- Xuất khẩu lao động: là hoạt động trao đổi, mua bán hay thuê mướn hàng hoá sức lao động giữa Chính phủ một quốc gia hay tổ chức, cá nhân cung ứng sứclao động của nước đó với Chính phủ,
Trang 1PH¹M THÞ LAN ANH
ĐÀO TẠO NGUỒN LAO ĐỘNG XUẤT KHẨU
CỦA TỈNH HẢI DƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Hµ NéI, N¡M 2015
Trang 2tôi dưới sự hướng dẫn của Giáo sư, Tiến sĩ Đỗ Đức Bình Các tài liệu trích dẫn và
số liệu nêu trong luận văn đảm bảo tính trung thực, có nguồn trích dẫn rõ ràng vàchưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả
Phạm Thị Lan Anh
Trang 3Xin chân thành cám ơn Quý thầy cô Viện Thương mại và Kinh tế Quốc tế,Viện Sau đại học và thầy cô tham gia giảng dạy các môn học tại Trường Đại họcKinh tế Quốc dân đã hướng dẫn giúp đỡ tác giả trong quá trình thực hiện Luận văn.
Với lòng kính trọng và biết ơn, tác giả xin được bày tỏ lời cám ơn tới Giáo
sư, Tiến sĩ Đỗ Đức Bình đã khuyến khích, chỉ dẫn tận tình cho tác giả trong suốtthời gian thực hiện Luận văn này
Xin trân trọng cám ơn phòng Việc làm - An toàn lao động - Sở Lao độngThương binh và Xã hội tỉnh Hải Dương, các doanh nghiệp xuất khẩu lao động hoạtđộng trên địa bàn tỉnh Hải Dương, các cơ sở đào tạo giáo dục đại học và giáo dụcnghề nghiệp tỉnh Hải Dương đã tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả tìm hiểu thôngtin, tài liệu và hợp tác trong quá trình thực hiện Luận văn
Tác giả xin gửi lời cám ơn sâu sắc đến gia đình, đồng nghiệp và những ngườibạn đã luôn sát cánh, động viên, hỗ trợ tác giả rất nhiều trong suốt quá trình học tập,làm việc và hoàn thành Luận văn
Tác giả luận văn
Phạm Thị Lan Anh
Trang 57 TNHH MTV Trách nhiệm hữu hạn một thành viên
8 TTNC&TH Trung tâm nghiên cứu và thực hành
Trang 61 ADB Asian Development Bank Ngân hàng phát triển Châu Á
2 AEC ASEAN EconomicCommunity Cộng đồng kinh tế ASEAN
3 ASEAN Association of Southeast
Asian Nations
Hiệp hội các quốc gia Đông
Nam Á
4 EPS Employment Permit System Chương trình cấp phép việclàm cho lao động
5 FTA Free trade agreement Hiệp định thương mại tự do
6 ILO Internatioanl LabourOrganization Tổ chức Lao động Quốc tế
7 MRAs Mutual recognition
agreement
Thoả thuận thừa nhận lẫn
nhau
Trang 7TR¦êNG §¹I HäC KINH TÕ QUèC D¢N
Trang 8TÓM TẮT LUẬN VĂN
MỞ ĐẦU
Đào tạo nguồn lao động xuất khẩu là nhiệm vụ hàng đầu cho hoạt độngXKLĐ; đặc biệt trong xu thế hội nhập, phát triển nhanh chóng của nền kinh tế thếgiới, lao động xuất khẩu không những cần thiết về số lượng mà còn phải đáp ứng vềchất lượng Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng nhấn mạnh:
“Tiếp tục thực hiện chương trình xuất khẩu lao động, tăng tỉ lệ lao động xuất khẩu
đã qua đào tạo, quản lý chặt chẽ và bảo vệ quyền lợi chính đáng của người lao động” Ngày 19/11/2009 Bộ trưởng Bộ LĐTB&XH đã có Quyết định số 1542/QĐ-
LĐTBXH về việc phê duyệt nội dung điều chỉnh, bổ sung “Đề án thí điểm đào tạo
nghề cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo cơ chế đặt hàng, đấu thầu”,
đề án chú trọng đến công tác đào tạo và nâng cao chất lượng lao động xuất khẩu
Nhìn chung, hoạt động XKLĐ nước ta đã đạt được những kết quả khả quan.Với sự hình thành Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) vào năm 2015, lao động được
tự do di chuyển hứa hẹn số lượng người lao động Việt Nam đi làm việc ở nướcngoài sẽ gia tăng và hướng đến các thị trường có điều kiện làm việc và thu nhập tốt,đặc biệt là lao động đã qua đào tạo và có trình độ Việt Nam có lực lượng lao độngtrẻ, dồi dào, tuy nhiên, lao động có nhu cầu đi làm việc ở nước ngoài chủ yếu ởvùng nông thôn, miền núi Do đó, cần phải tăng cường công tác đào tạo, nâng caochất lượng lao động trước khi xuất khẩu
Chiến lược về XKLĐ luôn được tỉnh Hải Dương quan tâm Theo Báo cáocủa Sở LĐTB&XH, giai đoạn 2010 - 2015, Hải Dương xuất khẩu 23,077 người.Tuy nhiên, hoạt động XKLĐ của Hải Dương chưa phát triển tương xứng với tiềmnăng, hoạt động đào tạo nguồn lao động xuất khẩu còn nhiều hạn chế Vì vậy, đểnắm bắt cơ hội XKLĐ sang các thị trường tiềm năng và có thu nhập cao trong thời
kì tới, công tác đào tạo nguồn lao động xuất khẩu cần được quan tâm, nghiên cứu,
để đưa ra phương hướng, giải pháp kịp thời, hiệu quả và phù hợp Xuất phát từ
những lý do trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu “Đào tạo nguồn lao động xuất khẩu của tỉnh Hải Dương”.
Trang 9CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO NGUỒN LAO
ĐỘNG XUẤT KHẨU 1.1 Nguồn lao động xuất khẩu và sự cần thiết, vai trò của đào tạo nguồn lao động xuất khẩu ở các địa phương
Khái niệm:
- Nguồn lao động xuất khẩu là tổng thể tiềm năng của con người của một
quốc gia, một vùng lãnh thổ, một địa phương, được chuẩn bị ở mức độ nào đó, cókhả năng huy động vào hoạt động xuất khẩu lao động vào một thời kỳ nhất định
- Xuất khẩu lao động: là hoạt động trao đổi, mua bán hay thuê mướn hàng
hoá sức lao động giữa Chính phủ một quốc gia hay tổ chức, cá nhân cung ứng sứclao động của nước đó với Chính phủ, tổ chức, cá nhân sử dụng sức lao động nướcngoài trên cơ sở Hiệp định hay hợp đồng cung ứng lao động
Sự cần thiết đào tạo nguồn lao động xuất khẩu: Nhu cầu về lao động của
thị trường quốc tế vẫn không ngừng gia tăng, đặc biệt là nguồn lao động chất lượngcao Trong khu vực, cộng đồng kinh tế giữa các nước ASEAN (AEC) hình thànhvào năm 2015 thúc đẩy dòng lao động di cư mạnh mẽ
Vai trò của đào tạo nguồn lao động xuất khẩu: Giúp các cơ sở đào tạo
tăng đầu vào tuyển sinh, tạo nguồn thu và duy trì hoạt động, khẳng định uy tín, chấtlượng đào tạo; tạo được đầu ra cho người học; giúp người học tiếp cận được vớimột thị trường lao động rộng lớn với nhiều cơ hội việc làm có thu nhập cao, cóđược một số vốn trình độ, kiến thức nhất định để họ tự tin về bản thân và làm việctốt hơn; giúp công ty XKLĐ có được những bước phát triển bền vững, giảm thiểuđược rủi ro về tình trạng người lao động bỏ trốn về nước, tự phá bỏ hợp đồng…
1.2 Đào tạo nguồn lao động xuất khẩu và những vấn đề chung về tổ chức hoạt động của các cơ sở đào tạo cho lao động xuất khẩu
- Đào tạo nguồn lao động xuất khẩu: là quá trình đào tạo cho những đối
tượng thuộc nguồn lao động có nhu cầu đi làm việc ở nước ngoài về kiến thức, kỹnăng, tay nghề, trình độ ngoại ngữ… để họ có thể thực hiện chức năng, nhiệm vụ cóhiệu quả hơn đối với công việc họ sẽ đảm nhận
Trang 10- Hệ thống cơ sở đào tạo nguồn lao động xuất khẩu: Các trường, trung tâm,
cơ sở đào tạo công lập và tư thục ở địa phương, trung ương, thuộc hệ thống giáodục đại học và giáo dục nghề nghiệp
- Nội dung đào tạo nguồn lao động xuất khẩu: Đào tạo nghề cho lao động
xuất khẩu, đào tạo ngoại ngữ và giáo dục định hướng cho lao động xuất khẩu
- Các điều kiện cần thiết để hệ thống cơ sở đào tạo tiến hành hoạt động đào tạo nguồn lao động xuất khẩu: Cơ sở vật chất, trang thiết bị; Đội ngũ giảng
viên, giáo viên; Khả năng tài chính; Hoạt động liên kết
1.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến đào tạo nguồn lao động xuất khẩu của địa phương
Những nhân tố: thuộc về quốc tế, quốc gia, thuộc về địa phương, thuộc về cơ
sở đào tạo và thuộc về người lao động xuất khẩu
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO NGUỒN LAO ĐỘNG XUẤT KHẨU
CỦA TỈNH HẢI DƯƠNG GIAI ĐOẠN 2010 - 2015 2.1 Những nhân tố ảnh hưởng đến đào tạo nguồn lao động xuất khẩu của tỉnh Hải Dương
Nhân tố thuộc về quốc tế; Nhân tố thuộc về quốc gia: Chính sách, chiến lượccủa quốc gia về đào tạo nguồn lao động xuất khẩu; Tình hình, các hoạt động củaquốc gia ảnh hưởng đến XKLĐ, đào tạo nguồn lao động xuất khẩu; Nhân tố thuộc
về chính quyền địa phương: Chiến lược và định hướng phát triển kinh tế - xã hộitỉnh Hải Dương giai đoạn 2011 - 2020; Hệ thống các văn bản pháp quy liên quanđến XKLĐ và đào tạo nguồn lao động xuất khẩu; Nhân tố thuộc về cơ sở đào tạo;Nhân tố thuộc về người lao động xuất khẩu
2.2 Thực trạng số lượng lao động được đào tạo phục vụ cho xuất khẩu lao động của tỉnh Hải Dương
- Trong tổng số 23,077 lao động xuất khẩu của tỉnh Hải Dương, số lao động
đã qua đào tạo chiếm hơn 60%,
Trang 11- Tỷ lệ lao động có nghề đi xuất khẩu có xu hướng tăng dần qua các năm từ51.7% năm 2010 lên 73.1% năm 2015, tăng hơn 20% Điều này thể hiện vai trò củaviệc giáo dục, đào tạo đối với lao động xuất khẩu ngày càng tăng.
- 100% lao động trước khi xuất khẩu được đào tạo và giáo dục định hướngtheo đúng quy định của Bộ LĐTB&XH
Tổng lực lượng lao động được đào tạo tại tỉnh Hải Dương giai đoạn 2010
-2015 ở các bậc đào tạo lên đến khoảng hơn 300.000 người Trong đó số lượng xuấtkhẩu lao động giai đoạn này là 23,077 người, chiếm khoảng 7.7% tổng số lao độngđược đào tạo; số lượng lao động có nghề đi xuất khẩu chỉ đạt 14,535, chiếm khoảng4.8% tổng số lao động được đào tạo Như vậy, số lao động đã qua đào tạo tham giahoạt động xuất khẩu vẫn còn rất hạn chế Hay nói cách khác, trong thời gian quanguồn lao động xuất khẩu chưa được tận dụng một cách hiệu quả, lãng phí nguồnlực chất lượng cao
- Mức độ đáp ứng về mặt số lượng: Số lượng lao động đã qua đào tạo ở tỉnhHải Dương giai đoạn 2010 - 2015 là khá lớn Tuy nhiên, số lượng lao động đã quađào tạo tham gia vào hoạt động xuất khẩu lại rất hạn chế Thể hiện hoạt động đàotạo, cơ cấu ngành nghề đào tạo chưa phù hợp với nhu cầu của thị trường xuất khẩulao động
- Mức độ đáp ứng về mặt chất lượng: Hoạt động đào tạo của hệ thống
trường, trung tâm, cơ sở đào tạo nhìn chung chưa đáp ứng về mặt chất lượng
2.3 Thực trạng hệ thống đào tạo nguồn lao động xuất khẩu của tỉnh Hải Dương
- Hiện tại trên địa bàn tỉnh Hải Dương đã hình thành và phát triển mạng lưới
cơ sở giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp cho người lao động để người laođộng có thể tham gia vào thị trường lao động trong nước và quốc tế
+ Hệ thống giáo dục đại học có 04 trường đại học, 02 trường cao đẳng;
+ Giáo dục nghề nghiệp: Năm 2011 toàn tỉnh có 60 cơ sở dạy nghề, năm
2014 chỉ còn 34 cơ sở còn đăng ký hoạt động dạy nghề, một số trường được lựa
Trang 12chọn nghề trọng điểm giai đoạn 2011 - 2015 và định hướng đến năm 2020 (gồm 14
nghề ở các cấp độ: 02 Quốc tế, 04 Khu vực ASEAN và 08 Quốc gia).
- Cơ sở vật chất: Các cơ sở giáo dục đại học tại Hải Dương với rất nhiềungành nghề đào tạo, do vậy mỗi trường lại có đặc trưng riêng về cơ sở vật chất, đặcbiệt là trang thiết bị giảng dạy
Hệ thống cơ sở vật chất, trang thiết bị được quan tâm đầu tư, đáp ứng nhucầu đào tạo nguồn lao động Tuy nhiên, diện tích một số trường chuyên nghiệp vẫn
bị thiếu so với quy định
Cơ sở vật chất của các cơ sở dạy nghề vẫn còn lạc hậu so với các quốc giaphát triển, không đủ điều kiện đáp ứng quy mô tuyển sinh ngày càng lớn, khôngđảm bảo chất lượng đào tạo Các dụng cụ, trang thiết bị phục vụ cho công tác thựchành, thực tập tại các cơ sở còn hạn chế, tính năng đã lỗi thời, không đáp ứng đượcyêu cầu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá
- Số lượng và chất lượng giảng viên, giáo viên:
+ Đội ngũ giảng viên của các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn tỉnh HảiDương có tổng số là 1,419 người, trong đó trình độ thạc sỹ trở lên là 884 người
(chiếm 62.3%).
+ Số lượng giáo viên dạy nghề có xu hướng giảm, từ 1,569 người năm 2011
xuống còn 1,014 người năm 2014, giảm khoảng 30% Giáo viên có trình độ thạc sỹ
là 141 người, đạt 16.3 % Số lượng và chất lượng giáo viên chưa đáp ứng về sốlượng đối với nhu cầu đào tạo
- Nội dung đào tạo:
+ Đào tạo chuyên môn nghề nghiệp: Đào tạo 06 nhóm ngành nghề gồm hơn
100 chuyên ngành Tuy nhiên, thực tế các ngành nghề tham gia vào hoạt động xuấtcòn rất hạn chế, chủ yếu thuộc nhóm ngành nghề kỹ thuật công nghệ như: Maycông nghiệp, cắt may, thủ công mỹ nghệ, kỹ thuật xây dựng, điện, cơ điện, điện tử,
cơ khí, hàn, tiện, lái máy, lái xe Ngoài ra có một số ngành nghề xuất khẩu mà laođộng không cần qua đào tạo nghề như: Chăm sóc người già, giúp việc gia đình…
Trang 13Nhìn chung cơ cấu ngành nghề, trình độ chuyên môn của lao động qua đàotạo chưa đồng đều, chưa gắn kết với thị trường, chỉ đáp ứng ở những ngành cần laođộng giản đơn, chưa đáp ứng được nhu cầu về lao động lành nghề và trình độchuyên môn kỹ thuật của thị trường lao động nước ngoài.
+ Đào tạo ngoại ngữ: Ngoại ngữ là một môn học bắt buộc, đối với sinh viênkhối ngành kinh tế - xã hội đào tạo tiếng Anh, sinh viên khối ngành kỹ thuật đượclựa chọn học tiếng Anh và tiếng Trung Đối với lao động được đào tạo nghề thì thờigian đào tạo ngắn, do vậy không được đào tạo nhiều về ngoại ngữ Do vậy công tácđào tạo ngoại ngữ cho người lao động thường được các công ty xuất khẩu lao độngthực hiện theo quy định của Bộ LĐTB&XH trong khoảng 2 - 3 tháng trước khingười lao động đi xuất khẩu 100% lao động trước khi đi xuất khẩu đều được đàotạo ngoại ngữ phù hợp
+ Giáo dục định hướng: được thực hiện chủ yếu bởi công ty xuất khẩu lao
động, và các công ty này cũng thực hiện công tác đào tạo theo yêu cầu bắt buộc của
Bộ LĐTB&XH trong khoảng thời gian từ 2, 3 tháng trước khi người lao động đixuất khẩu
2.4 Đánh giá chung về thực trạng đào tạo nguồn lao động xuất khẩu của tỉnh Hải Dương
2.4.1 Những kết quả đạt được
- Hải Dương đã có một hệ thống cơ sở giáo dục đại học và giáo dục nghềnghiệp, chuyên đào tạo và cung cấp nguồn lao động cho địa phương, các tỉnh trong
cả nước và cho hoạt động xuất khẩu lao động
- Hệ thống cơ sở đào tạo của tỉnh đào tạo đa dạng các ngành nghề, lĩnh vực,đáp ứng nhu cầu của người học, người lao động trong nước và xuất khẩu cũng nhưcác doanh nghiệp trong nước, các doanh nghiệp XKLĐ
- Cơ sở vật chất và hệ thống trang thiết bị của các cơ sở giáo dục, đào tạođược trang bị đầy đủ và hiện đại
- Chất lượng nguồn lao động qua đào tạo tại các cơ sở giáo dục và đào tạongày càng được nâng cao
Trang 142.4.2 Những hạn chế
- Nguồn lao động được đào tạo khá lớn, nhưng tham gia vào thị trường xuất
khẩu lao động là một con số khá khiêm tốn
- Số lượng các cơ sở giáo dục đại học còn hạn chế do vậy đa phần các trườngphải đào tạo đa lĩnh vực và còn rất nhiều ngành nghề thị trường lao động quốc tếcần mà các cơ sở này chưa có khả năng đào tạo
- Cơ sở đào tạo nghề nghiệp vừa thiếu về số lượng, vừa thiếu về chất lượng.Chủ yếu tồn tại các cơ sở đào tạo nghề không chuyên, chỉ có 04 trường cao đẳng,
03 trường trung cấp và 07 trung tâm đào tạo nghề, chiếm chưa đến 50% trong tổngsố
- Cơ cấu đào tạo các ngành nghề chưa bám sát nhu cầu của thị trường
- Cơ sở vật chất của các cơ sở giáo dục đại học vẫn đang trong giai đoạn xâydựng và phát triển Cơ sở vật chất của các trường, trung tâm dạy nghề còn thiếuthốn, có quy mô chưa đáp ứng nhu cầu đào tạo, số học viên trong mỗi lớp học đôngảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy và học tập Trang thiết bị lạc hậu, lỗi thời
- Giáo viên là giáo viên kiêm nhiệm, vừa dạy nghề, vừa làm công tác bồidưỡng những kiến thức cần thiết cho người lao động trước khi xuất cảnh nên việcđào tạo chuyên môn cho người lao động gặp nhiều khó khăn nếu cần chuyên sâu và
độ phức tạp của công việc lớn
- Chương trình, giáo trình, phương pháp đào tạo còn lạc hậu, nặng về lýthuyết, chưa chú ý đến kỹ năng thực hành
- Quá trình tổ chức đào tạo mang tính chắp vá, nhỏ lẻ và chưa có chiến lượcđào tạo xứng tầm với chiến lược XKLĐ đã đặt ra
- Chưa có một bộ chỉ số nào để đánh giá chất lượng lao động xuất khẩu
2.4.3 Nguyên nhân
- Công tác định hướng nghề nghiệp không được thực hiện tốt tại các cơ sởgiáo dục
- Ngành, nghề được đào tạo của nguồn lao động là chưa phù hợp
- Sự đầu tư dàn trải của địa phương đối với hệ thống cơ sở đào tạo
Trang 15- Các cơ sở đào tạo cũng như các công ty xuất khẩu lao động chưa có bộphận chuyên nghiên cứu và đánh giá tiềm năng và nhu cầu lao động của thị trường.
- Sự liên kết giữa các cơ sở đào tạo với các doanh nghiệp, cơ quan, đơn vịnhằm gắn đào tạo với thị trường lao động còn rất hạn chế
- Chưa xây dựng được các tiêu chí, tiêu chuẩn đánh giá mức độ phù hợp củaviệc giáo dục, đào tạo của các cơ sở
CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG ĐÀO TẠO NGUỒN LAO ĐỘNG XUẤT KHẨU CỦA TỈNH HẢI DƯƠNG
3.1 Định hướng đào tạo nguồn lao động xuất khẩu của tỉnh Hải Dương đến năm 2020.
Những yêu cầu mới đặt ra đối với đào tạo nguồn lao động xuất khẩu:
Thời kỳ hội nhập mở ra nhiều cơ hội việc làm với nhiều yêu cầu cao hơn đốivới người lao động, với tiêu chí tuyển dụng cao hơn đòi hỏi nguồn nhân lực phải cónhiều kỹ năng khác ngoài kiến thức chuyên môn
Định hướng mở rộng thị trường xuất khẩu ra các thị trường có điều kiện làmviệc và thu nhập tốt cho người lao động
Sự hình thành Cộng đồng kinh tế giữa các nước ASEAN (AEC) vào năm
2015 Yêu cầu đặt ra đối với các doanh nghiệp xuất khẩu lao động, các cơ sở đàotạo đó là đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đạt chuẩn khu vực để giúp laođộng có thể có đủ điều kiện, dễ dàng di chuyển sang các nước ASEAN
Chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam còn thấp, có khoảng cách khá lớn
so với các nước trong khu vực và trên thế giới Yêu cầu đặt ra đối với lao động ViệtNam nói chung và lao động xuất khẩu nói riêng phải tích cực hơn nữa trong côngtác giáo dục, đào tạo nguồn lao động; phải đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục
Định hướng:
- Bình quân mỗi năm xuất khẩu được 3,500 - 4,000 người lao động; giữ vững
và tăng tỷ lệ được đào tạo trong tổng số lao động xuất khẩu lên trên 70%, trong đólao động lành nghề và trình độ cao chiếm 50%
Trang 16- Tiếp tục duy trì các thị trường xuất khẩu lao động truyền thống, thúc đẩy hệthống cơ sở giáo dục đào tạo các ngành nghề xuất khẩu truyền thống;
- Đẩy mạnh đào tạo để cung ứng nguồn lao động cho các nước ASEAN,cũng như các ngành nghề được tự do di chuyển trong các nước ASEAN theo tinhthần của AEC
3.2 Giải pháp đối với hệ thống cơ sở đào tạo nhằm tăng cường đào tạo nguồn lao động xuất khẩu của tỉnh Hải Dương
- Tăng cường công tác dự báo và phân tích nhu cầu lao động của thị trường:Thiết lập rõ ràng mục tiêu đào tạo; Xác định nhu cầu đào tạo; Phối hợp với doanhnghiệp xuất khẩu lao động trong công tác phân tích nhu cầu lao động xuất khẩu
- Đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy: Đào tạo nghề cho nguồn laođộng xuất khẩu phải dựa trên góc độ thị trường, theo yêu cầu của đối tác Ngoàiphát triển đào tạo các ngành nghề thế mạnh cần hướng tới đào tạo các ngành, nghề
mà các thị trường đang có nhu cầu tuyển dụng cao Nội dung giảng dạy ngoại ngữphải được xây dựng một cách chi tiết, cẩn thận, phải xác định đối tượng giảng dạy ởđây chủ yếu là những người nông dân, những lao động phổ thông nên bài giảngphải mang tính chất thực tế cao, dễ học, dễ hiểu và dễ thực hành Lồng ghép đào tạongoại ngữ trong quá trình đào tạo nghề Các cơ sở đào tạo nên mở rộng phươngthức đào tạo thông qua liên kết đào tạo với các đối tác nước ngoài Trong suốt quátrình đào tạo, cần có các biện pháp quản lý người học
- Nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, giáo viên: Đẩy mạnh công tác đào
tạo, bồi dưỡng, tự đào tạo và đào tạo lại; hỗ trợ và tạo điều kiện để đội ngũ giáoviên, giảng viên đi thực tế tại một số doanh nghiệp trong nước và ngoài nước; Thuhút đội ngũ giáo viên, giảng viên có trình độ chuyên môn cao; xây dựng các bộ tiêuchuẩn nghề nghiệp giảng viên; giảng viên cần phải có kiến thức giáo dục địnhhướng và giỏi ngoại ngữ
- Hoàn thiện và phát triển hệ thống cơ sở vật chất, trang thiết bị giảng dạy;
- Tăng cường hợp tác, liên kết giữa các cơ sở đào tạo của tỉnh, với các cơ sởđào tạo lớn, các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài
Trang 173.3 Kiến nghị nhằm tăng cường công tác đào tạo nguồn lao động xuất khẩu của tỉnh Hải Dương
- Đối với chính quyền địa phương: Cần quy hoạch và xây dựng lại hệ thống
cơ sở đào tạo theo hướng trọng tâm, trọng điểm và tập trung đầu tư trang thiết bị,phương tiện thực hành hiện đại Cần hỗ trợ hệ thống cơ sở giáo dục đào tạo nguồnlao động xuất khẩu cụ thể hoá việc tổ chức phân luồng và hướng nghiệp cho họcsinh ngay trong hệ thống giáo dục phổ thông của địa phương; Có chính sách đẩymạnh công tác tuyên truyền để người lao động hiểu được ý nghĩa của hoạt độngxuất khẩu lao động; Quan tâm, đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động đàotạo, giáo dục của hệ thống cơ sở giáo dục, đào tạo nguồn lao động xuất khẩu; tháo
gỡ các khó khăn trong xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị của các cơ sở giáodục, đào tạo
- Đối với tổ chức XKLĐ: Sở LĐTB&XH và doanh nghiệp xuất khẩu cầnphối hợp với hệ thống cơ sở đào tạo trong công tác phân tích, dự báo nhu cầu laođộng của thị trường; giám sát hoạt động đào tạo và kiểm định chất lượng nguồnnhân lực được đào tạo tại các cơ sở
- Đối với người lao động: phải tự mình ý thức về việc đi xuất khẩu lao động;chủ động và có trách nhiệm trong việc học tập, bồi dưỡng Đưa ra những phản hồigiúp cơ sở đào tạo có thể phát huy những ưu điểm và hạn chế những nhược điểm
Luận văn đã có sự vận dụng các lý luận khoa học cơ bản vào thực tiễn tăngcường đào tạo nguồn lao động xuất khẩu của tỉnh Hải Dương
Trang 18MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Xuất khẩu lao động (XKLĐ) là một trong những giải pháp quan trọng, là chủtrương lớn của Đảng và Nhà nước, là chiến lược lâu dài góp phần giải quyết việclàm, phát triển nguồn nhân lực, tăng thu nhập cho người lao động, tăng cường quan
hệ kinh tế đối ngoại, thực hiện tăng trưởng và phát triển kinh tế bền vững Đào tạonguồn lao động xuất khẩu là nhiệm vụ hàng đầu cho hoạt động xuất khẩu lao động;đặc biệt trong xu thế hội nhập, phát triển nhanh chóng của nền kinh tế thế giới, laođộng xuất khẩu không những cần thiết về số lượng mà còn phải đáp ứng về chấtlượng Từ Đại hội VI của Đảng đến nay, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhànước về XKLĐ liên tục được điều chỉnh, thay đổi cho phù hợp, tạo hành lang pháp
lý thông thoáng cho phát triển công tác này Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc
lần thứ X của Đảng nhấn mạnh: “Tiếp tục thực hiện chương trình xuất khẩu lao
động, tăng tỉ lệ lao động xuất khẩu đã qua đào tạo, quản lý chặt chẽ và bảo vệ quyền lợi chính đáng của người lao động” Ngày 19/11/2009 Bộ trưởng Bộ Lao
động Thương binh và Xã hội đã có Quyết định số 1542/QĐ-LĐTBXH về việc phê
duyệt nội dung điều chỉnh, bổ sung “Đề án thí điểm đào tạo nghề cho người lao
động đi làm việc ở nước ngoài theo cơ chế đặt hàng, đấu thầu”, đề án chú trọng
đến công tác đào tạo và nâng cao chất lượng lao động xuất khẩu
Nhìn chung, trong những năm gần đây, hoạt động XKLĐ nước ta đã đạtđược những kết quả khả quan: Theo số liệu thống kê của Cục Quản lý lao động
ngoài nước (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội), riêng năm 2014 Việt Nam đưa
được 106,840 lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng Với sự hình thànhCộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) vào năm 2015, hoà trộn nền kinh tế của 10 quốcgia thành viên thành một khối sản xuất thương mại và đầu tư, tạo ra thị trườngchung của một khu vực có dân số 660 triệu người, trong đó có 220 triệu dân số đang
trong độ tuổi lao động (Theo báo cáo của Tổ chức Lao động quốc tế), lao động
được tự do di chuyển hứa hẹn số lượng người lao động Việt Nam đi làm việc ởnước ngoài sẽ gia tăng và hướng đến các thị trường có điều kiện làm việc và thu
Trang 19nhập tốt, đặc biệt là lao động đã qua đào tạo và có trình độ Việt Nam có lực lượnglao động trẻ, dồi dào, tuy nhiên, lao động có nhu cầu đi làm việc ở nước ngoài chủyếu ở vùng nông thôn, miền núi với trình độ văn hóa cũng như khả năng tiếp thucòn thấp Do đó, cần phải tăng cường công tác đào tạo, nâng cao chất lượng laođộng trước khi xuất khẩu Và chỉ có làm tốt công tác đào tạo nguồn nhân lực phục
vụ cho xuất khẩu lao động mới có đội ngũ lao động có tay nghề, có ngoại ngữ, cótác phong công nghiệp, tạo được uy tín trên thị trường lao động quốc tế trong cơ chếhội nhập Chính vì vậy, nghiên cứu và ứng dụng các giải pháp tăng cường đào tạonguồn lao động xuất khẩu là việc cần thiết hiện nay
Hải Dương là một trong 8 tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, có dân
số đông, dân số trung bình của Hải Dương là 1,763,214 người, trong đó 1,128,082
người trong độ tuổi lao động (số liệu năm 2014) Dân số đông, lực lượng lao động
dồi dào, rất thuận lợi cho việc phát triển nguồn nhân lực, phát triển kinh tế, nhưngcũng là sức ép lớn đối với công tác giải quyết việc làm của Tỉnh Do vậy chiến lược
về xuất khẩu lao động luôn được Tỉnh quan tâm Theo Báo cáo của Sở Lao động,Thương binh và Xã hội, giai đoạn 2010 - 2015 Hải Dương xuất khẩu 23,077 người.Tuy nhiên, cũng giống như tình hình chung của cả nước và một số địa phương, hoạtđộng XKLĐ của Hải Dương chưa phát triển tương xứng với tiềm năng, hoạt độngđào tạo nguồn lao động xuất khẩu còn nhiều hạn chế: Số người tham gia XKLĐkhông nghề chiếm tỷ lệ cao và chủ yếu là lao động xuất thân từ nông thôn; Công tácđào tạo lao động phục vụ xuất khẩu mang tính tự phát; sự phối hợp giữa địaphương, các doanh nghiệp XKLĐ và các cơ sở dạy nghề chưa tốt; lao động thamgia XKLĐ có ý thức tổ chức kỷ luật yếu, trình độ nghề nghiệp, ngoại ngữ chưa đápứng yêu cầu… Vì vậy, để nắm bắt cơ hội XKLĐ sang các thị trường tiềm năng và
có thu nhập cao trong thời kì tới, công tác đào tạo nguồn lao động xuất khẩu cầnđược quan tâm, nghiên cứu, để đưa ra phương hướng, giải pháp kịp thời, hiệu quả
và phù hợp
Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu “Đào tạo nguồn lao động xuất khẩu của tỉnh Hải Dương”.
Trang 202 Tổng quan nghiên cứu
Cho đến nay, đã có một số công trình nghiên cứu về đào tạo lao động, vềchất lượng nguồn nhân lực xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu lao động trên địa bàntỉnh Hải Dương Các đề tài nghiên cứu có thể kể ra ở đây là:
Luận văn thạc sĩ “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực xuất khẩu tại các
doanh nghiệp xuất khẩu lao động ở Hà Nội”, tác giả Dương Tuyết Nhung, năm
2008 Luận văn đã hệ thống hoá và góp phần làm rõ một số vấn đề lý luận chung vềchất lượng nguồn nhân lực xuất khẩu; Phân tích kinh nghiệm của một số quốc giatrong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực xuất khẩu và rút ra những bài họchữu ích cho Việt Nam; Phân tích, đánh giá rõ thực trạng chất lượng nguồn nhân lựcxuất khẩu và hoạt động nâng cao chất lượng nguồn nhân lực xuất khẩu tại cácdoanh nghiệp XKLĐ ở Hà Nội; Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng caochất lượng nguồn nhân lực xuất khẩu tại các doanh nghiệp XKLĐ ở Hà Nội
Luận văn thạc sĩ “Nghiên cứu giải pháp đào tạo nghề cho lao động xuất
khẩu ở tỉnh Hải Dương” tác giả Vũ Hồng Quân, Trường Đại học Nông nghiệp Hà
Nội, năm 2011 Luận văn đã hệ thống hoá cơ sở lý luận về đào tạo nghề cho laođộng xuất khẩu; Đánh giá thực trạng đào tạo nghề cho lao động xuất khẩu tại địabàn tỉnh Hải Dương; Đề xuất giải pháp đào tạo nghề cho lao động xuất khẩu trênđịa bàn tỉnh Hải Dương
Luận văn thạc sĩ “Hoàn thiện quản lý xuất khẩu lao động của các doanh
nghiệp xuất khẩu lao động hoạt động trên địa bàn tỉnh Hải Dương”, tác giả Vũ
Anh Tuấn, Đại học Kinh tế Quốc dân, năm 2012 Luận văn trình bày một cách hệthống lý luận về quản lý xuất khẩu lao động; Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đếnquản lý xuất khẩu lao động của các doanh nghiệp xuất khẩu lao động; Tổng hợpkinh nghiệm quản lý xuất khẩu lao động của một số nước và bài học rút ra đối vớiViệt Nam; Phân tích và chỉ rõ thực trạng quy mô, cơ cấu và chất lượng quản lýxuất khẩu lao động tại các doanh nghiệp xuất khẩu lao động hoạt động trên địabàn tỉnh Hải Dương; Đề xuất một số giải pháp mang tính thực tiễn cho việc nâng
Trang 21cao chất lượng quản lý xuất khẩu lao động tại doanh nghiệp xuất khẩu lao độnghoạt động trên địa bàn tỉnh.
Như vậy, hiện nay vấn đề xuất khẩu lao động, chất lượng nguồn lao độngxuất khẩu đang được Đảng, Nhà nước và xã hội quan tâm Hầu hết các nghiên cứu,
đề tài coi XKLĐ là một hướng đi giải quyết áp lực về việc làm, tăng thu nhập chongười lao động và tạo nguồn thu ngoại tệ cho đất nước; coi việc đào tạo, giáo dụcđối với người lao động xuất khẩu là yêu cầu tất yếu để nâng cao chất lượng nguồnlao động Đồng thời đã phân tích kỹ về thực trạng xuất khẩu lao động, công tác đàotạo nghề cho lao động xuất khẩu; đánh giá hiệu quả, làm rõ những tồn tại và nguyênnhân và đề ra những giải pháp thúc đẩy XKLĐ trong thời gian tới
Tuy nhiên, với xu hướng hội nhập ngày càng sâu rộng, với đòi hỏi nguồnnhân lực chất lượng cao thay cho số lượng, đặc biệt khi Việt Nam đã, đang và sẽhoàn tất thủ tục tham gia một loạt các cộng đồng, tổ chức quốc tế, khu vực cũngnhư các FTA, điều này ảnh hưởng lớn đến mọi hoạt động kinh tế - chính trị - xã hộicủa quốc gia, trong đó có hoạt động XKLĐ, đào tạo nguồn lao động xuất khẩu.Trong khi chưa có đề tài nào nghiên cứu sâu về đào tạo nguồn lao động xuất khẩu
đối với quốc gia hay với một địa phương (Tỉnh/ thành phố) đặc biệt là dưới góc độ
nghiên cứu hệ thống các cơ sở đào tạo nguồn lao động xuất khẩu
Do đó, tác giả, bên cạnh việc hệ thống hoá lý luận chung về đào tạo nguồnlao động xuất khẩu, hệ thống các cơ sở đào tạo nguồn lao động xuất khẩu, tập trung
đi sâu phân tích, đánh giá thực trạng số lượng lao động xuất khẩu được đào tạo vàthực trạng hệ thống các cơ sở đào tạo nguồn lao động xuất khẩu của tỉnh Hải Dươngtrong giai đoạn 2010 - 2015 để làm cơ sở đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chấtlượng đào tạo nguồn lao động xuất khẩu của tỉnh trong những năm tiếp theo
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu đề tài là trên cơ sở hệ thống hoá những vấn đề lý luận
về đào tạo nguồn lao động xuất khẩu, đề tài phân tích, đánh giá thực trạng số lượnglao động được đào tạo trong xuất khẩu lao động, thực trạng về hệ thống các cơ sở
Trang 22đào tạo nguồn lao động xuất khẩu và đề xuất định hướng, giải pháp tăng cường đàotạo nguồn lao động xuất khẩu của tỉnh Hải Dương đến năm 2020.
Để thực hiện mục tiêu nêu trên, nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra là:
- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về đào tạo nguồn lao động xuất khẩu, hệ thốngcác cơ sở đào tạo nguồn lao động xuất khẩu;
- Phân tích, đánh giá đúng thực trạng đào tạo nguồn lao động xuất khẩu thông quaphân tích, đánh giá về số lượng lao động đào tạo trong XKLĐ, hệ thống cơ sở đàotạo nguồn lao động xuất khẩu của tỉnh Hải Dương giai đoạn 2010 - 2015;
- Đề xuất giải pháp, kiến nghị nhằm tăng cường đào tạo nguồn lao động xuất khẩucủa tỉnh Hải Dương
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu đào tạo nguồn lao động xuất khẩu của một địa phương (Tỉnh hay
thành phố)
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: Nghiên cứu việc đào tạo nguồn lao động xuất khẩu của tỉnhHải Dương thông qua nghiên cứu về số lượng lao động được đào tạo trong XKLĐ
và hệ thống các cơ sở đào tạo nguồn lao động xuất khẩu của tỉnh Hải Dương;
- Thời gian: Số liệu được thu thập trong giai đoạn 2010 đến 2015 và kiến nghịgiải pháp các năm tiếp theo;
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu truyền thống như: Logic lịch
sử, thống kê, so sánh, phân tích và tổng hợp
Nguồn dữ liệu được thu thập từ Sở Lao động Thương binh và Xã hội HảiDương, Sở Giáo dục và Đào tạo Hải Dương, Cục Thống kê Hải Dương và một số
cơ sở đào tạo tỉnh Hải Dương
6 Kết cấu của luận văn
Tên đề tài: “Đào tạo nguồn lao động xuất khẩu của tỉnh Hải Dương”
Đề tài ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục gồm 3chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về đào tạo nguồn lao động xuất khẩu
Trang 23Chương 2: Thực trạng đào tạo nguồn lao động xuất khẩu của tỉnh Hải Dương giai
đoạn 2010 - 2015
Chương 3: Định hướng và giải pháp tăng cường đào tạo nguồn lao động xuất khẩu
lao động của tỉnh Hải Dương
Trang 24CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO
NGUỒN LAO ĐỘNG XUẤT KHẨU
1.1 Nguồn lao động xuất khẩu và sự cần thiết, vai trò của đào tạo nguồn lao động xuất khẩu ở các địa phương
1.1.1 Khái niệm về nguồn lao động và nguồn lao động xuất khẩu
Nguồn lao động:
Theo các nhà kinh tế học ngoài nước (Begg, Fischer, Dornbusch), nguồn lao
động là toàn bộ trình độ chuyên môn mà con người tích luỹ được, nó được đánh giá cao vì tiềm năng đem lại thu nhập trong tương lai Giống như nguồn lực vật chất, nguồn lao động là kết quả đầu tư trong quá khứ với mục đích tạo ra thu nhập trong tương lai Mc Shane có sự phân biệt rõ hơn sự khác biệt giữa nguồn lao động với
các nguồn lực khác ở chỗ: mỗi con người lao động có những năng lực, (bao gồm tư
chất, kiến thức và kỹ năng), tính cách, nhận thức vai trò và sự khác biệt về kinh nghiệm, động cơ và sự cam kết mà nguồn lực vật chất khác không có.
Theo các nhà kinh tế trong nước, nguồn lao động theo nghĩa rộng: là tổng thếtiềm năng của con người của một quốc gia, một vùng lãnh thổ, một địa phương,được chuẩn bị ở mức độ nào đó, có khả năng huy động vào quá trình phát triển kinh
tế - xã hội của đất nước hoặc một vùng, một địa phương cụ thể trong một thời kỳnhất định, có thể cho 1 năm, 5 năm, 10 năm… phù hợp với chiến lược và kế hoạchphát triển Theo nghĩa hẹp: Nguồn lao động là tiềm năng của con người được lượnghoá theo một chỉ tiêu nhất định do luật định hoặc chỉ tiêu thống kê căn cứ vào độtuổi và khả năng lao động Trong kinh tế thị trường, khái niệm lực lượng lao độngđược sử dụng phổ biến chỉ nhóm dân số hoạt động kinh tế thường xuyên, bao gồmnhững người trong độ tuổi lao động theo luật định, có khả năng lao động, thực tế cóviệc làm và những người thất nghiệp
Theo Giáo trình Kinh tế phát triển của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
(2012): “Nguồn lao động là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động theo quy định
Trang 25của pháp luật có khả năng lao động, có nguyện vọng tham gia lao động và những người ngoài độ tuổi lao động (trên độ tuổi lao động) đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân” Việc quy định độ tuổi lao động giữa các quốc gia có sự
khác nhau Do điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, trình độ phát triển, có quốc gialấy tuổi lao động tối thiểu từ 15, 16, có nước 18 tuổi; tuổi lao động tối đa có nướcquy định là 60, có nước nâng lên 65 tuổi Ở Việt Nam, theo Quy định của Luật lao
động (Luật lao động số 10/2012/QH13 có hiệu lực từ ngày 01/5/2013) độ tuổi lao
động được tính từ thời điểm bắt đầu đủ tuổi lao động đến tuổi nghỉ hưu Tuổi laođộng được tính từ đủ 15 tuổi Tuổi nghỉ hưu được xác định: Người lao động bảođảm điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật vềbảo hiểm xã hội được hưởng lương hưu khi nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi; Trườnghợp người lao động làm công tác quản lý và một số trường hợp đặc biệt khác, ngườilao động có thể nghỉ hưu ở tuổi cao hơn nhưng không quá 05 năm
Ngoài ra, còn có cách hiểu khác về nguồn lao động, đó là là tổng hợp cánhân những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố
về vật chất và tinh thần được huy động vào quá trình lao động
Tóm lại, nguồn lao động là tổng thể tiềm năng về trình độ chuyên môn, taynghề (trí lực) và sức khoẻ (thể lực) của con người của một quốc gia, một vùng lãnhthổ, một địa phương, được chuẩn bị ở mức độ nào đó, có khả năng huy động vàoquá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước hoặc một vùng, một địa phương cụthể trong một thời kỳ nhất định phù hợp với chiến lược và kế hoạch phát triển.Nguồn lao động được lượng hoá là tổng thể dân số đủ 15 tuổi trở lên có việc làm vàdân số trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng đang thất nghiệp, đang đihọc, đang làm công việc nội trợ trong gia đình, không có nhu cầu làm việc và những
người thuộc tình trạng khác (nghỉ hưu trước tuổi quy định…)
Từ khái niệm về nguồn lao động, có thể rút ra khái niệm về nguồn lao độngxuất khẩu
Nguồn lao động xuất khẩu là tổng thể tiềm năng của con người của một
quốc gia, một vùng lãnh thổ, một địa phương, được chuẩn bị ở mức độ nào đó, có
Trang 26khả năng huy động vào hoạt động XKLĐ vào một thời kỳ nhất định Vậy để hiểu rõhơn về khái niệm này, ta cũng cần hiểu thêm về khái niệm XKLĐ.
Xuất khẩu lao động (XKLĐ): Có nhiều khái niệm khác nhau về XKLĐ,
dưới đây là một số khái niệm cơ bản về XKLĐ
XKLĐ hiểu một cách đơn giản là một loại hình di chuyển quốc tế sức laođộng Di chuyển quốc tế sức lao động là hiện tượng người lao động di chuyển ranước ngoài nhằm mục đích tìm việc làm để có thu nhập Khi ra khỏi một nước,người đó được gọi là người xuất cư, còn sức lao động của người đó được gọi là sứclao động xuất khẩu
Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO): XKLĐ là hoạt động kinh tế của mộtquốc gia thực hiện việc cung ứng lao động cho một quốc gia trên cơ sở những hiệpđịnh hoặc hợp đồng có tính chất hợp pháp quy định được sự thống nhất giữa cácquốc gia đưa và nhận người lao động
XKLĐ là hoạt động trao đổi, mua bán hay thuê mướn hàng hoá sức lao độnggiữa Chính phủ một quốc gia hay tổ chức, cá nhân cung ứng sức lao động của nước
đó với Chính phủ, tổ chức, cá nhân sử dụng sức lao động nước ngoài trên cơ sởHiệp định hay hợp đồng cung ứng lao động Khi hoạt động XKLĐ được thực hiện
sẽ có sự di chuyển lao động có thời hạn và có kế hoạch từ nước này sang một nướckhác Trên thực tế, quan điểm về XKLĐ ở những nước khác nhau có những nétriêng, trình độ của lao động xuất khẩu ở các nước khác nhau cũng khác nhau Đốivới những nước phát triển, có xu hướng gửi lao động kỹ thuật cao sang các nướcchậm phát triển và đang phát triển để lấy thêm ngoại tệ, tìm kiếm lợi nhuận ở nướcngoài Đối với những nước chậm phát triển và đang phát triển, XKLĐ có xu hướnggửi lao động phổ thông, lao động tay nghề bậc trung để thu tiền công, tăng thunhập, tích luỹ ngoại tệ và giảm bớt sức ép về nhu cầu việc làm trong nước
XKLĐ là một hoạt động xuất khẩu đặc biệt và là một bộ phận của kinh tế đốingoại Tính đặc biệt của hoạt động XKLĐ nằm ở chính đặc trưng cơ bản của loạihàng hoá xuất khẩu: hàng hoá sức lao động của con người Về mặt kinh tế, giá cảcủa sức lao động phụ thuộc vào chất lượng của lao động trước hết là các yếu tố về
Trang 27trình độ chuyên môn, tay nghề được đào tạo, mức độ giao tiếp về ngôn ngữ, vănhoá, phẩm chất của cá nhân như tính cần cù, kỹ năng, tinh xảo, khéo léo… và khảnăng hội nhập, giao lưu với các nền văn hoá, tôn giáo khác Giá cả của sức lao độngcòn phụ thuộc vào nhu cầu của nước nhập khẩu lao động Về mặt chính trị, XKLĐ
là tiến hành hợp tác góp phần hỗ trợ, xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội của nướcnhập khẩu lao động Khác với các loại hình hàng hoá dịch vụ khác, đối với người điXKLĐ, ngoài yếu tố cơ bản về phẩm chất cá nhân, trình độ chuyên môn, trình độvăn hoá, ngoại ngữ, thì khả năng hoà đồng cũng hết sức quan trọng để đảm bảo chotương lai của người lao động ở nước ngoài Bởi vậy, người lao động cần phải thực
sự tôn trọng luật pháp và hoà hợp tốt với cộng đồng dân cư nước sở tại Điều đó sẽbảo đảm cho vị trí cá nhân được khẳng định, được quý mến, góp phần nâng cao uytín, vị thế quốc gia, góp phần củng cố, tăng cường tình hữu nghị, đoàn kết, thânthiện cộng đồng quốc tế giữa hai nước Hơn nữa, quá trình XKLĐ không kết thúc ởviệc người mua nhận hàng và thanh toán mà sau một thời hạn nhất định công ty, tổchức sử dụng lao động xuất khẩu phải đưa công nhân lao động về nước Nước đưalao động đi gọi là nước XKLĐ, nước tiếp nhận lao động là nước nhập khẩu laođộng và đôi khi cũng xuất hiện nước thứ ba làm nhiệm vụ trung gian
Tóm lại, XKLĐ là một hoạt động kinh tế dưới dạng dịch vụ cung ứng sức laođộng của con người cho nước ngoài Hoạt động XKLĐ không chỉ mang lại thu nhậpcao cho người lao động mà còn đóng một vai trò rất lớn trong sự phát triển của mỗiquốc gia Trong chỉ thị số 41-CT/TW ngày 29/9/1998 của Bộ Chính trị khẳng định:
“Xuất khẩu lao động và chuyên gia là một hoạt động KT-XH góp phần phát triển nguồn nhân lực, giải quyết việc làm, tạo thu nhập và nâng cao trình độ tay nghề cho người lao động, tăng thu ngoại tệ cho đất nước và tăng cường quan hệ hợp tác quốc tế giữa nước ta với các nước”.
Bên cạnh khái niệm XKLĐ, hiện nay trên thế giới trong các văn kiện, tàiliệu, công trình nghiên cứu sử dụng rất nhiều khái niệm đồng nghĩa với XKLĐ như:Trao đổi quốc tế về sức lao động; Hợp tác quốc tế về lao động; Tạo việc làm ngoàinước; Đưa người lao động và chuyên gia đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài; Đưa
Trang 28người đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng… Tuy nhiên những thuật ngữ này,
có thuật ngữ không phản ánh được đầy đủ bản chất và nội dung của XKLĐ theo cơchế thị trường, có thuật ngữ chỉ dùng trong một khoảng thời gian nhất định
1.1.2 Sự cần thiết và vai trò của đào tạo nguồn lao động xuất khẩu ở các địa phương
1.1.2.1 Sự cần thiết của đào tạo nguồn lao động xuất khẩu ở các địa phương
Phát triển nguồn lao động, đào tạo nâng cao chất lượng nguồn lao động xuấtkhẩu là yêu cầu cấp thiết, do nhu cầu của thị trường lao động quốc tế, của khu vực
và của các quốc gia nhập khẩu ngày càng đòi hỏi nguồn lao động chất lượng cao
Đào tạo nguồn lao động xuất khẩu là nhiệm vụ hàng đầu cho hoạt độngXKLĐ để đảm bảo và nâng cao chất lượng lao động Dịch vụ XKLĐ chỉ thực hiệnđược và có hiệu quả khi chất lượng lao động xuất khẩu đáp ứng được yêu cầu củathị trường Chất lượng lao động xuất khẩu lại phụ thuộc chặt chẽ vào quá trình đàotạo và giáo dục định hướng Hiện nay, các quốc gia đang phát triển chủ yếu XKLĐchưa qua đào tạo, nhất là đào tạo nghề, hầu hết chỉ là lao động phổ thông hoặc đàotạo ít để làm những công việc giản đơn nên hiệu quả không cao, đơn giá tiền lươngcủa lao động ở các quốc gia đang phát triển thấp, chưa tạo được thương hiệu trên thịtrường lao động quốc tế Ở nhiều thị trường, lao động xuất khẩu của các quốc giađang phát triển ngày càng bộc lộ nhiều điểm yếu đó là kỹ năng tay nghề thấp khôngđáp ứng được yêu cầu, trình độ ngoại ngữ hạn chế dẫn tới nhiều bất đồng, thiếu ýthức kỷ luật Nói một cách khác đó là chất lượng lao động qua đào tạo còn hạn chế,còn thiếu nhiều chuyên gia trình độ cao, thiếu công nhân lành nghề Trong khi đóvới xu hướng hiện nay việc XKLĐ ngày càng đòi hỏi khắt khe về kỹ năng tay nghề,
về chấp hành kỷ luật và trình độ ngoại ngữ Nếu các quốc gia đang phát triển khôngnâng cao chất lượng lao động xuất khẩu thì sẽ không thể cạnh tranh với các nướckhác trên thị trường lao động quốc tế Hơn nữa, lao động các quốc gia đang pháttriển làm việc tại nước ngoài không có khả năng phát triển bởi ý thức tự đào tạo,nâng cao tay nghề của người lao động còn hạn chế, người lao động thường chỉ thực
Trang 29hiện các công việc nhất định theo sự hướng dẫn, chỉ bảo của người quản lý mà chưabiết tìm hiểu công việc có liên quan, phát huy tính bao quát để có thể làm việc tại đó
ở vị trí cao hơn Vì vậy, đào tạo và đặc biệt đào tạo nghề là biện pháp đầu tiên cầnphải làm để nâng cao khả năng XKLĐ
Ngoài ra, nhu cầu về lao động trên thế giới ngày càng gia tăng, đặc biệt là laođộng có trình độ chuyên môn, kỹ thuật Theo dự báo của Liên hiệp quốc: nhu cầu sửdụng lao động nước ngoài vẫn tiếp tục tăng, cụ thể: dân số thế giới sẽ tăng trưởng17% vào năm 2020, trong đó chủ yếu ở các nước đang phát triển Số lượng người di
cư sẽ tăng từ 75 triệu người (2005) lên khoảng 191 triệu người, đến năm 2050 thêmkhoảng 100 triệu người sẽ di chuyển từ các nước thuộc thế giới thứ ba đến các nướcthuộc thế giới thứ nhất
Trong khu vực, khi cộng đồng kinh tế giữa các nước ASEAN (AEC) hìnhthành vào năm 2015 sẽ tác động trực tiếp tới thị trường lao động, nhất là thị trườnglao động nội khối được dự báo là sẽ tạo ra sự tăng trưởng bứt phá về việc làm nhờnhững dòng lao động di cư mạnh mẽ hơn Sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế sẽ kéo theochuyển dịch cơ cấu lao động dẫn đến nhu cầu ngày càng tăng với những lao động
có trình độ, kỹ năng Theo khảo sát của ILO, hiện tại ở các nước đang phát triểnnhư Việt Nam, Lào, Campuchia, Myamar, lực lượng lao động dồi dào và khá rẻ,nhưng tỷ lệ đào tạo, kỹ năng nghề tương đối thấp Trong khi đó, ở các nướcSingapore, Malaysia, Thái Lan… lao động đang có xu hướng già hoá Vì vậy, vớicác nước có nguồn lao động nhiều, trẻ thì đây là một cơ hội để phát triển thị trườnglao động của mình trong thời gian tới Ông G.Sziracki, Giám đốc ILO nhận định:
“Với tỷ lệ lao động biết chữ cao và thành quả đạt được trong giáo dục cơ bản, Việt Nam sẵn sàng với nguồn cung lao động có kỹ năng thấp, nhưng lại cần phải chuẩn
bị nhiều hơn cho phân khúc việc làm có kỹ năng trung bình” Hiện nay MRAs đã
được ký kết ở một số lĩnh vực như: Người hành nghề y, nha khoa, y tá; dịch vụ kếtoán, dịch vụ tư vấn; dịch vụ kiến trúc, dịch vụ đo đạc Theo đó, MRAs sẽ côngnhận kỹ năng, bằng cấp được đào tạo giữa các quốc gia để các lao động được dễdàng di chuyển cùng với những nới lỏng về visa, thời gian lưu trú… từ đó tạo điều
Trang 30kiện cho các doanh nghiệp XKLĐ trong quá trình đưa lao động xuất khẩu đến cácnước trong khu vực Những lao động lành nghề được chứng nhận về trình độ, kỹnăng sẽ được di chuyển tự do hơn, đây là vấn đề khó khăn cho những nước khôngđào tạo kịp đội ngũ lao động lành nghề, trình độ cao Như vậy, nhu cầu về lao độngcủa thị trường quốc tế vẫn không ngừng gia tăng, đặc biệt là nguồn lao động chấtlượng cao, được đào tạo chuẩn về trình độ chuyên môn, ngoại ngữ, kỹ năng nghềnghiệp… Đây là cơ hội và cũng là thách thức lớn đối với lao động của các quốc gia,đặc biệt là các quốc gia đang phát triển như Việt Nam.
1.1.2.2 Vai trò của đào tạo nguồn lao động xuất khẩu
Đào tạo nguồn lao động xuất khẩu có vai trò to lớn với người lao động, vớicác cơ sở đào tạo, các công ty xuất khẩu lao động và với quốc gia xuất khẩu
Đối với người lao động: Việc đào tạo người lao động trước khi đi xuất khẩu
giúp họ nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng làm việc, kỹ năng mềm, tăng hiểubiết về quốc gia nhập khẩu, tăng khả năng giao tiếp bằng ngoại ngữ, từ đó họ có cơhội được làm công việc có thu nhập cao Và khi vững vàng về kỹ năng cũng như cóđược một số vốn trình độ, kiến thức nhất định, họ sẽ tự tin về bản thân và làm việctốt hơn Đặc biệt là sau khi xuất khẩu về nước, họ đã có trong tay kiến thức, kỹnăng và kinh nghiệm làm việc, họ sẽ dễ dàng tìm được một công việc phù hợp;thậm chí họ có thể mang những gì học được từ công việc ở nước ngoài về giúp íchcho sự phát triển kinh tế của địa phương, của quốc gia
Đối với cơ sở đào tạo: Chức năng, nhiệm vụ của các cơ sở đào tạo là tạo
nguồn lao động chất lượng cao đáp ứng nhu cầu trong nước và quốc tế Đào tạonguồn lao động xuất khẩu giúp các cơ sở đào tạo trước tiên tăng đầu vào tuyển sinh,tạo nguồn thu và duy trì hoạt động của mình; thứ hai, đào tạo nguồn lao động chấtlượng cao để cung cấp cho các thị trường quốc tế, giúp các cơ sở đào tạo khẳngđịnh uy tín, chất lượng đào tạo của mình, đồng thời cũng tạo được đầu ra cho ngườihọc, giúp người học tiếp cận được với một thị trường lao động rộng lớn với nhiều
cơ hội việc làm
Trang 31Đối với các công ty xuất khẩu lao động: Chất lượng người lao động đi xuất
khẩu được coi là nhân tố quyết định đến năng lực, uy tín và khả năng cạnh tranh củacác công ty XKLĐ; Công tác đào tạo nguồn lao động xuất khẩu, giáo dục địnhhướng cho người lao động trước khi xuất khẩu được làm tốt sẽ giúp công ty XKLĐ
có được những bước phát triển bền vững
Tình trạng người lao động bỏ trốn về nước, tự phá bỏ hợp đồng ra ngoài làmviệc là một vấn đề lớn, ảnh hưởng đến uy tín, kết quả và tương lai hoạt động XKLĐcủa công ty XKLĐ, địa phương và quốc gia XKLĐ, việc đào tạo nguồn lao độngxuất khẩu nâng cao ý thức, nhận thức của người lao động, sẽ giúp giảm thiểu đượcrủi ro này
Nhu cầu của thị trường quốc tế đối với nguồn lao động chất lượng cao ngàycàng lớn, đào tạo nguồn lao động xuất khẩu giúp các công ty có thể tìm kiếm và kýkết được nhiều hợp đồng XKLĐ, từ đó có thể mở rộng thị trường, tăng khả năngcạnh tranh và tăng lợi nhuận
Đối với địa phương và quốc gia xuất khẩu: Xuất khẩu lao động đã qua đào
tạo, với trình độ chuyên môn, kỹ năng làm việc tốt sẽ khẳng định được chất lượngnguồn nhân lực của địa phương, của quốc gia với quốc tế, tăng uy tín của địaphương, của quốc gia và từ đó tạo được nhiều mối liên kết giữa quốc gia với cácquốc gia khác trong khu vực và trên thế giới
Từ những phân tích trên, việc đào tạo nguồn lao động xuất khẩu có vai trò, ýnghĩa quan trọng, là cần thiết và tất yếu đối với quốc gia nói chung và địa phươngnói riêng
1.2 Đào tạo nguồn lao động xuất khẩu và những vấn đề chung về tổ chức hoạt động của các cơ sở đào tạo cho lao động xuất khẩu
1.2.1 Đào tạo nguồn lao động xuất khẩu
1.2.1.1 Đào tạo
Đào tạo là quá trình hình thành kiến thức, thái độ, kỹ năng chuyên môn, nghềnghiệp được huấn luyện có hệ thống theo chương trình quy định với những chuẩn
Trang 32mực nhất định (chuẩn mực quốc gia hoặc quốc tế), để người học sau thời gian khoá
học đào tạo theo cấp học, có được trình độ chuyên môn, năng lực và kiến thức đápứng được yêu cầu công việc được giao
Theo PGS.TS Hà Văn Hội: Đào tạo được hiểu là hoạt động học tập nhằmgiúp cho người lao động có thể thực hiện có hiệu quả hơn các chức năng và nhiệm
vụ của mình Nói một cách cụ thể đào tạo liên quan đến việc tiếp thu các kiến thức,
kỹ năng đặc biệt, nhằm thực hiện những công việc cụ thể một cách hoàn hảo hơn
Theo ThS Vũ Thuỳ Dương và TS Hoàng Văn Hải: Đào tạo là những hoạtđộng cung cấp các kiến thức, kỹ năng cho người lao động nhằm hoàn thành tốt côngviệc được giao Công tác đào tạo nhân sự liên quan đến đối tượng mới được tuyểndụng cũng như đối tượng được bố trí vào vị trí công tác mới Đào tạo là một trongnhững nội dung cơ bản của quản trị nhân lực Trong quá trình đào tạo, người laođộng sẽ được bù đắp những thiếu hụt trong học vấn, được truyền đạt những khảnăng và kinh nghiệm thiết thực trong lĩnh vực chuyên môn, được cập nhật kiến thức
và mở rộng tầm hiểu biết để hoàn thành tốt những công việc được giao
Theo tác giả George T.Milkovich John W.Boudreau (TS Vũ Trọng Hùng
dịch): Đào tạo là một quá trình có hệ thống nhằm nuôi dưỡng việc tích luỹ các kỹ
năng, những quy tắc, khái niệm hay thái độ dẫn đến sự tương xứng tốt hơn giữanhững đặc điểm của công nhân viên và những yêu cầu của doanh nghiệp
Như vậy, đào tạo đề cập đến việc dạy các kỹ năng thực hành, nghề nghiệphay kiến thức liên quan đến một lĩnh vực cụ thể, để người học lĩnh hội và nắm vữngnhững tri thức, kĩ năng, nghề nghiệp một cách có hệ thống để chuẩn bị cho người
đó thích nghi với cuộc sống và khả năng đảm nhận được một công việc nhất định.Khái niệm đào tạo thường có nghĩa hẹp hơn khái niệm giáo dục, thường đào tạo đềcập đến giai đoạn sau, khi một người đã đạt đến một độ tuổi nhất định, có một trình
độ nhất định Có nhiều dạng đào tạo: đào tạo cơ bản và đào tạo chuyên sâu, đào tạochuyên môn và đào tạo nghề, đào tạo lại, đào tạo từ xa, tự đào tạo…
1.2.1.2 Đào tạo nguồn lao động xuất khẩu
Trang 33Trước khi xem xét khái niệm đào tạo nguồn lao động xuất khẩu, ta cũng cầnquan tâm đến một số khái niệm có liên quan như: đào tạo lao động, đào tạo nguồnnhân lực, đào tạo lao động xuất khẩu.
Đào tạo lao động là hình thức đào tạo được thực hiện với người lao động
nhằm cung cấp, củng cố và hoàn thiện cho họ những kiến thức, kỹ năng, phẩm chấtnghề nghiệp để họ có thể thực hiện tốt các công việc theo yêu cầu của người sửdụng lao động
Đào tạo nguồn nhân lực (lao động) là những hoạt động học tập nhằm nâng
cao trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, trình độ lành nghề nhằm giúp người laođộng thực hiện công việc hiện tại của họ tốt hơn Hoạt động đào tạo sẽ trang bịnhững kiến thức thông qua đào tạo mới áp dụng đối với những người chưa có nghề,đào tạo lại áp dụng đối với những người đã có nghề nhưng vì lý do nào đó nghề của
họ không phù hợp nữa và đào tạo nâng cao trình độ lành nghề Trình độ lành nghềcủa nguồn nhân lực thể hiện mặt chất lượng của sức lao động, nó có liên quan chặtchẽ với lao động phức tạp và biểu hiện ở sự hiểu biết về lý thuyết về kỹ thuật sảnxuất và kỹ năng lao động, cho phép người lao động hoàn thành được những côngviệc phức tạp Hoạt động đào tạo sẽ hướng vào cá nhân cụ thể và cần tiến hànhngay để đáp ứng nhu cầu hiện tại, thực tế công việc đòi hỏi
Đào tạo lao động xuất khẩu là quá trình trang bị và nâng cao kiến thức,
trình độ chuyên môn và những định hướng nhất định cho người lao động nhằm giúp
họ có thể thích nghi và làm việc ở môi trường lao động nước ngoài Chất lượng củangười lao động đi xuất khẩu được thể hiện ở trình độ, tay nghề, tác phong, ý thức kỷluật, khả năng giao tiếp, khả năng tiếp thu, hoà nhập với văn hoá nước bạn…
Từ những khái niệm trên, ta có thể hiểu về đào tạo nguồn lao động xuất
khẩu Đào tạo nguồn lao động xuất khẩu là quá trình đào tạo cho những đối tượng
thuộc nguồn lao động có nhu cầu đi làm việc ở nước ngoài về kiến thức, kỹ năng,tay nghề, trình độ ngoại ngữ… để họ có thể thực hiện chức năng, nhiệm vụ có hiệuquả hơn đối với công việc họ sẽ đảm nhận Bên cạnh đó, việc đào tạo nguồn lao
Trang 34động xuất khẩu cũng phải cung cấp đầy đủ cho người lao động những hiểu biết cóliên quan về:
- Luật Lao động, luật Hình sự, luật Dân sự, luật Xuất nhập cảnh và cư trú củaViệt Nam và các nước tiếp nhận lao động, nghĩa vụ chấp hành và tuân thủ pháp luật;
Phong tục, tập quán, điều kiện làm việc và sinh hoạt, quan hệ cư xử chủ thợ, kinh nghiệm giao tiếp ở nước tiếp nhận lao động;
Nội dung hợp đồng ký kết, nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý của người laođộng trong việc thực hiện hợp đồng;
- Kỷ luật và tác phong lao động công nghiệp
1.2.2 Những vấn đề chung về tổ chức hoạt động của hệ thống cơ sở đào tạo nguồn lao động xuất khẩu
1.2.2.1 Hệ thống cơ sở đào tạo nguồn lao động xuất khẩu
Đào tạo nguồn lao động xuất khẩu là nhiệm vụ của các trường, trung tâm, cơ
sở đào tạo công lập và tư thục ở địa phương, trung ương Các trường, trung tâm, cơ
sở đào tạo này thuộc hệ thống giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp Công việcđào tạo nguồn lao động nói chung và nguồn lao động xuất khẩu nói riêng được cácđơn vị này thực hiện một cách thường xuyên Nguồn lao động được đào tạo phục vụcho thị trường lao động trong nước và quốc tế Tuy nhiên, với thị trường lao độngquốc tế, đòi hỏi nội dung đào tạo có thêm một số đặc trưng riêng và những đặctrưng này sẽ được đào tạo lại, đào tạo nâng cao tại các trung tâm, cơ sở đào tạo củacác công ty XKLĐ hoặc các công ty XKLĐ liên kết, đặt hàng với các trường, trungtâm, cơ sở đào tạo bên ngoài để thực hiện nhiệm vụ này trong một thời gian ngắntrước khi người lao động tham gia xuất khẩu
Hệ thống các trường, trung tâm, cơ sở đào tạo:
Người đi xuất khẩu lao động bao gồm lao động phổ thông, lao động có taynghề và có thể là các chuyên gia… Vì vậy mà hoạt động đào tạo nguồn lao độngxuất khẩu cũng được thực hiện dưới nhiều cấp độ khác nhau của giáo dục đại học
và giáo dục nghề nghiệp
Trang 35Giáo dục đại học bao gồm đào tạo trình độ cao đẳng, đại học, sau đại học.Hoạt động đào tạo được thực hiện tại các trường đại học, cao đẳng theo đúng quyđịnh của Bộ GD&ĐT.
Giáo dục chuyên nghiệp bao gồm trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề.Hoạt động đào tạo được thực hiện tại các trường trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳngnghề, trung cấp nghề, trung tâm dạy nghề, lớp dạy nghề và gọi chung là cơ sở dạynghề Cơ sở dạy nghề có thể được tổ chức độc lập hoặc gắn với cơ sở sản xuất, kinhdoanh, dịch vụ, cơ sở giáo dục khác
Đào tạo tại các công ty xuất khẩu lao động:
Bên cạnh việc đào tạo tại các trường, trung tâm cơ sở giáo dục, trước khixuất khẩu, người lao động được đào tạo lại, đào tạo bổ túc, nâng cao tại các công tyXKLĐ Công ty XKLĐ tự xây dựng cơ sở đào tạo và trực tiếp đưa cán bộ của công
ty đào tạo, giảng dạy hoặc liên kết với một số cơ sở đào tạo để đặt hàng, thuê giảngdạy Hiện nay chỉ có một số ít công ty XKLĐ thực hiện được việc tự mình đào tạolực lượng lao động xuất khẩu tuyển chọn được như: công ty cổ phần phát triểnnguồn nhân lực Hoàng Long; Công ty cổ phần cung ứng nhân lực quốc tế và thươngmại SONA; Công ty TNHH MTV Vật tư Công nghiệp Quốc phòng, Công ty cổphần phát triển nguồn nhân lực LOD; Tổng công ty cổ phần xuất nhập khẩu và xâydựng Việt Nam VINACONEX …
1.2.2.2 Nội dung đào tạo nguồn lao động xuất khẩu
Mục tiêu của đào tạo, bồi dưỡng XKLĐ là đáp ứng yêu cầu về số lượng, đảmbảo chất lượng, cơ cấu ngành, nghề theo yêu cầu thị trường lao động nước ngoài,góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập, cải thiện đời sống người lao động Nội dungđào tạo bao gồm: đào tạo ngành, nghề, dạy ngoại ngữ, giáo dục định hướng… nhằmtrang bị cho người lao động năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đàotạo, có khả năng giao tiếp, có sức khoẻ, đạo đức lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷluật, tác phong công nghiệp, đáp ứng yêu cầu thị trường lao động ngoài nước
a) Đào tạo ngành, nghề cho lao động xuất khẩu
Trang 36Để làm việc được ở các tổ chức, doanh nghiệp ở nước ngoài thì yêu cầu đầutiên là chuyên môn, tay nghề Đào tạo chuyên môn, tay nghề được thực hiện trongthời gian trước khi doanh nghiệp đưa lao động sang thị trường nước ngoài, nhằmgiúp ích cho người lao động có được một trình độ tay nghề và chuyên môn nhấtđịnh Hay nói các khác đào tạo chuyên môn, tay nghề cho lao động xuất khẩu chính
là việc hướng dẫn, huấn luyện cho người lao động nắm được những kỹ năng cơ bản
để có thể tiến hành lao động sản xuất, thao tác đúng những hoạt động cần thiết để cóthể thực hiện được một công việc nhất định theo yêu cầu đặt ra của đối tác nướcngoài Đào tạo chuyên môn, tay nghề cho người lao động cần tập trung vào đào tạonghề nghiệp và đào tạo kỹ năng Đào tạo chuyên môn tay nghề bao gồm:
- Đào tạo mới: Đào tạo đối với đối tượng thuộc nguồn lao động chưa cóngành, nghề Đào tạo mới nhằm đáp ứng tăng thêm lao động đào tạo cho thị trườnglao động
- Đào tạo bổ túc nghề: Là đào tạo đối với những người đã có ngành, nghề, cóchuyên môn nhưng do yêu cầu mới của sản xuất và tiến bộ kỹ thuật dẫn đến việcthay đổi cơ cấu ngành nghề, trình độ chuyên môn Mục đích để người lao động cóthể nâng cao tay nghề, đáp ứng được yêu cầu nêu ra trong hợp đồng tuyển dụng laođộng cho xuất khẩu Đào tạo bổ túc nghề đóng vai trò quan trọng trong việc làmgiảm tỷ lệ lao động không biết làm việc
- Đào tạo nâng cao tay nghề: Là quá trình cập nhật hoá kiến thức còn thiếu,
đã lạc hậu, bổ túc nghề, đào tạo thêm hoặc củng cố các kỹ năng nghề nghiệp theotừng chuyên môn và thường được xác nhận bằng một chứng chỉ hay nâng bậc caohơn Đào tạo nâng cao thường chú ý đến nhu cầu đào tạo nâng cao theo yêu cầu cụthể của đối tác
b) Đào tạo ngoại ngữ
Lao động được xuất khẩu sang nước ngoài cần có một số kiến thức về ngoạingữ nhất định Vì muốn làm việc tốt thì người lao động phải hiểu cấp trên là ngườinước ngoài nói gì, để làm được điều đó người lao động phải có khả năng giao tiếpbằng ngoại ngữ Lao động đưa đi nước nào thì sẽ được đào tạo ngôn ngữ của nước
Trang 37đó Đào tạo ngoại ngữ giúp người lao động nâng cao và đạt được trình độ ngoại ngữtheo yêu cầu của công việc ở nước ngoài Trong quá trình đào tạo ngoại ngữ ngoàinhững kiến thức cơ bản chung, những kiến thức liên quan đến công việc, còn cần bổsung những kiến thức ngoại ngữ liên quan đến môi trường, văn hoá, phong tục tậpquán của nước mà người lao động đến làm việc Tuy nhiên, đây cũng là một trongnhững điểm yếu của lao động Việt Nam.
c) Giáo dục định hướng cho lao động xuất khẩu
Ngoài những kiến thức về chuyên môn, ngoại ngữ, lao động xuất khẩu còncần được giáo dục định hướng Giáo dục định hướng nhằm cung cấp cho người laođộng kiến thức về luật pháp, ý thức tuân thủ luật pháp; Phong tục tập quán, điềukiện làm việc và sinh hoạt, quan hệ cư xử giữa chủ và thợ của nước nhận lao động,kinh nghiệm giao tiếp; Nội dung hợp đồng ký kết, nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lýcủa người lao động trong việc thực hiện hợp đồng; Kỷ luật và tác phong lao độngcông nghiệp…
Tác phong, phương pháp làm việc, ý thức kỷ luật: Đây là yêu cầu được coi
là rất quan trọng đối với lao động Việt Nam bởi lao động Việt Nam vốn thiếu tácphong công nghiệp, ý thức kỷ luật, ý thức tập thể rất kém Lối sống nông nghiệp, tựphát ở nông thôn đã ăn sâu vào tiềm thức của người lao động Việt Nam - nhữngngười xuất thân chủ yếu là nông dân nghèo chưa được tiếp xúc nhiều với máy móc,công nghệ Người lao động để đạt được kết quả cao trong công việc, họ còn phảiđược trang bị phương pháp làm việc khoa học, hợp lý nhằm tiết kiệm thời gian, tiềnbạc và công sức
Văn hoá, lối sống của nước nhập khẩu lao động: Văn hoá, lối sống của
người Việt Nam có những điểm khác biệt với nhiều nước trên thế giới Để người laođộng Việt Nam có thể hoà nhập tốt với văn hoá, lối sống của các nước nhập khẩulao động mà họ sẽ làm việc thì cần phải có công tác giáo dục định hướng cho họ,giúp họ hiểu được văn hoá, lối sống của nước bạn để có cách sống và làm việc chophù hợp, tránh được các rủi ro về bất đồng ngôn ngữ, tôn giáo, phong tục tập quán,thủ tục, quan điểm, truyền thống, cách sinh hoạt, phong cách ứng xử…Đào tạo văn
Trang 38hoá của nước đến giúp cho người lao động hiểu và nhận thức đúng về quốc gia nơi
mà họ sẽ đến, từ đó thích ứng và hội nhập với môi trường sống và làm việc mới.Văn hoá tạo ra sự thống nhất về quan điểm làm việc của tất cả người lao động Do
đó, người lao động cần phải được đào tạo về văn hoá
1.2.2.3 Các điều kiện cần thiết để hệ thống cơ sở đào tạo tiến hành hoạt động đào tạo nguồn lao động xuất khẩu
a) Cơ sở vật chất
Cơ sở vật chất, trang thiết bị là điều kiện cần thiết để các cơ sở đào tạo có thểtiến hành hoạt động, là yếu tố quyết định quy mô tuyển sinh, đào tạo của các cơ sở
và nó được quy định một cách chặt chẽ bởi Bộ Giáo dục và Đào tạo Trang thiết bị
là yếu tố hỗ trợ công việc giảng dạy Nó có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hànhcác nội dung lý thuyết, gắn lý thuyết với thực tế
Cơ sở vật chất ở đây bao gồm: các phòng học lý thuyết, phòng học hoặcxưởng thực hành, thư viện, nhà hiệu bộ, khu kí túc xá, nhà đa năng, sân chơi…
Trang thiết bị giảng dạy bao gồm thiết bị hỗ trợ giảng dạy lý thuyết đượctrang bị trong các phòng học như máy chiếu, màn chiếu, tivi, loa… và thiết bị hỗ trợthực hành, thí nghiệm, những thiết bị này tuỳ thuộc vào từng ngành nghề đào tạo
mà trang bị Đó có thể là máy móc, các chi tiết trong máy móc, công cụ dụng cụ,các phần mềm học tập, các mô hình…
b) Đội ngũ giảng viên, giáo viên
Đội ngũ giảng viên, giáo viên là yếu tố quyết định đến chất lượng đào tạo
Để có thể được giảng dạy tại các cơ sở giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp, cónhững quy định về trình độ, chuyên môn cũng như kỹ năng mà các giảng viên, giáoviên phải đáp ứng như: Giảng viên, giáo viên phải có trình độ cao hơn ít nhất mộtbậc thì mới đủ điều kiện giảng dạy bậc thấp hơn; Giảng viên, giáo viên phải cóchứng chỉ giáo dục sư phạm tuỳ theo từng ngành nghề đào tạo có chứng chỉ sưphạm bậc 1, bậc 2… Bên cạnh đó, giảng viên, giáo viên phải thường xuyên cập nhậtnhững kiến thức mới, tự học tập để nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng thựchành và kinh nghiệm thực tế
Trang 39c) Khả năng tài chính và hoạt động liên kết
Tài chính cũng là một yếu tố quyết định đến hoạt động của các cơ sở đào tạo.Khả năng tài chính lớn thì cơ sở đào tạo có điều kiện giảng dạy, đào tạo tốt hơn như
tổ chức các cuộc hội thảo thường xuyên, mời các chuyên gia trong nước và nướcngoài về nói chuyện, giảng dạy thực hành; hỗ trợ cho giảng viên, giáo viên và họcsinh, sinh viên đi học tập, thực hành, thực tế
Khả năng liên kết với các cơ sở đào tạo khác trong nước và quốc tế hoặc liênkết với các doanh nghiệp là hoạt động cần thiết đối với các cơ sở đào tạo Liên kếtgiúp các cơ sở đào tạo học hỏi được nhiều kinh nghiệm từ các cơ sở đào tạo lớnhơn, có cơ hội được hỗ trợ và chia sẻ về giáo trình, tài liệu giảng dạy, học tập tiêntiến, có cơ hội cho giảng viên được học hỏi phương pháp giảng dạy hiệu quả hơn,
có cơ hội cho sinh viên giao lưu, thực hành các kỹ năng mềm Đặc biệt là liên kếtvới các doanh nghiệp dưới hình thức cho sinh viên thực hành tại doanh nghiệp, là
cơ hội để sinh viên được đào tạo thực tế, giúp ích cho công việc trong tương lai
1.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến đào tạo nguồn lao động xuất khẩu của địa phương
Có rất nhiều nhân tố tác động đến việc đào tạo nguồn lao động xuất khẩu củamột địa phương: nhân tố thuộc về quốc tế hay chính là nhu cầu tuyển dụng lao độngcủa thị trường quốc tế, nhân tố thuộc về quốc gia, nhân tố thuộc về địa phương,nhân tố thuộc về cơ sở đào tạo và những nhân tố thuộc về chính người lao độngxuất khẩu
1.3.1 Nhân tố thuộc về quốc tế
Nhân tố thuộc về quốc tế hay chính là nhu cầu lao động của thị trường laođộng quốc tế Nhân tố này ảnh hưởng lớn đến việc xác định số lượng, chất lượng,ngành nghề, giới tính đào tạo của nguồn lao động xuất khẩu
Trên thế giới, các nước có nền kinh tế phát triển có tốc độ tăng trưởng caonhưng tốc độ tăng dân số thấp, dẫn đến thiếu hụt về nguồn nhân lực, có nhu cầu vềnhập khẩu lao động, trong khi các nước chậm phát triển hoặc đang phát triển cần
Trang 40đầu tư mở rộng sản xuất, tạo thêm việc làm, giải quyết nạn thất nghiệp, bổ sungnguồn thu ngân sách và thu nhập cho người lao động, rất cần đưa lao động ra nướcngoài làm việc Nhu cầu lao động của thị trường quốc tế được thể hiện theo cơ cấungành nghề, giới tính, khu vực địa lý, chất lượng và số lượng lao động Có thịtrường tuyển dụng lao động trong lĩnh vực công nghiệp, có thị trường tuyển dụnglao động trong lĩnh vực nông nghiệp, dịch vụ Có thị trường tuyển dụng nhiều laođộng nữ, có thị trường chỉ tuyển dụng lao động nam Có thị trường tuyển dụngchuyên gia, có thị trường tuyển dụng lao động phổ thông với giá cả sức lao động rẻ.
Có thị trường ưu đãi lao động đến từ các quốc gia có quan hệ ngoại giao tốt, có nềnvăn hoá tương đồng để tránh tình trạng xung đột về văn hoá
Nhu cầu lao động của thị trường quốc tế phụ thuộc nhiều vào sự phát triểnkinh tế: tăng trưởng hay suy thoái, khủng hoảng hay phục hồi; phụ thuộc vào trình
độ khoa học công nghệ; tình hình chính trị của các nước tiếp nhận lao động xuấtkhẩu Cụ thể: Tuỳ vào từng giai đoạn, tuỳ vào tình hình phát triển của từng quốc gia
mà nhu cầu về lao động có nhiều biến đổi Nền kinh tế càng phát triển, khoa họccông nghệ càng phát triển thì nhu cầu tuyển dụng lao động càng ít, nhưng lực lượnglao động được tuyển dụng này đều phải có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao Dovậy đòi hỏi lao động xuất khẩu là nguồn lao động chất lượng cao
Trong xu hướng quốc tế hoá, toàn cầu hoá, việc di chuyển lao động giữa cácquốc gia cũng trở nên thuận lợi hơn, các rào cản được dỡ bỏ khi các hiệp định hợptác, liên kết được ký giữa các quốc gia, giữa các khu vực Lúc này, lao động được dichuyển dễ dàng khi họ đạt chuẩn mực về đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng,ngôn ngữ của khu vực và quốc tế, nói cách khác đó là nhu cầu về nguồn lao độngđạt chuẩn khu vực và quốc tế ngày càng tăng Sự hình thành Cộng đồng kinh tếASEAN (AEC) vào năm 2015, AEC sẽ là một thị trường chung có quy mô lớn vớihơn 600 triệu dân và tổng GDP hàng năm khoảng 2,000 tỷ USD qua sự liên kết vềkinh tế trên cơ sở sản xuất thống nhất như tự do thương mại về đầu tư, chu chuyểnvốn, lao động, dịch vụ… Mục tiêu đưa ASEAN trở thành một thị trường và cơ sởsản xuất thống nhất đang được ASEAN thúc đẩy mạnh, bao gồm năm yếu tố cơ