1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu sinh trưởng, phát triển, năng suất và ảnh hưởng của chế phẩm vân đài tố đến một số giống hoa cẩm chướng mới nhập nội trồng tại gia lâm, hà nội trong vụ xuân – hè 2008

86 432 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 3,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ảnh hưởng của các yếu tố ngoại cảnh: Song song với lĩnh vực tạo giống, các nhà khoa học tập trung nghiên cứu nhiều về ảnh hưởng của cácyếu tố ngoại cảnh đến sinh trưởng, phát triển của c

Trang 1

dễ vận chuyển, bảo quản … Chính vì vậy mà cẩm chướng được trồng khá sớm

ở Việt Nam và ngày càng được ưa chuộng không chỉ trong nước mà còn trên

cả thế giới

Ngoài phục vụ nhu cầu giải trí, thưởng thức cái đẹp, cẩm chướng còn làloại cây trồng có năng suất và hiệu quả kinh tế cao Cùng với cúc, hồng, cẩmchướng là một trong ba loại hoa xuất khẩu chính của nước ta(http://rauhoaquavn.vn, 2008) Do đó cẩm chướng là loại hoa nằm trong cơ cấuchuyển dịch cây trồng có triển vọng, đem lại lợi nhuận cao cho người sản xuất,góp phần vào việc xoá đói giảm nghèo, tạo việc làm cho hàng vạn lao động

Hoa cẩm chướng có nguồn gốc ôn đới và thích hợp trồng ở vùng lạnh Ởmiền Bắc nước ta có điều kiện khí hậu vụ Đông thích hợp cho việc trồng hoacẩm chướng Nhưng trong những năm gần đây sản xuất hoa cẩm chướngtrong nước không đủ cung cấp cho thị trường nội địa nên hàng năm ta phải bỏ

ra một số tiền tương đối lớn để nhập hoa từ nước ngoài về gây ra sự lãng phíkhông đáng có Hơn nữa nhu cầu tiêu thụ của người tiêu dùng là quanh năm

vì vậy đòi hỏi phải tìm ra được những giống hoa phù hợp với từng thời vụ.Với mong muốn làm đa dạng, phong phú thêm các giống hoa cẩmchướng trồng tại miền Bắc nước ta, Viện Sinh học Nông Nghiệp đã nhập nộimột số giống hoa cẩm chướng mới từ Hà Lan và Trung Quốc Nhằm đánh giáđặc tính và khả năng thích ứng của các giống cẩm chướng mới này, chúng tôitiến hành đề tài:

Trang 2

“Nghiên cứu sinh trưởng, phát triển, năng suất và ảnh hưởng của chế phẩm Vân đài tố đến một số giống hoa cẩm chướng mới nhập nội trồng tại Gia lâm, Hà Nội trong vụ Xuân – Hè 2008”

1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài

1.2.1 Mục đích

- Tuyển chọn giống cẩm chướng thích hợp với điều kiện sinh thái vùngGia lâm – Hà Nội trong vụ Xuân - Hè cho năng suất, chất lượng cao, màu sắcmới lạ được người tiêu dùng ưa thích

- Tìm hiểu được ảnh hưởng của chế phẩm Vân đài tố đến sinh trưởng,phát triển của một số giống cẩm chướng nhập nội, làm cơ sở đề xuất sử dụngchế phẩm này

1.2.2 Yêu cầu

- Đánh giá và so sánh được khả năng sinh trưởng, phát triển, năng suất,chất lượng của các giống cẩm chướng nhập nội

- Đánh giá được khả năng chống chịu sâu bệnh hại chính của các giống

- Đánh giá được khả năng nhân giống vô tính bằng phương pháp giâmngọn của các giống

- Chọn ra được những giống sinh trưởng phát triển tốt nhất và thích hợpnhất ở vùng Gia lâm – Hà Nội để đề xuất áp dụng vào sản xuất đại trà

- Đánh giá được tác động của phân bón lá Vân đài tố đến sinh trưởng,phát triển, năng suất, chất lượng của cẩm chướng, từ đó tìm ra nồng độ phùhợp nhất

Trang 3

PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Nguồn gốc và vị trí phân loại

2.1.1 Nguồn gốc

Cây cẩm chướng (Dianthus caryophyllus L.) có nguồn gốc ở bờ Bắc Địa

Trung Hải, Nam Châu Âu, được bắt đầu nuôi trồng để thưởng ngoạn từ thế

kỷ 16 Lần đầu tiên vào năm 1750, các nhà làm vườn Pháp đã tạo ra giốngcẩm chướng Remontant, cây cao, ra hoa nhiều lần trong năm Đến 1846, họ

đã nuôi trồng được rất nhiều giống cẩm chưóng hoang dại và điều khiểnchúng ra hoa quanh năm Năm 1852, cẩm chướng từ Châu Âu được nhập vàonước Mỹ Tại đây rất nhiều công ty đã tạo ra hàng trăm giống cẩm chướngvới các hình dạng và màu sắc khác nhau, trong đó các giống North, Maine vàWiliam Sim trở thành những giống hàng đầu Từ các giống hoa này, người ta

đã gây đột biến và lai tạo ra rất nhiều giống cẩm chướng khác nhau, có hoamàu trắng, màu hồng, màu da cam, đốm màu,…Trong đó, các giống thuộcdòng Sim nổi tiếng nhất và được trồng khắp nơi trên thế giới

Ở Việt Nam, hoa cẩm chướng được người Pháp đưa vào trồng từ đầuthế kỷ 19, chủ yếu ở những nơi có khí hậu mát mẻ như SaPa, Đà Lạt (ĐặngVăn Đông, Đinh Thế Lộc, 2005) [3]

Tất cả các giống hoa cẩm chướng có mặt ở Việt Nam đều nhập từ HàLan, Pháp, Đức, Ý, Trung Quốc (Nguyễn Xuân Linh, 2002) [6]

2.1.2 Vị trí phân loại

Tên khoa học: Dianthus caryophyllus L

Tên Việt Nam: Cẩm chướng, hoa Phăng

Ngành: Thực vật hạt kín Angiospermae

Lớp: Hai lá mầm Dicotyledonea

Bộ: Phôi cong Sentrospemea

Trang 4

Họ: Cẩm chướng Caryophyllaceae

Chi: Dianthus (Trần Hợp, 1997) [4]

2.2 Tóm tắt một số đặc điểm thực vật học của cây cẩm chướng

- Rễ

Cẩm chướng có bộ rễ chùm, có rất nhiều cành rễ con, phân bố tập trung

ở tầng đất mặt 20cm, một số ít ăn sâu tới 40 – 50cm Khi vun gốc cây cẩmchướng ra rễ phụ trên các đốt thân Rễ phụ cùng với rễ chính tạo thành bộ rễkhoẻ mạnh để giữ cây và hút dinh dưỡng nuôi cây

- Thân

Thân thảo, nhỏ, mảnh mai Thân thẳng đứng và phân cành nhiều, nửahóa gỗ Thân rất dễ gãy ở đốt Các đốt cẩm chướng thường gãy khúc Cẩmchướng thường có thân màu xanh nhạt, bao phủ một lớp phấn trắng xungquanh Phấn có tác dụng quan trọng chống thoát hơi nước và bảo vệ cây khỏi

bị sâu bệnh hại, phản ánh sáng mặt trời trong những ngày nắng gay gắt ỞViệt Nam hiện trồng hai loại cẩm chướng: các giống cẩm chướng thấp cây(30 – 50 cm) và các giống cẩm chướng cao cây (50 – 80 cm) Giống cẩmchướng thấp cây thường mọc thành bụi, các đốt thân dài 2 - 4 cm Loại cẩmchướng cao cây đốt dài 4 – 8 cm Mỗi đốt có một mắt Trên mắt mang lá vàmầm nách Đối với nhóm hoa đơn, cuống hoa có từ 16-18 đốt Đối với nhómhao chùm có từ 20-22 đốt

- Lá

Lá mọc đối từ các đốt thân Phiến lá dày hình lưỡi mác, mặt lá nhẵnkhông có độ bóng Trên mặt lá có phủ một lớp phấn trắng, mỏng và mịn Lánửa trên cong ra ngoài, gốc lá ôm lấy thân

- Hoa

Có 2 dạng: hoa chùm và hoa đơn Hoa đơn mọc đơn từng chiếc một,hoa chùm có nhiều hoa trên một cành Hoa nằm ở đầu cành, hoa có nhiều màusắc Hoa cẩm chướng đẹp tự nhiên, hoa có mùi thơm thoang thoảng Nụ hoa

Trang 5

có đường kính khoảng 2 – 2,5cm Hoa khi nở hoàn toàn có đường kínhkhoảng 6 – 8cm, chiều cao bông hoa 4 – 7,5cm (từ đốt trên cùng của cành đếnđỉnh bông).

- Hạt

Hạt nhỏ, nằm trong quả, có màu đen, hình dẹp và hơi cong Mỗi quảthường có từ 300 – 600 hạt.Tuy nhiên trồng ở điều kiện Việt Nam khó có khảnăng kết hạt

- Quả

Thuộc quả nang, mở van từ đỉnh Quả hình trụ có một đầu nhọn, trongquả có 5 ngăn hạt

(Đặng Văn Đông, Đinh Thế Lộc, 2005) [3]

2.3 Yêu cầu ngoại cảnh

Do cây cẩm chướng có nguôn gốc ôn đới nên chỉ thích hợp trồng ởvùng lạnh Ở miền Bắc Việt Nam nước ta có khí hậu trong vụ Thu Đông làtương đối thích hợp với sự phát triển của cây

- Nhiệt độ:

Cẩm chướng là cây ưa khí hậu mát mẻ Nhiệt độ thích hợp cho cây từ

10 – 200C, nhiệt độ tối thích là 19 – 210C Nếu vượt quá 300C thì cây sinhtrưởng kém, thân lá nhỏ, hoa nhỏ, sản lượng và chất lượng hoa giảm, tuổi thọhoa ngắn; dưới 100C cây sinh trưởng yếu, sản lượng giảm rõ rệt.Tất cả mọiloài Dianthus ưa ánh nắng chan hòa Nơi nào quá nóng, buổi trưa nên có mànche để giảm bơt độ nắng cho cây

- Ánh sáng:

Cẩm chướng là loại cây ưa sáng và thích hợp với thời gian chiếu sángngày dài Thời gian chiếu sáng trong ngày càng dài, cây càng nhanh phân hoáhoa, hoa nở đều, chất lượng hoa tốt Ánh sáng thích hợp từ 1500 – 3000 Lux.Ánh sáng tối thích 2000 – 2500 Lux Trong quá trình phát triển, nếu cường độánh sáng cao (>3000 Lux) cây sẽ ra hoa sớm, cường độ ánh sáng thấp (<1000

Trang 6

Lux) quá trình ra nụ, nở hoa muộn.

- Ẩm độ:

Hàm lượng nước trong lá cẩm chướng chiếm 70 – 80%, trong cành 68– 70%, trong rễ 80% Ẩm độ đất thích hợp 60 – 70% và độ ẩm đất tối thích là70%

- Đất:

70% số rễ cẩm chướng tập trung ở tầng mặt (0 – 20cm), nên phải cải

thiện kết cấu vật lý đất ở tầng này (bằng cách trộn thêm than bùn, một số chấttơi xốp khác để tăng độ rỗng cho đất đạt từ 3 – 5%) Đất trồng hoa cẩmchướng cần phải giàu mùn, giàu chất hữu cơ và thật thông thoáng, thoát nướctốt Độ PH thích hợp là 6.5 – 7.0 (Nguyễn Xuân Linh, 2002) [6] Đối với đấttrồng cẩm chướng liên tục thì phải tiêu độc, khử trùng đất

- Chất dinh dưỡng:

Mức độ dinh dưỡng lý tưởng nhất trong lá cẩm chướng là: Đạm 3 –

3,5%; Lân 0,2 – 0,3%; Kali 3 – 4%; Canxi 1 – 2%; Magie 0,2 – 0,5% Để đạtđược năng suất hoa cao, chất lượng tốt, cần phải đảm bảo thành phần và hàmlượng dinh dưỡng trong đất ở mức độ thích hợp nhất Điều kiện trồng trọtkhác nhau thì hiệu suất hấp thu dinh dưỡng của cẩm chướng cũng khác nhau.Thông thường 1m2 đất trồng trong một năm cây cẩm chướng sẽ hấp thu mộtlượng đạm 3 – 5g, lân 2 – 3g, kali 7 – 12g Khi tính toán lượng phân bón, nếu

sử dụng phân hữu cơ là chính thì lượng phân đạm bón gấp 4 – 6 lần, lượngkali gấp 1,5 lần (Đặng Văn Đông , Đinh Thế Lộc, 2005) [3]

2.4 Tình hình sản xuất, tiêu thụ hoa cẩm chướng trên thế giới và Việt Nam.

2.4.1 Tình hình sản xuất, tiêu thụ hoa cẩm chướng trên thế giới.

Với ưu điểm như: sản lượng cao, đẹp mắt, dễ vận chuyển, bảo quản… cẩmchướng đã trở thành 1 loài hoa cắt cành được trồng phổ biến trên thế giới(chiếm khoảng 17% tổng sản lượng hoa cắt).Trên thế giới, cẩm chướng là hoa

Trang 7

cắt cành được trồng phổ biến tại Châu Âu, Châu Á, Châu Mỹ Các nước trồngnhiều hoa đều trồng hoa cẩm chướng (Nguyễn Xuân Linh, 2002) [6]

Italia: là nước có diện tích trồng cẩm chướng nhiều nhất, năm 1995 sảnlượng hoa cắt của nước này đạt 25 triệu cành

Hà Lan: Tuy diện tích trồng hoa cẩm chướng không bằng diện tíchtrồng tuylip nhưng sản lượng hoa cắt của nước nay đạt 25 triệu cành

Ba Lan: Cẩm chướng chiếm 60% sản lượng hoa cắt, mỗi năm nước nàysản xuất khoảng 400 triệu cành, đứng thứ 3 trên thế giới

Colombia: Hoa cẩm chướng là cây hoa quan trọng nhất, chiếm 40%tổng lượng hoa xuất khẩu Cẩm chướng đã phát triển ở đây trên 25 năm, năm

1986 đã có gần 1000 ha cẩm chướng được trồng trong nhà plastic (Pizano,1987) [19]

Ở Kenya, diện tích trồng hoa cẩm chướng chủ yếu tập trung ở RiftValley Cây cẩm chướng cảnh được trồng ngoài đồng không bảo vệ ở độ caokhoảng 1800 m và cẩm chướng thường được trồng trong nhà plastic ở độ cao

2700 m so với mực nước biển (Cox, - RJ, 1987) [16]

Ở Thổ Nhĩ Kì: Hoa cẩm chướng được trồng rộng rãi từ năm 1925, hiệnnay diện tích hoa cẩm chướng chiếm tỷ lệ 21%, đứng thứ 2 sau hoa hồng(24%) (Menguc, -A; Eris; - A, 1987) [18]

Ở Úc: Cẩm chướng cũng phát triển mạnh từ hơn 10 năm nay Cẩmchướng được trồng trong nhà che nên cho hoa chất lượng cao và được nhậnđịnh là thuận lợi để xuất khẩu sang các nước khu vực Thái Bình Dương trong

10 năm tới (Sant, -V-van; Van-Sant, -V, 1987) [20]

Ở châu Á, hoa cẩm chướng được trồng nhiều ở Trung Quốc, Malaysia,SriLanka,… Ở Trung Quốc, hoa cẩm chướng cùng hoa hồng là hai loại hoaphổ biến nhất Cẩm chướng chiếm khoảng 25% tổng lượng hoa trên thịtrường tại Bắc Kinh và Côn Minh Trung tâm sản xuất hoa cẩm chướng tậptrung ở Côn Minh và Thượng Hải, Tỉnh Vân Nam của Trung Quốc có kim

Trang 8

ngạch xuất khẩu hoa cắt cành ngày càng cao, thống kê tháng 11 năm 2006 đạt10,4 triệu USD với sản lượng 4,3 nghìn tấn, trong đó cẩm chướng là mộttrong 3 loại hoa xuất khẩu chủ lực [23].

Tại Malaysia, sản lượng hoa cẩm chướng đứng thứ 3 sau cây hoa hồng

và hoa cúc, chiếm 9,02% tổng sản lượng hoa Ở đây, hoa cẩm chướng đượctrồng bao gồm cả loại hoa chùm và hoa đơn (Teresita L Risario, 1998) [21]

Ngược lại, ở Philippin, cây cẩm chướng trồng được rất ít và phải nhậpkhẩu từ các nước khác Tỷ lệ nhập khẩu hoa cẩm chướng đứng thứ hai trongtổng giá trị nhập khẩu hoa với 22,05% chỉ đứng sau hoa cúc (36,98%) Năm

1996, lượng hoa cẩm chướng nhập khẩu của Philippin từ Hà Lan 7691 kg(khoảng 620000 cành), từ Malaysia 5097kg (khoảng 260000 cành), từAustralia 638 kg (khoảng 32000 cành) và New ZeaLand 80 kg (khoảng 4000cành) (Teresita L Risario, 1998) [21]

Tại SriLanka, hoa cẩm chướng là cây hoa ôn đới quan trọng nhất Hoacẩm chướng được trồng chủ yếu để xuất khẩu, còn các loại hoa khác chỉ tiêuthu được ở nội địa Hai giống cẩm chướng châu Mỹ và cẩm chướng ĐịaTrung Hải của SriLanka rất nổi tiếng trên thị trường thế giới Một phần diệntích cẩm chướng khá lớn được trồng trong môi trường bảo vệ hoàn toàn(D.M.U.B Dhanasekera, 1998) [17]

Ixraen có 150 ha hoa cẩm chướng chiếm 7,5% tổng diện tích trồng hoa,mỗi năm nước này xuất khẩu đạt 119 triệu USD

2.4.2 Tình hình sản xuất, tiêu thụ hoa cẩm chướng ở Việt Nam

Việt Nam có điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng thuận lợi để có thể trồngđược nhiều loại hoa và cây cảnh Sản phẩm hoa và cây cảnh có vai trò quantrọng trong cuộc sống khi thu nhập và nhu cầu thẩm mỹ của người dân ngàycàng cao Thị trường trong nước rộng lớn và phong phú, bên cạnh đó tiềmnăng xuất khẩu cũng đầy hứa hẹn, hoa và cây cảnh Việt Nam nếu được tổchức tốt từ khâu sản xuất, quảng bá đến tiêu thụ sẽ tạo tiềm lực kinh tế lớn

Trang 9

cho ngành sản xuất nông nghiệp Việt Nam trong tiến trình chuyển đổi cơ cấucây trồng Sản xuất hoa đang cho thu nhập cao bình quân đạt khoảng 70 - 130triệu đồng/ha nên rất nhiều địa phương trong cả nước đang mở rộng diện tíchhoa trên những vùng đất có tiềm năng

Với diện tích tự nhiên trên 33 triệu ha Diện tích trồng hoa ở Việt Namcòn nhỏ, chiếm khoảng 0,02% diện tích trồng trọt Hiện nay diện tích hoa câycảnh cả nước có 15000 ha, tăng 7% so với 2004 Trong đó, hoa cẩm chướng

có diện tích canh tác không lớn, chủ yếu trồng trong nhà có mái che plastic

Nước ta có chủng loại hoa rất phong phú nhưng chủ yếu nhập nội từChâu Âu Các loại hoa được trồng phổ biến ở nước ta là: hoa hồng, cúc, cẩmchướng, layơn, thược dược, Lan, trà my Trong đó hoa hồng chiếm tỷ lệcao nhất (35-40%), sau đó là hoa cúc (25%), hoa lay ơn(15%), hoa khác (20-25%) (Nguyễn Xuân Linh, 2002) [6]

Hiện nay sản phẩm hoa Việt Nam đang dần tiếp cận với thị trường hoathế giới tuy nhiên do trình độ sản xuất thấp, đầu tư ít nên chất lượng hoa kém,

tỷ lệ hoa đạt tiêu chuẩn xuất khẩu rất thấp Hiện nay một số công ty nướcngoài đầu tư vào Việt Nam để sản xuất hoa cao cấp Các công ty này chủ yếutập trung ở Đà Lạt như Đà Lạt HasFarm, BionieFarm… với thị trường xuấtkhẩu như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan, Hà Lan Giá trị sảnphẩm hoa cắt cành xuất khẩu đạt 7,51 triệu USD năm 2005, đạt 7,95 triệuUSD năm 2006 [23] Trong đó cẩm chướng là một trong các loại hoa cắt cànhđược xuất khẩu chủ yếu

Ở Việt Nam, hoa cẩm chướng được trồng rộng rãi ở Hà Nội, HảiPhòng, Đà Lạt, thành phố Hồ Chí Minh Trước đây hoa cẩm chướng trên thịtrường chủ yếu phải nhập từ Côn Minh (Trung Quốc) và Hà Lan, nhưng vàinăm trở lại đây, cẩm chướng trồng từ Đà Lạt, Lào Cai đang dần chiếm lĩnh thịtrường trong nước

Trang 10

Hoa cẩm chướng trước được trồng làm cảnh trang trí nhưng từ năm

1975 đã có sản xuất hoa cắt cành với những giống nhập trước 1975 Từ năm

1995 có nhiều giống hoa cẩm chướng được nhập nội có nguồn gốc từ Hà Lan,Trung Quốc với màu sắc đa dạng phong phú Vùng Vạn thành – phường 5,Thái Phiên – Phường 12, Phường 7, 8 là những nơi trồng nhiều hoa cẩmchướng tại Đà Lạt Hàng năm Đà lạt cung cấp khoảng 0,3-0,5 triệu cành hoacẩm chướng các loại Hiện có khoảng trên 20 giống được trồng trọt với mụcđích cắt cành

Theo số liệu sơ bộ của Tổng cục Hải quan tháng 2/2007, kim nghạchxuất khẩu các loại hoa trong cả nước đạt 604.000 USD, tăng 25% so vớitháng 1 Trong đó, hoa cẩm chướng là loại hoa có kim nghạch xuất khẩu caonhất (tăng 73% so với tháng 1/2007) với kim nghạch xuất khẩu lên đến313.000 USD Nếu như trong tháng 1/2007 hoa cẩm chướng chưa đạt 19%tổng kim nghạch xuất khẩu thì trong tháng 2/2007 tỷ trọng của loại hoa nàylên đến 52% sang các nước Pháp, Nga, Nhật, Đức [23]

Cũng theo Tổng cục Hải quan cho biết, cuối tháng 6/2007, DaLatHasfarm là công ty dẫn đầu các doanh nghiệp xuất khẩu hoa cây cảnh cảnước, chiếm 99% tổng kim ngạch xuất khẩu Bốn loại hoa chủ lực của công tylà: cúc, cẩm chướng, hồng và kỳ lân, xuất khẩu sang các thị trường khácnhau Trong đó sản lượng hoa cẩm chướng đứng thứ 2 sau hoa cúc, với đơngiá xuất khẩu trung bình 0,19 USD/cái Cùng với hoa cúc và hoa hồng, cẩmchướng là một trong 3 chủng loại hoa xuất khẩu chính vào Nhật Bản - thịtrường xuất khẩu hoa lớn nhất của nước ta đầu năm 2007 [23]

Trồng hoa cẩm chướng sau 3 - 4 tháng đã bắt đầu cho thu hoạch Mộtsào Bắc Bộ trong một vụ cho thu từ 96000 – 120000 bông Như vậy thâmcanh đúng kỹ thuật thì mỗi vụ phần lãi thu được là 17 – 30 triệu đồng/sào [3]

Qua điều tra chúng tôi nhận thấy: Ở vùng Tây Tựu – Từ Liêm, hoađược trồng chủ yếu là hoa hồng, cúc, đồng tiền , cẩm chướng được trồng

Trang 11

với diện tích rất ít, dưới 5% (10 – 15ha) và thường xuyên biến động theo năm,chủng loại kém phong phú, chủ yếu là cẩm chướng nhung, chất lượng hoathấp, giá bán buôn năm 2008 chỉ đạt 2500 đồng/chục bông Ở Mê Linh, hoađược trồng chủ yếu là hoa hồng, cũng như Tây Tựu diện tích trồng hoa cẩmchướng ít và cũng thường xuyên biến động.

Khi tìm hiểu thì một số người dân cho biết: cẩm chướng là cây rất khótrồng mà quy trình kĩ thuật còn rất mới mẻ và nguồn cây giống là khó khăn

Vì vậy chủ yếu họ trồng những cây truyền thống như cúc, hồng, đồng tiền

Về mặt tiêu thụ thị trường hoa phát triển nhưng rất chậm hoa chủ yếuphục vụ theo mùa vụ: lễ tết, ngày rằm, mồng một, người dân ít có thói quenchơi hoa thường xuyên như các nước phát triển trên thế giới Chất lượng hoaViệt Nam vẫn còn thấp không đáp ứng được các yêu cầu xuất khẩu do vậy tiêuthu nội địa là chính Trong khi đó nhu cầu hoa cao cấp ở Việt Nam không phải lànhỏ, bằng chứng là hàng năm chúng ta phải nhập khẩu một lượng lớn hoa caocấp từ Trung Quốc, Hà Lan, Pháp, Thái Lan…gây ra sự lãng phí không đáng có

Vì vậy trong tương lai ngành hoa Việt Nam cần phát triển mạnh hơn nữa theohướng sản xuất công nghệ cao đáp ứng nhu cầu hoa trong nước và xuất khẩu ranước ngoài đồng thời tăng thu nhập cho người trồng hoa

Có thể nói, cẩm chướng là loại hoa có triển vọng sản xuất cũng nhưkhông thể thiếu trong danh mục các loại hoa cắt cành xuất khẩu ở nước ta

2.5 Một số nghiên cứu về hoa cẩm chướng

2.5.1 Nghiên cứu trên thế giới

Với những ưu điểm như sản lượng cao, màu sắc đẹp, phong phú, dễ bảoquản và đem lại hiệu quả kinh tế cao nên hoa cẩm chướng đang được nhiềunước trên thế giới nghiên cứu ứng dụng trong nhiều lĩnh vực:

Chọn tạo giống: Cũng như các loại hoa khác, hiện nay vấn đề quan tâm

của các nhà khoa học là nghiên cứu để tìm ra các giống cẩm chướng mới đạt

Trang 12

năng suất cao, mầu sắc đẹp, ít sâu bệnh đáp ứng yêu cầu sản xuất, tiêu dùng.Ngay từ thế kỉ 16 người ta đã bắt đầu cải tạo giống hoang dại với mục đích làtạo nhiều giống có màu sắc khác nhau và có thể trồng được nhiều vụ Năm

1840, Dalmais (Pháp) tạo ra giống Antivn từ loại hình cẩm chướng TrungQuốc (Pecpartual Carnation) Năm 1886, Alegatera (Pháp) tạo ra giốngTreecaenation có ưu điểm là thân thẳng đứng, đặt nền móng cơ bản cho việcnhân giống hoa cẩm chướng sau này (Nguyễn Xuân Linh, 2002) [6] Năm

1979 ở Cộng hoà liên bang Nga đã giâm 27 triệu cành cẩm chướng ở các tỉnhphía Nam, riêng ở các tram, trại nông nghiệp là 15 triệu cành Ở vùng Xotri

đã tiến hành lai tạo hơn 100 loài hoa cẩm chướng, kết hợp bón phân cho rahoa quanh năm

Ảnh hưởng của các yếu tố ngoại cảnh: Song song với lĩnh vực tạo

giống, các nhà khoa học tập trung nghiên cứu nhiều về ảnh hưởng của cácyếu tố ngoại cảnh đến sinh trưởng, phát triển của cẩm chướng, cụ thể về:

Nhiệt độ: là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới sự sinhtrưởng và phát triển của cây Theo Abau Dahab (1976) cho biết nhiệt độ banđêm thấp, ngày cao có lợi cho sự kéo dài của cuống hoa Cũng theo Hanau(1959) cho rằng, nhiệt độ thích hợp cho sự sinh trưởng của cành và lá banngyà từ 18 – 240C, ban đêm từ 12 – 180C Abau Dahab (1967)xử lí cẩmchướng khi cây có 6 lá ở nhiệt độ 50C từ 3 – 5 tuần, số đốt lá giảm bớt, ra nụ,

ra hoa sớm hơn hẳn

Ánh sáng: Demmink, Koehorst, Sparnaaij (1987) đã nghiên cứu cẩmchướng ra hoa dưới điều kiện cường độ ánh sáng thấp (24W/m2) Một số đemtrồng liên tục trong điều kiện ngày ngắn (8h) và số khác đem chuyển sangđiều kiện ngày dài (8h ở 24W/m2 + 16h ánh sáng chói) 2 tháng sau khi trồng.Kết quả là chỉ có một số giống lai khác loài là ra hoa trong điều kiện ánh sángthấp Các thí nghiệm ngày dài cho ra hoa sớm nhất Andersen và Aabrandt

Trang 13

(1989) [14] trồng cây cẩm chướng lai Fancy trong điều kiện nhân tạo ở cáccường độ ánh sáng 10 – 60 W/m2 Kết quả cho thấy số cành và số hoa tănglên rõ rệt theo cường độ ánh sáng

Đất: Theo báo cáo của các nước Mĩ, Anh, Nam Phi, Nhật Bản, Hà Lan:trồng cẩm chướng trên nền đất trong nhà ấm cho chất lượng tôt, giá trị kinh tếcao Nghiên cứu của Voogt (1991) cho thấy pH trong đất trồng ảnh hưởng rấtnhỏ tới cây cẩm chướng, nguyên nhân có thể do trong đất có nhiều nguyên tốtrung tính và sự có mặt của calcicum carbonate

Về năng suất hoa cẩm chướng: từ năm 1983 – 1986, Chesneaux và

cộng sự [15] đã nghiên cứu 163 loại cẩm chướng tìm hiểu năng suất củachúng trong mùa đông (tháng 9 – tháng 3) Số cành thu là 1 cành/tuần Năngsuất của loại hoa đơn thấp hơn loại hoa chùm và số lầ thu hoạch giảm xuốngtrong tháng 1 và tháng 2

Về công nghệ trồng hoa cẩm chướng: Van den Heuvel (1987) [22]

nghiên cứu công nghệ trồng cẩm chướng ở Hà Lan cho thấy các loại đất trồng

và phương pháp tưới, bón phân có thể làm giảm bệnh nấm Fusarium, tưới nhỏgiọt có thể giữ cho cây khô và tiêt kiệm nước, sử dụng plastic trắng che có thểtận dụng được ánh sáng sẵn có của tự nhiên và giảm sự bay hơi nước trongmùa đông

Nghiên cứu về ảnh hưởng của các biện pháp kĩ thuật: Khanna và các

cộng sự nghiên cứu trong 3 năm liền về ảnh hưởng của mật độ và ngắt ngọnđến sinh trưởng và sản lượng hoa cẩm chướng Thí nghiệm tiến hành với cácmật độ 15 x 15cm, 20 x 20cm, 25 x 25cm, 30 x 30cm và ngắt ngọn 1 lấn ở 60ngày, 2 lần (45 và 70 ngày), 3 lần (40, 60 và 80 ngày) sau khi trồng ra vườn.Kết quả cho thấy mật độ trồng dày cho ra hoa sớm hơn mật độ thưa Số hoatrên mỗi cây ở mật độ thưa cao hơn nhiều so với cây trồng dày nhưng tổng

Trang 14

lượng hoa/m2 ở thí nghiệm trồng dày lại cao hơn trồng thưa Kích thước củahoa không có sự sai khác đáng kể.

Nghiên cứu về kỹ thuật trồng và chăm sóc cẩm chướng: Viện nghiên

cứu Lâm viên Thượng Hải (1983) đã đưa ra kết luận về ảnh hưởng của phânbón như sau: trồng cẩm chướng trên nền đá chân chu và than bùn hỗn hợptrong nhà nilon và được tưới dinh dưỡng, phun 3 lần dung dịch Boocdo thìcho hoa màu sắc đẹp, chất lượng hoa hơn hẳn hoa ngoài đồng TheoM.A.Rihtrer (PTS Khoa Học Nông Nghiệp) đã thu được kết quả tốt trong việc

sử dụng liều lượng và tỷ lệ dạng phân bón tổng hợp N-P-K đối với cây cẩmchướng có thể cho năng suất cao và chống chịu tốt với sâu bệnh hại Về phânbón, sử dụng liều lượng: 30 kgN : 120kgK có năng suất cao nhất Sử dụngphân lân không có hiệu quả nếu trong đất có liều lượng photpho dễ tiêu 200 –

300 mg/100g đất Đối với các loại đất thiếu lân thì bón thúc supephotphat từ 2– 3 lần/ vụ ở thời kì bấm ngọn sẽ cho năng suất cao Khi nghiên cứu về phânbón cho hoa cẩm chướng Jiang Qing Hai đã đưa ra mức phân bón hợp lí là:245g Ca(NO)3, 414g KNO3, 82g NH4NO3, 164g Mg(NO)2, 82g H3PO4, 41g cát

B, tất cả hoà tan trong 1000 lít nước tưới 2 – 3 lần/ tuần Nếu điều kiện khắcnghiệt có thể tưới thêm nước giải 0,1% KH2PO4 0,2 – 0,3%

Cũng theo ông, ta có thể nhuộm màu hoa với một số hoa chưa đảm bảomàu sắc theo ý muốn Cành hoa được ngâm trong nước mấy tiếng rồi cắm vàothùng thuốc nhuộm ở 370C trong 20 – 40 phút, thêm một chút chất hút ẩm đểtăng tốc độ di chuyển thuốc màu trong thân

Về bảo quản hoa: Smith và parker (1996) khi nghiên cứu bảo quản hoa

bằng điều hoà không khí đã phát hiện thấy: khi nồng độ CO2 từ 7 – 20% cóthể ức chế ethylen ở nồng độ 0,24 mg/l trong 24h

2.5.2 Nghiên cứu trong nước

Ở miền Bắc Việt Nam có điều kiện khí hậu trong vụ Đông thích hợp cho

Trang 15

việc trồng cẩm chướng (cuối tháng 9 sang tháng 10 trở đi, khí hậu dịu máthơn, nhiệt độ trung bình từ 16 – 230C, biên độ nhiệt độ ngày đêm lớn, thíchhợp cho việc trồng các loại hoa có nguồn gốc ôn đới).

Do cẩm chướng là loại hoa ôn đới còn khá mới mẻ và chưa được sảnxuất phổ biến ở nước ta đồng thời yêu cầu về điều kiện thời tiết khắt khe (chỉthích hợp trồng ở vùng lạnh hoặc vùng có khí hậu mát mẻ) vì vậy cho đếnnay, cây cẩm chướng còn phát triển ở mức độ hạn hẹp và chúng ta có rất ítcông trình nghiên cứu về cây hoa này:

Nghiên cứu về lĩnh vực tuyển chọn các giống nhập nội: Năm 1996, Viện

Di truyền Nông nghiệp đã nhập giống cẩm chướng từ Hà Lan và tuyển chọnđược 3 giống HD1, HD2, HD3 Năm 1997, Viện nhập giống cẩm chướng từNhật Bản, Đài Loan và tuyển chọn được hai giống HD4, HD5

Ngoài ra, Trung tâm nghiên cứu Rau Đà Lạt, Viện Cây Lương thực phẩm đã nghiên cứu , đánh giá nhập nội một số giống cẩm chướng tại ĐàLạt Trường Đại học Nông Nghiệp I – Hà Nội đã có nghiên cứu về cây cẩmchướng thơm từ năm 1994 Năm 2003, Lê Đức Thảo nghiên cứu, tuyển chọnmột số giống cẩm chướng và phương pháp nhân giống bằng giâm cành trên cácloại giá thể khác nhau Đã tìm ra giống cẩm chướng TD11 (hoa đơn, màutrắng, có nguồn gốc từ Hà Lan) và TD15 (hoa đơn, màu xanh, có nguồn gốc từ

thực-Hà Lan ) là 2 giống có khả năng sinh trưởng phát triển tốt cho năng suất, chấtlượng cao Giá thể trấu hun là thích hợp nhất để nhân giống cẩm chướng bằnggiâm cành [9]

Nghiên cứu về phương pháp giâm ngọn: Theo T.S Đặng Văn Đông và

các cộng sự [3] khi nghiên cứu về các phương pháp nhân giống cẩm chướng

đã đưa ra kết luận:

+ Nhân giống bằng giâm cành: Thời vụ tốt nhất là vụ đông với giá thểtốt nhất là trấu hun, ngoài ra có thể hỗn hợp than bùn + trấu hun + bọt đá với

Trang 16

50 triệu đồng Như vậy, nếu thâm canh đúng kĩ thuật với mức giá trung bình,mỗi vụ thu lãi từ 17 – 30 triệu đồng/ sào

Về thu hoạch và bảo quản hoa: GS.TS Hoàng Ngọc Thuận khi nghiên

cứu về các loại hoa nói chung và hoa cẩm chướng nói riêng về điều kiện thuhoạch và bảo quản hoa cẩm chướng: độ chín của hoa cẩm chướng khi nở là ½

nụ, nhiệt độ kho bảo quản thích hợp nnhất cho hoa cẩm chướng là 50C trongthời gian 7 – 10 ngày [10] Theo GS.TS.Nguyễn Quang Thạch thì thời giantối đa giữ hoa trong kho lạnh là: Nhiệt độ kho: 0 -10C với thời gian giữ tối đa:

16 – 24 tuần Cũng theo GS Thạch thì hiện nay trên thị trường có bán cácdung dịch giữ hoa tươi thông dụng như:

Hỗn hợp 50g/lít Saccaro + 3ml Physan sau đó nhúng ngâm 24 giờ

Hỗn hợp 50g/lít Saccaro + 1ml Physan sau đó cắm vào dung dịch

Nghiên cứu về những lĩnh vực khác: Theo Nguyễn Văn Tiến, đánh giá

khả năng sinh trưởng phát triển, năng suất của một số giống cẩm chướng nhậpnội và nghiên cứu 1 số kĩ thuật trồng giống cẩm chướng Domingo Tác giảđưa ra 1 số kết luận là giống cẩm chướng Domingo cho năng suất cao, chất

Trang 17

lượng tốt, phù hợp với điều kiện khí hậu miền Bắc Việt Nam Trong đó, mật

độ trồng 20 x 20cm trên nền phân 80kgN + 160kgP2O5 + 80kgK2O thích hợpnhất cho sự sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng của giống cẩmchướng Domingo

Bộ môn thực vật Trường Đại học Nông Nghiệp I, nghiên cứu cấu tạo tếbào và sự phân mô mạch của hoa và cây cảnh, trong đó có hoa cẩm chướng thơm

2.6 Nghiên cứu về chế phẩm sinh học Vân Đài Tố (Kì nhân tố)

2.6.1 Giới thiệu về chế phẩm Vân Đài Tố

2.6.1.1 Lịch sử phát triển của Vân Đài Tố

Năm 1968, các nhà khoa học Mỹ đã có một phát hiện kinh ngạc về một chếphẩm được chiết xuất từ hoa cây cải dầu có tên tiếng Anh là Brassinolide ChấtBrassinolide này có khả năng làm tăng năng suất của cây đậu lên gấp 19 lần

Năm 1989, trên cơ sở phát triển đề tài của các nhà khoa học Mĩ, hai nhàkhoa học Trung Quốc là Hoàng Chí Quế và Triệu Minh Tiệp đã thành côngtrong việc ứng dụng bằng phương pháp chiết suất hiệu quả cao từ nguyên liệu

là bã các cây đã được ép lấy dầu như cây cải dầu, đậu tương, lạc tạo ra chếphẩm có tác dụng tương tự như Brassinolide và được ứng dụng đại trà trongnông nghiệp

Năm 2000 công ty TNHH phát triển khoa học kĩ thuật Ưu Thắng –Trùng Khánh (do Hoàng Chí Quế và Triệu Minh Tiệp lập ra) đã sản xuất phânbón Vân Đài Tố với các thành phần cơ bản sau:

 Acid humic

 Đạm (N) tổng số

 Lân hoà tan (P2O5)

 Kali hoà tan (K2O)

 Chất BrassinolideTrong chế phẩm Vân Đài Tố các thành phần trên được kết hợp với một

số chất chiết suất từ thực vật như các cây chứa dầu, cây tía tô, cây nguyệt kiện

Trang 18

để đạt hiệu quả tăng năng suất và tăng đề kháng bệnh cây trồng.

Sản phẩm Kỳ Nhân của công ty Ưu Thắng – Trùng Khánh đưa ra thịtrường Trung Quốc đã nhanh chóng được chấp nhận và đem lại hiệu quả kinh

tế cao cho người sử dụng (Nguyễn Quang Thạch và cs, 2006) [14]

2.6.1.2 Những đặc điểm chính của chế phẩm Vân Đài Tố

Phân bón Vân Đài Tố đã được thế giới công nhận là loại kích thích tốđiều tiết tăng trưởng thực vật mới nhất (loại thứ 6) Đây là loại kích thích tố

tự nhiên thuần khiết, được chiết suất trực tiếp từ thực vậttừ thực vât, với 3 ưuđiểm nổi bật sau:

- Tính hiệu quả: tại Trung Quốc, phân bón Kì Nhân đã được ứng dụngtại hơn 30 tỉnh thành phố với hơn 100 đối tượng cây trồng khác nhau Tuỳthuộc vào loại cây trồng, mức tăng sản lượng đạt tuè 10-150%

- Tính phổ biến: Chế phẩm Vân Đài Tố thích ứng và có hiệu quả đốivới hầu hết các loại phân bón lá đang lưu hành trên thị trường Việt Nam

- Tính không độc hại: Vân Đài Tố không độc hại đối với cây trồngnông sản, môi trường và con người Điều này đã được Trung tâm dự phòngchống bênh Trùng Khánh kiểm nghiệm Quốc gia và Viện Bảo vệ thực vật,Trung tâm tiêu chuẩn đo lường chất lượng 1 (Việt Nam) xác nhận (NguyễnQuang Thạch và cs, 2006) [14]

2.6.1.3 Công dụng của Vân Đài Tố :

- Vân Đài Tố là loại phân bón thế hệ mới, công nghệ cao được chiếtxuất từ thực vật, không độc hại đối với người và động vật, không ô nhiễmmôi trường

- Nâng cao sản lượng và chất lượng: có tác dụng kích hoạt nhiều loạienzym trong thực vật và hạt giống, tăng cường khả năng hấp thụ chất của bộ

rễ và hiệu suất quang hợp của bộ phận cây trên mặt đất, cân bằng điều tiêtsinh trưởng phát triển, giúp cho cây trồng tăng sản mạnh, nâng cao chất lượngcảm quan, màu sắc sáng đẹp, hạt mẩy, thành phần dinh dưỡng tăng

Trang 19

- Giảm sự rụng của nụ, hoa và quả non, giúp cho quả khoẻ mạnh vàđẹp, điều khiển khống chế cành vô hiệu

- Đề kháng bệnh, tăng cường khả năng chịu đựng nhiệt độ cao (nhiệt hại,gió khô nóng), chống lạnh (sương muối, lạnh), hạn úng, chịu mặn.v.v của câytrồng Dùng chế phẩm Vân Đài Tố là giảm quả nứt, phục hồi tổn thương mầmgiống trong trường hợp giống bị phủ màng đất và cháy giống do thời tiết lạnhgây ra, giúp cho cây giống khôi phục sinh trưởng đều, có hiệu quả

-Tăng sức miễn dịch, nâng cao khả năng giảm tác hại do nông dược, giảmlượng thuốc bảo vệ thực vật : giải trừ được tác hại do nông dược, nhất là thuốctrừ cỏ gây ra; giảm trừ tác hại do dùng phân bón quá nhiều, giúp cây trồng khôiphục sinh trưởng Dùng chế phẩm Vân Đài Tố phối hợp với thuốc nông dược,phân bón hoá học trung tính hoặc có tính axit sẽ tăng hiệu quả sử dụng

- Nâng cao sản lượng cây trồng, bình quân tăng sản 20% trở lên, cảithiện chất lượng cản phẩm, nâng cao tính thương mại của sản phẩm

- Thời gian tác dụng nhanh (3-5 ngày)

- Lượng dùng cho 1 sào (360 m2) ít: cần phun 10 gam kích hoạt gen vớihàm lượng 0,15% (Nguyễn Quang Thạch và cộng sự, 2006) [14]

2.6.2 Một số kết quả nghiên cứu về chế phẩm Vân Đài Tố

Năm 2006, Nguyễn Quang Thạch và công sự đã tiến hànnh khảonghiệm loại chế phẩm Vân đài tố trên một số đối tượng cây trồng và đã thuđược một số kết quả sau:

Kết quả khảo nghiệm trên diện hẹp và diện rộng với nhiều loại câytrồng (cây lương thực, cây công nghiệp, cây rau, cây hoa và cây ăn quả) trênmột số loại đất khác nhau đều cho chung nhận xét: chế phẩm Vân đài tố làmột loại phân bón có tác dụng thúc đẩy quá trình sinh trưởng, phát triển câytrồng, tăng năng suất và phẩm chất cây trồng một cách rõ rệt Năng suất lúatăng 11,6%; năng suất ngô tăng 28,5% trên thí nghiệm cơ bản và 26,65% trêndiện rộng Đối với cây ăn quả, chế phẩm Vân đài tố đã làm tăng năng suất vải

Trang 20

lên 34% (trên diện hẹp) và 28% (trên diện rộng) Năng suất quả trên cây nhotăng từ 16-24% ở cả vụ hè – thu, đông – xuân (diện khảo nghiệm hẹp) và tăng10,2% trên diện rộng Chế phẩm Vân đài tố cũng làm tăng năng suất bông lên11,5% ở diện hẹp và 12,2% ở diện rộng Đối với cây hoa đồng tiền, chế phẩmVân đài tố làm tăng chiều cao cây 27,8%, số lá tăng 17,5%, năng suất tăng 55%,phẩm chất hoa cũng tăng rõ rệt về màu sắc và chiều dài cánh hoa.

Ngoài tác dụng làm tăng năng suất của cây trồng thí nghiệm, chế phẩmVân đài tố còn làm tăng chất lượng sản phẩm, đặc biệt là đối với cây ăn quả

Trên cơ sở các kết quả đối với các loại cây trồng nói trên, việc tiếnhành thử nghiệm loại chế phẩm sinh học này trên cây cẩm chướng để thấyđược hiệu quả của chế phẩm Vân đài tố đối với cây cẩm chướng là cần thiết,giúp tìm ra được một biện pháp kĩ thuật mới làm tăng khả năng sinh trưởngcủa cây cẩm chướng có thể nâng cao năng suất, chất lượng hoa

Trang 21

PHẦN III NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu

(Ghi chú: Các giống Hà Lan dùng cho thí nghiệm 1, giống Trung Quốcdùng cho thí nghiệm 3)

(Ghi chú: Các giống Hà Lan dùng cho thí nghiệm 1, giống Trung Quốcdùng cho thí nghiệm 3)

Trang 22

- Chế phẩm sinh học Vân đài tố : là sản phẩm của công ty Ưu Thắng –Trùng Khánh, Trung Quốc Thành phần cơ bản gồm:

 Acid humic

 Đạm (N) tổng số

 Lân hoà tan (P2O5)

 Kali hoà tan (K2O)

 Chất Brassinolide

3.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

- Địa điểm: Đề tài nghiên cứu được tiến hành tại khu thí nghiệm củaViện Sinh học Nông nghiệp - Trường Đại học Nông nghiệp I

- Thời gian: Từ ngày 23/12/2007 đến ngày 10/7/2008

3.2 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu sinh trưởng, phát triển, năng suất, chất lượng và khảnăng nhân giống vô tính của 7 giống cẩm chướng chùm Hà Lan

- Nghiên cứu ảnh hưởng của chế phẩm Vân đài tố đến sinh trưởng,phát triển của giống cẩm chướng đơn Trung Quốc

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm:

3.3.1.1 Thí nghiệm 1: Đánh giá sinh trưởng, phát triển và năng suất, chất

lượng của một số giống cẩm chướng chùm Hà Lan:

Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp tuần tự ngẫu nhiên, khôngnhắc lại, mỗi công thức theo dõi 30 cây, mỗi cây trên 3 cành cao nhất, 2 tuầntheo dõi 1 lần Mỗi giống được bố trí trên ô thí nghiệm có diện tích 4,8 m2

(dài 4m, rộng 1,2m)

3.3.1.3 Thí nghiệm 2: Đánh giá khả năng nhân giống vô tính bằng phương

pháp giâm cành của các giống cẩm chướng chùm Hà Lan

Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp tuần tự ngẫu nhiên, khôngnhắc lại, mỗi công thức theo dõi 30 cành giâm, thời gian theo dõi là 1 tháng

Trang 23

Giá thể cành giâm là trấu hun, phun mù 3 – 5 lần/ngày Sử dụng chấtkích thích ra rễ cực mạnh, nồng độ 5g/lít, khoảng cách 2,5x2,5 cm, phun nướchàng ngày Tuần đầu che bằng lưới đen.

3.3.1.2 Thí nghiệm 3: Nghiên cứu ảnh hưởng của chế phẩm sinh học Vân đài

tố dến sinh trưởng phát triển cuả cây cẩm chướng

Tiến hành trên giống cẩm chướng đơn G13 của Trung Quốc với 4 côngthức:

CT1: Phun Vân đài tố với nồng độ 0,5 g/lít

CT2: Phun Vân đài tố với nồng độ 1 g/lít

CT3: Phun Vân đài tố với nồng độ 1,5 g/lít

ĐC: Phun nước

Thí nghiệm được bố trí ngẫu nhiên với 3 lần nhắc lại, mỗi lần 10 cây,mỗi cây đánh giá trên 3 ngọn cao nhất, theo dõi 1 tuần 1 lần Giữa các côngthức có màng ngăn nilon cao 1,3m và rộng 1,3m Phun 3 lần, mỗi lần cáchnhau 14 ngày Sau phun lần cuối cùng 1 tháng thì tháo bỏ nilon cho cây sinhtrưởng, phát triển bình thường

Trang 24

20- Bón thúc cho cây cần chia theo từng thời kì sinh trưởng phát triển củacây:

- Thời kì sinh trưởng và phát triển chồi, khoảng 4 tháng đầu: bón 3tuần/lần

- Thời kì chồi mang hoa: Trong 3 tháng kế tiếp: bón 2 tuần/lần

- Thời kì khai thác hoa: bón 2 tuần/lần

 Tưới nước: Cây mới trồng cần tưới nhẹ 3 lần/ngày vào buổi sáng Hạnchế tưới lên lá, thân

 Làm cỏ thường xuyên

 Sau trồng 4 tuần tiến hành bẻ ngọn lần 1, giữ lại 5-6 cặp lá Bẻ ngọn lần

2 ở tuần thứ 8-9 đối với 1-2 ngọn lớn nhất, chỉ để lại 2 cặp lá Số ngọn còn lại

là 4-5 ngọn Nhưng do để cho kịp thới gian báo cáo nên các giống Cẩmchướng chỉ được ngắt ngọn lần 1

 Tỉa chồi và sửa cây vào ô lưới là công việc phải được thực hiện thườngxuyên Đối với cẩm chướng chùm thì tỉa bỏ những nụ hoa chính để lại những

nụ hoa phụ thì các hoa trên cành sẽ nở đồng đều hơn

 Làm 3 tầng lưới đỡ cây Tầng dưới cùng cách mặt luống 15cm, nhữngtầng dưới kế tiếp cách nhau 20cm với chất liệu nilon

3.3.3 Các chỉ tiêu nghiên cứu và phương pháp theo dõi

- Từ trồng đến nụ rộ (50%)

- Từ trồng đến nở hoa rộ (50%)

- Từ trồng đến hoa bắt đầu thu hoa

Trang 25

Sự sinh trưởng của các giống trước bấm ngọn:

+Chiều cao cây TB (cm/cây): Đặt thước sát mặt đất vuốt hết láđến mút lá cuối cùng

+ Số lá TB/cây (lá/cây): Đếm toàn bộ lá từ gốc đến ngọn trênthân chính

+ Số chồi TB/cây trước khi ngắt ngọn (chồi): Tổng số cành trêntổng số cây theo dõi (Chồi được tính khi chiều dài chồi ≥ 2.5 cm)

(Đo sau trồng 1 tháng, trước khi bấm ngọn Mỗi giống đo 30 cây, mỗicây 3 cành cao nhất)

Các chỉ tiêu vềđặc điểm thân và lá:

+ Tỷ lệ bật chồi dinh dưỡng/Tổng số mắt ngủ/cành (%/cành)

+ Chiều cao TB/cành (cm/cành): Độ dài các cành/Tổng số cành theo dõi (Đặt thước tại điểm phân cành đo đến vút lá cuối cùng)

+ Đường kính TB cành hoa (cm/hoa): Được đo bằng thước Panme ở vịtrí giữa của lóng thứ 5 Đo khi hoa nở hoàn toàn

+ Chiều dài TB 7 lóng ngay dưới hoa chính (cm/cành)

+ Số lá TB/ cành (lá): Tổng số lá/Tổng số cành theo dõi

+ Số cành TB/cây (cành): Tổng số cành/Tổng số cây theo dõi

(Đo đếm mỗi giống 30 cây, mỗi cây 3 cành cao nhất) + Diện tích lá: Đo bằng máy CT-202-AREA METER (Mỗi giống đo 9cây Đo khi hoa nở hoàn toàn.)

Chỉ tiêu về năng suất hoa:

+ Số nụ/ cành: Tổng số nụ/ Tổng số cành theo dõi

+ Số hoa TB/cành (hoa): Tổng số hoa/ Tổng số cành theo dõi

+ Tỷ lệ hoa hữu hiệu (%): Tổng số hoa nở/ Tổng số nụ theo dõi/cành.+ Tỷ lệ cành hoa hữu hiệu: Tổng số cành ra hoa/Tổng số cành của cáccây theo dõi

Chỉ tiêu về đặc điểm nụ, hoa:

Trang 26

+Chiều cao bông hoa (cm/hoa): Đo từ đốt trên cùng mang hoa đến hếtcánh hoa cao nhất Đo khi hoa nở hoàn toàn.

+ Đường kính TB nụ (cm/nụ): Đo khi nụ đạt kích thước tối đa nhưngchưa xuất hiện màu đặc trưng

+ Độ bền tự nhiên (ngày): Tính từ khi trổ từ 3 nụ và đã có màu đặctrưng đến khi 50% số cánh hoa trên bông bị héo

+ Độ bền hoa cắt (ngày): Từ khi cắm hoa vào bình đến 50% số cánhhoa trên bông bị héo

+ Màu sắc hoa: Theo phương pháp đánh giá biểu kiến: theo dõi khi hoa

nở tối đa

Mức độ ưa thích của người tiêu dùng: Sau khi có hoa, mang hoa đi vàphát phiếu thăm dò mức ưa thích các giống tại các cửa hàng bán hoa, lấy ýkiến của người bán hàng và người tiêu dùng Phân loại hoa theo các mức:

>80% người được hỏi chấp nhận: + + + +70% - 80% người được hỏi chấp nhận: + + +50% - 70% người được hỏi chấp nhận: + +

<50% người được hỏi chấp nhận: +Tình hình sâu bệnh: (Phun định kì 7-10 ngày/lần, luân phiên thuốc)+Theo dõi để biết được thời gian gây bệnh

+ Các loại sâu bênh hại chính

+ Bộ phận gây hại

+ Tỷ lệ cây bị sâu bệnh hại (%): Số cây bị hại/Tổng số cây theo dõi x 100+ Mức độ gây hại: Theo phương pháp chuẩn đoán bệnh bằng mắt thườngcủa Lê Lương Tề - Vũ Triệu Mân (1988) phân chia các mức gây hại:

< 10% diện tích lá bị hại: +

11-25% diện tích lá bị hại: + +

26-50% diện tích lá bị hại: + + +

>50% diện tích lá bị hại: + + + +

Trang 27

3.3.4 Phương pháp xử lí số liệu

Số liệu thu thập được xử lí theo chương trình EXEL và chương trìnhphần mềm IRRISTAT

Trang 28

PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1 Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất, chất lượng hoa, khả năng nhân giống vô tính các giống cẩm chướng chùm Hà Lan.

4.1.1 Thí nghiệm 1: Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất, chất lượng hoa của các giống cẩm chướng

4.1.1.1 Khả năng sống và thời gian sinh trưởng phát triển của các giống cẩm chướng nghiên cứu:

Tỷ lệ sống của các giống cẩm chướng là một chỉ tiêu quan trọng đểđánh giá chất lượng cây giống, khả năng thích ứng của giống đó với điều kiệnsinh thái nơi trồng và độ đồng đều của giống Tỷ lệ sống phụ thuộc rất nhiềuvào giống, điều kiện ngoại cảnh và kĩ thuật trồng Giống có tỷ lệ sống cao làgiống có tiềm năng thích hợp với điều kiện sinh thái của vùng và sẽ có khảnăng sinh trưởng, phát triển tốt cho năng suất, chất lượng cao

Cây hoa cẩm chướng cũng như tất cả các cây trồng khác muốn hoànthành chu kì sống của mình phải trải qua nhiều thời kì sinh trưởng, phát triểnkhác nhau Sinh trưởng, phát triển của cây cẩm chướng được tính từ khi trồngđến hình thành nụ, ra hoa và thu hoạch Mỗi giai đoạn sẽ góp phần quyết địnhtới năng suất, chất lượng của giống cây sau này Thời gian sinh trưởng, pháttriển phụ thuộc đặc tính của giống, điều kiện ngoại cảnh và kĩ thuật chăm sóc.Nắm được quy luật thay đổi thời gian sinh trưởng của cây cẩm chướng là cơ

sở chủ yếu để xác định thời vụ trồng, cơ cấu giống, chế độ chăm sóc phù hợpvới từng giai đoạn Đặc biệt với cây hoa thì phải bố trí sao cho thời điểm thuhoạch trùng với các dịp mà nhu cầu tiêu thụ hoa của thị trường lớn: các ngày

lễ 8/3, 14/2, 30/4, 1/5

Khi cây bắt đầu ra nụ là kết thúc giai đoạn sinh trưởng thân lá, cây bướcvào giai đoạn phát triển, mang nụ và hoa Tuy nhiên sự sinh trưởng, phát triển của

Trang 29

các cành trên cây không đồng đều do tuổi sinh lý của các cành là khác nhau Cáccành mọc từ nách lá gần ngọn thường sẽ cho hoa sớm hơn các cành ở phía gốc

Kết quả về tỷ lệ sống thời gian sinh trưởng qua các giai đoạn của 7giống cẩm chướng nghiên cứu được trình bày ở bảng 1:

Bảng 1: Khả năng sống và thời gian sinh trưởng, phát triển

của các giống cẩm chướng Hà Lan

Đến bắtđầu thuhoa

Ra nụ rộ Nở hoa rộ Bắt đầu

thuhoạch

- Tỷ lệ sống của các giống sau trồng đến khi bắt đầu thu hoa biến động

từ 45 - 93% Trong đó cao nhất là G6 (93%) và G7 (92%), thấp nhất là G2(47%) và G3 (45%) Tỷ lệ này tỷ lệ thuận với mức độ mẫn cảm của giống vớibệnh thối gốc

Trang 30

- Thời gian sinh trưởng, phát triển qua các giai đoạn của các giống cẩmchướng nghiên cứu:

Qua bảng 1 ta thấy mỗi giống khác nhau có thời gian trải qua các giaiđoạn sinh trưởng, phát triển khác nhau và một giai doạn ở các giống khácnhau là khác nhau, cụ thể là:

Thời gian từ trồng đến nụ rộ dao động từ 138 – 162 ngày Trong đó dàinhất là G1 (162 ngày), thấp nhất là 138 ngày

Thời gian từ trồng đến nở hoa rộ dao động từ 168 – 206 ngày Trong đódài nhất là G1 (206 ngày), thấp nhất là G2, G6 (168 ngày)

Thời gian từ trồng đến bắt đầu thu hoa được tiến hành từ khoảng 10%

số cây ra hoa Thời gian này của các giống biến động lớn từ (161 – 201 ngày),sớm nhất là G2 (161 ngày), muộn nhất là G1 (201 ngày), các giống còn lạidao động từ 172 – 180 ngày Như vậy thời gian sinh trưởng của các giống làrất dài, trung bình gần 6 tháng mới bắt đầu cho thu hoa Nguyên nhân chủ yếu

là do thời tiết vụ Xuân Hè năm nay khá bất thường (thời gian đầu sau trồngnhiệt độ thấp chỉ từ 13,81 – 15,21oC với những đợt lạnh kéo dài, thời gian saulại nắng, nóng kết hợp với ẩm độ cao) mà cây cẩm chướng thích hợp với khíhậu ôn hòa

Qua bảng 1 ta thấy sự chênh lệch các giai đoạn giữa các giống khôngnhiều, chỉ trừ giống G1 Trong đó giống G2, G6 có thời gian ra nụ, ra hoa vàthời gian thu hoạch sớm nhất và muộn nhất là giống G1 Giống G1 do thờigian sinh trưởng sinh dưỡng quá dài dẫn đến thời gian bắt đầu ra nụ (10%) lêntới 150 ngày sau trồng, kết quả làm cho thời gian bắt đầu thu hoạch hoa kéodài sau trồng 201 ngày Điều này là rất bất lợi vì khi thời gian ra nụ, ra hoabắt đầu từ cuối tháng 5 sẽ gặp thời tiết nắng, nóng kéo dài xen kẽ với nhữngtrận mưa rào làm ảnh hưởng rất lớn đến năng suất, chất lượng hoa sau này.Hơn nữa gây khó khăn cho việc sắp xếp cơ cấu cây trồng vụ sau

Trang 31

Như ta đã biết các mỗi giai đoạn ở các giống khác nhau thì khác nhau.

Vì vây, không phải lúc nào thời gian ra hoa cũng tỷ lệ thuận với thời gian ra

nụ, bởi mỗi giống khác nhau lại có thời gian sinh trưởng nụ khác nhau Kếtquả theo dõi sự chênh lệch giữa các giai đoạn được thể hiện ở bảng 2

Bảng 2: Thời gian giữa các giai đoạn phát triển của các giống cẩm

Từ nụ hoàn toàn đến bắt đầu nở hoa

Từ bát đầu

nở hoa đến hoa

nở rộ

Từ nở

rộ đến

nở hoàn toàn

Thời gian từ hình thành nụ đến nụ rộ dao động từ 6 – 13 ngày Trong

đó G6 có thời gian tập trung nhất, chỉ có 6 ngày, giống G7 là dài nhất là 13ngày ngày, các giống còn lại từ 9 – 12 ngày Thời gian từ nụ rộ đến nụ hoàn

Trang 32

toàn chênh lệch nhau lớn từ 6 – 16 ngày, sớm nhất vẫn là các giống G2, G3,G6 dao động từ 6 – 9 ngày, muộn nhất là G1 (16 ngày), các giống còn lại daođộng từ 12 – 14 ngày.

Thời gian từ nụ hoàn toàn đến bắt đầu ra hoa dao động từ 15 – 21 ngày,muộn nhất là G1 ( 21 ngày), các giống còn lại dao động từ 15 – 18 ngày

Thời gian từ hoa nở đến hoa nở rộ giữa các giống dao động khôngnhiều từ 6 – 9 ngày

Thời gian từ nở hoa rộ đến nở hoàn toàn chỉ từ 2 – 3 ngày

Như vậy, thời gian thu hoa là rải rác, không thuận lợi cho sản xuất hànghóa, nhưng với công nghệ bảo quả hoa còn thấp kém và sản xuất nhỏ củangười nông dân thì đây có thể là 1 lợi thế cho việc rải vụ để cung cấp thườngxuyên cho thị trường

Như vậy thời gian giữa các giai đoạn khác nhau của mỗi giống và cùnggiai đoạn của các giống là khác nhau và không tuân theo quy luật nào Nhữnggiống có ra nụ và ra hoa hoa tập trung thuận lợi cho quá trình chăm sóc và thuhoạch Có 3 giống có thời gian từ hình thành nụ đến nở hoàn toàn dài nhất laG2, G4, G6 Đây cũng là các giống sau này có đường kính nụ, hoa to nhất

4.1.1.2 Sự sinh trưởng của các giống trước khi bấm ngọn

Đây cũng là một chỉ tiêu quan trọng bước đầu phản ánh khả năng thích ứngcủa giống với điều kiện sinh thái của vùng trồng Những giống có chiều cao cây,

số lá, số chồi trước khi bấm ngọn phù hợp là cơ sở cho khả năng sinh trưởng, pháttriển của giống sau này để cho những cành hoa khỏe mạnh, chất lượng cao

Chính vì lí do trên mà chúng tôi tiến hành theo dõi sự sinh trưởng vềchiều cao cây, số lá, số cành của các giống trước khi bấm ngọn (sau trồng 1tháng) Kết quả được trình bày ở bảng 3

Trang 33

Bảng 3: Sự sinh trưởng của các giống cẩm chướng nghiên cứu

Số cành TB (cành/cây)

- Giống có chiều cao TB/cây lớn nhất là G3 (13,35cm/cây) và thấp nhất

là G7 (9,87cm/cây) và G5 (10,32 cm/cây) Các giống còn lại dao động từ12,11 – 13,04 cm

- Về số cặp lá TB/cây chỉ được tính trên thân chính, dao động không nhiều Trong đó, giống G3, G5, G6 có số cặp lá nhiều nhất từ 10,07 – 10,97 cặp lá/cây, thấp nhất là giống G1 chỉ đạt 8,84 cặp lá/cây

- Số chồi TB/cây: giống G3 có khả năng đẻ chồi nhiều nhất (1,82

chồi/cây), còn giống số 7 đạt thấp nhất chỉ đạt 0,10 chồi/cây, các giống còn lại dao động từ 0,63 – 1,59 chồi/cây

Như vậy, trước khi bấm ngọn các giống đều có chiều cao cây, số cặp lá,

số chồi chênh lệch nhau không nhiều Vì vậy ta có thể bấm ngọn cho cácgiống tại cùng 1 thời điểm Giống G2, G3 được coi là giống có chiều cao cây,

số cặp lá, số chồi trước bấm ngọn lớn nhất

4.1.1.3 Đặc điểm sự sinh trưởng thân

a) Động thái phân cành của các giống cẩm chướng chùm Hà Lan

Chỉ tiêu về động thái phân cành là một trong những chỉ tiêu có ảnh

Trang 34

hưởng lớn đến năng suất của cây hoa cẩm chướng Vì số cành/cây quyết định

số cành hoa nhiều hay ít (ảnh hưởng đến năng suất) Tuy nhiên nếu cây cónhiều cành thì sẽ dẫn đến sự cạnh tranh dinh dưỡng dẫn đến cành nhỏ và sẽkhông đảm bảo chất lượng của cành cũng như bông hoa sau này

Số cành/cây không những phụ thuộc vào điều kiện ngoại cảnh như đấtđai, khí hậu, chế độ phân bón mà nó còn phụ thuộc vào đặc tính củagiống, vị trí bấm ngọn, mật độ trồng Sau khi bấm ngọn thì ta phải chú ýđến các chế độ chăm sóc như: tưới nước, bón phân nhằm tạo điều kiệncho cây đẻ nhiều cành (cành hoa sau này)

Khả năng đẻ cành của cây cẩm chướng là rất mạnh Mỗi đốt có thể đẻ

từ 1 – 2 cành tùy thuộc vào vị trí bấm ngọn và mật độ trồng

Sau trồng 1 tháng khi cây bén rễ, hồi xanhvà cho các cặp lá mới, chúngtôi tiến hành bấm ngọn chính để cho cây bật các mầm nách, phân cành Bấmngọn được tiến hành vào ngày nắng ráo, dùng tay hoặc dao nhỏ ngắt ngọn, đểlại 4 – 5 cặp lá ở tất cả các giống Ở đây chúng tôi chỉ theo dõi động thái phâncành của giống trên thân chính sau bấm ngọn Kết quả nghiên cứu được trìnhbày ở bảng 4 và đồ thị 1

Bảng 4: Động thái tăng trưởng số cành của các giống

Trang 35

Đồ thị 1: Động thái tăng trưởng số cành của các giống

cẩm chướng chùm Hà Lan

Qua bảng 4 và đồ thị 1 cho thấy từ sau khi bấm ngọn thì tốc độ phâncành của các giống đều mạnh Nguyên nhân là do khi ta bấm ngọn sẽ làm ứcchế chồi ngọn và kích thích các chồi bên phát triển Nhưng các cành đượchình thành tập trung ngay sau thời gian bấm ngọn, sau đó tốc độ giảm mạnh

và ngừng hẳn Lúc này các chất dinh dưỡng không phải để tạo cành mới nữa

mà để làm tăng độ dày và độ dài của cành Những cành ra cuối thường lànhững cành vô hiệu sau này, nhất là những cành mọc ở gần gốc Nó bịcạnh tranh dinh dưỡng bởi những cành ra sớm và lớn hơn, kéo dài thờigian sinh trưởng sinh dưỡng, khi gặp thời tiết bất lợi thì nó không kịpphân hóa mầm hoa

Qua bảng ta thấy:

- Giống có số cành cuối cùng lớn nhất là G1 (5,7 cành) và thấp nhất làG7 (4,19 cành), các cành còn lại dao động từ 4,93 – 5,41 cành Các giống đạtsớm đạt đến số cành tối đa là G1, G2, G3, G5 Các giống còn lại thì chậmhơn Những cành ra muộn thường là cành vô hiệu

Trang 36

- Tốc độ tăng trưởng số cành của các giống tăng mạnh từ 16/2 đến 17/3,sau đó giảm mạnh và ngừng hẳn Giai đoạn đầu G5 có tốc độ tăng mạnh nhất(1,48 cành/14 ngày) nhưng do số cành trước khi bấm ngọn ít nên tổng số cànhcuối cùng không cao.

b) Động thái tăng trưởng chiều dài cành của các giống cẩm chướng

nghiên cứu

Động thái tăng trưởng chiều dài cành là một trong những đặc trưng cơbản để phân biệt các giống cẩm chướng khác nhau Chiều cao cây phản ánhđặc tính di truyền, đồng thời chịu tác động các yếu tố ngoại cảnh, chiều caocây còn là chỉ tiêu phản ánh thực tình hình sinh trưởng, khả năng tiếp nhậnánh sáng và liên quan đến sự nở hoa Chiều cao cây cẩm chướng chủ yếu dochiều dài cành quyết định vì trong kĩ thuật trồng hoa cẩm chướng, thân chính

đã bị loại bỏ từ khi bấm ngọn để kích thích cành cấp 1 phát triển

Chiều dài cành có liên quan chặt chẽ đến đặc điểm nông sinh học củacây như: số đốt/ cây, chiều dài lóng, số lá/cây Giống cao cây, sinh trưởngkhỏe sẽ cho các cành mang hoa dài, đường kính mang hoa lớn, chất lượngcành hoa cao

Cây cẩm chướng chỉ ra hoa khi nó đạt được 1 chiều cao nhất định Vìvậy mà nghiên cứu động thái tăng trưởng của cành còn là cơ cở để áp dụngnhững biện pháp kĩ thuật hợp lí để cho cây phát triển đến 1 độ cao phù hợp vàtrong việc phân bố những khu cẩm chướng cao cây hay thấp cây riêng đểthuận tiện cho việc làm giàn Hơn nữa biết được tốc độ tăng trưởng của giốngqua từng giai đoạn thì ta sẽ chủ động trong việc chăm sóc cây như: chế độchăm sóc bón phân hợp lý

Để thấy rõ điều này, chúng tôi đã tiến hành theo dõi sự tăng trưởng vềchiều dài cành của các giông cẩm chướng nghiên cứu Kết quả được trình bày

ở bảng 5 và đồ thị 2a, 2b

Trang 37

Bảng 5: Động thái tăng trưởng chiều dài cành của các giống

20,33

24,56

29,78

37,94

46,52

16,7

3 21,7

25,67

30,43

40,04

55,49

17,75

22,44

26,19

29,22

38,57

50,81

21,58

28,42

34,8

62,48

19,93

23,68

30,89

43,98

20,82

24,41

31,94

16,39

19,52

25,15

30,66

Trang 38

Đồ thị 2a: Động thái tăng trưởng chiều cao cành của các giống

cẩm chướng chùm Hà Lan

Qua bảng đồ thị 5 và đồ thị 2a, 2b ta thấy:

- Động thái tăng trưởng chiều dài cành của các giống cẩm chướngnghiên cứu tăng tỷ lệ thuận với thời gian theo dõi sau trồng và nó khác nhau ởcác giai đoạn khác nhau của các giống:

+ Giai đoạn từ 16/2 đến 1/4 chiều dài cành của các giống chênh lệchnhau không đáng kể 13,56 - 22,44 cm Trong đó cao nhất là G2, G3, G4 đạt từ21,58 – 22,44 cm, thấp nhất là G7 chỉ đạt 13,56 cm

+ Giai đoạn từ 15/4 đến đạt chiều cao cuối cùng thì chiều dài cành củacác giống có chênh lệch nhau đáng kể Giống có chiều dài cành cuối cùng đạtcao nhất là G4 (95,15cm) và G1 (80,5cm), thấp nhất là G7 (46,70 cm)

Trang 39

Đồ thị 2b: Tốc độ tăng trưởng chiều dài cành TB của các giống

cẩm chướng chùm Hà Lan

- Tốc độ tăng trưởng chiều dài cành: có giai đoạn chiều dài cành củacây tăng chậm, giai đoạn tăng nhanh nhưng cuối cùng ổn định và không tăngnữa, cụ thể là:

+ Giai đoạn từ 18/2 đến 1/4, chiều dài cành của tất cả các giống cẩmchướng nghiên cứu tăng chậm Trong đó, giống G4 là tăng mạnh nhất, chậmnhất là giống G7 Nguyên nhân của sự tăng trưởng chậm là do mới trồng nên

ở giai đoạn đầu sức sinh trưởng của các giống còn kém và đặc biệt chịu ảnhhưởng của điều kiện thời tiết vào thời gian này có gió mùa Đông Bắc nênnhiệt độ, ẩm độ và cường độ ánh sáng giảm mạnh

+ Giai đoạn từ 15/4 đến 29/4 tốc độ tăng trưởng chiều dài giảm khámạnh ở tất các giống Nguyên nhân là do khí hậu ở thời điểm này đột ngộtthay đổi: nhiệt độ bắt đầu tăng cao kết hợp với ẩm độ cao làm cho cây bắt đầu

Trang 40

bị nhiễm bệnh nhiều Do đó, giống nào có khả năng thích ứng rộng sẽ sinhtrưởng tốc độ tăng trưởng giảm ít và ngược lại giống nào có khả năng thíchứng hẹp thì tốc độ tăng trưởng chiều dài cành giảm nhiều Qua đồ thị ta thấy:

ở giai đoạn này G4 là giống gần như không bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi củathời tiêt, tốc độ tăng trưởng vẫn đạt 6,44 cm/14 ngày, trong khi đó G6 chỉ đạt3,50 cm/14 ngày và G7 đạt 3,33 cm/ 14 ngày Như vậy G4 có thể là giống cótiềm năng thích ứng với điều kiện khí hậu miền Bắc nước ta

+ Giai đoạn từ 13/5 đến 6/12, chiều dài cành của các giống cẩm chướngnghiên cứu tăng nhanh, trung bình từ 6,94 – 14,38 cm/14 ngày Trong đógiống G2, G3, G4 có tốc độ tăng nhanh nhất, tương ứng là 12,56 cm/14 ngày,13,01 cm/14 ngày và 11,29 cm/14 ngày G7 vẫn là giống có tốc độ tăng chiềudài cành ít nhất, chỉ đạt 6,28 cm/14 ngày Nhìn vào đồ thị ta có thể thấy đây làgiai đoạn cây sinh trưởng sinh dưỡng mạnh, các chất hữu cơ được tổng hợptập trung để tạo thêm các đốt, các cặp lá và kéo dài lóng và đang dần đạt đếnchiều cao cuối cùng Giai đoạn này cây không chỉ tăng về chiều cao mà còntăng về số lá đường kính thân, khối lượng cũng như các chỉ tiêu khác

+ Giai đoạn từ 11/6đến đạt chiều cao cuối cùng, tốc độ tăng trưởngchiều dài cành giảm mạnh, đặc biệt G2, G3, trong khi đó G4 và G1 tốc độtăng trưởng vẫn mạnh, G6 và G5 tốc độ đạt chậm hơn Như vây giai đoạn nàyphần lớn các giống đang tiến dần đến chiều cao cuối cùng và bước vào quátrình phân hoá mầm hoa, sản phẩm đồng hoá được tập trung để nuôi mầm hoa

vì vậy mà tốc độ tăng trưởng đều giảm Các giống G2, G6 bước vào giai đoạnnày sớm nhất vì nó đã đạt chiều cao tối đa sớm nhất, trong khi đó 1 số giốngvẫn tập trung dinh dưỡng để kiến tạo nên thân, lá và kéo dài lóng

c) Một số chỉ tiêu về chất lượng cành của các giống cẩm chướng chùm Hà Lan.

Bảng 6: Chất lượng cành của các giống cẩm chướng

chùm Hà Lan

Ngày đăng: 24/04/2016, 20:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Sỹ Dũng (2001), Kỹ thuật trồng hoa cẩm chướng. Báo cáo khoa học 1999-2000, Viện Di truyền Nông nghiệp. NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo khoa học 1999-2000, Viện Di truyền Nông nghiệp
Tác giả: Lê Sỹ Dũng
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2001
4. Trần Hợp (1998), Công trình phân loại thực vật học. NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công trình phân loại thực vật học
Tác giả: Trần Hợp
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1998
5. Nguyễn Xuân Linh (1998), Hoa và kỹ thuật trồng hoa. NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoa và kỹ thuật trồng hoa
Tác giả: Nguyễn Xuân Linh
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1998
7. Nguyễn Xuân Linh và CTV (1998), Điều tra khả năng phát triển hoa ở khu vực miền Bắc Việt Nam. Tạp chí Nông nghiệp – Công nghiệp. Số 2/1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nông nghiệp – Công nghiệp
Tác giả: Nguyễn Xuân Linh và CTV
Năm: 1998
8. Nguyễn Xuân Linh, Nguyễn Thị Kim Lý (2005), Ứng dụng công nghệ trong sản xuất hoa. NXB Lao động – Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng công nghệ trong sản xuất hoa
Tác giả: Nguyễn Xuân Linh, Nguyễn Thị Kim Lý
Nhà XB: NXB Lao động – Xã hội
Năm: 2005
9. Lê Đức Thảo (2003), Nghiên cứu, tuyển chọn giống hoa cẩm chướng thơm (Dianthus caryophyllus) và phương pháp nhân giống bằng giâm cành. Luận văn thạc sỹ nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: (Dianthus caryophyllus)" và phương pháp nhân giống bằng giâm cành
Tác giả: Lê Đức Thảo
Năm: 2003
10. Hoàng Ngọc Thuận (2002), Bài giảng chọn giống và nhân giống hoa cây cảnh. NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng chọn giống và nhân giống hoa cây cảnh
Tác giả: Hoàng Ngọc Thuận
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2002
11. Trương Hữu Tuyên (1979), Kỹ thuật trồng hoa. NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật trồng hoa
Tác giả: Trương Hữu Tuyên
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1979
13. Viện bảo vệ thực vật - Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (1997), Phương pháp nghiên cứu Bảo vệ thực vật - Tập I. NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu Bảo vệ thực vật - Tập I
Tác giả: Viện bảo vệ thực vật - Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1997
14. Andersen, H; Aabrandt, Z. (1989), Artificial lighting for Dianthus cv. Fancy. Gartner Tidende, p. 914-943 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Artificial lighting for Dianthus cv. "Fancy
Tác giả: Andersen, H; Aabrandt, Z
Năm: 1989
15. Chesneaux, -MT; Ferrero, -F; Poetto,-L. (1987), Comparative study of productivity in carnation cultivars of differing genetic origins, classified by culture type. Acta-Horticulturae. No.216, p.193-198 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Acta-Horticulturae
Tác giả: Chesneaux, -MT; Ferrero, -F; Poetto,-L
Năm: 1987
16. Cox, - RJ (1987), Carnation production in Kenya. Acta- Horticulturrae. No 216, p.43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Acta- Horticulturrae
Tác giả: Cox, - RJ
Năm: 1987
17. D.M.U.B. Dhanasekera (1998), Cut flower production in Sri Lanka.FAO, Bangkok, ThaiLand Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cut flower production in Sri Lanka
Tác giả: D.M.U.B. Dhanasekera
Năm: 1998
18. Menguc, A; Eric, A. (1987), Carnation growing anh its problem in Turkey. Acta – Horticulturae. No 216, pp 23-28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Acta – Horticulturae
Tác giả: Menguc, A; Eric, A
Năm: 1987
19. Pizano,-M (1987), Carnation culture in Colombia: state of the art. Acta- Horticulturrae. No.216, p.39-40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Acta- Horticulturrae
Tác giả: Pizano,-M
Năm: 1987
20. Sant, V-van; Van-Sant, -V (1987), The carnation industry in Western Australia, Acta-Horticulturae. No.216, p.39-41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Acta-Horticulturae
Tác giả: Sant, V-van; Van-Sant, -V
Năm: 1987
21. Teresita L. Risario (1998), Cut flower production in Philippin. FAO, Bangkok, ThaiLand Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cut flower production in Philippin
Tác giả: Teresita L. Risario
Năm: 1998
22. Van den Heuvel,J.(1987), Carnation growing techniques in the NetherLands in the period 1980-1987, Acta-Horticulturae. No.216, p.339- 342 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Acta-Horticulturae
Tác giả: Van den Heuvel,J
Năm: 1987
6. Nguyễn Xuân Linh (2002), Giáo trình kỹ thuật trồng hoa và cây cảnh. NXB Nông nghiệp Khác
12. Hiệp hội hoa Đà Lạt (2007), Tài liệu kỹ thuật hướng dẫn trồng hoa cẩm chướng Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Khả năng sống và thời gian sinh trưởng, phát triển - Nghiên cứu sinh trưởng, phát triển, năng suất và ảnh  hưởng của chế phẩm vân đài tố đến một số giống hoa cẩm chướng mới nhập nội trồng tại gia lâm, hà nội trong vụ xuân – hè 2008
Bảng 1 Khả năng sống và thời gian sinh trưởng, phát triển (Trang 29)
Bảng 2: Thời gian giữa các giai đoạn phát triển của các giống cẩm - Nghiên cứu sinh trưởng, phát triển, năng suất và ảnh  hưởng của chế phẩm vân đài tố đến một số giống hoa cẩm chướng mới nhập nội trồng tại gia lâm, hà nội trong vụ xuân – hè 2008
Bảng 2 Thời gian giữa các giai đoạn phát triển của các giống cẩm (Trang 31)
Bảng 3: Sự sinh trưởng của các giống cẩm chướng nghiên cứu - Nghiên cứu sinh trưởng, phát triển, năng suất và ảnh  hưởng của chế phẩm vân đài tố đến một số giống hoa cẩm chướng mới nhập nội trồng tại gia lâm, hà nội trong vụ xuân – hè 2008
Bảng 3 Sự sinh trưởng của các giống cẩm chướng nghiên cứu (Trang 33)
Bảng 4: Động thái tăng trưởng số cành của các giống - Nghiên cứu sinh trưởng, phát triển, năng suất và ảnh  hưởng của chế phẩm vân đài tố đến một số giống hoa cẩm chướng mới nhập nội trồng tại gia lâm, hà nội trong vụ xuân – hè 2008
Bảng 4 Động thái tăng trưởng số cành của các giống (Trang 34)
Đồ thị 1: Động thái tăng trưởng số cành của các giống - Nghiên cứu sinh trưởng, phát triển, năng suất và ảnh  hưởng của chế phẩm vân đài tố đến một số giống hoa cẩm chướng mới nhập nội trồng tại gia lâm, hà nội trong vụ xuân – hè 2008
th ị 1: Động thái tăng trưởng số cành của các giống (Trang 35)
Bảng 5: Động thái tăng trưởng chiều dài cành của các giống - Nghiên cứu sinh trưởng, phát triển, năng suất và ảnh  hưởng của chế phẩm vân đài tố đến một số giống hoa cẩm chướng mới nhập nội trồng tại gia lâm, hà nội trong vụ xuân – hè 2008
Bảng 5 Động thái tăng trưởng chiều dài cành của các giống (Trang 37)
Đồ thị 3a: Động thái tăng trưởng số cặp lá của các giống cẩm chướng. - Nghiên cứu sinh trưởng, phát triển, năng suất và ảnh  hưởng của chế phẩm vân đài tố đến một số giống hoa cẩm chướng mới nhập nội trồng tại gia lâm, hà nội trong vụ xuân – hè 2008
th ị 3a: Động thái tăng trưởng số cặp lá của các giống cẩm chướng (Trang 44)
Bảng 11: Tỷ lệ và mức độ gây hại của một số bệnh hại nghiêm trọng - Nghiên cứu sinh trưởng, phát triển, năng suất và ảnh  hưởng của chế phẩm vân đài tố đến một số giống hoa cẩm chướng mới nhập nội trồng tại gia lâm, hà nội trong vụ xuân – hè 2008
Bảng 11 Tỷ lệ và mức độ gây hại của một số bệnh hại nghiêm trọng (Trang 50)
Bảng 14: Thời gian hồi xanh và xuất hiện lá mới của cành giâm ngọn - Nghiên cứu sinh trưởng, phát triển, năng suất và ảnh  hưởng của chế phẩm vân đài tố đến một số giống hoa cẩm chướng mới nhập nội trồng tại gia lâm, hà nội trong vụ xuân – hè 2008
Bảng 14 Thời gian hồi xanh và xuất hiện lá mới của cành giâm ngọn (Trang 57)
Đồ thị 4a: Động thái tăng trưởng chiều dài cành TB dưới tác động của - Nghiên cứu sinh trưởng, phát triển, năng suất và ảnh  hưởng của chế phẩm vân đài tố đến một số giống hoa cẩm chướng mới nhập nội trồng tại gia lâm, hà nội trong vụ xuân – hè 2008
th ị 4a: Động thái tăng trưởng chiều dài cành TB dưới tác động của (Trang 61)
Đồ thị 4b : Tốc độ tăng trưởng chiều dài cành TB dưới tác động của chế - Nghiên cứu sinh trưởng, phát triển, năng suất và ảnh  hưởng của chế phẩm vân đài tố đến một số giống hoa cẩm chướng mới nhập nội trồng tại gia lâm, hà nội trong vụ xuân – hè 2008
th ị 4b : Tốc độ tăng trưởng chiều dài cành TB dưới tác động của chế (Trang 62)
Đồ thị 5a : Động thái tăng trưởng số lá TB dưới tác động của chế phẩm - Nghiên cứu sinh trưởng, phát triển, năng suất và ảnh  hưởng của chế phẩm vân đài tố đến một số giống hoa cẩm chướng mới nhập nội trồng tại gia lâm, hà nội trong vụ xuân – hè 2008
th ị 5a : Động thái tăng trưởng số lá TB dưới tác động của chế phẩm (Trang 64)
Bảng 18: Một số chỉ tiêu năng suất và chất lượng - Nghiên cứu sinh trưởng, phát triển, năng suất và ảnh  hưởng của chế phẩm vân đài tố đến một số giống hoa cẩm chướng mới nhập nội trồng tại gia lâm, hà nội trong vụ xuân – hè 2008
Bảng 18 Một số chỉ tiêu năng suất và chất lượng (Trang 65)
Bảng 19: Ảnh hưởng của chế phẩm Vân đài tố đến năng suất, chất lượng - Nghiên cứu sinh trưởng, phát triển, năng suất và ảnh  hưởng của chế phẩm vân đài tố đến một số giống hoa cẩm chướng mới nhập nội trồng tại gia lâm, hà nội trong vụ xuân – hè 2008
Bảng 19 Ảnh hưởng của chế phẩm Vân đài tố đến năng suất, chất lượng (Trang 66)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w