Ứng dụng CNTT trong dạy học ngữ văn khối lớp 6 ở trường THCS phú ninh
Trang 1MỤC LỤC
Trang 2Chỉ thị 29/2001/CT-BGD & ĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã nêu
rõ :“Đối với giáo dục và đào tạo, công nghệ thông tin có tác động mạnh mẽ, làm thay đổi phương pháp, phương thức dạy và học Công nghệ thông tin là phương tiện để tiến tới một xã hội học tập”.
Năm học 2008-2009 BGD đã lấy chủ đề năm học là “Đẩy mạnh ứng dụngCNTT trong trường học; Đổi mới quản lý tài chính và triển khai phong trào xâydựng trường học thân thiện, học sinh tích cực…”, đã mở ra một cơ hội vàng đốivới những người làm công tác giáo dục
Những năm qua việc đổi mới nội dung, chương trình SGK được thực hiện kháđồng bộ Việc đổi mới nội dung, chương trình yêu cầu phải đổi mới PPDH Đổimới PPDH đòi hỏi phải sử dụng phương tiện dạy học phù hợp_và CNTT là mộttrong những phương tiện quan trọng góp phần đổi mới công tác quản lý trườnghọc và đổi mới PPDH
Từ những phương tiện này giáo viên có thể khai thác, sử dụng, cập nhật và traođổi thông tin Việc khai thác CNTT giúp giáo viên tránh được tình trạng “ Dạychay” một cách thiết thực, đồng thời giúp giáo viên có thể cập nhật thông tin
Trang 3yêu cầu đặc biệt cần thiết đối với mỗi giáo viên giảng dạy Trách nhiệm đặt trênvai ngành Giáo dục là đòi hỏi ngành phải có những nội dung chương trình phùhợp, đổi mới phương pháp dạy và học một cách tích cực…
Nhiều năm qua, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy và học tậpđang trở thành nhu cầu thiết yếu thúc đẩy sự nghiệp giáo dục phát triển theohướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Tiếp tục với niềm đam mê đượcnghiên cứu ứng dụng các phương pháp vào việc Đổi mới PPDH môn ngữ văntrong nhà trường, trong đề tài nghiên cứu này, chúng tôi muốn đề cập đến việc
sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn ngữ văn như thế nào cho hiệuquả Đây cũng là những trăn trở của nhiều giáo viên trong quá trình dạy họcnhằm đáp ứng yêu cầu tiên tiến của thời đại
Từ nhận thức trên là một cán bộ giáo viên trong tương lai chúng tôi đã xác địnhviệc xây dựng cho mình khả năng sáng tạo, nhạy bén, phải có sự hiểu biếtCNTT để đáp ứng nhu cầu dạy và học cho bản thân, là một trongnhuwngxnhiệm vụ quan trọng mà mình không được phép sao lãng, phải bằng mọi cáchhình thành cho mình kĩ năng nhận thức, kĩ năng dạy học
1.2 Lý do chủ quan
Thực tế hiện nay, việc trang thiết bị cho dạy học ứng dụng CNTT ở trườngTHCS Phú Ninh còn rất mỏng Toàn trường chỉ có khoảng từ 01 đến 02 phònghọc có trang bị đèn chiếu, máy chiếu để phục vụ cho các tiết dạy ứng dụngCNTT Do đó, số tiết dạy này chỉ có thể áp dụng cho các tiết thao giảng, hộigiảng với định lượng từ 01 đến 02 tiết/ giáo viên/ năm học Việc ứng dụngCNTT vào dạy học môn ngữ văn ở khối lớp 6 trường THCS Phú Ninh có thểgiúp tăng cường khả năng dạy và học, phù hợp với điều kiện thực tế về cơ sở vậtchất, tối ưu các điều kiện hiện có, sử dụng các phương tiện dạy học, thiết bị dạyhọc được trang bị hoăc do các giáo viên tự làm lấy góp phần thúc đẩy việc đổimới phương pháp dạy học ngay cả trong điều kiện không có máy chiếu Nó
Trang 4mang lại hiệu quả cao trong việc tiếp nhận văn học, phù hợp với yếu tố tâm lýcủa học sinh, tiếp tục phát huy phương pháp dạy học trực quan sinh động (trựcquan thính giác, trực quan thị giác bên cạnh trực quan ngôn từ) theo hướng hiệnđại hóa, đáp ứng mục tiêu giáo dục phổ thông là: “tác động đến tình cảm, đemlại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho học sinh”.
Về phía giáo viên trường THCS Phú Ninh chúng tôi nhận thấy rằng đa phần cácgiáo viên chưa mạnh dạn đầu tư, tìm hiều và ứng dụng CNTT vào trong tiết dạy,nhiều giáo viên còn dạy học theo lối truyền thống là đọc chép nên chưa phát huytính tích cực, sáng tạo của học sinh
Về phía các em học sinh khối 6 trường THCS Phú Ninh còn yếu kém về nhiềumặt, cả về cách tổ chức dạy học cũng như khả năng nhận thức tri thức của các
em còn nhiều hạn chế Các em chưa hiểu sâu nội dung bài học, cũng như chưa
có hứng thú tìm hiểu đọc bài trước ở nhà Đứng trước nhu cầu đó chúng tôi
mạnh dạn chọn đề tài: “Ứng dụng CNTT trong dạy học Ngữ văn khối lớp 6 ở trường THCS Phú Ninh”
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đây là một đề tài được nhiều đồng nghiệp quan tâm Vì thế đã có rất nhiều giáoviên quan tâm và đi vào nghiên cứu vấn đề này Trong đó “Nguyễn Sơn Hải,
MS.Power Point”, “Bernd Meier, Phát triển năng lực thông qua phương pháp
và phương tiện dạy học mới”, đã mang lại một số thành công nhất định cho đề
tài
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài lấy quá trình tổ chức dạy học của giáo viên và hoạt động học của học sinhtrong tiết dạy bằng giáo án điện tử ở khối lớp 6 trường THCS Phú Ninh làm đối
Trang 53.2 Phạm vi nghiên cứu
Vì đang còn là sinh viên thực tập nên chúng tôi không có nhiều thời gian đề tiếnhành cho việc nghiên cứu dài hạn, chỉ có thời gian là 2 tháng thực tập tại trườngTHCS Phú Ninh và được phân công giảng dạy khối lớp 6 nên chúng tôi chỉ cóthể dừng lại tìm hiểu trong phạm vi khối lớp 6 trường THCS Phú Ninh
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nhằm khắc phục tình trạng học sinh thụ động trong giờ học, nâng caohứng thú học tập cho học sinh, cũng như khơi gợi sự tìm tòi học hỏi CNTT chocác giáo viên trường THCS Phú Ninh nói chung và giáo viên bộ môn văn nóiriêng nhằm đổi mới phương pháp dạy và học ở trường THCS Phú Ninh
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.2.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc “Ứng dụng CNTT trong dạy học Ngữ văn khối lớp 6 trường THCS Phú Ninh”
4.2.2 Đưa ra giải pháp trong việc ứng dụng CNTT vào dạy học Ngữ văn ở khối lớp 6 trường THCS Phú Ninh
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp tổng hợp lý luận và thực tiễn
Chúng tôi đã tổng hợp nhiều ý kiến của quý thầy cô cũng như các em học sinhkhối lớp 6 trường THCS Phú Ninh về tình hình ứng dụng CNTT vào tiết dạy ởtrường THCS Phú Ninh hiện nay và nhận thấy còn có nhiều điều bất cập
5.2 Phương pháp điều tra, khảo sát thu thập số liệu
Đây là một trong số những phương pháp cơ bản nhằm thu thập thông tin khoahọc Chúng tôi đã tiến hành điều tra và thu thập số liệu từ một số giáo viên vàhọc sinh khối lớp 6 trường THCS Phú Ninh, cũng như tìm hiểu về thuận lợi vàkhó khăn khi ứng dụng CNTT vào trong dạy học
Trang 6- Điều tra 5 lớp khối lớp 6 trường THCS Phú Ninh
- Xây dựng phiếu điều tra bằng hình thức text
Nhằm mục đích thấy được sự thiết thực của đề tài
5.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Chúng tôi đã áp dụng soạn và dạy cho 3 lớp 6 trường THCS Phú Ninh, qua 3 tiếtdạy chúng tôi cảm thấy các em rất hưng thú học, khi hỏi các em có thích tiết họctrên lớp như thế này không các em đều bảo rất thích ạ
6 Cấu trúc đề tài
Đề tài có nội dung gồm 3 phần
Chương 1: Những tiền đề lý luận và thực tiễn của việc ứng dụng CNTT trongdạy học Ngữ văn ở khối lớp 6 trường THCS Phú Ninh
Chương 2: Thực trạng ứng dụng CNTT trong dạy học Ngữ văn ở khối lớp 6trường THCS Phú Ninh
Chương 3: Giải pháp của việc ứng dụng CNTT trong dạy học Ngữ văn ở khốilớp 6 trường THCS Phú Ninh
7 Đóng góp của đề tài
Thông qua việc nghiên cứu tìm hiểu chúng tôi mong rằng đề tài của chúng tôi sẽgóp phần đổi mới nhận thức trong việc nâng cao chất lượng dạy và học Ngữ vănkhối lớp 6 trường THCS Phú Ninh nhằm đáp ứng nhu cầu đổi mới PPDH hiệnnay
Mặt khác đề tài sẽ giúp ich cho việc giảng dạy của giáo viên và hoạt động họctập của học sinh theo chiều hướng tích cực, chủ động, sáng tạo trong việc chiếmlĩnh tri thức Đề tài sẽ là nguồn tài liệu thàm khảo cho giáo viên thấy được sựcần thiết của việc “Ứng dụng CNTT trong dạy học nói chung và bộ môn Ngữvăn khối lớp 6 trường THCS Phú Ninh nói riêng”
Trang 7NỘI DUNG CHƯƠNG 1 NHỮNG TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC NGỮ
VĂN KHỐI LỚP 6 Ở TRƯỜNG THCS PHÚ NINH
1.1 Những tiền đề lý luận và thực tiễn
1.1.1 Những tiền đề lý luận
1.1.1.1 Sự đổi mới chương trình giáo dục phổ thông
Căn cứ pháp lý của việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông :
- Chương trình giáo dục phổ thông thể hiện mục tiêu giáo dục, quy định chuẩnkiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục phổ thông; phươngpháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục, cách thức đánh giá kết quả giáodục với các môn học mỗi lớp và mỗi cấp học của giáo dục phổ thông ( Điều 29
- mục II - Luật giáo dục - 2005)
- Xây dựng nội dung chương trình, phương pháp giáo dục, sách giáo khoa phổthông mới nhằm nâng cao chất lượng giáo dục thế hệ trẻ, đáp ứng yêu cầu pháttriển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, phù hợpvới thực tiễn và truyền thống Việt Nam, tiếp cận trình độ giáo dục phổ thông ởcác nước phát triển trong khu vực và trên thế giới ( Nghị quyết số 40/2000/QH10)
Căn cứ khoa học và thực tiễn của đổi mới giáo dục:
- Do yêu cầu của sự phát triển kinh tế xã hội đối với việc đào tạo nguồn nhânlực trong giai đoạn mới
- Do sự phát triển nhanh, mạnh với tốc độ mang tính bùng nổ của khoa học côngnghệ
Trang 8- Đối tượng giáo dục cũng có sự thay đổi do những tác động rất lớn của xã hội.
- Do xu thế hội nhập trên thế giới hiện nay
1.1.1.2 Các nhân tố cấu tạo nên quá trình dạy học
Hiện nay các trường nói chung và trường THCS Phú Ninh nói riêng đã vàđang trang bị các phương tiện hiện đại giúp giáo viên áp dụng CNTT vào giảngdạy nhưng có không ít giáo viên còn lúng túng khi áp dụng giáo án điện tử vàotrong soạn, giảng
Để hiệu quả giáo dục được phát triển toàn diện, kết quả học tập của họcsinh được nâng cao, vai trò của người thầy được chú trọng hơn, thông qua việc
Mục đích - nhiệm vụ Phương pháp – phương tiện
Giáo viên
Nội dung dạy học
Học sinh
Kết quả
Trang 9nghiên cứu toàn bộ chương trình sách giáo khoa và sách giáo viên Ngữ Văn nóichung và Ngữ văn ở khối lớp 6 nói riêng.
1.2 Khái niệm PPDH
- Phương pháp nói chung là con đường, là cách thức để đạt mục đích đã đề ra
- Phương pháp dạy học là cách thức hoạt động và giao lưu của thầy gây nên những hoạt dồng và giao lưu cần thiết của trò nhằm đạt được mục tiêu dạy học
1.2.1 Đổi mới PPDH đồng nghĩa với việc đổi mới cách dạy và học
1.2.1.1 Đổi mới phương pháp dạy học phải đổi mới trước hết ở ý thức,
nhận thức
Trong một thời gian dài, người thầy được trang bị phương pháp để truyền thụ trithức cho học sinh theo quan hệ một chiều: Thầy truyền đạt, trò tiếp nhận, thậmchí ở một số bộ môn do thúc bách của quỹ thời gian với dung lượng kiến thứctrong một giờ (đặc biệt ở các môn có liên quan đến thi HSG, thi ĐH) dẫn đếnviệc thầy đọc trò chép …
Giáo viên nỗ lực đi tìm bất kỳ một điều tốt đẹp nào của môn học để chất đầy vàođầu học sinh theo phạm vi và khả năng của mình Còn học sinh là kẻ thụ động,ngoan ngoãn chỉ cố gắng nhớ được nhiều điều thầy đã truyền đạt Như vậy họctrò đòi hỏi phải có một trí nhớ tốt, ngoài ra còn phải chú ý lựa sao cho quanđiểm của chính mình phù hợp với quan điểm của thầy cô giáo nữa Học tròkhông có và không dám có ý kiến quan điểm riêng
Để học sinh chủ động, tích cực, sáng tạo trong học tập thì tất yếu phải đổimới phương pháp dạy học Nhưng không phải nói đổi mới là đổi mới đượcngay Đổi mới PPDH phải là một quá trình bền bỉ và thường xuyên Người làmquản lý giáo dục phải giúp cho GV và HS luôn ý thức được cần phải thay đổitrong bất cứ hoàn cảnh nào (hoạt động trên lớp, hoạt động ngoài giờ); trong bất
cứ việc gì liên quan đến giảng dạy học tập (chuẩn bị bài, giảng bài, ra đề kiểmtra, hướng dẫn HS tự học, cách giao tiếp…)
Trang 10Ở các nhà trường, từ lãnh đạo đến các tổ chuyên môn và bản thân mỗigiáo viên cần phải xác định đổi mới phương pháp dạy học là một nhiệm vụ trọngtâm, là giải pháp then chốt để nâng cao chất lượng giáo dục.
Khi đã có ý thức về đổi mới thì bản thân các thầy cô giáo và học sinh sẽ tự điềuchỉnh mọi hành vi của mình, hỗ trợ nhau để cùng hướng tới mục tiêu chung
1.2.1.2 Đổi mới phương pháp dạy học cần phải đảm bảo có cơ sở và tính
kế thừa
Đổi mới phương pháp giảng dạy không phải là tạo ra một phương phápkhác với cái cũ, loại trừ cái cũ Sự phát triển hay một cuộc cách mạng trongkhoa học giáo dục thực chất là tạo được một tiền đề để cho những nhân tố tíchcực của cái cũ vẫn có cơ hội phát triển mạnh mẽ hơn Đồng thời tạo ra cái mớitiến bộ hơn, tốt hơn cái đã có Nói như vậy, không phải chúng ta dung hoà đểlàm hơi khác hay tương tự cái đã có mà phải có cái mới thực sự để đáp ứng đượcđòi hỏi của sự tiến bộ Khi đổi mới phương pháp dạy học cần tránh xu hướnggiản đơn hay cực đoan Có thầy cô thay việc đọc, chép bằng việc hỏi quá nhiều
mà phần nhiều các câu hỏi ấy lại không tạo được tình huống có vấn đề Có thể
họ cho rằng sử dụng phương pháp dạy học mới là việc thay đọc chép bằng việchỏi đáp hỏi đáp càng nhiều thì càng đổi mới; cũng có khi giáo viên lạm dụngtrình chiếu Power Point và coi đó là đổi mới và hiện đại
Nếu phương pháp dạy học cũ có một ưu điểm lớn là phát huy trí nhớ, tậpcho học sinh làm theo một điều nào đó, thì phương pháp mới vẫn cần những ưuđiểm trên Song cái khác căn bản ở đây là phương pháp giảng dạy cũ đã tạo chohọc sinh bị động trong tiếp nhận Còn phương pháp giảng dạy mới lại phát huytính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh
Đối với môn Ngữ văn, không thể bỏ qua hoạt động giảng, bình (truyềnthống) nhưng cần kết hợp giữa giảng, bình của GV với việc hướng dẫn, khơi gợi
Trang 11để học sinh tự giảng, bình, có nghĩa là để học sinh tự cảm thụ và tự diễn đạtđược những cảm xúc của mình bằng lời.
1.2.1.3 Đổi mới phương pháp dạy học phải phát huy được tính tích cực của học sinh thông qua tác động của giáo viên.
Khi nói đến tính tích cực trong dạy học là chúng ta mong muốn hành độngđược nảy sinh từ phía học sinh, được biểu hiện ra bên ngoài hay bên trong củahoạt động nhận thức Nhờ phát huy được tính tích cực mà học sinh trở thành các
cá nhân trong một tập thể mang khát vọng được khám phá, hiểu biết
1.2.2 CNTT là con đường dẫn đến đổi mới
Thế kỉ XXI, công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ và đi vào mọi lĩnhvực của đời sống Đặc biệt, trong quá trình đổi mới PPGD ở nhà trường phổthông, việc áp dụng công nghệ thông tin góp phần hỗ trợ việc đổi mới PPDHtheo hướng tích cực hóa quá trình dạy học.Việc vận dụng CNTT trong giảng dạyNgữ văn góp phần đổi mới PPGD theo hướng hiện đại hóa, phù hợp với xu thếmới của thời đại vì CNTT góp phần hiện đại hóa phương tiện, thiết bị dạy học,góp phần đổi mới phương pháp Có thể nói, việc vận dụng CNTT vào giảng dạyNgữ văn nói riêng và dạy học nói chung đã thu được nhiều kết quả và tạo nên sựchuyển biến trong dạy học, nhất là về mặt phương pháp
Vận dụng CNTT vào giảng dạy Ngữ văn bằng hình thức vận dụng phần mềmPowerpoint để thiết kế giáo án điện tử là hình thức vận dụng CNTT dễ dàngnhất, khả thi nhất mà mang lại hiệu quả không nhỏ “Ứng dụng CNTT trong dạyhọc sẽ làm cho chương trình đào tạo trở nên hấp dẫn hơn, gần hơn với yêu cầudạy – học ở nhà trường phổ thông , đáp ứng được yêu cầu đổi mới của ngànhgiáo dục, tiếp cận được với xu thế dạy – học hiện đại của thế kỉ XXI Nó khôngchỉ góp phần thúc đẩy sự tích hợp nhuần nhuyễn giữa Ngữ và Văn mà tạo ranhiều cơ hội để môn Ngữ văn tích hợp được với các môn học khác trong nhàtrường
Trang 121.3 Một số khái niệm
- IT_CNTT : Công nghệ thông tin, viết tắt CNTT, (tiếng Anh: InformationTechnology hay là IT) là ngành ứng dụng công nghệ quản lý và xử lý thông tin CNTT là ngành sử dụng máy tính và phần mềm máy tính để chuyển đổi, lưu trữ,bảo vệ, xử lý, truyền, và thu thập thông tin Người làm việc trong ngành nàythường được gọi là dân CNTT (IT specialist) hoặc cố vấn quy trình doanhnghiệp (Business Process Consultant)Ở Việt Nam:khái niệm CNTT được hiểu
và định nghĩa trong nghị quyết Chính phủ 49/CP kí ngày 04/08/1993 : Côngnghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công
cụ kĩ thuật hiện đại - chủ yếu là kĩ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chứckhai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú
và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội
- ICT_CNTT và truyền thông : ICT là chữ viết tắt của Information andCommunication Technologies (Công nghệ thông tin và truyền thông), được địnhnghĩa cho mục đích của bài viết này là một “tập hợp đa dạng các công cụ và tàinguyên công nghệ được sử dụng để giao tiếp, tạo ra, phổ biến, lưu giữ và quản
lý thông tin.” Các công nghệ này bao gồm máy tính, Internet, công nghệ truyềnthông (đài và vô tuyến), và điện thoại
Trong những năm gần đây, người ta thường đặc biệt quan tâm đến việc làm thểnào để khai thác một cách hiệu quả nhất máy tính và Internet nhằm nâng caochất lượng của giáo dục ở mọi cấp độ, mọi cơ sở đào tạo và hình thức đào tạo(chính thức và không chính thức)
1.4 Những yêu cầu của việc đổi mới PPDH và ứng dụng CNTT và trong dạy học
Trang 131.4.1 Đổi mới PPDH, ứng dụng CNTT vào trong dạy học không còn là một vấn đề xa lạ mà nó đang nóng bỏng nhất hiện nay
Vài năm gần đây, sự phát triển của CNTT đã tác động đến nhiều lĩnh vực hoạtđộng của con người, tạo nên những thay đổi to lớn trong xã hội, trong đó có nhàtrường Ở nước ta, việc ứng dụng CNTT vào dạy và học, đặc biệt là việc sửdụng BGĐT trong dạy và học ngày càng trở nên phổ biến Điều này thể hiện rõ
xu thế tất yếu của công nghệ dạy học hiện đại trước yêu cầu cấp thiết đổi mớiphương pháp dạy học
Chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2010 đã xác định phải: "Hiện đại hoá trang thiết bị giảng dạy và học tập, phòng thí nghiệm, cơ sở thực hành Nhanh chóng áp dụng CNTT vào giảng dạy để đổi mới phương pháp giáo dục và quản lí".
1.4.2 Đổi mới PPDH, ứng dụng CNTT vào trong dạy học là không thể thiếu cần được phát huy một cách tích cực
CNTT với tư cách là một phương tiện hỗ trợ cho việc dạy học đang chứng tỏnhững ưu thế và hiệu quả trong quá trình dạy học nói chung và đối với bộ mônNgữ văn nói riêng
Ứng dụng của CNTT một giải pháp hỗ trợ đắc lực cho việc đổi mới phươngpháp giảng dạy và học tập của ngành GD- ĐT Nghị quyết hội nghị Trung ươngĐảng Cộng sản khoá VIII đã chỉ ra một trong những nhiệm vụ quan trọng củangành GD - ĐT là phải “ Đổi mới mạnh mẽ phương pháp GD - ĐT, khắc phụclối truyền thụ một chiều, rèn luyện thói quen, nề nếp tư duy sáng tạo của ngườihọc.Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vàoquá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu …”Muốn giờ học đạt kết quả tốt thì chính người GV phải chuẩn bị trước giờ lênlớp Chính vì vậy, vấn đề đặt ra là người GV phải biết lựa chọn phương pháp
Trang 14phù hợp cùng với việc ứng dụng CNTT để hướng dẫn tổ chức và điều khiển họcsinh phát huy hết năng lực trong quá trình tìm kiếm tri thức.
Thấy được sự cần thiết của ứng dụng CNTT như thế đòi hỏi chúng ta là nhữngngười giáo viên cần tích cực rèn luyện và nâng cao nhận thức về CNTT và ứngdụng CNTT và trong dạy học
1.5 Tính cấp thiết của đề tài
Tuy đây là một đề tài không còn mới nữa nhưng qua đề tài này chúng tôi đã nêulên thực trạng dạy và học bộ môn Ngữ văn ở khối lớp 6 trường THCS Phú Ninh,thông qua đó đánh giá và nhầm đưa ra giải pháp kịp thời giúp cải thiện tình hìnhhọc tập bộ môn văn cho các em học sinh nói chung và các em học sinh trườngTHCS Phú Ninh nói riêng
CHƯƠNG 2
Trang 15THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG CNTT TRONG DẠY HỌC NGỮ
VĂN KHỐI LỚP 6 Ở TRƯỜNG THCS PHÚ NINH
2.1 Tình hình sử dụng bài giảng điện tử vào tiết dạy của giáo viên
bô môn văn khối lớp 6 trường THCS Phú Ninh.
Là một trường học vùng sâu, vùng xa bắt đầu từ năm học 2009-2010, khi đượcnâng cấp lên nhà trường có 30 lớp với 1200 học sinh Trong đó gần 50% họcsinh là con em các gia đình có thu nhập kinh tế đặc biệt khó khăn của hai xã PhúNinh và An Long gộp chung trường Chính vì thế mà điều kiện được tiếp xúcvới CNTT của đa số các em học sinh là rất hạn chế
2.1.1 Thuận lợi
- Về cơ sở vật chất : các phương tiện cần thiết cho việc sử dụng bài giảng điện
tử trong nhà trường (máy tính, máy chiếu, mạng internet) đã được các cấp quản
lý trang bị, có thể đáp ứng phần nào yêu cầu của giáo viên
- Về giáo viên : Nhiều người có máy vi tính cá nhân, phần lớn có trình độ sửdụng máy vi tính về một số phần mềm cần thiết, hầu hết các tổ bộ môn đều cómột số giáo viên rất tích cực soạn, giảng các bài giảng điện tử
- Về nguồn tư liệu : Các giáo viên có điều kiện sưu tập được khá đầy đủ các tưliệu phục vụ cho việc soạn bài giảng điện tử
- Về các cấp quản lý giáo dục : đã có sự quan tâm thiết thực, sự chỉ đạo cụ thể
2.1.2 Khó khăn
- Việc sử dụng bài giảng điện tử chưa đồng bộ giữa các giáo viên ; vẫn còn một
số cá nhân chưa thực sự quan tâm đến hoạt động này
- Chưa được Sở, Phòng GD - ĐT định hướng, hướng dẫn sâu sát về bộ môn Dovậy, nhiều bài giảng điện tử chưa đảm bảo đặc trưng bộ môn, chưa phát huyđược hiệu quả
Trang 16- Chưa có chỉ tiêu đánh giá, xếp loại một bài giảng điện tử và một tiết dạy có sửdụng bài giảng điện tử, vì thế có sự bất đồng trong việc nhận xét, đáng giá, góp
ý của thanh tra viên, tổ trưởng, ban giám hiệu …
- Đa phần các giáo viên ở độ tuổi cao nên khả năng tiếp thu cũng như nắm bắtCNTT còn yếu
- Nhiều giáo viên phải lo cho gia đình nên không có nhiều thời gian đầu tư chotiết dạy bằng giáo án điện tử
- Cách dạy và học của giáo viên và học sinh trong một tiết học có bài giảng điện
tử chưa hợp lý, học sinh không biết ghi gì trong tiết học
2.2 Khả năng tiếp cận CNTT của học sinh
Do trường nằm trong vùng sâu vùng xa, kinh tế gia đình của các em còn nhiềukhó khăn nên khả năng trang bị máy tính tại nhà của các em còn hạn chế Mộtphần các em chưa được giáo dục về tầm quan trọng và cần thiết của CNTT nênkhi có dịp lên mạng các em chỉ biết chơi game, nghe nhạc…
2.3 Khảo sát thực tiến ứng dụng CNTT trong dạy học ngữ văn
khối lớp 6 trường THCS Phú Ninh
2.3.1 Mục đích, yêu cầu khảo sát
Khảo sát thực trạng Ứng dụng CNTT trong dạy học Ngữ văn ở khối lớp 6trường THCS Phú Ninh nhằm nhận ra những ưu điểm, nhược điểm cũng nhưnhững nguyên nhân của những ưu điểm, nhược điểm trong thực tế ứng dụngCNTT trong dạy học Ngữ văn ở khối lớp 6 trường THCS Phú Ninh Từ đó đưa
ra biện pháp khắc phục nhằm giúp hoạt động dạy và học trong bộ môn Văn đạthiệu quả thiết thực hơn
2.3.2 Địa bàn và đối tượng khảo sát
Chúng tôi khảo sát ở khối lớp 6 trường THCS Phú Ninh, đối tượng là giáo viên