn khách sạn có dưới 125 buồng là khách sạn có quy
mô nhỏ
Tại Việt Nam: Khách sạn có thứ hạng 5 sao, được gọi là cóquy mô lớn, có từ 100 buồng trở lên; khách sạn có quy mô trungbình là khách sạn có từ 50 buồng tới cận 100 buồng; còn khách sạndưới 50 buồng được gọi là quy mô nhỏ
Phân loại theo mức cung cấp dịch vụ của khách sạn
Trang 22- Khách sạn liên kết hỗn hợp (là khách sạn liên kết kết hợp cáchình thức trên).
Phân loại theo cơ sở vật chất
- Khách sạn truyền thống;
- Khách sạn hội nghị;
- Khách sạn gia đình
Phân loại theo quy mô quản lý
- Khách sạn độc lập (indepedent hotel): Là khách sạn hoạtđộng độc lập, không liên kết hoặc có một chi nhánh nào;
- Khách sạn dạng chuỗi (chain - hotels): Một chuỗi khách sạngồm ba hay nhiều khách sạn trở nên do cùng một công ty sở hữu,quản lý hoặc hoạt động dưới cùng một danh hiệu
1.1.3 Khái niệm về hội nhập, hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hóa
1.1.3.1 Khái niệm hội nhập kinh tế quốc tế
Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam, Vũ Dũng4 đã nhìn nhận:
"Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình từng bước xây dựng một nền
kinh tế mở, gắn kết nền kinh tế trong nước với nền kinh tế khu vực
và thế giới, là xu thế khách quan không một quốc gia nào có thểđứng ngoài cuộc" Thật vậy, hội nhập không phải là một hiện tượng
Trang 23mới Tuy nhiên, đến quá trình toàn cầu hóa mới từ những thập niên
80 trở lại đây, hội nhập kinh tế quốc tế mới trở thành một trào lưu,cuốn hút sự tham gia của tất cả các nước Hội nhập kinh tế quốc tếđược thúc đẩy bởi những nhân tố chính sau:
- Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, nhất là côngnghệ thông tin;
- Hoạt động thương mại, tài chính - tiền tệ và đầu tư quốc tế giatăng mạnh mẽ theo xu hướng tự do hoá;
- Thương mại hàng hóa, dịch vụ ngày càng gia tăng, chiếm tỷtrọng lớn trong GDP của các nước;
- Các công ty xuyên quốc gia ngày càng lớn mạnh đóng vai tròtiên phong của quá trình toàn cầu hóa;
- Sự thay đổi cơ bản về khái niệm an ninh, lấy phát triển kinh tế
là cách thức hữu hiệu để bảo đảm an ninh cho mỗi quốc gia
Những yếu tố trên, đặc trưng của quá trình toàn cầu hóa, đã làmcho hội nhập kinh tế quốc tế trở thành một trào lưu, một xu thế tấtyếu Bất cứ một nền kinh tế nào muốn không bị gạt ra ngoài lề củadòng chảy phát triển, đều phải nỗ lực hội nhập vào xu thế chung,điều chỉnh chính sách, mở cửa thị trường thông qua cắt giảm thuếquan và dỡ bỏ rào cản phi quan thuế, làm cho việc trao đổi hànghóa, luân chuyển vốn, lao động, công nghệ và kỹ thuật trên phạm vithế giới ngày càng tự do, thông thoáng hơn
1.1.3.2 Toàn cầu hóa
Trang 24"Là quá trình tự do hóa thương mại và đầu tư, làm cho các ràocản đối với trao đổi thương mại và đầu tư bị loại bỏ dần, từ đó tạođiều kiện thuận lợi để các nước tăng cường thương mại quốc tế, thuhút đầu tư và các nguồn lực bên ngoài, phát huy các nguồn lực bêntrong nhằm phát triển những ngành sản xuất mà mỗi nước có khảnăng và hiệu quả nhất" [16].
“Toàn cầu hoá là một quá trình gia tăng đến phạm vi toàn cầucác quá trình sản xuất và lưu thông, dựa trên các thành tựu của côngnghệ thông tin, chất lượng mới của nguồn nhân lực, bối cảnh liênkết chính trị và giao lưu văn hoá mạnh mẽ toàn cầu” [21, 22]
Như vậy, có thể hiểu một cách khái quát về toàn cầu hóa là quátrình tự do hóa thương mại và đầu tư của các tập đoàn kinh tế,doanh nghiệp kinh doanh trên toàn thế giới, các hoạt động kinhdoanh không có giới hạn bởi thể chế chính trị hay các rào cản khác
mà có quan hệ hữu cơ với nhau Toàn cầu hóa chỉ bị ảnh hưởng bởicác quy luật kinh tế
1.2 Quản lý nhà nước về cơ sở lưu trú du lịch
1.2.1 Khái niệm về quản lý và quản lý nhà nước
Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác laođộng Việc phát hiện ra "quản lý" được coi là kết quả tất yếu của sựchuyển biến của nhiều quá trình lao động cá biệt, tản mạn, độc lậpvới nhau thành một quá trình lao động được phối hợp lại một cách
Trang 25khoa học C.Mác5 đã viết "Bất cứ lao động xã hội hay lao độngchung nào mà tiến hành trên quy mô khá lớn đều yêu cầu phải có sựchỉ đạo, điều hành, điều hòa những hoạt động cá nhân, Một nhạc
sỹ độc tấu thì tự điều khiển lấy mình nhưng một dàn nhạc thì cầnphải có nhạc trưởng"
Như vậy, quản lý là một hoạt động khách quan nảy sinh khi cần
có nỗ lực tập thể để thực hiện mục tiêu chung Quản lý diễn ra ởmọi tổ chức từ phạm vi nhỏ đến lớn, từ đơn giản đến phức tạp.Trình độ xã hội hóa càng cao, yêu cầu quản lý càng cao và vai tròcủa nó càng tăng lên
Về nội dung, thuật ngữ "quản lý" [9] có nhiều cách diễn đạtkhác nhau Với ý nghĩa thông thường, phổ biến nhất thì "quản lý”
có thể hiểu là hoạt động nhằm tác động một cách có tổ chức và địnhhướng của chủ thể quản lý vào một đối tượng nhất định để điềuchỉnh các quá trình xã hội và hành vi của con người nhằm duy trìtính ổn định và phát triển của đối tượng theo những mục tiêu đã ổnđịnh
Với khái niệm được đề cập trên, quản lý bao gồm các yếu tốsau:
- Chủ thể quản lý: Là tác nhân tạo ra các tác động quản lý Chủ
thể luôn là con người hoặc tổ chức Chủ thể quản lý tác động lên đốitượng quản lý bằng các công cụ với những phương pháp thích hợptheo những nguyên tắc nhất định
Trang 26- Đối tượng quản lý: Tiếp nhận trực tiếp sự tác động của chủ
thể quản lý Tùy theo từng loại đối tượng khác nhau mà người tachia thành các dạng quản lý khác nhau
- Khách thể quản lý chịu sự tác động hay chịu sự điều chỉnh của
chủ thể quản lý, đó là hành vi của con người, các quá trình xã hội.Mục tiêu quản lý là cái đích cần phải đạt tới tại một thời điểmxác định do chủ thể quản lý định trước Đây là căn cứ để chủ thểquản lý thực hiện các tác động quản lý cũng như lựa chọn cácphương pháp quản lý thích hợp
Quản lý ra đời chính là nhằm đến hiệu quả nhiều hơn, năng suấtcao hơn trong công việc Thực chất của quản lý con người trong tổchức là nhằm đạt mục tiêu của tổ chức với hiệu quả cao nhất
Quá trình quản lý chịu sự tác động của các yếu tố sau:
- Yếu tố con người (yếu tố xã hội);
- Yếu tố chính trị (môi trường chính trị);
- Yếu tố tổ chức;
- Yếu tố quyền lực;
- Yếu thông tin;
- Yếu tố văn hóa tổ chức
Bên cạnh khái niệm quản lý, thuật ngữ quản lý nhà nước nóichung (nguyên bản tiếng Anh là Public Administration)6 [9] với các
nghĩa là: thứ nhất, tất cả quyền lực của hành chính nhà nước là của
6 Quản lý hành chính nhà nước chương trình chuyên viên - Phần II Hành chính nhà nước và công nghệ hành
Trang 27nhân dân hay nói cách khác là bắt nguồn từ nhân dân; thứ hai, đối tượng phục vụ của nền hành chính nhà nước là nhân dân; thứ ba,
nền hành chính nhà nước thực hiện công cụ và giải quyết tự do,quyền, lợi ích và nghĩa vụ hợp pháp của công dân, tổ chức
Trong quản lý nhà nước, hoạt động quản lý hành chính là hoạtđộng đa dạng trung tâm, chủ yếu: vì hoạt động hành chính là hoạtđộng tổ chức và điều hành để thực hiện quyền lực nhà nước trongquản lý xã hội Tuy nhiên, quản lý hành chính nhà nước có phạm vihẹp hơn so với quản lý nhà nước Thứ nhất, quản lý hành chính nhànước tức là hoạt động chấp hành và điều hành Thứ hai, chủ thểquản lý hành chính nhà nước là các cơ quan, cán bộ, công chứchành chính nhà nước trong hệ thống Chính phủ từ Trung ương đến
để thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước nhằm duytrì và phát triển cao các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật, thỏamãn các nhu cầu hợp pháp của con người trong công cuộc xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc" [9]
Trang 28Với cách tiếp cận về thuật ngữ quản lý như trên, có thể thốngnhất quan điểm là: khái niệm quản lý nhà nước, công tác quản lýnhà nước xuất hiện cùng với nhà nước, quản lý nhà nước được gọi
là quản lý các công việc của nhà nước Nội hàm của quản lý nhànước thay đổi phụ thuộc vào chế độ chính trị, trình độ phát triểnkinh tế - xã hội của mỗi một quốc gia qua các giai đoạn lịch sử.Ngày nay, quản lý nhà nước xét về mặt chức năng bao gồm hoạtđộng lập pháp của cơ quan lập pháp, hoạt động hành chính (chấphành và điều hành) của Chính phủ và hoạt động tư pháp của hệthống tư pháp
Trong hệ thống xã hội, tồn tại rất nhiều chủ thể tham gia quản
lý xã hội như: Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị xã hội, các đoànthể nhân dân, các Hiệp hội, Trong hoạt động quản lý đó thì quản
lý nhà nước có những điểm khác biệt
Một là, chủ thể quản lý nhà nước là các cơ quan trong bộ máy
nhà nước, gồm: lập pháp, hành pháp, tư pháp
Hai là, đối tượng quản lý của Nhà nước là toàn thể nhân dân
tức toàn bộ dân cư sống và làm việc trong phạm vi lãnh thổ quốcgia
Ba là, vì tính đa dạng về lợi ích, hoạt động của các nhóm người
trong xã hội, quản lý nhà nước diễn ra trên tất cả các lĩnh vực của
Trang 29đời sống xã hội: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốcphòng, ngoại giao nhằm thỏa mãn nhu cầu hợp pháp của nhân dân.
Bốn là, quản lý nhà nước mang tính quyền lực nhà nước, lấy
pháp luật làm công cụ quản lý chủ yếu nhằm duy trì sự ổn định vàphát triển của xã hội
1.2.2 Quản lý nhà nước về cơ sở lưu trú du lịch
1.2.2.1 Quy trình quản lý nhà nước về lưu trú du lịch
Trong lĩnh vực du lịch nói chung và lưu trú du lịch nói riêng,nội dung hoạt động quản lý hành chính nhà nước được cụ thể hóathông qua các mục tiêu, nhiệm vụ, chức năng hoạt động của bộ máy
tổ chức hành chính nhà nước được tổ chức theo từng cấp với quyềnhạn, thẩm quyền xác định Cơ cấu tổ chức và đội ngũ cán bộ, côngchức tương ứng thực hiện chức năng hành pháp tương ứng được cơquan có thẩm quyền phân cấp, giao phó
Để thực hiện có hiệu quả những mục tiêu, nhiệm vụ của mình,
cơ quan liên quan trong lĩnh vực du lịch và lưu trú du lịch, cán bộ,công chức và người lao động các cấp tuân thủ quy trình của quản lýhành chính nhà nước về cơ sở lưu trú du lịch
- Triển khai Quy hoạch, kế hoạch phát triển cơ sở lưu trú du lịch
Trên cơ sở chiến lược phát triển kinh tế, xã hội đã được Đảng
và Nhà nước hoạch định, quyết định; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du
Trang 30lịch, Tổng cục Du lịch chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về lưu trú
du lịch, chính quyền địa phương các cấp xây dựng, chỉ đạo thựchiện quy hoạch, kế hoạch chi tiết về phát triển hệ thống cơ sở lưutrú du lịch, đảm bảo các yêu cầu về quy hoạch, phát triển đã đượcđặt ra, đáp ứng tuyệt đối định hướng đặt ra của cấp trên và nhu cầucủa khách du lịch
- Tổ chức bộ máy hành chính quản lý lưu trú du lịch
Ngành Du lịch phối hợp với Bộ Nội vụ hoặc cơ quan liên quan
về tổ chức cán bộ, công chức và lao động các cấp tổ chức bộ máyđảm bảo tinh gọn từ trung ương đến địa phương gồm Bộ Văn hóa,Thể thao và Du lịch, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch các tỉnh,thành phố để điều hành tập trung, thống nhất, thông suốt, linh hoạt,giải quyết kịp thời, đúng thẩm quyền những vấn đề về lưu trú dulịch đã được đặt ra và các vấn đề phát sinh theo nhu cầu thực tiễnphát triển Cơ quan trực tiếp tham gia quản lý lưu trú du lịch cấpquận, huyện được tổ chức linh hoạt theo cấp phòng, giúp địaphương triển khai các kế hoạch quản lý, phát triển đã được cơ quancấp trên hoạch định, phê duyệt
- Sắp xếp, bố trí đội ngũ cán bộ, công chức theo từng cấp
Đội ngũ cán bộ, công chức các cấp đủ về số lượng, tinh về chấtlượng, đảm bảo được sắp xếp, bố trí công việc theo tiêu chuẩn chứcdanh, tiêu chuẩn công việc Về cơ bản, đội ngũ cán bộ, công chức
Trang 31hiện nay đủ phẩm chất chính trị, vững về chuyên môn và có đạođức, trách nhiệm với công việc được giao, thực hiện tốt các nhiệm
vụ quản lý nhà nước về lưu trú du lịch theo phân cấp, thẩm quyền.Tuy nhiên, việc tuyển dụng, sử dụng và bố trí cán bộ, công chức vàngười lao động theo nhu cầu phát triển và thực tiễn tại từng cấp,từng địa phương
- Ra các quyết định hành chính và tổ chức thực hiện quyết định
Quản lý nhà nước về lưu trú du lịch được thực hiện bằng cáccông cụ pháp luật, các quyết định, hướng dẫn pháp luật của cơ quan
có thẩm quyền để điều chỉnh tất cả các hành vi liên quan, đảm bảocác quyết định hành chính được thực hiện có hiệu lực, có tính khảthi cao phù hợp với thực tế đa dạng của các cơ sở lưu trú du lịchtrên địa bàn cả nước
- Quản lý lưu trú du lịch là sự phối hợp giữa các ngành, các cấp liên quan
Việc phối hợp giữa các ngành, các cấp nhằm tạo sự đồng bộhoạt động theo cấp và phân hệ trong hệ thống hành chính, phối hợpgiữa Ngành du lịch với các ngành khác; giữa Du lịch với các tổchức xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị sự nghiệp để thực hiện cácquyết định quản lý phù hợp, hiệu quả
Trang 32- Giám sát, kiểm tra, báo cáo, tổng kết, đánh giá công tác quản
lý nhà nước
Bất cứ lĩnh vực nào, ngành nào dù là quản lý nhà nước hayquản trị doanh nghiệp thì công tác giám sát, kiểm tra, báo cáo, tổngkết và đánh giá luôn là nội dung quan trọng, là thước đo việc thựchiện công việc Muốn quản lý tốt cần tăng cường công tác kiểm tra,giám sát việc thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức thuộc
bộ máy nhà nước các cấp từ trung ương đến địa phương của Ngành
Du lịch Tạo lập một hệ thống giám sát công tác kiểm tra thực sự, cóhiệu quả và thường xuyên để có những biện pháp điều chỉnh kịpthời, đặc biệt trước tình hình phát triển nhanh, nhạy hiện nay của hệthống cơ sở lưu trú du lịch ở Việt Nam
1.2.2.2 Chủ thể và khách thể trong quản lý nhà nước về lưu trú
du lịch
Chủ thể nói chung là Nhà nước và các cơ quan liên quan cóchức năng quản lý nhà nước được pháp luật phân quyền, phân cấp.Nhưng với lưu trú du lịch, chủ thể chủ yếu là Bộ Văn hóa, Thể thao
và Du lịch, các ngành liên quan như Công an, Y tế, Môi trường, Laođộng, Bảo hiểm, và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch các tỉnh,thành phố trong cả nước Chủ thể có nhiệm vụ chấp hành pháp luật
và chỉ đạo thực hiện chủ trương, kế hoạch của nhà nước
Trang 33Chủ thể có những thẩm quyền nhất định liên quan đến 04 (bốn)nội dung, bao gồm;
- Ban hành các văn bản dưới luật quy định chức năng, nhiệm
vụ, quyền hành và tổ chức bộ máy trong quản lý nhà nước về lưu trú
du lịch ở Việt Nam
1.2.2.3 Hình thức quản lý hành chính trong lĩnh vực lưu trú du lịch
- Hình thức pháp lý: Cơ quan có thẩm quyền các cấp được phép
ban hành văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến cơ sở lưu trú dulịch Đây là hình thức pháp lý quan trọng nhất trong hoạt động củaNgành Du lịch nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình.Thông qua các văn bản quy phạm pháp luật, Ngành Du lịch quy
Trang 34định những quy tắc xử sự chung trong lĩnh vực quản lý, nhữngnhiệm vụ, quyền hạn và nghĩa vụ đối với cơ sở lưu trú du lịch.
- Hình thức ban hành văn bản áp dụng pháp luật Đây là hoạt
động chủ yếu của Ngành Du lịch, nội dung chủ yếu là áp dụng mộthay nhiều quy phạm pháp luật vào một trường hợp cụ thể, trongnhững điều kiện cụ thể Việc ban hành văn bản này làm phát sinh,thay đổi hay chấm dứt những quan hệ hành chính, pháp luật liênquan đến lĩnh vực lưu trú du lịch
1.2.2.4 Phương pháp quản lý hành chính nhà nước về lưu trú
du lịch
Trên cơ sở vận dụng thành tựu của các khoa học khác để thựchiện quản lý hành chính nhà nước như kế hoạch hóa, thống kê, toánhọc, tâm lý - xã hội và nhóm phương pháp khoa học quản lý: giáodục tư tưởng, tổ chức thực hiện, kinh tế và phương pháp hành chính.Cho đến nay, phương pháp quản lý hành chính nhà nước về cơ sởlưu trú du lịch được áp dụng cụ thể như sau:
- Phương pháp quản lý đảm bảo hiệu quả, tính tác động củacông tác quản lý có tính đến đặc điểm của từng cơ sở lưu trú du lịch
- Phương pháp quản lý đảm bảo tính khả thi, mang lại hiệu quảcao đồng thời phải mềm dẻo, linh hoạt
- Phương pháp quản lý có tính sáng tạo, phù hợp với pháp luậthiện hành và cơ chế cho phép của nhà nước
Trang 351.2.2.5 Nội dung quản lý nhà nước về lưu trú du lịch ở Việt Nam
Điều 10 Luật du lịch nêu nội dung quản lý nhà nước về du lịch
và Mục 4, chương VI của Luật Du lịch quy định chi tiết đối với kinhdoanh lưu trú du lịch, các hàng hóa, dịch vụ trong cơ sở lưu trú dulịch, căn cứ theo đó cùng với các văn bản hiện hành của Tổng cục
Du lịch quy định về chức năng, nhiệm vụ và bộ máy của các đơn vịthành viên thì, quản lý nhà nước về lưu trú du lịch ở Việt Nam tậptrung chủ yếu vào các nhiệm vụ sau:
- Xây dựng, tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch
và chính sách phát triển cơ sở lưu trú du lịch trong phạm vi cả nước;
- Xây dựng, ban hành, hướng dẫn và tổ chức thực hiện văn bảnquy phạm pháp luật, tiêu chuẩn, định mức kỹ thuật trong lưu trú dulịch;
- Phối hợp tổ chức và quản lý hoạt động đào tạo, bồi dưỡngnguồn nhân lực, nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ liênquan đến lưu trú du lịch;
- Điều tra, đánh giá hiện trạng tài nguyên, cung và cầu du lịch
để xây dựng quy hoạch phát triển cơ sở lưu trú du lịch tại các địaphương trong cả nước;
- Tổ chức hợp tác quốc tế trong lưu trú du lịch, phối hợp với cácbên liên quan xúc tiến hình ảnh cơ sở lưu trú du lịch Việt Nam trong
và ngoài nước;
Trang 36- Tham mưu cho Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
mô hình tổ chức quản lý nhà nước về lưu trú du lịch theo chiềungang và chiều dọc từ Trung ương đến địa phương trong quản lýnhà nước về lưu trú du lịch, nội dung phối hợp quản lý đối với các
Trang 37lớn, đặc biệt là vấn đề cải cách hành chính, thay đổi phương thứcxây dựng và thực thi nền hành chính quốc gia
Đối với lĩnh vực dịch vụ, du lịch, một số quốc gia trong khuvực có đặc điểm văn hóa, địa lý, lịch sử và xuất phát điểm kinh tếtương đối tương đồng đã có những thay đổi và cải cách mạnh mẽ,góp phần trở thành động lực quyết định đưa nền kinh tế đất nướcphát triển, đặc biệt là Thái Lan, Ma-lay-xi-a Trong lĩnh vực quản lýlưu trú du lịch, Ngành Du lịch Việt Nam cũng cần tiếp thu nhiềukinh nghiệm đưa điểm đến Việt Nam sánh ngang hai cường quốc dulịch ở Đông Nam Á này Trong phạm vi Luận văn, tác giả đề cập sơlược mô hình, kinh nghiệm về công tác quản lý nhà nước về du lịch
và lưu trú du lịch của Thái Lan và Ma-lay-xi-a
1.3.1 Kinh nghiệm của Thái Lan [49]
Bộ Du lịch và Thể thao Thái Lan với chức năng, nhiệm vụ chủ
yếu là thực hiện công tác quản lý, xúc tiến, hỗ trợ và phát triển cáclĩnh vực du lịch, thể thao, giáo dục thể thao và những nhiệm vụkhác theo quy định của Luật Du lịch Thái Lan Bộ Du lịch và Thểthao Thái Lan có 4 văn phòng trực thuộc bao gồm:
- Văn phòng Bộ trưởng;
- Văn phòng thư ký;
- Văn phòng thể thao và giải trí;
Trang 38- Văn phòng phát triển du lịch
Bộ Du lịch và Thể thao là cơ quan chính chịu trách nhiệm đưaThái Lan trở thành trung tâm du lịch chất lượng cao của châu Á,mang văn hóa Thái Lan ra thế giới bên ngoài; thúc đẩy, phát triểnThái Lan trở thành cường quốc thể thao trong khu vực nhằm tạo thunhập, công việc và mang lại thể chất khỏe mạnh cho người dân TháiLan
Bên cạnh bộ máy của Bộ được tổ chức tổng hợp, khoa học, tậptrung sức mạnh vào việc hành pháp thông qua Cơ quan Du lịch và
Cơ quan Thể thao Thái Lan
Cơ quan giúp việc cho Bộ trưởng Du lịch và Thể thao Thái Lantrong du lịch là Văn phòng phát triển du lịch, tuy nhiên đơn vị trựctiếp thừa hành các biện pháp xúc tiến, thúc đẩy du lịch phát triển là
Cơ quan du lịch Thái Lan (Tourism Authority of Thailand)
1.3.1.1 Văn phòng phát triển du lịch (Office of Tourism Development)
Văn phòng Phát triển Du lịch có nhiệm vụ và trách nhiệm pháttriển tiêu chuẩn dịch vụ du lịch, xây dựng điểm đến cho du khách,
hỗ trợ tiêu chuẩn cho các doanh nghiệp du lịch và hướng dẫn viên.Văn phòng là nơi khởi xướng phát triển du lịch bền vững gắn vớikinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước
Trang 39Trách nhiệm và chức năng chính của Văn phòng Phát triển Dulịch Thái Lan bao gồm:
- Nghiên cứu, phân tích và thống kê số liệu liên quan đến du lịchnhằm tạo điều kiện phát triển du lịch phù hợp với kế hoạch và chínhsách chung của quốc gia;
- Tạo lập kế hoạch phát triển dịch vụ du lịch bao gồm điều phối,xúc tiến và hỗ trợ thực hiện kế hoạch;
- Tạo lập kế hoạch phát triển doanh nghiệp du lịch, tổ chức đăng
ký quản lý hướng dẫn viên du lịch Thực hiện công tác xúc tiến,điều phối và hỗ trợ việc thực hiện kế hoạch;
- Triển khai thực hiện các quy định của pháp luật liên quan tớidoanh nghiệp kinh doanh du lịch;
- Giám sát và theo dõi tình hình phát triển du lịch của đất nước;
- Thúc đẩy; hỗ trợ việc kinh doanh phim bao gồm cả sản xuất,dịch vụ;
- Thực hiện các nhiệm vụ theo quy định của Bộ và của Nội cácThái Lan
1.3.1.2 Cơ quan du lịch Thái Lan (Tourism Authority of Thailand)
Cơ quan Du lịch Thái lan có chức năng và nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Xúc tiến du lịch, thúc đẩy cơ hội nghề nghiệp liên quan đến dulịch của người Thái;
Trang 40- Bảo tồn nét đẹp của người Thái, giá trị cổ, đồ cổ, lịch sử, nghệthuật, văn hóa, thể thao, cách mạng công nghệ và các hoạt độngkhác nhằm thu hút du lịch;
- Tạo điều kiện thuận lợi và an toàn cho khách du lịch;
- Thúc đẩy mối quan hệ hữu nghị, thân thiện giữa người vớingười thông qua du lịch;
- Phát triển cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất phục vụ khách du lịch,bao gồm cả quản lý chất lượng các loại hình cơ sở lưu trú du lịch;
- Cố vấn và khuyến nghị các biện pháp hợp tác và điều phối về
du lịch với các cơ quan của Chính phủ, các tổ chức, Viện nghiêncứu và khối kinh tế tư nhân trong và ngoài nước;
- Xúc tiến, hợp tác và tổ chức các khóa đào tạo, học tập nhằmnâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ, công chức;
- Khảo sát, lập kế hoạch, tổ chức, xây dựng, xúc tiến, bảo tồnphát triển các điểm tham quan du lịch bao gồm tài nguyên du lịch vàchất lượng môi trường theo quy định của luật pháp;