Bêncạnh đó tự học còn góp phần nâng cao hoạt động trí tuệ của sinh viên trong việc tiếpthu và hiểu tri thức mới, rèn luyện cho sinh viên có cách độc lập suy nghĩ, độc lập giảiquyết các v
Trang 1MỤC LỤC 1
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 2
DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH 3
3
NỘI DUNG 4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 4
1.1 Đổi mới phương pháp dạy và học hoá học 4
1.1.1 Đổi mới phương pháp dạy học – yêu cầu cấp bách của thời đại 4
1.1.2 Định hướng đổi mới phương pháp dạy học Hoá học hiện nay 4
1.1.3 Vai trò của CNTT trong giảng dạy nói chung và giảng dạy Hoá học 5
1.1.4 Tình hình sử dụng máy tính và khai thác các phần mềm để dạy học ở nước ta hiện nay.6 1.1.4.1 Tình hình sử dụng máy tính ở nước ta hiện nay 6
1.1.4.2 Khai thác sử dụng một số phần mềm để dạy học môn hóa học 7
1.1.5 Tự học và năng lực tự học của sinh viên với yêu cầu đào tạo theo tín chỉ 8
1.1.5.1 Tự học 8
1.1.5.2 Năng lực tự học 10
1.2 Cơ sở lý thuyết về e-book 13
1.2.1 Giới thiệu e-book 13
1.2.2 Mục đích thiết kế E-book 14
1.2.3 Các yêu cầu thiết kế e-book 14
1.2.4 Các phần mềm sử dụng thiết kế E-book 15
1.2.4.1 Phần mềm hệ thống Windows 15
1.2.4.2 Phần mềm trình diễn Power Point 15
1.2.4.3 Phần mềm paint 15
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG E-BOOK HỌC PHẦN HÓA HỌC HỮU CƠ VỀ HIDROCACBON 16
2.1 Giới thiệu chương trình học phần hóa hữu cơ về hidrocacbon 16
2.1.1 Quan điểm xây dựng chương trình 16
2.1.2 Cấu trúc của học phần hóa hữu cơ về hidrocacbon 16
2.1.3 Mục tiêu của học phần hóa hữu cơ - chươnghidrocacbon 16
2.1.4 Nội dung học phần hóa học hữu cơ - chương hidrocacbon 16
2.2 Xây dựng e-book học phần hóa học hữu cơ – chương hidrocacbon nhằm hỗ trợ tự học cho sinh viên 19
2.2.1 Xây dựng e-book học phần hóa học hữu cơ -chương hidrocacbon nhằm hỗ trợ tự học cho sinh viên 19
2.2.1.1 Quy trình xây dựng e-book 19
2.2.1.2 Lựa chọn phần mềm thiết kế e-book 19
2.2.1.3 Cấu trúc của E-book 22
2.2.2 Nội dung e-book phần hóa học hữu cơ – chương hiđrocacbon ở chương trình đại học 23 2.2.2.1 Giới thiệu e-book học phần hóa hữu cơ – chương hiđrocacbon 23
2.2.2.2 Nội dung E-book học phần hóa học hữu cơ - chương hiđrocacbon 25
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 31
1 Kết luận chung 31
TÀI LIỆU THAM KHẢO 33
Trang 2BGD & ĐT: Bộ giáo dục và đào tạo
CNTT: Công nghệ thông tin
CNH – HĐH: Công nghiệp hóa hiện đại hóaGV: Giảng viên
ICT: Information Communicate TechnologyNXB: Nhà xuất bản
PPDH: Phương pháp dạy học
PT: Phổ thông
SV: Sinh viên
Trang 3STT HÌNH ẢNH TRANG
6 Hình 2.6 : Khối lượng riêng và tính tan của ankan 32
13 Hình 2.13 : Các dạng bài tập chương 3: hiđrocacbon thơm 36
14 Hình 2.14 : Liên kết web http:// baigiang.violet.vn 37
15 Hình 2.15 : Xem thêm: Công dụng đa dạng của đất đèn 37
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thế kỉ XXI là thế kỉ đi vào văn minh trí tuệ với các xu thế đã rõ ràng, như sựphát triển của công nghệ cao, đặc biệt là công nghệ thông tin và truyền thông, kinh tếtri thức, xã hội học tập… Con người muốn tồn tại và phát triển trong xã hội thì phảihọc và học suốt đời, theo hướng 4 trụ cột của giáo dục (là học để biết, học để làm, học
để cùng sống với nhau, học để làm người)
Xã hội ngày càng phát triển với sự bùng nổ của thông tin, khoa học, kĩ thuật vàcông nghệ, lượng kiến thức cần cập nhật ngày càng nhiều vì thế tự học đang trở thànhchiếc chìa khóa vàng trong việc chiếm lĩnh kho tàng tri thức nhân loại và là con đườngtạo ra tri thức bền vững cho mỗi người Việc tự học của sinh viên giữ vai trò rất quantrọng, nó là nhân tố trực tiếp nâng cao chất lượng đào tạo ở các trường đại học Bêncạnh đó tự học còn góp phần nâng cao hoạt động trí tuệ của sinh viên trong việc tiếpthu và hiểu tri thức mới, rèn luyện cho sinh viên có cách độc lập suy nghĩ, độc lập giảiquyết các vấn đề khó khăn trong quá trình học, giúp sinh viên tự tin hơn trong việc lựachọn cuộc sống của mình, và thúc đẩy sinh viên lòng ham học, ham hiểu biết, vươn tớiđỉnh cao của khoa học, sống có hoài bão, có ước mơ
Nắm bắt kịp thời xu thế tất yếu của thời đại, Đảng và Nhà nước ta đã đặc biệtquan tâm đến vấn đề ứng dụng công nghệ thông tin nhằm thúc đẩy quá trình đổi mớiphương pháp dạy học, góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục và đào tạo Chỉ thị số29/2001/CT-BGD&ĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ngày 30/7/2001 về việctăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành giáo dục
giai đọan 2001-2005 được cụ thể hóa một trong bốn mục tiêu: “Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác giáo dục và đào tạo ở các cấp học, bậc học, ngành học theo hướng sử dụng công nghệ thông tin như là một công cụ hỗ trợ đắc lực nhất cho đổi mới phương pháp giáng dạy, học tập ở tất cả các môn học”.
Hiện nay, học chế tín chỉ là hình thức đào tạo được xem là tiên tiến trên thế giới
vì mục đích đào tạo của nó là hướng vào sinh viên, coi người học là trung tâm trongquá trình dạy - học Đào tạo theo tín chỉ số tiết lí thuyết bị giảm đi khá nhiều vì thế mà
SV phải tự học tự nghiên cứu nhiều hơn Tuy nhiên nguồn tài liệu, cơ sở vật chất đểhọc tập, tiếp cận CNTT của SV chưa được phong phú nên việc tự học của SV gặp khánhiều khó khăn, ảnh hưởng đến hiệu quả học tập
Trang 5Để nắm bắt toàn diện những kiến thức chuyên môn ở bậc Đại học đòi hỏi sinhviên phải có nhiều nỗ lực trong hoạt động học tập, đặc biệt phải dành nhiều thời giancho việc tự học và tự nghiên cứu và cần có một phương pháp học đúng đắn, phù hợp
và hiệu quả Trong đó phương pháp tự học đóng một vai trò vô cũng quan trọng Làmột sinh viên đang học tập tại trường Đại học Hải Phòng, tôi rất quan tâm đến vấn đềứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong học tập nhằm nâng cao năng lực
tự học cho sinh viên Chính vì vậy, tôi chọn đề tài: “Xây dựng e-Book học phần hóa học hữu cơ – chương hiđrocacbon nhằm hỗ trợ tự học cho sinh viên ”.
2 Mục đích nghiên cứu
Ứng dụng công nghệ thông tin để xây dựng e- book học phần hóa học hữu cơ –chương hiđrocacbon nhằm hỗ trợ cho hoạt động tự học, tự nghiên cứu học phần hóahọc hữu cơ – chương hiđrocacbon, góp phần nâng cao chất lượng học tập của sinhviên Giáo viên có thể sử dụng e-book như là một tài liệu tham khảo để dạy học, gópphần đổi mới phương pháp dạy và học
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về năng lực tự học của sinh viên, xu hướng đổi mớiphương pháp dạy học đại học và tình hình ứng dụng công nghệ thông tin và truyềnthông trong việc đổi mới phương pháp dạy học hóa học vô cơ theo đào tạo tín chỉ
- Nghiên cứu cấu trúc nội dung chương trình hóa học hữu cơ ở trường đại học
và yêu cầu đào tạo theo tín chỉ
- Nghiên cứu xây dựng e-book học phần hóa học hữu cơ – chương hiđrocacbon
ở chương trình đại học để hỗ trợ tự học cho sinh viên
- Xây dựng hệ thống câu hỏi ôn tập cuối chương của học phần hóa hữu cơ –chương hiđrocacbon giúp cho sinh viên tự kiểm tra đánh giá
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình học tập học hóa học ở trường đại học Hải Phòng
4.2 Đối tượng nghiên cứu
- Nội dung, cấu trúc học phần hóa học hữu cơ – chương hiđrocacbon ở trườngĐại học Hải Phòng
- Tăng cường năng lực tự học cho SV thông qua các bài học dưới dạng e-book
Trang 65 Giả thuyết nghiên cứu khoa học
Sinh viên trường Đại học Hải Phòng có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọngcủa việc tự học trong phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ nhưng chưa có kĩ năng,phương pháp tự học hiệu quả Nếu áp dụng các phương pháp nhằm nâng cao kĩ năng
tự học, sinh viên có thể tích cực, chủ động tự học hiệu quả và đạt kết quả cao
Nếu việc tổ chức dạy – học bằng e-book tốt sẽ tăng cường năng lực tự học, tựnghiên cứu cho SV góp phần nâng cao chất lượng dạy và học, đây chính là xu hướngmới cho việc dạy và học hoá học ở truờng Đại học trong giai đoạn hiện nay
6 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về quá trình dạy và học đại học, năng lực tự học củasinh viên, xu hướng đổi mới phương pháp dạy học đại học với sự trợ giúp củaCNTT&TT, đổi mới phương pháp dạy học hóa học hữu cơ theo đào tạo tín chỉ
- Nghiên cứu chương trình hóa học hữu cơ, các giáo trình, tài liệu hướng dẫn,tham khảo của học phần này
- Phương pháp chuyên gia: Trao đổi với các chuyên gia tin học về việc ứngdụng CNTT&TT và những phần mềm để thiết kế e-book Lựa chọn phần mềm
7 Điểm mới của đề tài
Xây dựng e-book học phần hóa học hữu cơ - chương hiđrocacbon cho sinh viênngành hóa học và phương pháp sử dụng để hỗ trợ tự học và tự kiểm tra, đánh giá củasinh viên
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung của nghiên cứu khoahọc gồm 2 chương:
Chương 1: Tổng quan về cơ sở khoa học của đề tài.
Chương 2: Nội dung e-book học phần hóa học hữu cơ – chương hiđrocacbon
Trang 7NỘI DUNG CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Đổi mới phương pháp dạy và học hoá học
1.1.1 Đổi mới phương pháp dạy học – yêu cầu cấp bách của thời đại
Giáo dục thế kỉ 21 đang đứng trước sự phát triển nhanh chóng của khoa học kĩthuật, đặc biệt là CNTT Trên thế giới sự tương tác ở mức độ cao của các hệ thốngkinh tế, chính trị, xã hội và quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra
Đất nước ta đang bước vào giai đoạn CNH, HĐH với mục tiêu đến năm 2020Việt Nam sẽ từ một nước nông nghiệp về cơ bản trở thành một nước công nghiệp, hộinhập với cộng đồng quốc tế Nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc CNH, HĐH
và hội nhập quốc tế là con người, là nguồn nhân lực Việt Nam được phát triển về sốlượng và chất lượng trên cơ sở mặt bằng dân trí được nâng cao, phẩm chất và năng lựcđược hình thành trên một nền tảng kiến thức, kĩ năng đủ và chắc chắn Xã hội đòi hỏingười có học vấn hiện đại không chỉ có khả năng lấy ra từ trí nhớ các tri thức dướidạng có sẵn, đã lĩnh hội ở nhà trường mà còn phải có năng lực chiếm lĩnh, sử dụng cáctri thức mới một cách độc lập; khả năng đánh giá các sự kiện, hiện tượng mới, các tưtưởng một cách thông minh, sáng suốt trong cuộc sống, trong lao động và trong quan
hệ với mọi nguời Chính vì thế một trong những yêu cầu cấp bách hiện nay là phải tậptrung vào việc đổi mới phương pháp dạy học
Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX đã khẳng định “Đổi mới phương pháp dạy
và học, phát huy tư duy sáng tạo và năng lực tự đào tạo của người học, coi trọng thực hành, thực nghiệm, làm chủ kiến thức, tránh nhồi nhét, học vẹt, học chay, đổi mới và thực hiện nghiêm minh chế độ thi cử…” Có thể nói mục tiêu cốt lõi của đổi mới dạy
và học là hướng tới họat động học tâp chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động
1.1.2 Định hướng đổi mới phương pháp dạy học Hoá học hiện nay
Định hướng đổi mới phương pháp dạy học dựa trên cơ sở những nghiên cứutâm lí về khả năng lưu giữ thông tin của học sinh Khả năng lưu giữ thông tin bằng đọcchỉ đạt 5%, bằng nghe chỉ đạt 15%, bằng nhìn đạt được 20%, vừa nghe vừa nhìn đạt25%, bằng thảo luận đạt được 55%, thu nhận bằng kinh nghiệm hành động đạt được75%, khi dạy lại cho người khác có thể đạt 90%
Trang 8Quan điểm về phương pháp dạy học hiện nay là cần chuyển từ phương phápdạy học “lấy GV làm trung tâm” sang “lấy HS làm trung tâm” Coi HS là chủ thể còn
GV là tác nhân của quá trình dạy học
- Học để không chỉ nắm kiến thức mà cả phương pháp giành lấy kiến thức
- Học cách học và cách tự đánh giá
- Bồi dưỡng năng lực tự học
- Học lấy việc áp dụng kiến thức và bồi dưỡng thái độ làm trung tâm
- Học hướng về những mục tiêu và những yêu cầu có thể thực hiện được
- Học để phát huy bản thân và để tham gia vào sự phát triển xã hội
- Học có phân hóa và với cường độ cao
- Sử dụng các phương tiện kĩ thuật hiện đại
- Tiến tới công nghệ hóa việc dạy học
1.1.3 Vai trò của CNTT trong giảng dạy nói chung và giảng dạy Hoá học
Ứng dụng của CNTT đã thực sự trao quyền chủ động học tập cho SV và cũnglàm thay đổi vai trò của người thầy trong giáo dục Từ vai trò là nhân tố quan trọng,quyết định trong kiểu dạy học tập trung vào thầy cô, thì nay các thầy cô phải chuyểnsang giữ vai trò nhà điều phối theo kiểu dạy học hướng tập trung vào HS (dạy học lấyhọc sinh làm trung tâm) Kiểu dạy học hướng tập trung vào SV và hoạt động hoángười học có thể thực hiện được một cách tốt hơn với sự trợ giúp của máy tính vàmạng Internet Với các chương trình dạy học đa môi trường (mutilmedia) và đượcchuẩn bị chu đáo có thể truy cập được nhờ các phương tiện siêu môi trường(hypermedia) giúp cho việc tự học của SV trở nên thuận tiện và dễ dàng hơn bao giờhết
Đối với ngành Hoá học, việc ứng dụng CNTT trong giảng dạy hoá học sẽ tạo ramột bước chuyển cơ bản trong quá trình đổi mới nội dung, phương pháp dạy học Cụthể hơn đó là:
- CNTT là một công cụ đắc lực hỗ trợ cho việc xây dựng các kiến thức mới
- CNTT tạo môi trường để khám phá kiến thức nhằm hỗ trợ cho quá trình học tập
- CNTT tạo môi trường để hỗ trợ học tập qua thực hành, qua cộng đồng và quaphản ánh
- CNTT giúp cho việc đánh giá định tính và định lượng hoá học chính xác, côngbằng hơn
Trang 9Để phục vụ cho việc đổi mới phương pháp dạy học, giáo viên có thể theo tuỳtừng bài giảng, từng mảng kiến thức hoặc tuỳ theo từng đối tượng học sinh mà vậndụng một cách linh hoạt, sáng tạo CNTT trong từng giờ, từng kiểu bài trên lớp Nhờcác công cụ đa phương tiện (multimedia) của máy tính như: văn bản (text), đồ hoạ(graphic), hình ảnh (image), âm thanh (sound), giáo viên sẽ xây dựng được bài họcsinh động, thu hút sự tập trung của SV, dễ dàng vận dụng các phương pháp sư phạm :phương pháp dạy học tình huống, phương pháp dạy học nêu vấn đề Qua đó tăng tínhtích cực chủ động của SV trong quá trình học tập.
Như vậy trong dạy học ngày nay, vai trò của người thầy dần thay đổi Nhờ sựtrợ giúp của CNTT, người thầy không giữ vai trò trung tâm mà chuyển sang vai trònhà điều khiển trong kiểu dạy học hướng tập trung vào học sinh Theo dự đoán trong
10 năm tới CNTT và phương pháp dạy học điện tử sẽ ảnh hưởng sâu sắc, thay đổi cácphương pháp dạy và học, vai trò và chức năng của thầy dạy cũng như người học
1.1.4 Tình hình sử dụng máy tính và khai thác các phần mềm để dạy học ở nước ta hiện nay
1.1.4.1 Tình hình sử dụng máy tính ở nước ta hiện nay
Trước đây, trong điều kiện hệ thống giáo dục của nước ta chưa thích nghi đượchoàn toàn với kỉ nguyên kinh tế tri thức Nghị quyết TW IV của Ban chấp hành TW
Đảng khoá VII đã nhấn mạnh: “Phải coi đầu tư cho giáo dục là một trong những chương trình của đầu tư phát triển, tạo điều kiện cho giáo dục đi trước một bước và phục vụ đắc lực cho sự nghiệp kinh tế - xã hội” Nhìn lại những năm vừa qua chúng ta
thấy nội dung giáo dục ít gắn liền với yêu cầu của cuộc sống hàng ngày, dạy học vẫnbằng phương pháp lạc hậu: thầy giảng – trò ghi, chưa cập nhật được những thành tựukhoa học tiên tiến trên thế giới Do đó, sản phẩm giáo dục – con người thông qua giáodục đào tạo thường thiếu năng động sáng tạo, còn nhiều bỡ ngỡ, lúng túng, thậm chíbất lực trước đòi hỏi của cuộc sống vốn rất đa dạng và luôn luôn biến đổi khôngngừng
Để hoà cùng với nhịp độ phát triển giáo dục chung của các nước trên thế giới,trong những năm 1990 trở lại đây, Bộ giáo dục và đào tạo đã có những cố gắng trongviệc tăng cường trang thiết bị, cung cấp thêm nhiều máy tính cho các trường phổthông, mở rộng và nâng cao chất lượng đào tạo sinh viên khoa Công nghệ thông tin,
Trang 10cử nhiều giáo viên đi học thêm tin học, khuyến khích các cán bộ nghiên cứu các phầnmềm dạy học.
Đối với bộ môn Hoá học, việc đổi mới PPDH, phương tiện, thiết bị dạy họcđang từng bước cải tiến Hầu hết các GV đã thấy được vai trò quan trọng của việc khaithác các phần mềm phục vụ cho quá trình dạy học để nâng cao chất lượng dạy học.Tuy nhiên, do trình độ tin học, ngọai ngữ của GV còn nhiều hạn chế, kinh phí đầu tưvào các phương tiện, thiết bị dạy học còn hạn hẹp nên việc khai thác các phần mềm vitính trong dạy học Hoá học bước đầu gặp rất nhiều khó khăn Tuy vậy, việc ứng dụngCNTT vào giảng dạy đã làm cho người học thấy hứng thú hơn, giờ học trở nên sôiđộng hơn, người học tiếp thu bài nhanh hơn và có cảm giác như tự mình đang tìm ranhững điều mới lạ ở thế giới xung quanh
1.1.4.2 Khai thác sử dụng một số phần mềm để dạy học môn hóa học
Đối với Hóa học, hiện nay trên thế giới khá nhiều đĩa CD – ROM về hóa họcphong phú Các phần mềm hóa học bao gồm 2 loại chủ yếu:
- Một là các chương trình tiện ích như ISIS Draw, ChemWin, ChemDraw,Chem3D,… được dùng để viết và vẽ các công thức hóa học; các chương trình tínhtoán hóa lượng tử như Mopac, Hyper Chem, Gaussian… chương trình Hyper Chemchủ yếu dùng để tính toán các tham số hóa lượng tử và trình diễn mô hình các phân tử.Phần mềm thí nghiệm MSS (Multimedia Science School) không những miêu tả cấutrúc nguyên tử, phân tử trong bảng hệ thống tuần hoàn Mendeleep mà còn miêu tảnhiều phản ứng hóa học mà trong điều kiện thường khó thực hiện được
- Hai là các đĩa CD về thí nghiệm hóa học (Cyber Chem), các mô hình, các câuhỏi trắc nghiệm tự kiểm tra (Quiz) Xu hướng chung của thế giới hiện nay là làm thếnào cho các phần mềm dễ sử dụng như dùng các đĩa CD âm nhạc, phim, phim hoạthọa, trò chơi điện tử, tất nhiên người sử dụng phải đọc và hiểu được tiếng Anh và biết
sử dụng máy tính ở mức độ tối thiểu nào đó
Phần mềm giảng dạy có thể được hiểu là các phần mềm dùng cho việc dạy vàhọc trên máy tính (có thể nối mạng LAN, WAN, và WWW), về hóa học nó bao gồmcác lĩnh vực sau:
- Sách điện tử là các đĩa CD hướng dẫn học một giáo trình hóa học có bài tập,thí nghiệm mô phỏng, tự kiểm tra đánh giá Có nơi gọi là gia sư
- Kiểm tra và thi trắc nghiệm trên máy theo đề riêng, tự đánh giá kết quả
Trang 11- Xử lý các số liệu thực nghiệm.
- Biểu diễn các mô hình để xây dựng các khái niệm trừu tượng
- Thực hiện các thí nghiệm mô phỏng trên máy
- Xem các thí nghiệm thực ghi trên đĩa
Sử dụng phần mềm trong giảng dạy là một công cụ không thể thiếu được trongcông nghệ giáo dục nhằm phát huy khả năng sáng tạo của học sinh Xu hướng học tập
và giảng dạy hiện đại đó đang được phổ biến ở các nước tiên tiến Tuy nhiên phầnmềm dạy học không thể thay thế được vai trò của người thầy, sách giáo khoa, các giáotrình, các công cụ dạy học khác Các thí nghiệm mô phỏng và các thí nghiệm ảo khôngthể thay thế được các thí nghiệm thực ở các phòng thí nghiệm dù là còn thô sơ Việc
sử dụng phần mềm trong giảng dạy là một hướng nghiên cứu còn mới mẻ, cần đượcquan tâm nghiên cứu để tiếp tục phát triển
1.1.5 Tự học và năng lực tự học của sinh viên với yêu cầu đào tạo theo tín chỉ
hệ thống tương tác của hoạt động dạy học Tự học phản ánh rõ nhất nhu cầu bức xúc
về học tập của người học, phản ánh tính tự giác và sự nỗ lực của người học, phản ánhnăng lực tổ chức và tự điều khiển của người học nhằm đạt được kết quả nhất địnhtrong hoàn cảnh nhất định với nội dung học tập nhất định.”
Tự học thể hiện bằng cách tự đọc tài liệu giáo khoa, sách báo các loại, ngheradio, truyền hình, nghe nói chuyện, báo cáo, tham quan bảo tàng, triễn lãm, xemphim, kịch, giao tiếp với những người có học, với các chuyên gia và những người hoạtđộng thực tiễn trong các lĩnh vực khác nhau Người tự học phải biết cách lựa chọn tàiliệu, tìm ra những điểm chính, điểm quan trọng trong các tài liệu đã đọc, đã nghe, phảibiết cách ghi chép những điều cần thiết, biết viết tóm tắt và làm đề cương, biết cách tracứu từ điển và sách tham khảo, biết cách làm việc trong thư viện… Đối với học sinh,
tự học còn thể hiện bằng cách tự làm các bài tập chuyên môn, các câu lạc bộ, các
Trang 12nhóm thực nghiệm và các hoạt động ngoại khóa khác Tự học đòi hỏi phải có tính độclập, tự chủ, tự giác và kiên trì cao
b, Các hình thức tự học
Tự học có thể diễn ra theo 3 hình thức:
- Tự học không có hướng dẫn: Người học tự tìm lấy tài liệu để đọc, hiểu, vận
dụng các kiến thức trong đó
- Tự học có hướng dẫn: Có giáo viên ở xa hướng dẫn người học bằng tài liệu
hoặc bằng các phương tiện thông tin khác
- Tự học có hướng dẫn trực tiếp: Có tài liệu và giáp mặt với giáo viên một số
tiết trong ngày, trong tuần, được thầy hướng dẫn giảng giải sau đó về nhà tự học
c, Tự học một yếu tố quan trọng để nâng cao chất lượng đào tạo đại học
Hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên là loại hình hoạt động rất cơ bản
do tính chất đặc thù của quá trình ở trường đại học Khả năng nghiên cứu khoa họccủa sinh viên phải chứa đựng cả mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu, tri thức
về phương pháp và đối tượng nghiên cứu và các yếu tố kỹ thuật khác của hoạt độngnghiên cứu Theo chúng tôi, khả năng nghiên cứu khoa học của sinh viên là năng lựcthực hiện có hiệu quả các hoạt động nghiên cứu khoa học trên cơ sở lựa chọn, tiếnhành hệ thống các thao tác trí tuệ và thực hành nghiên cứu khoa học phù hợp với điềukiện và hoàn cảnh nhất định nhằm đạt mục đích nghiên cứu khoa học đề ra
Khi coi hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên là một loại hình hoạt độnghọc tập đặc trưng ở đại học, hoạt động này có thể diễn ra theo các giai đoạn sau:
- Định hướng nghiên cứu
- Xây dựng kế hoạch nghiên cứu
- Thực hiện kế hoạch nghiên cứu
- Kiểm tra, đánh giá kết quả nghiên cứu
- Báo cáo kết quả nghiên cứu
Khả năng nghiên cứu khoa học có mối liên hệ chặt chẽ với kết quả nghiên cứu
và xa hơn nữa, đến kết quả học tập và khả năng tự học của sinh viên đại học Do vậy,khả năng nghiên cứu khoa học trở thành loại hình kỹ năng học tập rất cơ bản mà sinhviên cần chú trọng bồi dưỡng và rèn luyện
Trang 131.1.5.2 Năng lực tự học
a, Khái niệm năng lực tự học
Năng lực tự học của người học là một phương thức giáo dục cơ bản, trong đó,
nhà trường và xã hội tạo ra các nhân tố có tính quy định việc hình thành, phát triểnnhân cách, tính tự chủ, tự sáng tạo và tự chịu trách nhiệm của người học đối với mọihoạt động học tập, nhận thức khoa học, hoạt động sống của chính mình
Trong lịch sử giáo dục của dân tộc ta, năng lực tự đào tạo, tự học đã được xem
là cách học hữu hiệu nhất để nắm vững đạo lý thánh hiền và kinh văn của thánh nhân
Học trò phải biết Không thầy đố mày làm nên, nhưng phải Học một biết mười; trở thành hiền tài quốc gia đâu chỉ do sôi kinh nấu sử mà còn do biết quyền biến, kinh bang tế thế Ở bối cảnh hội nhập, toàn cầu hoá hiện nay, khi mà toàn cộng đồng nhân
loại, cũng như mỗi dân tộc và từng cá nhân phải tự quyết định vận mệnh của mìnhtrong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội, văn hoá, văn minh, thì yêu cầu xây dựngnhân cách, bồi dưỡng con người có năng lực tự đào tạo, phát huy nội lực càng trở nêntất yếu và cấp thiết Phương thức tự đào tạo trong nhà trường xã hội chủ nghĩa chính làmột cách đi có tính khoa học và thực tiễn trên con đường tạo ra một nguồn nhân lực có
khả năng chủ động, tích cực, sáng tạo, nhằm đáp ứng mục tiêu Dân giàu, nước mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Từ đó đem lại lợi ích cho dân tộc, cho nhân dân
trong công cuộc đổi mới và trong bối cảnh hội nhập quốc tế
Đảng ta đã chỉ ra định hướng phát triển giáo dục hiện nay là: Ưu tiên hàng đầucho việc nâng cao chất lượng dạy và học Đổi mới chương trình, nội dung, phương phápdạy và học, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và tăng cường cơ sở vật chất của nhà
trường, phát huy khả năng sáng tạo và độc lập suy nghĩ của học sinh, sinh viên Giáo
dục năng lực tự đào tạo của người học chính là nhằm thực hiện yêu cầu trên
b, Những biểu hiện của năng lực tự học của sinh viên
Một cách đơn giản, chúng ta có thể quan niệm biểu hiện khả năng tự học dựavào mức độ tham gia của người học trong các giai đoạn chính của việc tổ chức mộthọat động: Đề xuất ý tưởng – Thiết kế hoạt động – Tổ chức thi công – Rút kinhnghiệm
+ Đề xuất ý tưởng: Người học biết dựa vào chương trình, yêu cầu giáo dụctrong từng bài học từ đó đề xuất chủ đề, nội dung, hình thức hoạt động phù hợp vớitình hình, đặc điểm của lớp mình
Trang 14+ Thiết kế hoạt động: Người học biết lập kế hoạch, chương trình hoạt động vàchuẩn bị các điều kiện cho việc tổ chức thành công hoạt động (chuẩn bị về tổ chứcnhân sự, cơ sở vật chất, phương tiện, môi trường hoạt động…).
+ Tổ chức thi công: Người học biết tổ chức, điều hành hoạt động theo kế hoạch
đã chuẩn bị; biết động viên, phối hợp, hỗ trợ, giúp đỡ nhau trong hoạt động
+ Rút kinh nghiệm: Người học biết kiểm điểm, rút ra những bài học thành công,thất bại để tổ chức tốt các hoạt động tiếp theo
c, Những biện pháp để phát triển năng lực tự học cho sinh viên
♦ Tự tạo niềm vui, say mê và ham muốn trong học tập
Phải tự kích thích, động viên mình, hiểu rõ mục đích, động cơ học tập đúngđắn, phải xây dựng ước mơ và quyết tâm vươn tới, trên cơ sở đó tự cảm thấy hứng thúsay mê trong học tập Đây vừa là tiền đề vừa là sức mạnh tinh thần điều khiển, điềuchỉnh hoạt động học nhằm chiếm lĩnh tri thức khoa học, để thoả mãn nhu cầu nào đócủa mình Từ đó xác định rõ mụch đích và nhiệm vụ tự học (học để làm gì? học cáigì?)
♦ Lập kế hoạch học tập.
Để lập được kế hoạch học tập hiệu quả, người học phải tham khảo tổng quan
về mục tiêu mình cần thực hiện, sau đó xác định nội dung trọng tâm công việc cầnphải thực hiện như:
- Nội dung cần phải học (học cái gì?)
- Phương tiện học tập: sách vở, tạp chí, hình ảnh, mộ hình, dụng cụ, bài giảng,
tài liệu tham khảo cần thiết cho việc tự học…
- Trước hết phải tiếp nhận thông tin: Nghiên cứu lý luận (đọc sách), nghe giảng,thảo luận nhóm, đi tham quan, khảo sát, điều tra thực tế….(Những kỹ năng liên quanđến tự học như: đọc tài liệu, nghe giảng, ghi chép bài, ôn tập, thảo luận nhóm )
Trang 15- Xử lý thông tin: Tóm tắt; phân loại; phân tích - so sánh; trừu tượng hóa - kháiquát hóa; hệ thống hóa…
- Vận dụng các thông tin để giải quyết vấn đề: Chuẩn bị nội dung bài mới; làmbài tập; viết báo cáo; hệ thống hóa môn học…
♦ Tự kiểm tra thực hiện kế hoạch
Trong thực tế tuân theo đúng kế hoạch học tập đã định là một chuyện rất khó Vìvậy người học phải tự thường xuyên kiểm tra và đánh gia kết quả tự học của mình đểkịp thời điều chỉnh hành hành vi và hoạt động của bản thân cũng như điều chỉnh kếhoạch tự học cho phù hợp; đòi hỏi người học phải có một quyết tâm rất lớn, thật sựkiên trì và một thái độ thật nghiêm túc mối đạt được kết quả tốt
d, Yêu cầu của năng lực tự học của sinh viên theo đào tạo tín chỉ
Tiếp nhận được trọn vẹn, có chiều sâu những tri thức khoa học đã có, đang có và
tri thức dự báo của ngành học, tương ứng với sự phát triển như vũ bão của khoa họchiện đại (tuỳ theo yêu cầu của cấp học và định mức chuyên môn) Những tri thức khoahọc này là nền tảng của nhận thức khoa học, công cụ, tư liệu của sự biến đổi thành tri
thức khoa học mới; người học có thể nhào nặn lại, chuyển hoá chúng thành cáicủa mình, cho mình Ở đây, tri thức khoa học được xem là tiêu chí đầu tiên và cơ bản để
đánh giá ý thức tự đào tạo của người học, đánh giá hoạt động giáo dục tri thức, tạo tiền
đề quy định ý thức lao động nghề nghiệp sau này của người học Như C.Mác đã xácđịnh, tri thức là phương thức theo đó ý thức tồn tại và theo đó một cái gì đó nảy sinh rađối với ý thức Cho nên, một cái gì đó nảy sinh ra đối với ý thức chừng nào ý thức biết
cái đó Việc tự trang bị tri thức khoa học gồm tiếp nhận, xử lý, kiểm nghiệm, dung nạp
các loại tri thức cơ bản, tư liệu, ứng dụng, công nghệ thông tin, kỹ thuật, chuyên ngành,liên ngành, nghề nghiệp; trong đó có sự kết hợp hợp lý giữa tri thức khoa học cổ truyền
và hiện đại, dân tộc và quốc tế, thông dụng và cao cấp, sáng tạo cá nhân và sáng tạo tậpthể Quá trình tự làm giàu trí tuệ trên cần được thực hiện thường xuyên, liên tục, hệthống, đa dạng theo một định hướng vừa có tính cấp thiết, vừa có tính chiến lược
Vốn liếng về thực tiễn là cơ sở, động lực, chất liệu, nội dung, tiêu chuẩn chân lý
và mục tiêu của toàn bộ quá trình tự đào tạo Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông Đây cũng là bước chuẩn bị cần thiết để người học sau
này hành nghề, hoạt động xã hội phù hợp với yêu cầu phát triển §ương nhiên, người
Trang 16học có thể nắm bắt thực tiễn một cách trực tiếp hoặc gián tiếp, cũng như mỗi lứa tuổi
tiểu học cũng có thể nhìn thấy thực tiễn và học theo thực tiễn Trong bối cảnh toàn cầu
hoá mọi hoạt động tự đào tạo, bồi đắp khả năng tự điều chỉnh cá nhân trong quan hệkinh tế, văn hoá, mọi quan hệ sống nói chung (học tập, nghiên cứu khoa học, tư tưởngchính trị, đạo đức, lối sống, sinh hoạt cộng đồng) nhằm phù hợp với yêu cầu của pháttriển con người và xã hội Có thể xem tự ý thức là bộ não và huyết mạch của tất cả cáchoạt động tự đào tạo của người học
Nhân cách mới là nhân cách của con người xã hội chủ nghĩa Phẩm chất của nhân cách này có nội dung cốt lõi là lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội dưới ánh sáng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh với tinh thần nhân văn: tất cả
vì con người Nhân cách mới vừa là nội dung đào tạo và tự đào tạo, vừa là mục tiêu
chủ yếu, cơ bản của toàn bộ hoạt động giáo dục hiện nay Quá trình tự đào tạo cần xem
đó là động lực, định hướng, đem lại giá trị đích thực cho người học - cá nhân và xã hộinói chung Đây cũng là điểm tựa và thước đo để tự đào tạo không chạy theo mục tiêu,mục đích sống của chủ nghĩa cá nhân vị kỷ, độc tôn lợi ích riêng Nhân tố nhân cách
mới trên đây chính là nhằm đáp ứng yêu cầu giáo dục của nước ta hiện nay: Coi trọng bồi dưỡng cho học sinh, sinh viên khát vọng mãnh liệt xây dựng đất nước giàu mạnh, gắn liền lập nghiệp bản thân với tương lai của cộng đồng, của dân tộc, trau dồi cho học sinh, sinh viên bản lĩnh, phẩm chất và lối sống của thế hệ trẻ Việt Nam hiện đại.
1.2 Cơ sở lý thuyết về e-book
1.2.1 Giới thiệu e-book
E-book là từ viết tắt của electronic book (sách điện tử) Hiểu theo cách đơn giảnnhất, sách điện tử (e-books hay digital books) là phiên bản dạng số (hay điện tử) củasách Nội dung của sách số có thể lấy từ sách giấy hoặc mang tính độc lập tùy thuộcvào người xuất bản Một số người thường sử dụng thuật ngữ này để chỉ luôn cả thiết bịdùng để đọc sách dạng số (còn gọi là book – reading appliances hay e-book readers)
Giống như e-mail (thư điện tử) e-book chỉ có thể dùng các công cụ máy tínhnhư máy vi tính, máy trợ giúp kĩ thuật số cá nhân (palm, pocket pc…) để xem
Sách điện tử hiện nay thường là các đĩa CD hướng dẫn học một giáo trình hóahọc có bài tập, thí nghiệm mô phỏng, tự kiểm tra đánh giá (có nơi gọi là gia sư)
Sách điện tử có những lợi thế mà sách in thông thường không có được: rất gọnnhẹ, có thể tinh chỉnh về cỡ chữ, màu sắc, và các thao tác cá nhân hoá tuỳ theo sở
Trang 17thích của người đọc Một đặc điểm nổi bậc của sách điện tử (e-book) chính là khảnăng lưu trữ của nó Mỗi tập tin sách trung bình vào khoảng 300 đến 500Kb Như vậy,với sức chứa của 1 CD-ROM, có thể lưu trữ đến hơn 2.000 quyển sách, một con sốquá ấn tượng.
Cùng với sự phát triển vượt bậc của mạng internet và kết hợp với các thiết bị kỹthuật cao cấp, hầu hết các sách in giấy thông thường đều có thể được làm thành sáchđiện tử Chính vì vậy mà ngày nay, không khó khăn lắm để chúng ta tìm một tác phẩmnổi tiếng để đọc trực tiếp trên mạng hay tải về máy tính để đọc theo dạng e-book
1.2.2 Mục đích thiết kế E-book
Thiết kế sách giáo khoa điện tử (e-book) hỗ trợ cho hoạt động tự học Hóa họccủa SV như là một công cụ tự học thích hợp, từ đó nâng cao hiệu quả tự học thông quanhững kiến thức được minh họa một cách sinh động, hấp dẫn Ngoài ra, khi giáo viênứng dụng ICT trong dạy học Hoá học có thể sử dụng sách giáo khoa điện tử là một tàiliệu tham khảo để dạy học
1.2.3 Các yêu cầu thiết kế e-book
Thiết kế e-book (dạng trang Web) cho giáo dục có những yêu cầu riêng rẽ, đặctrưng về mặt hiệu quả nghe, nhìn, tương tác Để xây dựng e-book, mà bản chất chính
là quá trình thiết kế dạy học, đặc biệt để đáp ứng nhu cầu tự học, ta vẫn phải tuân thủ
đầy đủ các bước của việc thiết kế dạy học (ADDIE):
♦ Analysis: Phân tích tình huống để đề ra chiến lược phù hợp:
- Hiểu rõ mục tiêu, các tài nguyên có thể có
- Đối tượng sử dụng
♦ Design: Thiết kế nội dung cơ bản:
- Các chiến lược dạy học
- Siêu văn bản (hypertext) và siêu môi trường (hypermedia)
- Hướng đối tượng, kết nối và phương tiện điều hướng
♦ Development: Phát triển các quá trình:
- Thiết kế đồ họa
- Phát triển các phương tiện 3D và đa môi trường (multimedia)
- Hình thức và nội dung các trang
- Phương tiện thực tế ảo
Trang 18♦ Implementation: Triển khai thực hiện cần tích hợp với chương trình công
nghệ thông tin của trường học:
- Chuẩn bị cho phù hợp với thực tế các phòng máy tính
- Thủ tục tiến hành với thầy
- Triển khai trong toàn bộ các đối tượng dạy, học và quản lí
- Quản lí tài nguyên (nhân lực và vật lực)
1.2.4.2 Phần mềm trình diễn Power Point
Power Point là một phần mềm chuyên thiết kế để trình diễn, đối với bộ mônHóa học, chương trình trình diễn Power Point có thể tạo ra những Slide mới làm choviệc dạy học trên máy vi tính cũng tương tự như việc dạy học bằng giáo án, nhưngchương trình trình diễn Power Point có nhiều ưu điểm về các hiệu ứng dịch chuyểntrang, nối kết, truy cập thông tin từ bất cứ file dữ liệu nào trong cùng hệ thống máytính cũng như các hiệu ứng về màu sắc, âm thanh…
1.2.4.3 Phần mềm paint
Paint là phần mềm chuyên chỉnh ảnh Phần mềm này giúp chúng ta có thể cắt,dán ảnh, đổi định dạng ảnh