1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

chuyên đề giúp học sinh chủ động hơn trong học toán

9 419 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 89 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHÒNG GD&ĐT TIÊN PHƯỚCTRƯỜNG TIỂU HỌC TIÊN AN Chuyên đề: GIÚP HỌC SINH CHỦ ĐỘNG, TÍCH CỰC HƠN TRONG DẠY HỌC TOÁN I/ Căn cứ xây dựng chuyên đề: - Chương trình giáo dục phổ thông cấp Tiể

Trang 1

PHÒNG GD&ĐT TIÊN PHƯỚC

TRƯỜNG TIỂU HỌC TIÊN AN

Chuyên đề:

GIÚP HỌC SINH CHỦ ĐỘNG, TÍCH CỰC HƠN

TRONG DẠY HỌC TOÁN I/ Căn cứ xây dựng chuyên đề:

- Chương trình giáo dục phổ thông cấp Tiểu học, ban hành kèm theo Quyết định 16/BGD&ĐT ngày 5/5/2006 của BGD&ĐT;

- Tài liệu thay sách giáo khoa của BGD&ĐT;

- Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên chu kì 2003-2007của BGD&ĐT;

- Tài liệu tập huấn giáo viên: Dạy học lấy học sinh làm trung tâm của BGD&ĐT;

- Tài liệu về phương pháp dạy học tích cực (ALM) của Dự án giáo dục cơ bản và đào tạo giáo viên, giai đoạn III, BGD&ĐT (Do Chính phủ Úc tài trợ)

- Giáo trình về dạy học tiểu học của trường DHSP Đà Nẵng

II/ Đặt vấn đề:

Dạy học ở tiểu học là dạy cho học sinh cách học và biết tự học Khả năng

tự học là năng lực rất quan trọng cho sự thành đạt của mỗi cá nhân Phương pháp

tự học là cầu nối giữa học tập và nghiên cứu Một yếu tố quan trọng đảm bảo thành công trong học tập là khả năng phát hiện kịp thời và giải quyết hợp lí những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn Nếu rèn luyện cho học sinh có phương pháp, kĩ năng, thói quen tự học, biết linh hoạt vận dụng những điều đã học vào những tình huống mới, biết tự lực phát hiện, đặt ra và giải quyết những vấn đề gặp phải trong thực tiễn thì sẽ tạo cho các em lòng ham học, khơi dậy tìm năng vốn có trong mỗi người Làm được như vậy thì không những kết quả học tập được nâng lên mà các em còn được chuẩn bị để tiếp tục tự học khi vào đời, dễ dàng thích ứng với cuộc sống, công tác, lao động trong xã hội

Như chúng ta đã biết, nguồn gốc của tích cực là nhu cầu Khi học sinh có nhu cầu thì các em sẽ tự giác tìm kiếm tri thức Đối với học sinh, tính tích cực bên trong thường nảy sinh do những tác động từ bên ngoài Giáo viên phải tạo ra hàng loạt các mâu thuẩn, khéo léo lôi cuốn, hấp dẫn học sinh để các em tự ý thức tiếp nhận và tìm tòi cách giải quyết

Để đạt được yêu cầu này, đòi hỏi người giáo viên ngoài sự khéo léo kết hợp nhuần nhuyễn các phương pháp, hình thức dạy học, sử dụng các phương tiện dạy học tạo cho học sinh luôn luôn có hứng thú, nhu cầu trong học tập còn phải nắm bắt được tâm sinh lí, trình độ của mỗi học sinh để động viên, khích lệ kịp thời Giáo viên thường xuyên tổ chức luyện tập giúp các em từng bước tiếp cận với cách học mới: biết đặt câu hỏi thắc mắc tranh luận; biết trình bày, lí giải sự việc và biết hợp tác với các bạn trong nhóm để khám phá, lĩnh hội kiến thức

Trang 2

Trong Luật Giáo dục, khoản 2, điều 28 đã ghi: “Phương pháp giáo dục phổ thông là phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”

Vậy làm thế nào để phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh? Đây chính là nhiệm vụ hết sức nặng nề của người thầy hiện nay Tính tích cực học tập thường được biểu hiện như: hăng hái trả lời các câu hỏi của giáo viên, bổ sung các câu trả lời của bạn, nêu thắc mắc hay đề nghị giải thích những vấn đề chưa đủ rõ; chủ động vận dụng kiến thức kĩ năng đã học để nhận thức vấn

đề mới; tập trung chú ý về vấn đề đang học, kiên trì thực hiện các bài tập, không nản chí trước những khó khăn,…Tính tích cực của học sinh được biểu hiện thông qua các hoạt động Tính tích cực nhận thức trong hoạt động học tập liên quan mật thiết với động cơ học tập Động cơ học tập tạo ra hứng thú Hứng thú

là tiền đề của tính tự giác Hứng thú và tính tự giác là những yếu tố quan trọng tạo nên tính tích cực

Tính tích cực học tập của học sinh phải đi từ cấp độ thấp lên cao, từ bắt chước (cố gắng làm theo mẫu, hành động của thầy, bạn) đến tìm tòi (độc lập giải quyết vấn đề nêu ra, tìm kiếm cách giải quyết khác nhau) và đến sáng tạo (tìm cách giải quyết mới độc đáo, hữu hiệu)

Người ta thống kê rằng: nếu chỉ có đọc thì người học chỉ nhớ được 10%, chỉ có nghe thôi thì khả năng tiếp thu được 20%, cả nghe và nhìn tiếp thu được 50%, nếu được trình bày thì khả năng nhớ có thể lên đến 70% Đặc biệt, nếu được kết hợp cả nghe, đọc, nghiên cứu, tự trình bày thì mức độ nhớ lên đến 90% (Tài liệu: Đổi mới phương pháp dạy học ở Tiểu học của BGD&ĐT)

Vậy hướng dẫn học sinh biết cách đặt câu hỏi tranh luận; biết trình bày, lí giải vấn đề và biết phát huy vai trò của mỗi cá nhân khi tham gia học nhóm là nhiệm vụ quan trọng góp phần nâng cao chất lượng dạy học

III/ Mục tiêu, chương trình môn Toán Tiểu học:

1 Mục tiêu:

- Có những kiến thức cơ bản ban đầu về số học các số tự nhiên, phân số,

số thập phân; các đại lượng thông dụng; một số yếu tố hình học và thống kê đơn giản

- Hình thành các kĩ năng thực hành tính, đo lường, giải bài toán có nhiều ứng dụng thiết thực trong đời sống

- Bước đầu phát triển năng lực tư duy, khả năng suy luận hợp lí và diễn đạt đúng (nói và viết) cách phát hiện và cách giải quyết các vấn đề đơn giản, gần giũ trong cuộc sống; kích thích trí tưởng tượng; chăm học và hứng thú học tập toán; hình thành bước đầu phương pháp tự học và làm việc có kế hoạch khoa học, chủ động, linh hoạt, sáng tạo

Trang 3

(Mục tiêu riêng của từng khối lớp giáo viên tự nghiên cứu)

2 Chương trình: Chương trình môn toán tiểu học gồm 2 giai đoạn:

a Giai đoạn 1: (lớp 1 2 3) học tập cơ bản

b Giai đoạn 2: (lớp 4 5) học tập sâu:

- Thu gọn việc dạy số tự nhiên chủ yếu ở các lớp 1, 2, 3 Kĩ năng thực hiện

4 phép tính với số tự nhiên được rèn luyện chủ yếu ở giai đoạn 1

- Dành thời gian chủ yếu của lớp 4 để dạy học sâu hơn, tổng kết về số tự nhiên, dạy học phân số và 4 phép tính về phân số

- Dành thời gian chủ yếu của lớp 5 để dạy học số thập phân, 4 phép tính về

số thập phân, tính phần trăm và tổng ôn tập cuối cấp học

- Quán triệt quan điểm của toán học hiện đại trong quá trình dạy học toán tiểu học, đặc biệt khi dạy học về số tự nhiên, phân số, số thập phân

IV/ Phương pháp, kĩ thuật dạy học:

1 Phương pháp dạy học trong tiết học “bài mới”:

1.1 Tự phát hiện và tự giải quyết vấn đề của bài học:

Ví dụ: Khi dạy bài “11 trừ đi một số” (lớp 2) Giáo viên hướng dẫn học sinh sử dụng bó que tính rời để HS tự nêu và giải quyết vấn đề Chẳng hạn: Có 1

bó 1 chục que tính và 1 que tính rời tức là có 11 que tính, lấy bớt đi 5 que tính Hỏi còn lại mấy que tính? (tức 11-5) Rồi cho học sinh tự thao tác trên các que tính để tự học sinh nêu và làm được Học sinh có thể làm: để bớt 5 que tính lúc đầu bớt 1 que tính rời (11-1=10), sau đó phải tháo bỏ que tính để bớt tiếp 4 que tính nữa, còn lại 6 que tính (10 – 4 = 6) Như vậy 11- 5 = 6 Học sinh có thể nêu cách khác, điều quan trọng là học sinh tự tìm ra được 11- 5 = 6 Tương tự như trên cho học sinh tự tìm kết quả của các phép trừ còn lại: 2, 3, 4, 11-6,….11- 8 11- 9

Ví dụ: Bài Phân số và phép chia số tự nhiên (lớp 4)

Trước khi làm quen với khái niệm phân số, HS đã biết rằng trong phạm vi các số tự nhiên, phép chia một số tự nhiên cho một số tự nhiên (khác 0) không phải lúc nào cũng thực hiện được Nhưng khi gặp tình huống: “Chia đều 3 cái bánh cho 4 em” Đây là tình huống có vấn đề

Giáo viên giúp HS nhận thấy, có thể thực hiện theo cách “chia phần” thực tế: “Chia mỗi cái bánh thành 4 phần bằng nhau rồi chia cho mỗi em một phần, tức là một phần tư cái bánh Sau 3 lần chia bánh như thế, mỗi em được 3 phần, tức là ba phần tư cái bánh” Nhìn dưới góc độ tính toán số học thì trên thực tế ta

đã thực hiện được phép chia 3 : 4 Như thế, vấn đề đặt ra là phải thừa nhận rằng phép chia 3 : 4 có ý nghĩa và được biểu thị bởi phân số 3/4 (3:4 = 3/4) Lúc này trong tư duy HS khái niệm phân số được chấp nhận như một cấu trúc mới và như thế các em đã giải quyết được vấn đề của bài học

1.2 Tự chiếm lĩnh kiến thức mơí: (phải qua thực hành)

Trang 4

Ví dụ: Sau khi học sinh đã tự tìm được kết quả của các phép trừ nêu ở ví dụ trên, giáo viên tổ chức cho học sinh ghi nhớ các công thức đó (11 trừ đi một số) bằng nhiều hình thức khác nhau Cho dù HS đã thuộc lòng (nói và viết ngay được công thức đó) thì cũng chỉ là bước đầu chiếm lĩnh được kiến thức mới đó Phải qua thực hành vận dụng kiến thức mới đó để giải quyết các vấn đề trong học tập và đời sống thì mới có thể khẳng định HS đã tự chiếm lĩnh được kiến thức mới như thế nào và đạt đến mức độ nào Vì vậy sau khi đã thuộc bài mới,

HS phải tự làm được các bài tập trong sách giáo khoa

Tóm lại: Qui trình giúp học sinh tự phát hiện và tự chiếm lĩnh kiến thức mới:

- Từ tình huống có thực trong đời sống (Thể hiện trong tranh, hình vẽ, mô hình, mô tả bằng lời) nêu được vấn đề cần giải quyết (Dưới dạng câu hỏi, bài toán)

- Giải quyết vấn đề đó sẽ góp phần tìm ra kiến thức mới

- Xây dựng rồi ghi nhớ và vận dụng kiến thức mới đó và giải quyết các tình huống khác nhau trong thực hành sẽ chiếm lĩnh kiến thức mới một cách chắn chắc, bền vững

1.3Thiết lập được mối quan hệ giữa kiến thức mới và kiến thức đã học.

a Thường xuyên phải huy động kiến thức đã học để phát hiện và chiếm lĩnh kiến thức mới

Ví dụ 1: Khi dạy các phép cộng có nhớ trong phạm vi 100 (lớp 2), chương trình đã cấu tạo từng bộ 3 bài học dạng 9 + 5, 29 + 5, 49 + 25 để học sinh vận dụng ngay kiến thức của tiết trước trong tiết học tiếp liền Ở mỗi tiết học này, cũng phải yêu cầu học sinh huy động các kiến thức đã học ở lớp 1 để tự phát hiện nội dung mới Chẳng hạn: Khi học 9 + 5 = ? HS phải huy động các kiến thức đã học như: 9 + 1=10, 10 + 4 = 14, cách viết phép cộng theo hàng ngang và theo cột dọc:

Ví dụ 2: Bài Diện tích hình tam giác (lớp 5)

Giáo viên phải giúp HS huy động được kiến thức về chiều cao, cạnh đáy hình tam giác; các em nhận dạng được đường cao, cạnh đáy thì mới thực hành cắt ghép hình được

b Đặt kiến thức mới trong mối quan hệ với các kiến thức đã học

Ví dụ 1: Khi dạy các phép trừ có nhớ trong phạm vi 100, mỗi công thức cần ghi nhớ đều được đặt trong mối quan hệ với các kiến thức đã học Chẳng hạn; 11- 9, cần được đặt trong mối quan hệ với phép cộng 9 + 2=11 và cách tìm một

số hạng khi biết tổng và số hạng kia: 9 = 11- 2; 2 = 11- 9 Đồng thời khi sử dụng các đồ dùng học tập để tìm ra 11- 9 = 2

Hoặc khi hình thành các bảng chia ở lớp 2, lớp 3 cũng thực hiện tương tự

1.4 Giúp học sinh thực hành, rèn luyện cách diễn đạt thông tin bằng lời, bằng ký hiệu.

Trang 5

Trong quá trình dạy học toán phải quan tâm đúng mực đến việc rèn luyện cho học sinh cách diễn đạt ngắn gọn, rõ ràng, vừa đủ nội dung của thông tin bằng lời hoặc bằng ký hiệu, sơ đồ

2 Đổi mới phương phápdạy học trong tiết “luyện tập, thực hành”

Nhiệm vụ chủ yếu nhất của việc dạy các tiết luyện tập, thực hành là củng

cố các kiến thức cơ bản của chương trình và rèn luyện các năng lực thực hành, giúp học sinh nhận ra rằng: Học không chỉ để biết mà còn học để làm, để vận dụng

Khi dạy thực hành, luyện tập cần chú ý:

2.1 Giúp mọi học sinh đều tham gia vào hoạt động thực hành, luyện tập theo khả năng của mình bằng cách:

- Tổ chức cho mọi học sinh làm các “bài tập cần làm” theo thứ tự trong sách giáo khoa (hoặc do giáo viên sắp xếp), không tự ý lướt qua hoặc bỏ qua bài tập cho là dễ

- Không nên bắt học sinh chờ đợi nhau trong quá trình làm bài Sau mỗi bài, học sinh nên tự kiểm tra hoặc nhờ giáo viên tự kiểm tra rồi chuyển sang làm bài tiếp theo

- Trong một tiết học phải chấp nhận có học sinh làm được nhiều bài hơn học sinh khác Giáo viên phải có kế hoạch giúp học sinh còn yếu về phương pháp làm bài và nên giúp học sinh khá, giỏi làm được nhiều bài tập càng tốt, giúp học sinh khai thác các nội dung còn tìm ẩn trong các bài tập

2.2 Tạo ra sự hỗ trợ và giúp đỡ lẫn nhau giữa các đối tượng học sinh:

- Khi cần, có thể cho học sinh trao đổi ý kiến trong nhóm nhỏ hoặc trong cả lớp về cách giải một bài tập Nên khuyến khích học sinh bình luận, nêu thắc mắc

về cách giải của bạn, tự rút ra kinh nghiệm trong quá trình trao đổi ý kiến của nhóm, ở lớp

- Tạo điều kiện cho HS hỗ trợ lẫn nhau giữa các đối tượng học sinh trong lớp, trong nhóm (hình thức tích cực) góp phần giúp học sinh tự tin hơn vào khả năng của bản thân, tự rút ra cách học cho bản thân mình

2.3 Khuyến khích học sinh tự đánh giá kết quả thực hành, luyện tập.

- Tập cho học sinh có thói quen làm xong bài nào cũng phải tự kiểm tra xem

có nhầm, làm sai không

- Khuyến khích học sinh tự đánh giá bài làm của mình, bài làm của bạn và tự nói ra những sai sót của mình, của bạn sau khi tự đánh giá

2.4 Giúp học sinh nhận ra kiến thức cơ bản của bài học trong sự đa dạng và phong phú của các bài thực hành, luyện tập.

- Các bài thực hành, luyện tập thường có nhiều dạng và có các mức độ khác nhau Nếu học sinh tự nhận ra được kiến thức cơ bản đã học trong các mối quan

hệ mới của bài thực hành, luyện tập thì học sinh sẽ biết cách vận dụng các kiến thức cơ bản đã học để làm bài Giáo viên không nên làm thay hoặc chỉ dẫn quá

Trang 6

chi tiết mà nên giúp học sinh biết cách phân tích bài toán để tự học sinh phải biết

sử dụng các kiến thức nào trong các kiến thức đã học khi giải quyết từng vấn đề của bài toán

2.5 Tập cho học sinh có thói quen không thỏa mãn với bài làm của mình với cách giải đã có sẳn.

- Sau khi mỗi tiết luyện tập, thực hành giáo viên nên tạo cho học sinh niềm vui và niềm tin vì đã hoàn thành công việc đựơc giao và đã được những tiến độ nhất định trong học tập bằng khuyến khích, bằng nêu gương…

- Tập cho học sinh có thói quen và phương pháp tìm được cách giải tốt nhất cho bài làm của mình Hãy động viên học sinh cố gắng tìm phương án tối ưu cho cách giải của mình

- Không được yêu cầu làm thêm bài tập ngoài SGK, nhất là bài tập “nâng cao” cho học sinh cả lớp

- Các giải pháp “nâng cao” để phát triển tư duy cho học sinh khá giỏi:

- Tạo điều kiện cho học sinh làm hết các bài tập còn lại ngoài các “bài tập cần làm” trong SGK

- Sử dụng triệt để “Phiếu bài tập” theo hướng “cá thể hóa”, tổ chức cho mỗi học sinh được tự tìm hiểu, tự chiếm lĩnh kiến thức (như đã nêu ở trên)

- Tận dụng các bài tập “mở” khai thác kiến thức ngay trong SGK, tìm ra các phương án giải khác nhau, rồi tự đánh giá, lựa chọn giải pháp “tối ưu” nhất

- Tăng cường dạy học sinh “phương pháp suy nghĩ” “phương pháp tự học”

3) Các hình thức tổ chức dạy học góp phần đổi mới phương pháp dạy học.

a Dạy học toán trên phiếu học tập, thường có 3 dạng: phiếu học, phiếu thực hành, phiếu kiểm tra (thể hiện trong SGK và bài tập thực hành toán)

b Dạy học toán với “Bộ đồ dùng học toán” (Được trang bị bắt buộc cho mỗi học sinh ở khối 1,2,3)

c Dạy học toán kết hợp với các “ trò chơi học toán”

Đối với học sinh lớp tiểu học, chơi cũng là một nhu cầu không thể thiếu được Vì vậy việc sử dụng các trò chơi học tập trong giờ học toán là hết sức cần thiết và có ích Trò chơi học toán có tác dụng giúp học sinh:

- Thay đổi động hình, chống mệt mỏi

- Tăng cường khả năng thực hành, vận dụng các kiến thức đã học

- Phát triển hứng thú, tính độc lập, ham hiểu biết và khả năng suy luận Khi chơi, trẻ tưởng tượng, suy ngẫm, thử nghiệm, lập luận để đạt kết quả mà không nghĩ là mình đang học Sự khô khan của giờ học toán sẽ được giảm nhẹ, quá trình học tập diễn ra một cách tự nhiên hơn, hấp dẫn hơn

Trò chơi học toán là phương tiện có ý nghĩa trong việc góp phần thực hiện đổi mới phương pháp dạy học toán ở tiểu học, nhằm phát huy tính tích cực, độc lập, sáng tạo của học sinh

Khi thiết kế tổ chức các trò chơi học toán phải đảm bảo các yêu cầu:

Trang 7

- Mỗi trò chơi học toán phải góp phần vào thực hiện vào mục tiêu dạy học.

- Phải được chuẩn bị chu đáo và phù hợp với đối tượng học sinh Học sinh phải hiểu rõ yêu cầu, nội dung và cách thức tổ chức trò chơi

- Phải tổ chức sao cho tất cả học sinh trong nhóm đều được tham gia một cách tích cực, độc lập

- Không để thời gian chơi kéo dài, ảnh hưởng đến giờ học hoặc làm trẻ mất đi hứng thú, lựa chọn luân phiên hợp lý các trò chơi, tránh làm cho học sinh nhàm chán

- Luôn quan tâm, khích lệ, động viên, khuyến khích tinh thần thi đua của mọi học sinh tham gia nhưng cũng tránh làm lúng túng cho học sinh không hoàn thành nhiệm vụ

Mỗi trò chơi học toán thường được trình bày dưới dạng: Tên của trò chơi Mục đích, chuẩn bị, cách chơit thường tổ chức theo nhóm ở ngay trong lớp học với thời gian không quá 5 phút Giáo viên phải hướng dẫn cụ thể cách chơi ( Vừa hướng dẫn vừa thực hành), các nhóm học sinh tự đánh giá, giam sát lẫn nhau Trong thực tiễn dạy học, trò chơi học toán phần lớn được xem như là thủ pháp, biện pháp củng cố kiến thức mà học sinh vừa học trong tiết học

Tuy nhiên “trò chơi học toán” không bắt buộc phải có ở mọi tiết học toán càng không nhất thiết cứ sau mỗi tiết học là phải đến phần “trò chơi” Giáo viên cần linh hoạt tổ chức “trò chơi” xen trong các khâu của tiết học hoặc ở tiết cuối học hoặc sau một số tiết học, cốt sao “trò chơi toán học” phát huy được hiệu quả

và đúng yêu cầu mức độ

V/ Giúp học sinh biết tự đặt câu hỏi để khám phá bài học.

Trong mỗi tiết dạy, sau khi học sinh trình bày xong, giáo viên cần tạo cơ hội để học sinh đó mời các bạn nhận xét và nêu câu hỏi thắc mắc, tranh luận

Ví dụ 3: Điền dấu (>,<,=): 2m2 9dm2 > 29dm2

Học sinh A: "Mời các bạn nhận xét bài làm của mình"

Học sinh B: (thông thường) "Bài bạn làm đúng rồi!"

Trường hợp này giáo viên nên gợi mở để Học sinh B đặt câu hỏi: “Vì sao bạn điền dấu >?”

Học sinh A: “Mình thấy 2m2 = 200dm2 và thêm 9dm2 là 209 dm2 nên điền dấu > là đúng” (Học sinh có thể lí giải nhiều cách)

Như vậy, giáo viên không cần nói gì thêm nhưng cả lớp vẫn hiểu được và hiểu được nhiều cách Bản thân em học sinh A sẽ khắc sâu kiến thức hơn

Tuy nhiên, trong thời gian đầu, do nhận thức của học sinh tiểu học có hạn nên rất nhiều em hỏi đáp ngô nghê, buồn cười,

Để khắc phục tình trạng đó, giáo viên nên đưa ra nhiều ví dụ để các em nhận dạng: khi nào cần nhận xét đúng/sai, khi nào cần đặt câu hỏi để tạo điều kiện cho bạn trình bày, giải đáp và khi nào cần tranh luận để tìm nhiều hướng giải quyết sự việc, hiện tượng tránh rập khuôn, máy móc Cụ thể:

Trang 8

* Trường hợp 1: Không đặt câu hỏi, chỉ nhận xét đúng/sai và bổ sung:

Đó là những nội dung đã rõ ràng, tường minh, không có tính suy luận hoặc tranh ảnh, sách giáo khoa đã thể hiện đầy đủ Ví dụ:

- Toán lớp 2: 25 + 37 = 82 (Không nên hỏi “Vì sao đúng? vì sao sai?”)

* Trường hợp 2: Cần nêu câu hỏi để có cơ hội trình bày, lí giải: Đó là những nội dung học có ngầm chứa ý cần giải thích, làm rõ để củng cố kiến thức

đã học hay huy động vốn sống, vốn hiểu biết của học sinh Ví dụ:

- Toán lớp 3: X – 25 = 10

X = 10 + 25 = 35

Trường hợp này, nhằm củng cố kiến thức nên gợi ý để học sinh nêu: “Dựa vào đâu bạn làm X = 10 + 15 = 35?” “Mình dựa vào quy tắc: số bị trừ bằng hiệu cộng với số trừ.”

- Toán lớp 5: 0, 05 = 5

100

Trường hợp này, nhằm khắc sâu kiến thức nên gợi ý để học sinh hỏi: “Vì sao bạn biết 0,05 = 5

100?” “Vì Chữ số 5 nằm ở hàng phần trăm nên nó bằng 5

100.”

* Trường hợp 3: Cần tranh luận để làm rõ vấn đề và tìm nhiều hướng giải quyết khác nhau Ví dụ:

- Toán 3: Một kho thóc có 4720 kg muối, lần đầu chuyển đi 2000kg muối, lần sau chuyển đi 1700kg muối Hỏi trong kho còn lại bao nhiêu kilôgam muối?

Học sinh A trình bày: Số muối còn lại sau khi chuyển lần đầu:

4720 – 2000 = 2720 (kg)

Số muối còn lại trong kho:

2720 – 1700 = 1020 (kg)

Đáp số: 1020kg muối

Để rèn kĩ năng suy luận, cần cho các em tranh luận, chẳng hạn như: “Đáp

số của mình giống bạn nhưng không tính như bạn Mình tính số muối chuyển đi

cả hai lần rồi mới tính số muối còn lại Đề nghị bạn giải thích cách làm của bạn.”

“Mình lấy số muối có trong kho trừ đi số muối chuyển lần đầu, sau đó trừ tiếp số muối chuyển lần sau là tính được số muối còn lại trong kho.”

- Toán 5: 6m 5cm = 6,05m

Để học sinh hiểu được có nhiều cách lí giải và chọn cách lí giải hay nhất nên cho các em trao đổi: “Đề nghị bạn giải thích cách làm.” Có thể mỗi em hiểu khác nhau nên có cách lí giải khác nhau, chẳng hạn: “Vì đổi ra đơn vị mét nên 6m là phần nguyên còn 5cm bằng năm phần trăm của mét nên kết quả là 6,05m Bạn nào có cách giải thích khác?” Học sinh khác có thể nêu: “Mình thấy 6m là phần nguyên, tiếp đến dm không có mình ghi 0, rồi đến 5cm.” hoặc “Mình thấy 6m 5cm bằng 605cm Vậy chữ số 5 là xăng-ti-mét, chữ số 0 là đề-xi-mét, chữ số

6 là mét nên mình đặt dấu phẩy liền sau chữ số 6.”,…Sau tranh luận, giáo viên

Trang 9

nên hỏi học sinh cách nào hay, chặt chẽ nhất rồi kết luận (Trường hợp đầu tiên là hợp lí, chặt chẽ nhất)

VI/ Kết luận:

Trên đây là một số nội dung, phương pháp dạy học toán ở tiểu học do nhà trường sưu tầm và biên soạn Đề nghị giáo viên các lớp triển khai thực hiện hiệu quả nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học trong nhà trường

Lãnh đạo trường, tổ chuyên môn lập kế hoạch kiểm tra, giám sát, điều chỉnh việc thực hiện

Tiên An, ngày 7 tháng 2 năm 2013

Ngày đăng: 24/04/2016, 21:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w